Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

Quy định pháp luật việt nam về bảo vệ môi trường thực tiễn tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.43 MB, 83 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------------

ĐÀO THỊ QUỲNH

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, THỰC TIỄN TẠI
CÁC KHU CƠNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo

: Chính quy

Khóa học

: QH-2012-L

HÀ NỘI, 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------------

ĐÀO THỊ QUỲNH

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM


VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, THỰC TIỄN TẠI
CÁC KHU CƠNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo

: Chính quy

Khóa học

: QH-2012-L

NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TS. MAI HẢI ĐĂNG

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Quy định pháp luật Việt Nam về
bảo vệ môi trường, thực tiễn tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà
Nội” là do em thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy TS.Mai Hải Đăng.
Các số liệu, ví dụ lấy từ các nguồn tài liệu đều được trích dẫn đầy đủ,
trung thực và rõ ràng. Tài liệu tham khảo đều nêu rõ xuất xứ và được trích dẫn
hợp pháp.
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên.
Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Đào Thị Quỳnh



LỜI CẢM ƠN
Trải qua 4 năm học và rèn luyện tại Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội,
tôi cảm thấy mình rất may mắn và vui vì được học tập tại ngôi trường này. Ngôi
trường, nơi cho tôi quen nhiều bạn thân, trang bị cho tôi nhiều kiến thức, kinh
nghiệm, kỹ năng cần thiết của một người học luật. Tất cả cũng nhờ rất nhiều vào
công lao to lớn của các Thầy, Cô, những người đã và đang làm công tác giảng
dạy tại khoa Luật, những người với đầy tâm huyết, với lòng yêu nghề và sự tận
tâm giảng dạy, truyền đạt tri thức đến cho học trò.
Được sự phân công của Bộ môn Luật Kinh doanh và sự đồng ý hướng dẫn
của thầy giáo TS. Mai Hải Đăng, tơi đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình
với đề tài “Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường, thực tiễn tại các
khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.”
Để hồn thành bài khóa luận, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các
Thầy Cô cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên chức tại Khoa Luật- Đại học
Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu trong
suốt quá trình học tập.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy TS Mai Hải Đăng, người
thầy đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tơi hồn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Cuối cùng, tơi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người
ln sát cánh bên tôi, tin tưởng, ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và thực
hiện khóa luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong q trình thực hiện khóa luận, nhưng
do kiến thức, kinh nghiệm và thời gian bị hạn chế vì vậy, khóa luận khơng tránh
khỏi những thiếu sót. Tơi rất mong nhận được sự đóng góp của q Thầy Cơ
cũng như của các bạn để khóa luận tốt nghiệp có thể hồn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2016
Sinh viên

Đào Thị Quỳnh


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BVMT

Bảo vệ môi trường

ĐTM

Đánh giá tác động môi trường

UBND

Ủy ban nhân dân

KCN

Khu công nghiệp


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu. ..........................................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu ...........................................................................................4

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn .............................................................................6
7. Kết cấu khóa luận ................................................................................................6
PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................................7
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT
VỀ BẢO VỆ MƠI TRƯỜNG ......................................................................................... 7
1.1. Bảo vệ mơi trường và sự cần thiết của pháp luật về bảo vệ môi trường. .................7
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản. .............................................................................7
1.1.2. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động bảo vệ môi
trường. .....................................................................................................................9
1.2. Nguồn của pháp luật về bảo vệ môi trường..................................................11
1.2.1. Điều ước quốc tế .........................................................................................13
1.2.2. Văn bản quy phạm pháp luật. .....................................................................14
1.2.3. Tập quán quốc tế.........................................................................................15
1.2.4. Phong tục, tập quán Việt Nam. ...................................................................15
1.2.5. Nguyên tắc chung của pháp luật .................................................................17
1.3. Khái quát chung về khu công nghiệp ............................................................18
1.3.1. Khái niệm. ..................................................................................................18
1.3.2. Đặc điểm khu công nghiệp .........................................................................19


CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN TẠI KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................................................................................. 21
2.1. Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.....................................21
2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường ở khu công
nghiệp trong giai đoạn hiện nay............................................................................24
2.2.1. Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp ...................24
2.2.2. Nội dung của pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp

...............................................................................................................................27
2.3. Thực trạng ô nhiễm môi trường và công tác quản lý môi trường khu công
nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội ..................................................................40
2.3.1. Thực trạng ô nhiễm môi trường khu công nghiệp ......................................40
2.3.2. Công tác quản lý môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội ....................44
2.4. Đánh giá việc thực thi pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường ở khu công
nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay ..........................49
2.4.1. Kết quả đạt được trong việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường ở khu
công nghiệp ...........................................................................................................49
2.4.2. Một số tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp ...............51
2.4.3. Nguyên nhân ...............................................................................................54
CHƯƠNG III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MƠI TRƯỜNG ................................................................ 60
3.1. Sự cần thiết hồn thiện quy định pháp luật về bảo vệ môi trường .................60
3.2. Một số đề xuất hoàn thiện ...............................................................................62
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ............62
3.2.2. Phát triển nguồn nhân lực trong công tác bảo vệ môi trường .....................67
3.3. Nâng cao hoạt động bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp ....................69
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu hướng phát triển cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa tồn cầu,
Việt Nam đã khơng ngừng cố gắng phát triển về mọi mặt, đặc biệt là phát triển
mạnh về kinh tế. Chính sự phát triển này đã tác động không nhỏ đến sự biến đổi
của môi trường xung quanh. Những năm gần đây, ô nhiễm môi trường đất, nước,
không khí diễn ra ở nhiều khu vực; suy thối; cháy rừng; hiệu ứng nhà kính; suy
giảm tầng ơzơn; hay sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, quá trình biến đổi

