Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

bài tiểu liệu vận dụng ý nghĩa PPL nguyên tắc toàn diện và phát triển trong định hướng nghề nghiệp và đổi mới VN môn triết học đại cương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (185.14 KB, 27 trang )

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI LIÊN HỆ VẬT
CHẤT VÀ Ý THỨC ĐƯỢC VẬN DỤNG TRONG CUỘC SỐNG VÀ TRONG
NGHỀ NGHIỆP SAU NÀY …………………………………………………….1
I.

II.

Mối liên hệ giữa vật chất và ý thức …………………………………….1
1.

Phạm trù vật chất …………………………………… ………………...1

2.

Phạm trù ý thức…………………………………….. …………………4

3.

Mối liên hệ giữa vật chất và ý thức…………………… ………………7

Ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ giữa vật chất và ý thức ...8

III.Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ giữa vật chất và
ý thức …………………………………………………………………………...9
1.

Trong cuộc sống ……………………………………….. ……………9

2.


Trong nghề nghiệp sau này ……………………………. …………...11

CHƯƠNG 2: NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN VÀ NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN
ĐƯỢC VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
……………………………………….. …………………………………13
I.

Liên hệ thực tiễn nguyên tắc toàn diện vào sự nghiệp đổi mới Việt
Nam hiện nay …………………………………. ………………………13
1.

Khái niệm sơ lược về nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực
tiễn ……………………………………………… ………………….13

2.

Yêu cầu cơ bản của nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
…….. ………………………………………………………………..14

3.

Vận dụng nguyên tắc toàn diện vào sự nghiệp đổi mới Việt Nam hiện
nay……………………………… …………………………………..15

II.

Liên hệ nguyên tắc phát triển vào sự nghiệp đổi mới Việt Nam hiện
nay ……………………………….. …………………………………….18
1.


Khái niệm phát triển …………………………….. …………………18

2.

Các yêu cầu về nguyên tắc phát triển ………………………. ……...18

3.

Nguyên tắc phát triển được vận dụng trong thực tiễn thời kì đổi mới ở
nước ta ………………………………………………. ……………..19


CHƯƠNG I : Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI LIÊN HỆ
VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐƯỢC VẬN DỤNG TRONG CUỘC SỐNG VÀ
TRONG NGHỀ NGHIỆP SAU NÀY
MỐI LIÊN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

I.
1.

Phạm trù vật chất

1.1


Các quan niệm về vật chất

Vật chất là một phạm trù nền tảng của chủ nghĩa duy vật triết học. Trong
lịch sử tư tưởng nhân loại, xung quanh vấn đề này luôn diễn ra cuộc đấu
tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

Bản thân quan niệm của chủ nghĩa duy vật về phạm trù vật chất cũng trải
qua lịch sử phát triển lâu đài, gắn liền với những tiến bộ khoa học và thực
tiễn.



Các nhà triết học duy vật trước Mác trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
duy tâm đã hết sức quan tâm giải quyết vấn đề cốt lõi là vật chất. Họ đã
đưa ra những kiến giải khác nhau về vật chất và qua đó đã có những đóng
góp hết sức quan trọng đối với lịch sử phát triển của triết học duy vật. Tuy
nhiên tất cả họ đều mắc phải hạn chế lớn nhất là đã đồng nhất vật chất với
vật thể hoặc một thuộc tính nào đó của vật thể, họ khơng thấy được sự tồn
tại của vật chất gắn liền với vận động và họ không chỉ ra được biểu hiện
của vật chất trong đời sống xã hội và chỉ đến khi triết học Mác-xít xuất
hiện thì phạm trù vật chất mới được giải quyết một cách khoa học.

1.2

Quan niệm của triết học Mác- Lênin về vật chất

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cuộc cánh mạng trong KHTN đã mở ra
nhiều phát minh có tính bước ngoặt làm đảo lộn những nguyên tắc cũ, xuất hiện
một loạt những phát minh khoa học mới góp phần bác bỏ những quan niệm cũ
về vật chất cụ thể là:
Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X



Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ.


25






Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử.



Đầu thế kỷ XX phát hiện ra hiện tượng thay đổi của khối lượng, quảng
tính và thời gian trong sự phụ thuộc vào tốc độ vận động.
Tóm lại: Khoa học chứng minh rằng khơng có dạng vật chất đầu tiên. Từ

những phát minh khoa học trên đã làm xuất hiện sự khủng hoảng trong lập
trường tư tưởng của một số nhà khoa học, nhà triết học, từ đó làm khơi phục lại
chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri, chống lại chủ nghĩa Mác. Trước bối
cảnh đó Lênin đã viết tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm
phê phán” xuất bản năm 1909 mà trong đó ơng đã đưa ra định nghĩa kinh điển
về vật chất (được thừa nhận như là một định nghĩa chính thống của chủ nghĩa
Mác).
1.2.2 Định nghĩa.

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại,
chép lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác.
1.2.3 Phân tích định nghĩa.


