Tải bản đầy đủ (.pdf) (147 trang)

Điển cố trong thơ ca phật giáo thời lý trần

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.31 MB, 147 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---***---

NGUYỄN ĐÀO NGUYÊN

ĐIỂN CỐ TRONG THƠ CA PHẬT GIÁO THỜI
LÝ TRẦN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

140tr, bìa mận chín, 6 quyển

HÀ NỘI - 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---***---

NGUYỄN ĐÀO NGUYÊN

ĐIỂN CỐ TRONG THƠ CA PHẬT GIÁO THỜI
LÝ TRẦN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số
: 60 22 34

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN NGỌC VƯƠNG



HÀ NỘI - 2011


LỜI CẢM ƠN
Học viên xin chân thành cảm ơn PGS. TS Trần Ngọc Vương, người đã hướng dẫn,
động viên và đọc sửa tận tình để luận văn được hồn thành. Học viên cũng gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến các anh chị trong Phòng văn học Việt Nam cổ trung đại - Viện văn học
đã cung cấp tư liệu cũng như cho học viên nhiều góp ý quý giá.
Cuối cùng, cảm ơn gia đình vì những hỗ trợ tinh thần trong q trình thực hiện cơng
trình khó khăn này.
Hà Nội 1/8/2011
Học viên
Nguyễn Đào Nguyên


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………..1
1.Lý do chọn đề tài……………………………………………………………………...1
2.Lịch sử vấn đề……………………………………………………………………...…2
3.Định hƣớng của luận văn…………………………………………………………....12
4.Phƣơng pháp nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu……………………………………..….13
5.Cấu trúc của luận văn……………………………………………………………..…13
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………....15
CHƢƠNG 1: Quan niệm về dụng điển trong truyền thống và trong các nghiên cứu
chịu ảnh hưởng phương Tây………………………………………………………...15
1.1.Điển cố nhìn từ truyền thống………………………………………………….....15
1.1.1.Khái niệm và tên gọi………………………………………………………….…15
1.1.2.Điển cố với truyền thống trọng lịch sử và học vấn sách vở………………….….19
1.1.3.Động lực và hiệu quả của việc dụng điển………………………………….……22

1.1.4.Yêu cầu và phƣơng thức dụng điển…………………………………………..….24
1.2.Điển cố nhìn từ các nghiên cứu chịu ảnh hưởng phương Tây…………..…….…29
1.2.1.Khái niệm và phân loại điển cố……………………………………………….…29
1.2.2.Điển cố và liên văn bản…………………………………………………….……34
1.2.3.Điển cố và ẩn dụ………………………………………………………………....43
CHƢƠNG 2: Diện mạo chung của điển cố trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần...48
2.1.Thái độ của Thiền đối với kinh điển…………………………………..……...….48
2.2.Nguồn điển, dấu hiệu nhận diện điển và phương thức dụng điển trong thơ ca
Phật giáo thời Lý Trần…………………...…………………………………….……..51
2.2.1.Nguồn điển……………………………………………………………………....51
2.2.2.Dấu hiệu nhận diện điển………………………………………………………....54


2.2.3.Phƣơng thức dụng điển……………………………………………………….…57
2.3.Điển cố trong tương quan với văn cảnh của các bài thơ Thiền Lý Trần…….....58
2.4.Đặc trưng ẩn dụ của điển cố Thiền……………………………………….……..65
CHƢƠNG 3: Dụng điển trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần nhìn qua trước tác
của Tuệ Trung thượng sĩ…………………………………………………………….71
3.1.Điển cố và sự thể nghiệm của bản ngã đối với chân lý Thiền…………….…….73
3.2.Điển cố và sự thể hiện cái nhìn nhân sinh………………………………………89
KẾT LUẬN……………………………………………………………………..……101
THƢ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………..……..104
PHỤ LỤC………………………………………………………………………….…110