khí hậu vẫn đang diễn ra và một trong những tác nhân chủ yếu có thể gây ra
những tác động đó, chính là hoạt động sản xuất ở các KCN, làng nghề. Bởi Việt
Nam đang phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước cơng
nghiệp. Có lẽ vậy, với tình hình phát triển kinh tế như ngày nay, môi trường
càng phải chịu những tác động nặng nề bởi hoạt động ở các KCN. Gây chú ý
nhất trong thời điểm này, đó là hiện tượng thực phẩm bẩn, thực phẩm giả tràn
lan và hiện tượng cá chết hàng loạt ở sơng tại tỉnh Thanh Hóa; ở các vùng biển
miền Trung kéo dài từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế, đang là một thách thức lớn
đối với môi trường và cuộc sống của người dân. Đặc biệt là tại vùng biển Vũng
Áng, tỉnh Hà Tĩnh có tới gần trăm tấn cá chết dạt vào bờ và ảnh hưởng vô cùng
lớn đến hoạt động đánh bắt của người dân nơi đây. Tại cuộc họp bất thường của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình
trạng trên có thể do độc tố có độc lực mạnh như sinh học, hóa học gây ra. Được
biết vùng biển này nằm cách khu công nghiệp Formosa 1 km, mà trước đó
Formosa vừa tiến hành sục rửa đường ống bằng các loại hóa chất độc hại. Và
nhiều ngư dân ở đây cho rằng, việc xả thải ra môi trường của KCN Formosa là
mối nghi vấn lớn gây ra hậu quả trên. Đến nay các cơ quan chức năng vẫn đang
khắc phục hậu quả đồng thời tìm ra chủ thể xả ra các hóa chất độc hại đó để xử
lý kịp thời.
Hàng loạt các doanh nghiệp vì chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm
đến môi trường sống của người dân xung quanh, xả thải ra môi trường khơng
đúng quy định pháp luật biến những dịng sơng xanh trở thành những dịng sơng
1


chết. Ngay tại thủ đô Hà Nội, nơi tập trung nhiều KCN lớn, ô nhiễm môi trường
đang ở mức báo động, từ ô nhiễm rác thải ở sông hồ đến báo động đỏ mơi trường
khơng khí và nguồn gây ơ nhiễm lớn đó là chất thải từ các KCN. Và điều này
ảnh hưởng vô cùng lớn đến đời sống, sức khỏe, tính mạng của người dân nơi
đây. Một minh chứng rõ nhất cho những tác động của ô nhiễm môi trường đến

quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân đó là “làng ung
thư” và khơng chỉ ảnh hưởng đến thế hệ hiện tại mà còn ảnh hưởng lớn đến thế
hệ mai sau. Mặc dù theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 quy định được sống
trong môi trường trong lành trở thành quyền con người. Ấy vậy mà tình trạng
mơi trường như ngày nay lại vơ cùng ô nhiễm, tác động trực tiếp đến quyền con
người. Để đảm bảo được quyền này thì hơn hết việc BVMT phải luôn được
coi trọng. Và vấn đề bảo vệ môi trường công nghiệp cũng là một trong những
yêu cầu hàng đầu trong thời buổi cơng nghiệp hóa-hiện đại hóa ngày nay. Vì
vậy, một vấn đề tất yếu đặt ra là cần phải phân tích rõ hơn những quy định
của pháp luật về BVMT để thấy được việc áp dụng pháp luật của các cá nhân,
tổ chức trong giai đoạn hiện nay cũng như nguyên nhân dẫn đến việc môi
trường bị ô nhiễm. Đồng thời thấy được các quy định pháp luật về BVMT bảo
đảm như thế nào đối quyền con người được sống trong môi trường trong lành
theo Hiến pháp năm 2013.
Một trong những công cụ quan trọng trong việc BVMT ln được Đảng
và Nhà nước ta coi trọng đó là hệ thống pháp luật về BVMT. Do đó, Nhà nước
luôn xây dựng, ban hành rất nhiều quy định pháp luật về BVMT, những quy
định này với tính chất là cơ sở pháp lý, xác định rõ các quyền và nghĩa vụ về
BVMT của các chủ thể cũng như là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước
trong việc BVMT. Đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lĩnh vực mơi trường ở
Việt Nam, đó là việc ban hành Luật BVMT năm 1993 và sau một thời gian thực
hiện đã được thay thế bằng Luật BVMT năm 2005 đã xác định việc bảo vệ môi
trường là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân. Đến nay, sau khi Hiến pháp năm
2013 được ban hành thì Quốc Hội đã thơng qua Luật BVMT năm 2014. Riêng
về vấn đề BVMT ở KCN cũng ngày càng được chú ý, hàng loạt các Thông tư,
2


Nghị định về BVMT khu công nghiệp cũng đã được ban hành. Do đó, để hiểu rõ
hơn các quy định mới trong lĩnh vực môi trường hiện nay cũng như nguyên nhân

dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật về mơi trường thì việc nghiên cứu các
quy định pháp luật Việt Nam về BVMT và việc áp dụng các quy định đó tại các
KCN là điều cần thiết.
Do vậy, tác giả chọn đề tài: “Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi
trường, thực tiễn tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm
đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp như một đóng góp nhỏ vào cơng trình
nghiên cứu về vấn đề này.
2. Tình hình nghiên cứu.
Vấn đề BVMT là một vấn đề khá rộng và đến ngày nay thì nó trở thành
nên vơ cùng quan trọng. Từ trước đến nay, có rất nhiều học giả nghiên cứu về
vấn đề này với rất nhiều cơng trình, tiêu biểu như:
Hồn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường ở Việt Nam (2013), Nguyễn Thị Tố Uyên, Luận văn Tiến sĩ Luật học, Đại
học Quốc gia Hà Nội.
Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp
(2011), Đinh Phượng Quỳnh, Luận văn thạc sĩ, Luật học, Khoa Luật- Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định về các tội
phạm mơi trường; cơng trình nghiên cứu của PGS, TS Đào Trí Úc, Khoa LuậtĐại học Quốc gia Hà Nội.
Các cơng trình nghiên cứu đã làm rõ một số vấn đề về môi trường và hoạt
động BVMT nói chung ở Việt Nam một cách tồn diện, tổng thể. Cũng có một
vài cơng trình đã đi sâu hơn về các quy định pháp luật cũng như công tác BVMT
ở từng lĩnh vực, khía cạnh cụ thể như trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, làng
nghề. Hầu hết các cơng trình nghiên cứu đều chỉ ra hiện trạng mơi trường, những
vấn đề bất cập và từ đó đề xuất một vài giải pháp khắc phục nhằm cải thiện mơi
trường. Riêng về vấn đề BVMT ở KCN cũng có một vài cơng trình đi sâu phân
tích các quy định của pháp luật Việt Nam. Cụ thể như:
3



Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực tiễn áp dụng trên địa bàn
Hà Nội (2012), Lê Phương Linh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật- Đại
học Quốc gia Hà Nội.
Bảo vệ môi trường tại các khu cơng nghiệp- Pháp luật và thực tiễn (2011),
Lê Hồng Vẹn Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Luật- Trường đại học Cần Thơ.
Nghiên cứu đề xuất các biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công
nghiệp Thụy Vân, Việt Trì, Phú Thọ (2012), Lưu Đình nghĩa, Trường đại học
Bách Khoa Hà Nội…
Viết về vấn đề này, các tác giả cũng chỉ ra quy định pháp luật về công tác
BVMT ở các KCN nói chung, phân tích các quy định pháp luật về nghĩa vụ của
các chủ thể trong KCN. Nhưng ở mỗi cơng trình nghiên cứu chỉ tập trung nghiên
cứu đến một khía cạnh, một mảng cụ thể, ví dụ như quy định về quản lý chất
thải, đánh giá tác động mơi trường…mà chưa có tính khái qt và chưa đưa ra
tổng thể các nghĩa vụ cũng như trách nhiệm BVMT ở các KCN, đặc biệt việc áp
dụng các quy định đó ở các KCN tại Hà Nội. Hơn nữa, do sự thay đổi của điều
kiện kinh tế, thực trạng môi trường, đặc biệt là các văn bản pháp luật mới được
ban hành nên một số đề tài khơng cịn phù hợp với tình hình pháp luật hiện hành.
Chính vậy tác giả chọn đề tài “Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi
trường, thực tiễn tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” mang
ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
Vẽ ra một bức tranh tổng quát các quy định của pháp luật Việt Nam về BVMT
đặc biệt là BVMT ở các KCN, điển hình ở Hà Nội.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
của pháp luật về BVMT. Nghiên cứu 1 cách có hệ thống nhằm xem xét, phân
tích, đánh giá nội dung các quy phạm pháp luật hiện hành về BVMT ở KCN.
Khái quát được thực trạng môi trường KCN tại Hà Nội và việc áp dụng
các quy định pháp luật về BVMT ở KCN tại Hà Nội. Qua đó chỉ ra được những
bất cập, tồn tại trong các quy định pháp luật cũng như trong thực tiến áp dụng.


4


Đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về
BVMT ở KCN đồng thời nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường tại các
KCN ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Với đề tài: “Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường, thực tiễn
tại các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội” có đối tượng nghiên cứu là các quy
định của pháp luật Việt Nam về BVMT, đặc biệt là các quy định về BVMT ở
KCN. Thực trạng áp dụng các quy định đó tại một số KCN ở Hà Nội trong giai
đoạn hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi pháp luật Việt Nam về BVMT
như Luật bảo vệ môi trường và một số các văn bản dưới luật như Thông tư, Nghị
định quy định về vấn đề bảo vệ môi trường khu công nghiệp.
Về thời gian: Khóa luận nghiên cứu pháp luật Việt Nam về BVMT và
thực tiễn áp dụng tại các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn
hiện nay.
Về nội dung: Do kiến thức và trong khuôn khổ thời gian cho phép nên bài
khóa luận tập trung vào nghiên cứu, phân tích một số nội dung cơ bản trong các
quy định pháp luật Việt Nam về BVMT ở KCN như vấn đề quản lý chất thải,
nước thải, khí thải, cơng tác đánh giá tác động mơi trường, kiểm sốt ơ nhiễm
mơi trường…. Ngồi ra, bài khóa luận cũng hệ thống các quy định pháp luật Việt
Nam về BVMT nói chung trong giai đoạn hiện nay và đánh giá thực trạng các
quy phạm pháp luật cũng như việc thực thi các quy định đó trên thực tiễn tại các
KCN trên địa bàn Hà Nội. Khảo sát kinh nghiệm của một số quốc gia và đưa ra
các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về BVMT ở KCN.
5. Phương pháp nghiên cứu

Bài khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng và nhà nước ta về bảo vệ môi trường. Bài viết sử dụng các
5


phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, chứng
minh…Hay những phương pháp thực tế như phỏng vấn, khảo sát…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Thứ nhất, khóa luận đã tổng quát được các quy định pháp luật về BVMT
đồng thời khái quát được nội dung của các quy định pháp luật Việt Nam về bảo
vệ môi trường khu công nghiệp.
Thứ hai, cung cấp một số liệu cụ thể về tình hình mơi trường KCN tại Hà
Nội hiện nay và chất lượng môi trường sống của người dân khu vực.
Thứ ba, qua việc chỉ ra được thực trạng môi trường cũng như thực tiễn áp
dụng pháp luật về BVMT ở KCN tại thành phố Hà Nội, bài khóa luận cũng chỉ
ra một vài bất cập trong các quy định pháp luật và đề xuất giải pháp khắc phục
cũng như hoàn thiện pháp luật.Với những giải pháp đó, cũng có thể coi như một
gợi ý, một ý kiến để xem xét cho những lần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện
pháp luật trong thời gian tới; bảo đảm chất lượng mơi trường được cải thiện và
hịa nhập thế giới.
Thứ tư, làm tài liệu tham khảo trong việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu,
bài tham luận cũng như làm cơ sở cho các bài nghiên cứu tương tự liên quan đến
vấn đề BVMT.
7. Kết cấu khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục, để đạt được mục tiêu phần nội dung của khóa luận bao gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến pháp luật về bảo vệ môi
trường.

Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và thực
tiễn tại khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về bảo
vệ môi trường.

6


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1. Bảo vệ môi trường và sự cần thiết của pháp luật về bảo vệ môi trường.
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1.1. Mơi trường:
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều những nhận định khác nhau về khái
niệm môi trường. Các khái niệm về mơi trường khơng hồn tồn đồng nhất mà
được thể hiện dưới nhiều phạm vi, khía cạnh khác nhau. Một số những định
nghĩa hay được sử dụng trong các cơng trình nghiên cứu về mơi trường như:
“Mơi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế - xã
hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể hoặc một
cộng đồng người.” Theo quan điểm của UNEP – Chương trình mơi trường của
Liên hiệp quốc, 1980 1.
“Mơi trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể
sinh vật hoặc một cơ thể nhất định đang sống, là mọi vật bên ngoài cơ thể nhất
định.” – Theo G.Tyler Miler, Environmental Science, USA, 1988 [15, 3].
Hay theo định nghĩa của UNESCO (1981) “Môi trường bao gồm toàn bộ
các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình
(đơ thị, hồ chứa...) và những cái vơ hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật...), trong
đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên
nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình.”2

Có thể thấy mơi trường dường như là một thứ vơ hình mà khơng ai có thể
xác định cụ thể được nó. Bởi vậy, nó là mơt khái niệm khá rộng và đa dạng. Và
tùy theo chức năng của mơi trường thường có thể bao gồm mơi trường tự nhiên,
mơi trường xã hội và mơi trường nhân tạo. Có thể hiểu:
TS Lê Thị Thanh Mai, Giáo trình mơi trường và con người, NXB Đại học Quốc gia
TP.Hồ Chí Minh, trang 3.
2
PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường, NXB Trường Đại
học kinh tế quốc dân, năm 2003, trang 17-18.
1

7


Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố ở thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học; là những thứ sẵn có, tồn tại ngồi ý muốn của con người và
không phải do con người tạo ra nhưng lại chịu sự tác động của con người.
Môi trường này cung cấp khơng khí, đất, tài ngun, sinh thái… phục vụ đời
sống của con người.
Mơi trường xã hội đó là tổng thể các quan hệ giữa con người với con
người, gắn kết với nhau tạo thành một tập thể con người ở các cấp khác nhau
như quốc gia, tỉnh, huyện, xã.... Môi trường xã hội sẽ tạo cho con người một
khuôn khổ sống, một nếp sống nhất định và ở đó có sự đồn kết của tập thể
người cho sự tồn tại và phát triển.
Đối lập với môi trường tự nhiên là mơi trường nhân tạo, nó khơng tồn tại
một cách tự nhiên mà bao gồm các nhân tố do chính con người tạo ra, hình thành
nên như những vật dụng phục vụ cho cuộc sống: các phương tiện giao thông,
máy móc, nhà cửa…Chính sự nhân tạo đó mà giúp cho cuộc sống của con người
hoàn thiện, phong phú và phát triển hơn.
Và cịn rất nhiều sự phân loại về mơi trường nhưng tùy theo khía cạnh,

chức năng mà mỗi cá nhân lại đưa ra những cách hiểu khác nhau về mơi trường.
Dường như khơng có một khái niệm hồn chỉnh nào bao quát chung các vấn đề
trong môi trường, thể hiện hết được vai trị, ý nghĩa của mơi trường. Nhưng tựu
chung lại có thể thấy khái niệm mơi trường được định nghĩa tại khoản 1, điều 3,
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã thể hiện được phần nào điều đó: “Mơi
trường là hệ thống các yếu tố vật chất, tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với
sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”
1.1.1.2. Hoạt động bảo vệ môi trường.
Từ thực tế tồn tại các yếu tố môi trường mà các nhà nghiên cứu đưa ra các
định nghĩa khác nhau về môi trường, nhưng nhìn chung đều thể hiện mối liên hệ
giữa môi trường và con người, sinh vật. Và để môi trường tồn tại như những gì
vốn có của nó, chống lại những tác động do con người gây ra thì trong thời buổi
ngày nay công tác bảo vệ môi trường là rất cần thiết.

8


Theo Khoản 3, Điều 3, Luật BVMT năm 2014 quy định “hoạt động bảo
vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phịng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến
mơi trường; ứng phó sự cố mơi trường; khắc phục ơ nhiễm, suy thối, cải thiện,
phục hồi mơi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ
môi trường trong lành.”
Tóm lại, có thể hiểu đơn giản BVMT là những hoạt động nhằm giữ gìn
mơi trường trong lành, đảm bảo sức khỏe con người; sự đa dạng sinh học đồng
thời sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Do đó, mà BVMT dần trở
thành nghĩa vụ không chỉ của riêng một cá nhân, một tổ chức mà của tất cả
mọi người, mọi quốc gia. Nhà nước ln khuyến khích mọi người những hoạt
động BVMT đã được cụ thể hóa trong Luật BVMT năm 2014, Luật quy định
riêng một điều cụ thể về các hoạt động BVMT được khuyến khích và bên
cạnh đó là các hành vi bị nghiêm cấm. Điều này giúp cho mọi người hiểu rõ