Trong nội dung định nghĩa trên cần lưu ý 2 điểm sau:
Một là: Định nghĩa khẳng định vật chất là một phạm trù triết học, phạm
trù là một khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính phổ biến
nhất của hiện thực. Như vậy khi coi vật chất là một phạm trù triết học thì nó là
khái niệm chứ khơng phải là sự vật. Cho nên vật chất là cái chung, cái khái quát,
cái trừu tượng, là vật chất nói chung (là vĩnh viễn). Vì vậy cần phải phân biệt
phạm trù triết học về vật chất với một khái niệm vật lý thông thường về vật chất
mà người ta dùng để chỉ những sự vật, những hiện tượng vật chất cụ thể (như
vậy: đất, nước, lửa, khơng khí chẳng qua chỉ là một dạng tồn tại về vật chất).
Hai là: Về mặt nhận thức luận (phương pháp luận) thì thuộc tính cơ bản
nhất của vật chất dùng để định nghĩa cho nó và để phân biệt nó với ý thức tinh
thần là thuộc tính tồn tại khách quan. Vật chất là tất cả những gì tồn tại khách

25

quan bên ngồi đầu óc con người và không phụ thuộc vào ý thức của con người,


độc lập lại với nó thì ý thức hay tinh thần là cái tồn tại chủ quan trong đầu óc
con người.
Tóm lại: Theo định nghĩa của Lênin vật chất được hiểu như sau:
Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan- cái tồn tại bên ngồi đầu óc con
người, khơng phụ thuộc vào ý thức, cảm giác của con người.
Thứ hai, vật chất là những cái mà khi tác động lên các giác quan của con
người một cách trực tiếp hay gián tiếp thì sẽ gây nên cho con người cảm giác.
Thứ ba, vật chất là những cái mà trong quan hệ đối với chúng thì ý thức,
cảm giác của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó.
1.2.4 Ý nghĩa phương pháp luận.

Một là, định nghĩa trên đã góp phần khắc phục được quan niệm siêu hình

về vật chất, đó là khơng quy vật chất về cái cụ thể mà đồng nhất nó với thực tại
khách quan nói chung (Cái thực tại khách quan ấy mới là vĩnh viễn, mới là cái
vô cùng tận).
Hai là, định nghĩa đã góp phần giải quyết được cả hai mặt vấn đề cơ bản
của triết học theo lập trường duy vật và theo lập trường khả tri luận (theo thuyết
có thể biết)
Ba là, định nghĩa góp phần đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, nhất là
duy tâm về xã hội. Vì theo định nghĩa này đưa vào thuộc tính tồn tại khách quan
mà ta có thể phân biệt trong xã hội xem đâu là vật chất, đâu là tinh thần.
Bốn là, định nghĩa là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu về các dạng cấu
trúc vật chất của thế giới có liên quan đến dạng vật chất mới như là: hạt và phản
hạt; vật chất và phản vật chất.
1.3 Tính thống nhất vật chất thế giới.

1.3.1 Tồn tại của thế giới là tiền đề của sự thống nhất của thế giới.
Thế giới quanh ta đang tồn tại, nhưng hình thức tồn tại của thế giới hết
sức đa dạng. Vì thế, tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới.
Song, tính thống nhất của thế giới khơng phải ở sự tồn tại của nó. Sự khác nhau
về nguyên tắc giữa quan niệm duy vật và quan niệm duy tâm khơng phải ở việc

25

có thừa nhận hay khơng thừa nhận tính thống nhất của thế giới, mà ở chỗ chủ


nghĩa duy vật cho rằng, cơ sở của sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất
của nó
1.3.2 Thế giới thống nhất ở tính vật chất.
Có 2 khuynh hướng cơ bản về vấn đề này:
- Chủ nghĩa duy tâm coi tinh thần, ý thức có trước, quyết định vật chất

nên tính thống nhất của thế giới là ở ý thức, ở các lực lượng tinh thần siêu nhiên.
- Chủ nghĩa duy vật coi vật chất có trước, ý thức có sau, ý thức là sự
phản ánh của thế giới vật chất nên sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất.
Bằng sự phát triển lâu dài của triết học và sự phát triển khoa học, chủ nghĩa duy
vật biện chứng chứng minh rằng thế giới xung quanh chúng ta dù đa dạng và
phong phú đến đâu thì bản chất của nó vẫn là vật chất, thế giới thống nhất ở
tính vật chất. Bởi vì:
Thứ nhất, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất. Thế giới vật chất tồn tại
khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người, được ý thức con người
phản ánh.
Thứ hai, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với
nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, do vật chất
sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của
thế giới vật chất.
Thứ ba, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra
và không tự mất đi; chúng luôn biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc,
nguyên nhân và kết quả của nhau.

2.

Phạm trù ý thức

2.1 Nguồn gốc của ý thức
2.1.1 Nguồn gốc tự nhiên: Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên,
nhất là sinh lý học thần kinh, các nhà duy vật biện chứng cho rằng, nguồn gốc
tự nhiên của ý thức có hai yếu tố khơng thể tách rời nhau là bộ óc con người và

25

thế giới bên ngồi tác động lên óc người.



2.1.1.1 Bộ óc người: Ý thức là sản phẩm, là thuộc tính riêng của một dạng
vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người. Hoạt động ý thức của con người
diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc. Do đó, khi bộ óc bị
tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ khơng bình thường hoặc bị rối loạn. Vì
vậy, khơng thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc. Ý thức không thể
diễn ra, hoạt động tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người.
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo
ra những máy móc thay thế cho một phần lao động trí óc của con người.
Chẳng hạn các máy tính điện tử, rơbốt "tinh khơn”, trí tuệ nhân tạo. Song điều
đó khơng có nghĩa là máy móc cũng có ý thức như con người. Máy móc khơng
thể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân nó như con người.
Do đó, chỉ có con người với bộ óc của mình mới có ý thức theo đúng nghĩa của
từ đó.
2.1.1.2 Sự tác động của thế giới bên ngồi lên bộ óc người:


Trong tự nhiên, mọi đối tượng vật chất đều có thuộc tính chung, phổ biến
là phản ánh. Đó là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất
này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng.
Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật - vật tác động và vật
nhận tác động. Đồng thời quá trình phản ánh bao hàm quá trình thơng tin.
Nói cách khác, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác
động. Đây là điều kiện hết sức quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự
nhiên của ý thức.
Cùng với sự tiến hoá của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó
cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong đó ý thức
là hình thức phản ánh cao nhất, nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế
giới vật chất, cùng với sự xuất hiện của con người. Ý thức ra đời là kết

quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất, nội dung của
nó là thơng tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh.