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nằm trong hệ thống thi liệu văn liệu Hán học, điển cố là một trong những biện
pháp tu từ then chốt và đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong trƣớc tác thời trung đại. Điển
cố không chỉ là phƣơng tiện tu từ học mà còn phản ánh tƣ duy sáng tác đặc thù của văn

nhân ngày xƣa.
Hiện tại việc nhận diện điển cố ở Việt Nam đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu hƣởng
ứng. Không ít các nhà nghiên cứu đã nêu lên một quan niệm khái quát của mình về
điển cố. Ấn tƣợng chung là các quan niệm này hầu hết đều bắt nguồn từ truyền thống
tu từ học Trung Hoa, vốn chỉ nhấn mạnh kĩ năng dụng điển. Trong cái nhìn chung,
nghiên cứu điển cố đƣợc hình dung là một cơng việc thực chứng nhằm tìm hiểu nguồn
gốc ngữ nguyên học của từ ngữ. Một số tác giả đã chú tâm hơn vào giá trị biểu trƣng,
kí hiệu, ẩn dụ của điển, đem lại một cái nhìn hiện đại hơn đối với điển. Song có thể
thấy hầu nhƣ chƣa xuất hiện việc dẫn nhập các quan niệm về điển của các học giả chịu
ảnh hƣởng của phƣơng Tây. Xu thế nghiên cứu điển cố với tƣ cách là một hình thức
liên văn bản (intertextuality), đồng thời nhìn điển cố nhƣ là một nhân tố cấu trúc nội
văn bản trong hệ thống ngôn từ của tác phẩm, vốn đƣợc vận dụng rộng rãi ở phƣơng
Tây vài mƣơi năm lại đây, chƣa thực sự đƣợc nhắc đến. Luận văn của chúng tôi sẽ
phần nào bổ sung hƣớng tiếp cận này để có một cái nhìn đa dạng hơn về điển cố, bên
cạnh quan niệm truyền thống về điển vốn chịu ảnh hƣởng của tu từ học Trung Hoa.
Trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần, điển cố có vai trị quan trọng trong việc
truyền tải các hàm ý triết học – tôn giáo nhà Phật. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đề
cập đến điều này, nhƣng hiện vẫn chƣa có cơng trình nào đi sâu bàn giải. Nhìn từ góc
độ liên văn bản, đâu là đặc trƣng của điển cố Thiền trong nguồn điển? Đặc trƣng đó
đƣợc phát huy nhƣ thế nào trong văn cảnh của mỗi bài thơ Thiền và đƣa lại hiệu quả gì
cho ý nghĩa mỗi tác phẩm? Những vấn đề cịn bỏ ngỏ đó là lí do để chúng tơi lựa chọn

1


đề tài luận văn của mình, với hy vọng đặt một góc nhìn khác vào điển cố trong thơ ca
Phật giáo thời Lý Trần.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Nghiên cứu điển cố văn học trung đại Việt Nam
Điển cố trong thơ văn dân tộc đã xuất hiện từ lâu nhƣng việc nghiên cứu về điển

thì chỉ mới xuất hiện trong thế kỷ XX. Thời trung đại, trong môi trƣờng sáng tác đòi
hỏi viện dẫn điển là điều quá ƣ hiển nhiên, các nhà văn nhà thơ ít chú ý đến việc
nghiên cứu và làm chú thích về điển cố, chỉ bình phẩm, thƣởng ngoạn về điển một cách
ít ỏi trong các lời bàn luận về văn chƣơng.
Sang thế kỉ XX, khi nền Hán học suy tàn, văn học chuyển sang dùng chữ quốc
ngữ làm phƣơng tiện sáng tác, thì ý thức tìm hiểu, nghiên cứu điển cố mới thực sự trỗi
dậy, đánh dấu trƣớc hết bằng việc biên soạn các cuốn từ điển công cụ chú giải về điển
cố. Trƣớc 1945 có cuốn Từ điển văn liệu (Á Châu, Hà Nội, 1941) của Long Điền
Nguyễn Văn Minh và cuốn Tầm nguyên từ điển (Quốc học thƣ xã, Hà Nội, 1941) của
Lê Văn Hòe. Sau 1945, đặc biệt khoảng ba mƣơi năm lại đây, các cuốn từ điển công cụ
kiểu này xuất hiện rất nhiều phục vụ nhu cầu tra cứu của đơng đảo độc giả vốn càng
ngày càng ít hiểu biết về Hán học, có thể kể đến: Điển cố văn học (Đinh Gia Khánh
chủ biên, Nxb Văn học 1977), Từ điển từ ngữ tầm nguyên (Bửu Kế, Nxb Thuận Hóa
2000), Điển hay tích lạ (Nguyễn Tử Quang, Sài Gịn, Khai Trí, 1974, Nxb Trẻ tái bản
1995), Điển tích chọn lọc (Mộng Bình Sơn, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1989), Từ điển giải
thích thành ngữ gốc Hán (Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, Nxb Văn hóa, 1994), Từ điển
thành ngữ điển cố Trung Quốc (Lê Huy Tiêu biên soạn, Nxb KHXH, 1993), Ngữ liệu
văn học (Đặng Đức Siêu, 1998), Từ điển điển cố văn học trong nhà trường (Nguyễn
Ngọc San, Đinh Văn Thiện, Nxb Giáo dục, 1998), Từ ngữ điển cố văn học (Nguyễn
Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, Nxb Văn học 1999), Điển tích truyện Kiều (Nguyễn Tử
Quang, Nxb Văn hóa thơng tin, 2003)…Tuy số lƣợng sách nhiều nhƣng có thể đƣa ra
một nhận xét chung là ở Việt Nam vẫn chƣa có một cuốn từ điển điển cố thật sự. Trong