hơn khái niệm về hoạt động BVMT, biết được những hành động nào là bảo
vệ, là hủy hoại môi trường.
1.1.2. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động bảo vệ
môi trường.
Việc sử dụng công cụ pháp luật để BVMT khu công nghiệp là tất yếu và
phù hợp. BVMT có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhưng không thể
thiếu biện pháp pháp lý, bởi lẽ đây là công cụ hữu hiệu nhất trong việc điều
chỉnh các hành vi của con người tác động vào môi trường. Nếu khơng có sự điều
chỉnh của pháp luật thì cơng tác BVMT khơng thể đạt kết quả tốt. Vì vậy cần
phải sử dụng pháp luật làm công cụ hàng đầu trong việc BVMT bởi:
Thứ nhất, pháp luật là những quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc.
Pháp luật là do nhà nước ban hành và được bảo đảm thực hiện, thể hiện ý
chí của giai cấp thống trị trong xã hội. Bởi tính đặc trưng của pháp luật là hệ
thống những quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu, mơ hình xử sự cho tất cả các
chủ thể trong xã hội, điều chỉnh mọi hành vi của các chủ thể đó. Các quy định
pháp luật là bắt buộc đối với tất cả mọi người, thể hiện ở chỗ: pháp luật quy định
cá nhân, tổ chức được làm gì, phải làm gì và cấm những hành vi nào. Trước
9


những quy định đó thì khơng một chủ thể nào được vi phạm, mọi người phải
tuân thủ nghiêm ngặt, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật. Vì vậy, khi pháp
luật quy định BVMT là nghĩa vụ thì bắt buộc các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp
phải thực hiện. Đặc điểm này của pháp luật góp phần làm cho công tác BVMT ở
KCN đạt kết quả cao. Do đó, khi các biện pháp khác khơng thể điều chỉnh hành
vi của con người thì pháp luật sẽ là cơng cụ bắt buộc họ phải tuân theo. Chính
bởi tính bắt buộc mà các chính sách nhà nước đề ra trong việc BVMT mới được
thực hiện triệt để, mới thúc đẩy sự tham gia của người dân và đồng thời cũng
thay đổi được nhận thức của họ về việc bảo môi trường. Cũng bởi có sự điều
chỉnh của pháp luật mà trước khi hành động mọi người luôn cân nhắc xem hành

động này là những hành vi bị cấm hay không, điều này góp phần hồn thiện hơn
ý thức tn thủ pháp luật của người dân.
Thứ hai, pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế
nhà nước.
Pháp luật do nhà nước ban hành và nhà nước cũng là chủ thể đặc biệt của
pháp luật. Khơng chỉ có tính bắt buộc mà pháp luật cịn có tính cưỡng chế. Điều
này thể hiện khi pháp luật đã có những quy định cụ thể mà bất kỳ ai vi phạm thì
đều bị các cơ quan có thẩm quyền xử lí bằng các hình thức xử phạt cụ thể được
quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Nếu như khơng chấp hành hình
phạt theo quy định thì sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành. Điều này đảm
bảo sự công bằng trong việc tuân thủ pháp luật. Và trong vấn đề bảo vệ môi
trường cũng vậy, nếu như các chủ thể không tuân thủ đúng các quy định trong
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp luật có nội dung liên
quan đến vấn đề BVMT thì Nhà nước sẽ áp dụng một số biện pháp cưỡng chế để
đảm bảo việc thi hành, ví dụ như phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự
cụ thể như đình chỉ hoạt động… Điều này càng nhấn mạnh tính nghiêm khắc
của pháp luật và buộc tất cả mọi người phải tuân thủ nghiêm ngặt, hạn chế và
ngăn ngừa các hành vi vi phạm.
Thứ ba, pháp luật mới bảo đảm và thúc đẩy quyền con người được sống
trong môi trường trong lành.
10


Quyền con người được sống trong môi trường trong lành đã được ghi
nhận tại Điều 43, Hiến pháp 2013 quy định: “mọi người có quyền được sống
trong mơi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ mơi trường.” Như vậy,
quyền này đã trở thành một quyền độc lập và cơ bản của con người. Vì thế bất
kỳ ai cũng phải tôn trọng và bảo đảm việc thực hiện quyền. Cơ sở để đảm bảo
quyền đó chính là mơi trường trong lành. Để có mơi trường trong lành thì vấn đề
bảo vệ môi trường là vô cùng quan trọng. Hơn nữa, quyền này đã được cụ thể

hóa trong luật BVMT năm 2014, đã được thể hiện thành một nguyên tắc riêng.
Ta có thể thấy, sự điều chỉnh của pháp luật về BVMT không những được coi là
một biện pháp BVMT mà mục đích sâu xa đó là bảo đảm quyền con người được
sống trong môi trường trong lành. Nếu như chỉ quy định quyền này trong Hiến
pháp thì rất khó để thực hiện, vì vậy việc cụ thể hóa trong pháp luật về BVMT sẽ
làm cơ sở để thực hiện tốt quyền này, mà khơng một biện pháp BVMT có thể
làm tốt hơn. Và khi pháp luật điều chỉnh tốt vấn đề bảo vệ môi trường là gián
tiếp bảo đảm, thúc đẩy quyền con người được sống trong môi trường trong lành.
Đây chính là một trong những lý do mà cần sự điều chỉnh của pháp luật trong
hoạt động BVMT.
Trong thời buổi hiện nay, tình hình mơi trường ngày càng diễn biến phức
tạp: ơ nhiễm, suy thối ngày một nhiều và nghiêm trọng hơn; khắc phục tình
trạng đó cũng rất khó khăn khơng chỉ vậy tranh chấp mơi trường cũng ngày một
tăng; do vậy, luôn cần sự điều chỉnh thống nhất của hệ thống pháp luật để giải
quyết các tình trạng đó.
1.2. Nguồn của pháp luật về bảo vệ mơi trường.
Pháp luật là một phạm trù vừa mang tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội.
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện.
Pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước.
Trong lĩnh vực môi trường, pháp luật là cơ sở pháp lý làm chuẩn mực cho các
hành vi của con người khi tác động vào môi trường. Pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến môi trường như hoạt động khai thác, quản
11