25




2.1.2 Nguồn gốc xã hội: Để ý thức có thể ra đời, bên cạnh nguồn gốc tự
nhiên thì điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể
hiện ở vai trò của lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
Theo Ph. Ăng-ghen: “Sau lao động và cùng với lao động là ngơn ngữ
đó là hai sức kích thích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não loài vật thành bộ
não loài người, từ tâm lý động vật thành ý thức con người”.
2.2. Bản chất của ý thức: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,
là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của bộ óc người.


Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội
dung của ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là cái phản ánh
thế giới khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức là cái phản
ánh thế giới khách quan nhưng nó thuộc phạm vi của cái chủ quan, là thực
tại chủ quan. Ý thức khơng có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần,
gắn liền với hoạt động khái quát, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa
chọn. Ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ não con người.



Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới: Ý thức là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong bộ óc người, là hình ảnh chủ quan của thế giới

khách quan. Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào
bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh
năng động sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến
thế giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao
động.

“Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con
người và được cải biến đi trong đó” -  Các Mác
Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở sự cải biến cái vật chất di
chuyển vào trong bộ não con người thành những hình ảnh tinh thần. Sáng tạo
của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở, trong khuôn khổ và theo

25

tính chất, quy luật của phản ánh.


Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức – trong
bất kỳ trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con
người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc.


Ý thức mang bản chất xã hội: Ý thức ra đời và phát triển do nhu cầu và
trên cơ sở của lao động (phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con
người) và các hình thức hoạt động xã hội khác. Do đó, xét về bản chất thì
ý thức có tính xã hội. Con người tách khỏi xã hội sẽ không hình thành
được ý thức.

“Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như vậy đến chừng
nào con người còn tồn tại”- Các Mác và Ăng-ghen.

3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữ vật chất và ý thức: Vật chất
quyết định ý thức và ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực
tiễn của con người.


Tính quyết định của vật chất đối với ý thức:

+ Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là nguồn gốc của ý
thức: Ý thức ra đời và tồn tại được là nhờ các yếu tố vật chất đóng vai trị nguồn
gốc tự nhiên (bộ óc người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc người) và
nguồn gốc xã hội (lao động, ngôn ngữ).
+ Vật chất quyết định nội dung, bản chất và sự vận động phát triển của ý thức:
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nội dung của ý thức do
thể giới vật chất khách quan quy định. Chính thực tiễn, trước hết là hoạt động
vật chất cải biến thế giới của con người là cơ sở hình thành, phát triển ý thức,
trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo; phản ánh để sáng tạo
và sáng tạo trong phản ánh.


Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất:

+ Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn
của con người. Biểu hiện ở chỗ: ý thức trang bị cho con người sự hiểu biết về

25

thế giới xung quanh, giúp con người xác định mục tiêu, lựa chọn phương pháp



cho hoạt động của mình tạo nên ở con người tình cảm, niềm tin, ý chí, thơi thúc
con người nỗ lực hành động để đạt được mục tiêu đề ra. Ý thức có thể thúc đẩy
hoặc kìm hãm sự vận động, phát triên của những điều kiện vật chất ở những
mức độ nhất định.
+ Nếu ý thức phản ánh phù hợp với hiện thực thì nó sẽ làm thúc đẩy sự phát
triển của các điều kiện vật chất. Nếu ý thức phản ánh khơng phù hợp với hiện
thực thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của các điều kiện vật chất. Song sự kìm
hãm đó chỉ mang tính tạm thời, bởi vì sự vật vận động theo các quy luật khách
quan vốn có của nó, nên nhất định phải có ý thức tiến bộ, phù hợp, thay thế cho
ý thức lạc hậu, không phù hợp.

II.

Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI LIÊN HỆ VẬT
CHẤT VÀ Ý THỨC.

Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong triết học Mác- Lênin, rút ra nguyên
tắc phương pháp luận là:
1.

Tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năng động chủ
quan.
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, mọi người chủ trương, đường lối,

kế hoạch, mục tiêu, chúng ta đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, từ những
điều kiện, tiền đề vật chất hiện có. Nhận thức sự vật hiện tượng phải chân thực,
đúng đắn, tránh tô hồng hoặc bôi đen đối tượng, phản ánh, đáng giá đúng sự
thật. Cần phải tránh chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, chủ nghĩa duy vật tầm
thường, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa khách quan.
2.


Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức.
Phát huy vai trò nhân tố con người, chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ

lại, bảo thủ, trì trệ, thiếu sáng tạo, phải coi trọng vai trị của ý thức, coi trọng
cơng tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng, coi trọng giáo dục lý luận chủ nghĩa
Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, coi trọng việc giữ gìn, rèn luyện phẩm
chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên, bảo đảm sự thống nhất giữa nhiệt tình cách

25

mạng và tri thức khoa học.


Để thực hiện nguyên tắc hiện nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết
hợp phát huy tính năng động chủ quan, chúng ta còn phải nhận thức và giải
quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích, phải biết kết hợp hài hịa lợi ích cá nhân, lợi
ích tập thể, lợi ích xã hội, phải có động cơ trong sáng, thái độ thật sự khách
quan, khoa học, không vụ lợi trong nhận thức và hành động của mình.

III.

VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI LIÊN
HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

1.