2


các cơng trình kể trên, phần lớn điển cố, điển tích bị nằm lẫn trong hệ thống ngữ liệu
Hán học nói chung. Ngay các từ điển có tiêu đề “điển cố” nhƣ Điển cố văn học [24]
của Đinh Gia Khánh, Từ điển điển cố văn học trong nhà trường [49] của Nguyễn Ngọc
San cũng khơng hồn tồn là các cuốn sách cơng cụ về điển cố, bởi có vơ số khái niệm,

thuật ngữ vốn không phải là điển cũng đƣợc đem vào nhƣ: Pháp giới, Cam lộ, Bát nhã,
Ngũ đế, Tam tòng, Nghiệp…Điều này cho thấy một số tác giả vẫn chƣa rạch ròi trong
việc nhận diện điển, chƣa đƣa ra những nội hàm để xác định một khái niệm điển cố khả
dĩ sử dụng đƣợc.
Bổ sung cho điều này, trong các cơng trình và các bài viết, các nhà nghiên cứu
đều cố gắng đƣa ra một quan niệm về điển cố nhằm cô lập điển cố khỏi các đơn vị
ngôn ngữ khác đƣợc dùng làm ngữ liệu văn chƣơng. Cuốn Ngữ liệu văn học [51] của
Đặng Đức Siêu định nghĩa điển cố là “chuyện cũ ngƣời xƣa đƣợc rút gọn lại thành đôi
ba chữ nhằm dẫn lại trong văn thơ để biến những chuyện xƣa ngƣời cũ ấy phục vụ cho
mục đích, ý đồ của ngƣời sáng tác” [51,15]. Nguyễn Ngọc San trong lời nói đầu Từ
điển điển cố văn học trong nhà trường [49] cũng quan niệm tƣơng tự: “Điển cố là viết
gọn truyện cũ lời xƣa thành đôi ba chữ để đƣa vào văn chƣơng, làm cho các câu văn
hàm súc ngắn gọn, lời ít ý nhiều” [49,3].
Nguyễn Thúy Hồng với bài viết Việc sử dụng điển cố Hán học trong “Chinh phụ
ngâm” [18] định nghĩa điển cố trên hai phƣơng diện hình thức và nội dung: về hình
thức “điển cố Hán học thƣờng là các ngữ Hán Việt cố định (…) hoặc là các ngữ cố
định mà màu sắc Hán Việt còn rất đậm”, về nội dung “các điển cố Hán học là sự đúc
kết các truyện cũ tích xƣa, các bài học thế sự nhân tâm Trung Quốc đƣợc ghi chép
trong các thƣ tịch trƣớc tác Hán học. Việc sử dụng điển cố Hán học có tác dụng gia
tăng tính hàm súc, ý ở ngồi lời cho văn bản văn học nhờ sự liên tƣởng của độc giả tới
nội dung điển cố” [18,44].
Về phƣơng thức sử dụng điển cố, có thể thấy các định nghĩa thƣờng gặp nhau
trong việc phân chia điển cố thành hai loại là “dùng điển” và “dùng chữ”. “Dùng điển”