lý, sử dụng tài ngun; bảo vệ mơi trường….Nó quy định các quy tắc xử sự mà
con người phải thực hiện khi tác động vào môi trường. Những việc được làm và
phải làm đối với cơng tác BVMT. Hay nói cách khác đó chính là nghĩa vụ của
con người đối với mơi trường. Và khi con người có những hành động làm ô

nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái thì chính pháp luật lại là thước đo để
xác định mức độ vi phạm, xử lý vi phạm và đồng thời ngăn chặn các hành vi đó.
Pháp luật cũng trao quyền cho tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng nguồn tài
nguyên thiên nhiên nhưng cũng quy định việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn
tài nguyên đó.
Như vậy, pháp luật về BVMT là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong hoạt động khai thác, quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên
cũng như bảo vệ, giữ gìn các thành phần môi trường, bảo đảm quyền con người
được sống trong môi trường trong lành và sự phát triển của xã hội, góp phần
BVMT tồn cầu.
Mặc dù ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực pháp luật khác, nhưng đến
nay thì hệ thống pháp luật về môi trường cũng khá đồ sộ và phong phú. Nó được
hình thành dựa trên các nguồn Luật chung, vừa đảm bảo sự phù hợp với thơng lệ
quốc tế vừa tạo ra sự hài hịa trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nguồn của
pháp luật là một trong những khái niệm cơ bản của lí luận nhà nước và pháp luật,
cũng là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của nhiều học giả. Do đó có khá
nhiều quan điểm khác nhau, nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn của pháp luật.
Từ các cách hiểu khác nhau, dưới góc độ pháp lý và thực tiễn thì giáo trình lí
luận chung nhà nước và pháp luật, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội có đưa
ra một khái niệm chung nhất “nguồn pháp luật là những hình thức chính thức
thể hiện các quy tắc bắt buộc chung được nhà nước thừa nhận có giá trị pháp lý
để áp dụng vào việc giải quyết các sự việc trong thực tiễn pháp lý và là phương
thức tồn tại trên thực tế của các quy phạm pháp luật.”
Mặc dù hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng về cơ bản,
nguồn của pháp luật về BVMT ở Việt Nam gồm:
12


1.2.1. Điều ước quốc tế

Đây là một trong những nguồn cơ bản, quan trọng của pháp luật Việt
Nam. Theo Khoản 1, Điều 2, Công ước Viên 1969 định nghĩa “Điều ước quốc tế
là văn bản ghi nhận thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế
điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận được ghi nhận trong một văn
kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của các
văn kiện đó.” Có thể là các điều ước quốc tế song phương, đa phương, điều ước
quốc tế có tính chất khu vực hoặc các điều ước quốc tế mang tính tồn cầu. Do
đó, mà điều ước quốc tế thường có tên gọi khác nhau phụ thuộc một phần vào
chủ thể ký kết ví dụ: các hiệp định, hiệp ước, công ước, nghị định thư…
Việc tham gia các điều ước quốc tế, Việt Nam đã chuyển hóa nội dung
của nó thành các quy định trong các văn bản pháp luật, không chỉ vậy, cách
thức giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế cũng giúp cho Việt Nam có
thể học hỏi và rút ra kinh nghiệm để sửa đổi, hồn thành cơng tác tư pháp.
Ngay tại Điều 759 bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định việc áp dụng điều
ước quốc tế như sau:
“Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng
quy định của điều ước quốc tế đó.”
Do vậy, có thể thấy đối với pháp luật quốc gia thì điều ước quốc tế ngày
càng có vị trí quan trọng và cần thiết trong việc áp dụng trong xu thế tồn cầu
hóa hiện nay.
Trong lĩnh vực môi trường, Việt Nam cũng đã tham gia nhiều công ước về
bảo vệ môi trường như: Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hoá và tự
nhiên ; Công ước về buôn bán quốc tế về các giống lồi động thực vật có nguy
cơ bị đe dọa, 1973; Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển (MARPOL
73/78); Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường,
1992…Việc tham gia các cơng ước này giúp cho Việt Nam có cái nhìn tổng
quát hơn về vấn đề BVMT, hơn nữa cho Việt Nam nhiều phương pháp, cách
thức BVMT như việc thu gom, vận chuyển, tái chế các chất thải; giữ gìn và sử
13



dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học…và
đặc biệt là sự hợp tác với các quốc gia trên thế giới cùng giữ gìn, bảo vệ mơi
trường tồn cầu.
1.2.2. Văn bản quy phạm pháp luật.
Đây là nguồn pháp luật chính thức và quan trọng nhất, bởi lẽ, các cơ quan
quản lý nhà nước Việt Nam khi giải quyết các vụ việc pháp lý thực tế thuộc thẩm
quyền của mình đều chủ yếu dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia.
Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện của các quy định
pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới một hình thức nhất
định và chứa đựng các quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh một loại quan hệ xã
hội, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống. Việc thực hiện các quy
phạm pháp luật trong văn bản đó khơng làm chấm dứt hiệu lực của nó. Do vậy,
văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội tạo thành một trật tự pháp lý thống nhất, hoàn chỉnh và phù hợp.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta gồm nhiều loại có giá trị
pháp lý khác nhau, cao nhất là Hiến pháp, đạo luật cốt lõi, làm tư tưởng, nguồn
gốc cho ra đời các văn bản pháp luật ở từng lĩnh vực như Bộ luật dân sự, Bộ luật
hình sự, Luật hành chính…do Quốc Hội ban hành, Nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội. Tiếp đó là hàng loạt các Nghị định của Chính Phủ, Thơng
tư của từng Bộ, Ngành. Các quy định được trình bày thành văn nên thống nhất,
rõ ràng, cụ thể, đảm bảo dễ hiểu đối với tất cả các đối tượng. Nó là cơ sở pháp lý
quan trọng nhất để cơ quan có thẩm quyền áp dụng trong việc điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Tuy nhiên văn bản pháp luật cũng có nhiều hạn chế, do vậy đây
khơng phải là nguồn pháp luật duy nhất bởi cũng có nhiều khi các quy phạm pháp
luật không phù hợp với điều kiện thực tế, nó mang tính khái qt cao nên khó
khăn trong việc áp dụng hoặc cũng nhiều trường hợp thực tế xảy ra nhiều tình
huống mà quy phạm pháp luật chưa có quy định điều chỉnh nó, cũng có khi lại
chính những lỗ hổng, khoảng trống trong các quy định pháp luật. Để xây dựng và

thông qua một bộ luật cụ thể cần rất nhiều thời gian và hơn hết nó phải được phổ
biến rộng khắp thì mới đảm bảo hiệu lực thực thi. Do vậy, văn bản pháp luật quốc
gia sẽ trở thành nguồn quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam.
14


1.2.3. Tập quán quốc tế
Là hình thức biểu hiện các nguyên tắc xử sự, được hình thành trong thực
tiễn quan hệ quốc tế trong một thời gian nhất định và được các chủ thể của luật
quốc tế thừa nhận có giá trị pháp lý ràng buộc với mình. Hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều coi tập quán quốc tế trở thành một nguồn của pháp luật và Việt
Nam cũng không ngoại lệ. Pháp luật Việt Nam hiện nay thừa nhận tập quán quốc
tế là nguồn của pháp luật Việt Nam. Ví dụ trong lĩnh vực thương mại, pháp luật
Việt Nam cũng thừa nhận và áp dụng các tập quán thương mại quốc tế; về vấn
đề BVMT cũng vậy, như trong Tuyên bố Stockhom năm 1972 về các vấn đề môi
trường cũng đưa ra các quy tắc và một số vụ việc giải quyết về tranh chấp môi
trường hay xử lý vi phạm mơi trường, Tịa Án cũng dẫn chiếu như một nguồn
luật. Và việc áp dụng tập quán quốc tế cũng được cụ thể hóa trong Bộ luật dân
sự năm 2005 có quy định: “Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngồi khơng được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập
quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
1.2.4. Phong tục, tập quán Việt Nam.
Việt Nam- một đất nước giàu truyền thống dân tộc. Có những phong tục
đã trở thành luật lệ, bắt buộc đối với nhiều nơi. Phong tục có thể hiểu là những
hoạt động sống của con người, được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử và
ổn định thành nề nếp, được mọi thành viên trong cộng đồng thừa nhận và tự giác
thực hiện có tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cộng đồng nhất

định. Còn tập quán được hiểu dựa trên những nét cơ bản là những phương thức
ứng xử giữa người với người đã được định hình và được xem như một dấu ấn,
một điểm nhấn tạo thành nề nếp, trật tự trong lối sống của cá nhân, trong quan hệ
nhiều mặt tại một cộng đồng dân cư nhất định 3.
3

PGS.TS.Phùng Trung Tập, Phong tục, tập quán và áp dụng tập quán trong công tác xét
xử án dân sự, Thời sự pháp luật,
15


Phong tục, tập quán vừa có thể là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức
của pháp luật. Hiện nay, rất nhiều những phong tục, tập quán biến thể, lạc hậu
nhiều người đã lợi dụng điều đó mà thực hiện những hành vi trái đạo đức. Ví dụ
như số ít dân tộc thiểu số vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi một vài tập qn lạc hậu
như vẫn cịn tình trạng chuồng nuôi nhốt gia súc ở dưới gầm nhà của nhiều gia
đình vùng cao huyện Mường Khương; các dân tộc Mơng, Dao, theo đó nước
thải, phân gia súc, gia cầm ngập ngụa tràn ra đường. Chính tập qn chăn ni
vậy gây ô nhiễm môi trường, nước thải từ chăn nuôi không qua xử lý xả thẳng ra
sông suối, rác thải không được thu gom vất trực tiếp bừa bãi ra đường gây ô
nhiễm đất, nước. Điều này ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe và môi trường
sống của người dân vùng cao. Những phong tục, tập quán trái với ý chí của nhà
nước sẽ trở thành tiền đề để hình thành nên những quy phạm pháp luật thay thế
chúng nhằm điều chỉnh, xóa bỏ nó ra khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, mà có những
quy định về quản lý, xử lý nước thải, chất thải đã được ban hành…
Cũng nhiều những phong tục, tập quán tiến bộ, tốt đẹp được nhà nước
thừa nhận sẽ trở thành nguồn của pháp luật. Việc áp dụng phong tục, tập quán là
một trong những biện pháp cần thiết để bảo vệ bản sắc văn hóa và chuẩn mực
đạo đức truyền thống của Việt Nam. Phong tục, tập quán và pháp luật có sự tác
động lẫn nhau, phong tục tập quán được hình thành và tồn tại trước khi có pháp