Trong cuộc sống




Thứ nhất, vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan. Đầu tiên, bản thân
mỗi người phải tự xác định được các điều kiện khách quan ảnh hưởng đến
cuộc sống học tập của bản thân. Là một sinh viên năm nhất, sống trong
đất nước Việt Nam – một đất nước đang phát triển, tôi tự nhận thức được
rằng điều kiện của đất nước cịn khó khăn, cơ sở vật chất vẫn chưa hoàn
thiện và hiện đại để đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Ví dụ như ở một số
trường đại học, do thiếu thốn về trang thiết bị cũng như về lực lượng
giảng viên nên quá trình giảng dạy và quá trình học tập của sinh viên đều
bị ảnh hưởng.

Bên cạnh đó, mỗi người cần phải đặc biệt chú ý tơn trọng tính khách quan và
hành động theo các quy luật mang tính khách quan, thể hiện qua một số hành
động như: tuân thủ theo thời khóa biểu trường đã giao cho sinh viên để đi
học đúng giờ, tham dự các tiết học đầy đủ đồng thời làm theo những lời mà
giảng viên hướng dẫn. Ngoài ra, cần phải tuân thủ theo đúng nội qui nhà
trường, chấp hành đúng kỷ luật đặc biệt là những quy chế về việc cấm thi,
học lại...
Thứ hai, vì ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất nên cần phải phát
huy tính năng động chủ quan, tức là phải phát huy tính tích cực, năng
động và sáng tạo của ý thức. Theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
trường Đại học Kiểm sát đã thực hiện tổ chức đăng ký học phần cho sinh

25




viên. Vì vậy bản thân tơi cần phải chủ động hơn, năng nổ trong từng tiết

học để đạt được kết quả thật tốt.
Trong kết cấu của ý thức thì tri thức là yếu tố quan trọng nhất. Trí thức là
phương thức vận động và tồn tại của ý thức. Chính vì vậy, sinh viên cần phải
tích cực trong học tập, chủ động tìm hiểu và khai thác vấn đề, khi học bài không
quá phụ thuộc vào giảng viên mà thay vào đó nên suy nghĩ những ý tưởng mới
của riêng minh. Ví dụ như những buổi học nhóm hay thảo luận kỹ năng, bản
thân tơi thường tìm đến kho kiến thức của thư viện hoặc tài liệu trong kho sách
của khoa để trau dồi vốn kiến thức chuyên ngành. Tuy nhiên những tri thức tiếp
thu từ sách vở là chưa đủ. Xã hội ln địi hỏi mỗi người phải có một nền tảng
sống vững chắc, muốn làm được như vậy thì chúng ta cần tham gia vào các hoạt
động tình nguyện ngồi trời hay tìm kiếm một cơng việc làm thêm phù hợp để
có thể tích lũy được nhiều kinh nghiệm và kĩ năng sống.
Tình cảm là những rung động của con người trong các mối quan hệ với hiện
thực. Nhờ có tình cảm mà tri thức mới có sức mạnh và sau đó trở thành cơ sở
cho hành động. Nói cách khác, tình cảm là động lực lớn nhất thúc đẩy chúng ta
đi đến thành công. Đối với bản thân tơi, để đạt thành tích tốt trong học tập cũng
như phát triển trong tương lai, cần phải có niềm đam mê đối với mỗi môn học
bất kể là môn chuyên ngành hay môn đại cương. Cần phải tạo cảm giác thoải
mái và tinh thần vui vẻ khi học tập, từ đó dễ dàng tạo hứng thú tiếp thu kiến
thức, thúc đẩy khả năng tìm tịi, học hỏi cũng như có thêm động lực vượt qua
những khó khăn để tiếp tục con đường học tập.
Niềm tin là động cơ tinh thần định hướng cho những hoạt động của con
người. Là một sinh viên tốt thì cần phải biết đặt niềm tin vào nhiều thứ. Đầu
tiên, cần phải có niềm tin ở bản thân mình, phải có ước mơ, hồi bão nhưng
khơng qn thực hiện hóa nó bằng các kế hoạch cụ thể. Có niềm tin thì chắc
chắn sẽ có động lực để phấn đấu, vươn lên nhằm đạt được những mục tiêu cao
đẹp. Cụ thể là, mục tiêu bây giờ của tơi chính là tốt nghiệp đại học với tấm bằn
loại khá trở trên nhưng muốn thực hiện được điều ấy thi phải lập ra thời gian

25


biểu học tập cụ thể với một phương pháp học đúng đắn kèm theo.


Ý chí biểu hiện cho sức mạnh tinh thần của con người, giúp con người vượt
qua những khó khăn, trở ngại để đạt được những mục tiêu đã đặt ra. Môi tường
đại học ẩn chứa nhiều thử thách và cám dỗ vì vậy chúng ta cần phải xây dựng
cho mình một ý chí kiên định để tránh xa những thói hư tật xấu. Cuộc sống sinh
viên tự do đòi hỏi tôi phải lập ra những qui tắc riêng cho bản thân để giữ vững
lập trường của mình trước những cạm bẫy, phải biết phân định đúng sai và hành
động phải phù hợp với chuẩn mực xã hội.


Thứ ba, cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như bệnh bảo
thủ trì trệ. Cụ thể là cần phải tiếp thu có chọn lọc những ý kiến mới, việc
hơm nay không nên để ngày mai, không chủ quan trước mọi tình huống,
phải biết lắng nghe và tiếp thu sự góp ý của người khác.
Ví dụ như sau một bài thuyết trình thì phải lắng nghe ý kiến chỉnh sửa của
cả lớp và giảng viên hay khi làm bài hoặc họp nhóm cần phải sáng tạo,
đột phá, cải tiến cái cũ nhưng khơng nên q cầu tồn.