3


tức dùng câu chuyện, tích chuyện, cịn “dùng chữ” là dùng lời nói, câu chữ nổi tiếng.
Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cƣờng trong Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn
gốc đến thế kỷ XIX [7] coi điển cố “khơng phải là trích dẫn ngun văn, mà là lối dùng

lại vài chữ (…). Lối này đƣợc gọi chung là dùng điển cố, bao gồm phép dùng điển và
dùng chữ” [7,142-143]. Trong Tìm hiểu điển tích truyện Kiều [47], Phạm Đan Quế
gộp chung hai phƣơng thức này thành một từ là “điển chữ” tƣơng đƣơng với điển cố:
“Trong văn chƣơng, điển, chữ giúp cho ngơn ngữ và hình tƣợng văn học sinh động
hẳn lên (…). Trong tu từ học, điển chữ đƣợc gọi là những dẫn ngữ (allusion)” [47,6].
Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên trong Từ ngữ điển cố văn học [44] xem dùng
điển là “cách mƣợn những điển tích, những chữ sách” [44,19]. Thực ra cách gọi này
đã có từ trƣớc. Việt Nam văn học sử yếu của Dƣơng Quảng Hàm đã chia điển cố thành
hai phép là “dùng điển” và “lấy chữ”, trong đó “dùng điển ám chỉ đến việc cũ tích xƣa
khiến cho ngƣời đọc nhớ đến việc ấy, tích ấy mới hiểu ý nghĩa và vấn đề lý thú trong
câu văn”, còn “lấy chữ là mƣợn một vài chữ trong câu thơ và câu văn cổ để đặt vào
câu văn của mình, khiến cho ngƣời đọc phải nhớ đến câu thơ hoặc câu văn kia mới
hiểu đƣợc cái ý mình muốn nói” [36,183-186]. Lê Văn Hòe trong Chữ nghĩa truyện
Kiều [17] dùng chữ “điển cố” và “chữ sách” để chỉ cách phân chia này: “Từ Nguyễn
Văn Vĩnh, Bùi Khánh Vĩnh, tới Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim và thi sĩ Tản Đà, có thể nói
hết thảy các nhà chú giải đều chỉ chú trọng đến các điển cố và chữ sách” [16,6]. Triệu
Hữu Lập trong lời tựa cho cuốn Từ điển văn liệu [42] của Long Điền Nguyễn Văn
Minh cũng sử dụng khái niệm “dùng chữ” và “dùng điển” trỏ việc vận dụng điển cố:
“Ngƣời ta làm văn tất cũng phải có văn liệu, nghĩa là phải dùng chữ, dùng điển ở
trong Ngũ kinh, Tứ thƣ, chƣ sử, các chuyện, để phụ diễn ra thành văn, thì lời văn mới
hay mới đẹp, lời nói châu ngọc hàng hàng gấm thêu” [41,7].
Trong một số phân tích khác, cũng có tác giả chú trọng hơn về một trong hai
phƣơng thức này. Nguyễn Khắc Phi trong bài viết “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần
Côn và thơ ca cổ điển Trung Quốc [45] đã dùng khái niệm “điển thơ”, “điển chữ” (tác

4


giả phân biệt “điển thơ”, “điển chữ” với “điển chuyện”) khi tập trung phân tích hệ
thống vay mƣợn thơ ca cổ điển Trung Hoa trong nguyên tác Chinh phụ ngâm [45,118].