luật và đến khi pháp luật được hình thành thì phong tục, tập quán vẫn tồn tại và
nó được coi như “nguyên liệu” tạo ra pháp luật, đồng thời cũng là công cụ bổ
sung, hỗ trợ cho pháp luật.
Ngoài ra, phong tục, tập qn cịn được coi là nguồn hình thức của pháp
luật Việt Nam trong trường hợp nó được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc
xảy ra trong thực tế. Rất nhiều nơi người dân sử dụng những tập tục riêng của
địa phương, của dân tộc họ để giải quyết tranh chấp khi xảy ra thì khi đó, tập
qn được xem như là nguồn hình thức của pháp luật.
Riêng trong lĩnh vực BVMT, từ xa xưa đã có khá nhiều những phong tục
về BVMT và nó làm tiền đề cho sự phát triển của luật BVMT sau này. Có những
nơi họ thực hiện và đề cao phong tục hơn cả những quy định của pháp luật. Ví
16


dụ, dân tộc H’Mơng, họ có truyền thống gắn bó với rừng và có tục cúng rừng.
Người dân H'Mơng coi rừng cúng của thôn là rừng thiêng nên bảo vệ rất nghiêm
ngặt theo hương ước do thôn đề ra và truyền qua nhiều đời bằng miệng. Hương
ước này quy định: “Nghiêm cấm mọi người dân trong thôn kể cả người ngồi
khơng được vào rừng cúng chặt cây, lấy củi, chăn thả gia súc vào rừng..., nếu ai
vi phạm sẽ bị thôn phạt vạ bằng tiền, ngô hoặc gạo nộp vào quỹ.” 4 Hay tập quán
của Người Thái quy định: “đối với rừng phịng hộ ở đầu nguồn nước thì tuyệt
đối cấm khai thác; rừng dành cho việc khai thác tre, gỗ để dựng nhà, phục vụ cho
các nhu cầu của cuộc sống thì tuyệt đối khơng được chặt đốt làm nương.”5
Như vậy, phong tục, tập quán được coi là nguồn thứ yếu của pháp luật
Việt Nam, các quy định của nó chủ yếu tồn tại dưới dạng bất thành văn, thiếu rõ
ràng, cụ thể nên khó đảm bảo sự thống nhất. Nhưng bên cạnh đó, chính phong
tục, tập qn lại làm nền tảng góp phần bổ sung những thiếu sót trong các văn
bản quy phạm pháp luật.
1.2.5. Nguyên tắc chung của pháp luật
Các nguyên tắc chung của pháp luật là những nguyên lý, những tư tưởng

cơ bản làm cơ sở cho tồn bộ q trình xây dựng và thực hiện pháp luật trong
thực tế 6. Những nguyên tắc chung của pháp luật sẽ được chuyển hóa trong các
quy định của pháp luật để cụ thể hóa cũng như hiện thức hóa ngun tắc đó. Ví
dụ ngun tắc tơn trọng và bảo vệ các quyền công dân và quyền con người đã
được cụ thể hóa trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật ở bất kỳ ngành luật
nào. Ngay trong Luật BVMT năm 2014 cũng đưa ra các nguyên tắc, các quy
định về bảo vệ quyền con người. Theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về bảo
đảm quyền con người được sống trong mơi trường trong lành thì Luật BVMT
4

Cục Kiểm lâm, Phong tục, tập quán mối liên hệ với quản lý tài nguyên rừng,
/>6/View/So3/Phong_tuc_tap_quan_moi_lien_he_voi_quan_ly_tai_nguyen_rung/?print=433010760,
truy cập 8:40’ ngày 12/3/2016.
5
TS.Phạm Quang Tiến, PGS.TS.Nguyễn Thị Hồi (2010), Tập quán và luật tục bảo vệ môi
trường của một số dân tộc ít người ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, (6), trang 53.
6
TS.Nguyễn Thị Hồi (2008), Các loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp, (12), trang 128.
17


năm 2014 đã cụ thể hóa quy định đó thành nguyên tắc chủ đạo cho cả bộ luật.
Tại khoản 2, Điều 3 quy định: “Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển
kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo
tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người
được sống trong mơi trường trong lành.”
Ngồi ra, hiện nay trên thế giới nhiều quốc gia trong hệ thống pháp luật
Common Law cũng thừa nhận án lệ là một nguồn của pháp luật. Nhưng trong hệ
thống pháp luật Việt Nam hiện nay, án lệ chưa chính thức được thừa nhận là

nguồn của pháp luật, cũng không công nhận việc xét xử theo án lệ. Tuy nhiên,
trong một vài lĩnh vực án lệ vẫn tồn tại dưới một số hình thức nhất định, như
trong báo cáo tổng kết hướng dẫn nghiệp vụ xét xử hằng năm của Tòa án nhân
dân Tối cao; các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm….Mặc dù chưa được thừa
nhận nhưng nó có vai trị vơ cùng lớn đối với pháp luật. Do vậy, ngày nay Việt
Nam nên đẩy mạnh việc áp dụng án lệ và thúc đẩy nó trở thành một nguồn pháp
luật chính thức.
1.3. Khái quát chung về khu công nghiệp
1.3.1. Khái niệm.
Nếu như trước đây, khái niệm KCN còn lạ lẫm với bộ phận người dân
vùng nơng thơn thì ngày nay nó trở nên rất quen thuộc đối với tất cả mọi người,
bởi đó là nơi tạo cơ hội việc làm, đem lại nguồn thu nhập cho hàng triệu người
dân Việt Nam. Theo quy định tại khoản 1, Điều 2, Nghị định 29/2008/NĐ-CP
quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế được sửa đổi, bổ sung
theo nghị định 164/2013/NĐ- CP thì “Khu công nghiệp” được định nghĩa là:
“khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất
cơng nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự
và thủ tục quy định tại Nghị định này.”
Khu công nghiệp là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp, được thành lập theo
quyết định của Chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ. Doanh nghiệp KCN gồm
doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ. Trong đó, doanh nghiệp sản
xuất là doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng công nghiệp phục vụ trong nước
18


×