Thứ tư, khi giải thích các hiện tượng xã hội cần phải tính đến các điều
kiện vật chất lẫn yếu tố tinh thần, điều kiện khách quan lẫn yếu tố khách
quan. Ví dụ đối với việc đăng ký nguyện vọng vào trường đại học, học
sinh cần phải tính đến năng lực học tập của bản thân, điều kiện tài chính
của gia đình để lựa chọn trường và ngành phù hợp, không đăng ký học
phần một cách tràn lan với mục đích tốt nghiệp sớm tránh trường hợp học
khơng theo kịp. Dẫn đến hao phí tiền bạc, thời gian, công sức mà kết quả

lại không được như ý muốn.

2.

Trong nghề nghiệp sau này

Từ nguyên tắc phương pháp luận tơn trọng tính khách quan kết hợp phát huy
tính năng động chủ quan ta rút ra được :
Đối với định hướng nghề nghiệp, mọi mục tiêu kế hoạch đều phải xuất
phát từ hiện thực khách quan, từ những điều kiện tiền đề vật chất hiện có.
Mỗi người phải xác định đúng năng lực của mình, điều kiện kinh tế của
gia đình và hướng phát triển ngành nghề trong tương lai mà mình theo
đuổi. Chúng ta khơng nên phủ bỏ hiện thực khách quan mà cứ làm theo

25




những gì mình u thích, điều đó khiến chúng ta xa rời thực tế. Nó khơng
bắt buộc tuyệt đối con người phải luôn làm theo những yêu cầu trên, mỗi
người cần xác định rõ mình cần gì và muốn gì để có những mục tiêu phù
hợp với sở thích của bản thân lại phù hợp với yêu cầu của xã hội; đặt biệt
đừng bị người khác làm phân tâm mà suy nghĩ lệch lạch hướng đi ban
đầu, nếu có đủ tự tin thì hãy cứ bước đi.


Trong khi làm việc yêu cầu mọi người nhận thức sự vật hiện tượng phải
chân thực, đúng đắn, tránh tô hồng hoặc bôi đen đối tượng, phản ánh,
đáng giá đúng sự thật. Đặc biệt là người làm trong các cơ quan tư pháp

như viện kiểm sát hay tòa án nhân nhân hay cơ quan cơng an cần tránh
chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa
thực dụng, chủ nghĩa khách quan.

Phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức có vai trị rất quan trọng


Năng động sáng tạo được xem là truyền thống từ xưa ở nước ta. Từ thời
chiến tranh, các anh hùng dân tộc như Ngô Quyền đã dùng cách vận hành
của nước để cắm cọc giành chiến thắng trên sông Bạch Đằng, kế hoạch
vườn không nhà trống được nhà Trần sử dụng thường xuyên đánh đuổi
quân xâm lược hùng mạnh Mông - Nguyên đến tận 3 lần,… Nhờ có sự
năng động sáng tạo của những người chỉ huy đã góp phần mang lại độc
lập cho nước nhà, ấm no cho muôn dân. Hiện nay, người dân Việt Nam đã
kế thừa và phát huy truyền thống sáng tạo ấy trong nhiều lĩnh vực từ kinh
tế, chính trị đến khoa học, giáo dục,….
Trong hoạt động nghề nghiệp, chúng ta phải ln tìm tịi cái mới, suy nghĩ
tích cực về những mục tiêu có khả thi. Chẳng hạn như ngành giáo dục
luôn luôn thay đổi những cách dạy phù hợp với hiện tại để tăng hiệu quả
dạy học của giáo viên, hay các nhà thiết kế thời trang không ngừng tạo ra
các mẫu thiết kế độc đáo đẹp mắt mà khơng hề lỗi thời,… Từ đó khẳng
định nếu sáng tạo đúng cách và hợp lí thì khơng những phát huy được khả

25




năng của bản thân mà còn phát triển xã hội văn minh giàu đẹp nói chung
và Việt Nam ta nói riêng.



Chính vì lẽ đó,nước ta ln phát huy vai trị nhân tố con người, chống tư
tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ, thiếu sáng tạo và coi trọng
vai trị của ý thức, coi trọng cơng tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng, coi
trọng giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
coi trọng việc giữ gìn, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng
viên, bảo đảm sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa
học.

CHƯƠNG II : NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN VÀ NGUYÊN TẮC PHÁT
TRIỂN ĐƯỢC VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI VIỆT NAM
HIỆN NAY

I.

LIÊN HỆ THỰC TIỄN NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN
VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
1.

Khái niệm sơ lược về nguyên tắc toàn diện trong
nhận thức và thực tiễn

Là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của
pháp biện chứng duy vật, nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn đòi
hỏi muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét
sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính
khác nhau trong chính thể của sự vật, hiện tượng ấy và trong mối liên hệ qua lại
giữa sự vật, hiện tượng đó với sự vật hiện tượng khác, tránh cách xem xét phiến
diện một chiều. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét, đánh giá từng mặt,

từng mối liên hệ, và phải nắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy
định sự vận động phát triển của sự vật, hiện tượng, tránh chủ nghĩa chiết trung,

25

kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ; tránh sai lầm của thuật nguy biện, coi cái


cơ bản thành cái không cơ bản, không bản chất thành bản chất hoặc ngược lại,
dẫn đến nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản chất sự vật, hiện tượng.
Lênin viết “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và
nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó”.

2.

u cầu cơ bản của ngun tắc tồn diện trong
nhận thức và thực tiễn



Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong
chính thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc
tính, các mối liên hệ của chính thể đó; “cần “quan hệ gián tiếp của sự vật
đó”, tức trong chính thể thống nhất của “mối phải nhìn bao quát và nghiên
cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và tơng hồ những quan hệ muôn
vẻ của sự vật ấy với các sự vật khác” (V.I. Lênin).



Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của

đối tượng đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi
chỉ có như vậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại
khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động
qua lại của đối tượng.



Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác
và với môi trường xung quanh, kể cả các mặt của mối liên hệ trung gian,
gián tiếp; trong không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả
những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đốn cả
tương lai của nó.
Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điển phiến diện, một chiều,
chỉ thấy mặt này mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt
nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ
rơi vào thuật ngụy biện ( đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không cơ

25




bản hoặc ngược lại) và chủ nghĩa chiết trung (lắp ghép vô nguyên tắc các
mối liên hệ trái ngược nhau vào một mối liên hệ phổ biến)
3.

Vận dụng nguyên tắc toàn diện vào sự nghiệp đổi
mới Việt Nam hiện nay

Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn được vận dụng

vào xem xét mối liên hệ giữa phát triển kinh tế, chính trị, đảm bảo an sinh xã
hội và bảo vệ mơi trường. Trên cơ sở đó vận dụng vào nhận thức quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững, làm cơ sở đánh giá
một cách khách quan kết quả ban đầu của quá trình phát triển bền vững và
chỉ ra một số yêu cầu để quá trình phát triển bền vững ở VN tiếp tục thực
hiện có hiệu quả.

1.


Đổi mới tồn diện trong lĩnh vực kinh tế thời kì hội nhập

Sau khi giải phóng đất nước Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiên
kế hoạch nhà nước 5 năm ( 1976 – 1985 ). Lịch sử kinh tế Việt Nam giai
đoạn 1976 – 1986 gọi là thời kì bao cấp là giai đoạn áp dụng mơ hình kinh
tế cũ ở miền Bắc cho cả nước. Cách mạng XHCN ở nước ta đạt nhiều
thành tựu và ưu điểm đáng kể, song cũng gặp khơng ít khó khăn khiến
đắt nước lâm vào tình trạng khủng hoảng như:
+ Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp
+ Sản suất trì trệ
+ Thiếu vốn đầu tư
+ Khủng hoảng kinh tế
+ Lạm phát tăng nhanh
Nguyên nhân cơ bản do ta chủ quan chưa xem xét đúng về sự phù hợp của
mơ hình kinh tế bao cấp này. Chính vì lẽ đó ta mắc phải sai lầm nghiêm
trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến
lược và tổ chức thực hiện. Để khắc phục sai lầm, đưa đất nước vượt qua
khủng hoảng, Đảng và nhà nước ta phải tiến hành đổi mới. Quán triệt
25





nguyên tắc toàn diện đã giúp nước ta khắc phục được chủ nghĩa phiếm
diện,chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện...trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn.


Từ một nền kinh tế lạc hậu kém phát triển những năm đầu giải phóng,
Việt Nam đã chuyển mình vượt bậc, vươn lên mức thu nhập trung bình
khá với các thành tựu dẫn đầu thế giới về xuất khẩu ở nhiều lĩnh vực như
gạo, cà phê, cao su, thủy hải sản.. Sau 35 năm thay đổi nền kinh tế chuyển
từ khép kín, đóng cửa, sang mở cửa, hội nhập với thế giới. Việt Nam đã
chủ động xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, tạo dựng nền tảng và dư địa
cho điều hành chính sách vĩ mô, từng bước làm chủ các công nghệ sản
xuất tiên tiến. Mỗi lần đối mặt với thử thách là mỗi lần nền kinh tế Việt
Nam tự học hỏi, vươn lên và khẳng định mình trên trường khu vực và
quốc tế.

2.


Đổi mới tồn diện trong lĩnh vực chính trị

Đổi mới chính trị là nhằm tạo ra sự phù hợp của hệ thống chính trị với sự
lựa chọn chính trị về con đường phát triển của đất nước. Đổi mới tồn
diện hệ thống chính trị bao gồm đối mới từ tổ chức, phong cách, lẽ lối làm
việc... nhằm làm cho các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị nói riêng và
tồn bộ hệ thống chính trị nói chung hoạt động có hiệu quả, đáp ứng sự
nghiệp đối mới đất nước.

Việt Nam thực hiện Đổi mới kinh tế đồng thời vẫn giữ ngun mơ hình
chính trị cũ nhưng có cải cách trên nhiều phương diện như tăng cường vai
trò của cơ quan lập pháp; cải cách hành chính theo hướng giảm bớt số
nhân viên hành chính và tinh giản các thủ tục hành chính ; cải cách tư
pháp để tiếp cận gần hơn với nền tư pháp của thế giới ; tăng cường dân
chủ như lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập hiến và lập pháp, tiếp xúc,
đối thoại với các tầng lớp nhân dân, minh bạch hóa các hoạt động nhà
nước... Theo Báo cáo môi trường kinh doanh 2018 của World Bank, trong
giai đoạn 2002-2017, Việt Nam là nước có nhiều cải cách nhất thế giới

25




(39 cải cách) để cải thiện môi trường kinh doanh. Tuy nhiên cơ chế vẫn
nửa cũ nửa mới, nhiều cán bộ được bổ nhiệm vẫn ở mức trung bình, nhiều
người nắm cương vị cao nhưng chưa có sự chuyên nghiệp cao.


Để đảm bảo rằng nhân dân tự giác tham gia hoạt động chính trị, để chính
trị phải là việc của nhân dân . Để nhân dân thực sự phát huy quyền dân
chủ của mình, trở thành người chủ của mọi quá trình xã hội. Đảng phải
chỉnh đốn về phương thức tổ chức và hoạt động nhằm đáp ứng được vai
trò lãnh đạo của sự nghiệp đối mới đất nước, tăng cường hiệu lực nhà
nước, phát huy quyền dân chủ và làm chủ của nhân dân, từng bước xây
dựng nẽn đân chủ xã hội chủ nghĩa, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của chủ nghĩa xã hội.
3.