“Điển thơ” hay “điển chữ” tức là lối dùng chữ, nhƣng không phải chữ trong kinh sách
mà lấy từ trong thơ ca cổ điển. Cịn Phan Khơi trong bài báo Sự dùng điển trong thơ
văn và sự chú thích [25], trong khi bác lại quan niệm của Dƣơng Quảng Hàm về điển,
đã nghiêng về lối “dùng điển”. Phan Khôi cho rằng nội hàm chặt chẽ nhất của điển cố
chính là lối “dùng điển”, tức là “khiến việc”, dùng “sự tích xƣa” chứ khơng phải là “lời
nói”, là “lấy chữ”. Nếu bao gộp lối lấy chữ vào thì điển đƣợc hiểu theo cả nghĩa rộng
[25,243]. Bài báo sắc sảo của Phan Khôi đã đặt ra một xác định rất đáng để xem xét,
giúp chúng ta xâu chuỗi các hình dung chung về điển với nhau.
Bênh cạnh các định nghĩa chung nói trên cịn có một số quan niệm nhận diện điển
cố ở các khía cạnh chuyên biệt hơn, liên quan đến ý nghĩa biểu trƣng và ẩn dụ của điển.
Trong Ngôn ngữ thơ [3], đặt điển cố trong tƣơng quan so sánh với các yếu tố của hệ
thống chuyển nghĩa có tính ẩn dụ (gồm so sánh, ẩn dụ, điển cố), Nguyễn Phan Cảnh
định nghĩa: “Đẩy hết các tổ chức kép các lƣợng ngữ nghĩa về phía cực đối lập – nghĩa
là tổ chức cho chỉ tín hiệu kêu gọi là xuất hiện trên thơng báo, cịn tín hiệu đƣợc kêu
gọi thì khơng những tiềm tàng trong mã mà cịn chỉ có thể đƣợc liên tƣởng với điều
kiện là phải có sự tích lũy văn học nhất định về phía ngƣời đọc, chúng ta sẽ có điển
tích” [3,99]. Trong định nghĩa này, “tín hiệu kêu gọi xuất hiện trên thơng báo” tức là
dấu hiệu nhận diện điển cố trong văn bản thơ, cịn “tín hiệu đƣợc kêu gọi tiềm tàng
trong mã” tức là nguồn điển qua bề dày thời gian đƣợc mã hóa một ý nghĩa tƣợng trƣng
ẩn dụ nào đó.
Cuốn Cấu trúc thơ [26] của Thụy Khuê cũng đặt điển cố làm một tập con của ẩn
dụ (ẩn dụ gồm ba phƣơng thức: cắt gọt, thay thế, điển cố). Khẳng định điển cố cũng là
một “hình thức tu từ có tính cách ẩn dụ”, tác giả chia điển cố thành hai loại: điển cố
trực tiếp (hay điển cố từ chƣơng) và điển cố gián tiếp (hay điển cố phân hóa). Điển cố
trực tiếp là “thay thế cách diễn đạt thông thƣờng bằng một từ ngữ, một câu hay một sự

5


việc chép trong sách xƣa mà khơng chế biến gì”, còn điển cố gián tiếp là “dùng một

câu văn hay một sự việc chép trong sách rồi chế biến thành của mình” [26,30].
Bài viết Tìm hiểu giá trị và cấu trúc điển cố qua các tác phẩm Nôm [48] của
Nguyễn Ngọc San phân tách hai cấp độ nghĩa của điển cố có: nghĩa lịch sử cụ thể và
nghĩa biểu trƣng. Nghĩa lịch sử cụ thể biểu đạt “cái hiện thực nằm trong từ ngữ”. Nghĩa
biểu trƣng hay nghĩa phong cách học là “nghĩa mới nằm bên ngoài bản thân các từ ngữ,
đƣợc tƣ duy trừu tƣợng dẫn xuất ra, tức là ngồi ý nghĩa hiện thực, chúng cịn có thêm
một ý nghĩa biểu trƣng, ý nghĩa giá trị phong cách. Ý nghĩa này nằm ngoài các từ ngữ,
đƣợc nảy sinh ra do sự đan xen giữa dòng biểu đạt với sự liên tƣởng tới một dòng biểu
đạt cũ mà “từ ngữ mƣợn - điển cố” này gọi ra” [48,34].
Phần phân tích ngơn ngữ nghệ thuật Nguyễn Du trong Thi pháp Truyện Kiều
[53] Trần Đình Sử có phân biệt điển cố văn học với việc kê cổ, dẫn kinh, dẫn sách.
Trần Đình Sử cho rằng kê cổ, dẫn kinh, dẫn sách nhằm mục đích nói lý trong việc chứ
khơng phải nói tình, ý nghĩa nằm ở lời nghị luận chứ khơng phải hình tƣợng. Ngƣợc
lại, điển cố văn học nhắc đến điển để nói tình trong việc. Dùng điển với tƣ cách là một
biện pháp tu từ chỉ khi “điển cố phải trở thành hình tƣợng hốn dụ, ẩn dụ hay tƣợng
trƣng mới là điển cố văn học” [53,291].
Có thể thấy, khác với các định nghĩa chung, quan niệm điển cố của Nguyễn
Phan Cảnh, Thụy Khuê, Nguyễn Ngọc San, Trần Đình Sử đặc biệt quan tâm đến giá trị
ẩn dụ, biểu trƣng của điển cố. Chính giá trị đó khiến một điển cố trở thành điển thật sự,
tức là có ý nghĩa tu từ và mang tính hình tƣợng, phân biệt với một trích dẫn khn sáo
chỉ nhằm khoe sách vở uyên bác.
Nghiên cứu điển cố ở Việt Nam đƣợc triển khai một cách có hệ thống hơn cả là
hai luận án tiến sĩ: Nghệ thuật sử dụng điển cố trong truyện thơ và ngâm khúc cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX [36] của Đoàn Ánh Loan và Điển cố với các nội hàm ngơn ngữ
và văn hóa của chúng (Trên cứ liệu điển cố Nga, Anh, Việt) [63] của Nguyễn Văn
Thành.