Phát triển toàn diện xã hội

Song song với phát triển kinh tế, công tác phát triển đô thị, nông thôn;
phát triển văn hóa, thể thao, y tế, giáo dục, khoa học... của nước ta đều có
bước chuyển biến ấn tượng góp phần xây dựng Việt Nam ngày càng sáng,
xanh, sạch đẹp, văn minh...

 Việt Nam tiếp tục quan tâm phát triển đồng bộ, hiện đại hóa hệ thống kết

cấu hạ tầng đơ thị, nhất là hệ thống đường vành đai, trục hướng tâm, cầu
đường bộ, gắn với nâng cao năng lực vận tải hành khách công cộng và hạ
tầng xã hội. Bên cạnh đó, nước ta đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các
khu đô thị mới, khu nhà ở theo hướng đồng bộ, văn minh, hiện đại, đặc
biệt là xây dựng các địa điểm du lịch với những kiến trúc độc đáo như “
cầu vàng” ở Đà Nẵng hay Pullman Vũng Tàu.

Tính đến tháng 4 năm 2019, cả nước đã có 4.340 xã (48,68%) đạt chuẩn
Nơng thơn mới. Cả nước khơng cịn xã dưới 5 tiêu chí; có 69 đơn vị cấp
huyện thuộc 34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được cơng nhận đạt
chuẩn/hồn thành nhiệm vụ xây dựng Nơng thơn mới. Nước ta đang phấn
đấu hồn thành mục tiêu các tỉnh phải có ít nhất 1 đơn vị cấp huyện được
Thủ tướng Chính phủ cơng nhận hồn thành nhiệm vụ/công nhận đạt

25





chuẩn nông thôn mới (NTM); 100% các huyện của cả nước có xã được
cơng nhận đạt chuẩn NTM trong năm 2020.


Đối với lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học công nghệ, Hà Nội tiếp tục quan tâm, chú trọng đầu tư và đạt được nhiều
kết quả quan trọng. Các giá trị văn hóa truyền thống nghìn năm văn hiến
được gìn giữ và phát huy. Hiện nay, hệ thống giáo dục ở nước ta đã khá
hoàn chỉnh từ bậc mầm non đến sau đại học; hầu hết các bản, làng, xã,
phường đều có trường lớp tiểu học; trường trung học cơ sở được xây dựng
ở các xã hoặc cụm liên xã; trường trung học phổ thông được xây ở các
huyện, một số huyện có 2 đến 3 trường. Hệ thống giáo dục ở nước ta về
cơ bản đã đáp ứng được như cầu học tập của nhân dân. Đến nay, hầu hết
người dân trong độ tuổi đi học đều được đến trường. Đặc biệt trong năm
2019 và 2020 trình độ y tế nước ta đã khẳng định qua đại dịch covid.
Trong khoa học cơng nghệ thì Việt Nam đã sản xuất các sản phẩm cơ điện
tử made in Vietnam, Ứng dụng đồng vị phóng xạ phục vụ kinh tế-xã hội,


II.LIÊN HỆ NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
VIỆT NAM HIỆN NAY

1.

Khái niệm phát triển

 Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về

lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là q
trình tiến lên liên tục, khơng trải qua những bước quanh co phức tạp.
 Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động theo hướng


đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến
hoàn thiện của sự vật
 Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau: Vận

25

động là mọi biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên
hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu, còn phát triển là sự biến đổi về chất
theo hướng hoàn thiện của sự vật. Phát triển là quá trình phát sinh và giải


quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất
giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích
cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật.

2.

Các yêu cầu về nguyên tắc phát triển



Thứ nhất, khi nghiên cứu, cần đặt đối tượng vào sự vận động, phát hiện
xu hướng biến đổi của nó để khơng chỉ nhận thức nó ở trạng thái hiện tại,
mà cịn dự báo được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai.



Thứ hai, cần nhận thức được rằng, phát triển là q trình trải qua nhiều
giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên

cần tìm hình thức, phương pháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy, hoặc
kìm hãm sự phát triển đó.



Thứ ba, phải sớm phát hiện và ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo
điều kiện cho nó phát triển, chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến.



Thứ tư, trong quá trình thay thế đối tượng cũ bằng đối tượng mới phải
biết kế thừa các yếu tố tích cực từ đối tượng cũ và phát triển sáng tạo
chúng trong điều kiện mới.
Tóm lại, muốn nắm được bản chất, khuynh hướng phát triển của đối
tượng nghiên cứu cần phải xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự vận
động... trong sự biến đổi của nó.

3.

Nguyên tắc phát triển được vận dụng trong thực tiễn thời kì
đổi mới ở nước ta

3.1 Về phát triển kinh tế
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì,
bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh, bước đầu
phát huy được nhiều lợi thế của đất nước, của từng vùng và từng ngành;
cải cách thể chế kinh tế, từng bước hoàn thiện các cơ chế chính sách quản
lý và hệ thống điều hành; cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ

25





thống tài chính, tiền tệ; phát triển nguồn và chất lượng lao động, khoa học
và cơng nghệ;…


Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển
khá, trong đó sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản
xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; sản phẩm công
nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất
lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm
cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị
trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp
mới, công nghệ cao; khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định.



Nơng nghiệp có sự biến đổi quan trọng, đã chuyển từ độc canh lúa, năng
suất thấp và thiếu hụt lớn, sang không những đủ dùng trong nước, còn
xuất khẩu gạo với khối lượng lớn, đứng thứ hai thế giới, góp phần vào an
ninh lương thực quốc tế; xuất khẩu cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, thủy
sản với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới.
Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn

nhu cầu của sản xuất và đời sống: ngành du lịch, bưu chính viễn thơng phát triển
với tốc độ nhanh; các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý;... có
bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả.
3.2 Về phát triển các mặt xã hội



GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đối của Việt
Nam năm 1988 chỉ đạt 86 USD/người/năm - là một trong những nước
thấp nhất thế giới, nhưng đã tăng gần như liên tục ở những năm sau đó,
giai đoạn 2005 - 2010 đạt 1.168 USD/người/năm .Nước ta đã ra khỏi
nhóm nước thu thập thấp để trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp).
Trong lĩnh vực lao động và việc làm: những năm 2001 - 2005, mức giải
quyết việc làm trung bình hằng năm đạt khoảng 1,4 - 1,5 triệu người;
những năm 2006 - 2010, con số đó lại tăng lên đến 1,6 triệu người và cho
đến hiện nay con số ấy còn tăng hơn.

25






Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mơ, đa dạng hóa về
loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Hiện
nay, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục
tiểu học; Hầu hết các tỉnh, thành sẽ đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học
cơ sở. Tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng cao. Hàng triệu
sinh viên nghèo được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay với lãi suất ưu
đãi để theo học.



Hoạt động khoa học và cơng nghệ có bước tiến đáng ghi nhận. Đội ngũ

cán bộ khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học xã hội, khoa học tự
nhiên, khoa học kỹ thuật) đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ
hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước; tiếp thu, làm chủ và ứng dụng có hiệu quả các cơng nghệ nhập từ
nước ngồi, nhất là trong các lĩnh vực thông tin - truyền thông, lai tạo một
số giống cây trồng, vật ni có năng suất cao, thăm dị và khai thác dầu
khí, xây dựng cầu, đóng tàu biển có trọng tải lớn, sản xuất vắc-xin phịng
dịch,... và bước đầu có một số sáng tạo về cơng nghệ tin học.
Tóm lại, sau khi thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn, toàn diện. Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh
tế vĩ mơ được duy trì, các mặt: chính trị, xã hội, quốc phịng và an ninh
được bảo đảm và ổn định. Trong đó có những thành tựu rất đáng khích lệ
về thực hiện tiến bộ và cơng bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với tăng trưởng
kinh tế, phát triển nguồn lao động và chất lượng lao động, khoa học và
cơng nghệ. Thành tựu đó ngày càng khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng là nhân tố quyết định thành cơng của đổi mới, khích lệ, động viên
nhân dân tiếp tục hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn
định chính trị - xã hội, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất
nước với những bước tiến cao hơn. Thành tựu này được các nước trong
khu vực cũng như các đối tác có quan hệ với Việt Nam thừa nhận và xem
đây là một thuận lợi trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

25

3.3 Về quan hệ quốc tế


Những thành tựu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Tồn cầu hố, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là
xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm

1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập
kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối
ngoại. Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế,
phấn đấu vì hồ bình, độc lập và phát triển”. Việt Nam ln thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hồ bình, hợp tác và phát triển; chính sách
đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên
nhiều lĩnh vực. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.
3.4 Về an ninh –quốc phịng
Cơng tác quốc phòng và an ninh tiếp tục được coi trọng; bảo đảm chủ
quyền quốc gia và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội. Các lực
lượng vũ trang nhân dân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khối đại đoàn kết toàn dân
tộc tiếp tục được củng cố và tăng cường; xã hội đồng thuận; thực hiện tốt hơn
dân chủ, tiến bộ công bằng xã hội và chính sách dân tộc, tơn giáo của Đảng và
Nhà nước. Đã xử lý đúng pháp luật các hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền,
chính sách tơn giáo, dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết và gây mất trật tự an
tồn xã hội. Cơng tác phịng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội được quan tâm

25

chỉ đạo và đã có những kết quả thiết thực.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nơng thơn mới


2.

Bách khoa tồn thư mở Wikipedia: Đổi mới

3.

Giáo trình Triết học Mác – Lenin ( sử dụng trong các trường đại
học – hệ khơng chun lý luận chính trị ), Hà Nội, 2019

4.

Lịch sử 12 NXB GIÁO DỤC VIỆT NAM Bài 26: Đất nước trên
đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ( 1986 – 2000)
Tiểu luận triết học nguyên tắc phát triển được vận dụng trong thực
tiễn của thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay như thế nào, Đại học
thương mại khoa sau đại học, 123doc.net

25

5.


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHĨM
Mơn học: Triết học MÁC - LÊNIN
Giảng viên: Khoa lý luận chính trị
Đề bài: 1) Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ giữa vật chất và

ý thức trong cuộc sống và trong nghề nghiệp sau này
2) Vân dụng nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc phát triển vào sự nghiệp đổi
mới Việt Nam hiện nay
Bảng đánh giá thành viên trong nhóm lớp K8-CD
STT
1

Họ và Tên

Nội dung phân cơng
u cầu cơ bản của

Điểm

nguyên tắc toàn diện trong
nhận thức và thực tiễn
........Trong

Vận dụng nguyên tắc toàn

A

diện vào sự nghiệp đổi
mới Việt Nam hiện nay
Hoàn thiện Word
Các yêu cầu về nguyên tắc

2

phát triển

Nguyên tắc phát triển
được vận dụng trong thực
tiễn thời kì đổi mới ở nước

25

……… Linh

A

Kí xác nhận


×