6



Với phần khái quát về điển cố trong luận án của mình, Đồn Ánh Loan đã tổng
hợp lại các nghiên cứu ở dạng khái quát về điển cố ở Trung Quốc và Việt Nam đi từ
định nghĩa, nguồn gốc đến mục đích sử dụng và tính chất của điển cố. Bên cạnh đƣa ra
một định nghĩa chung, thƣờng gặp về điển cố, tác giả còn nhấn mạnh điển cố với tƣ
cách là một biện pháp tu từ, điển cố đƣợc xem là “một đơn vị mở trong hệ thống ẩn dụ
mang tính chất và ý nghĩa đặc biệt” [36,49]. Nhìn từ vị thế ngƣời tiếp nhận tác phẩm có
điển cố, Đoàn Ánh Loan đề cập đến khả năng liên tƣởng, gợi mở của điển cố: “Điển cố
giúp ngƣời đọc hiểu đƣợc giá trị câu thơ thông qua hồi ức, tƣởng tƣợng, liên tƣởng và
khả năng gợi mở. Quá trình tiếp nhận câu thơ có điển cố là q trình từ vỏ từ ngữ qua
khúc xạ tâm lý trở về câu chuyện (thơ văn) q khứ, chuyển hóa thành hình ảnh chủ
quan của ngƣời tiếp nhận” [36,49]. Trong mục Tính chất của điển cố, tác giả chia điển
cố thành hai lớp nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Cách chia này tƣơng tự nhƣ Nguyễn
Ngọc San. Tác giả cho rằng nghĩa đen là nghĩa nhiều hình tƣợng, cụ thể sinh động, cịn
nghĩa bóng là nghĩa mang tính khái qt, trừu tƣợng, có khi đa dạng, nhiều màu sắc
biểu cảm. Sử dụng điển cố là sự kết hợp giữa hai lớp nghĩa này: “Dùng nghĩa đen làm
phƣơng tiện biểu đạt, dùng nghĩa bóng làm nội dung ý nghĩa, mục đích biểu trƣng và
sau đó thể hiện thái độ của ngƣời sử dụng” [36,51]. Có thể nhận thấy điểm nhấn của
luận án Đồn Ánh Loan là chú trọng vào tính liên tƣởng, cụ thể, hình tƣợng của điển,
điển có ý nghĩa tƣợng trƣng trong một tƣơng quan so sánh mở.
Luận án của Nguyễn Văn Thành nhìn điển chủ yếu dƣới góc độ ngơn ngữ học.
Tác giả đã tiến hành so sánh điển cố với các đơn vị ngôn ngữ khác là thành ngữ, tục
ngữ, cách ngôn, đặc biệt là với thành ngữ. Tác giả cho rằng nếu nhƣ thành ngữ là đơn
vị cấu trúc ngơn ngữ, tức là tồn tại sẵn có trong từ vựng, đƣợc cộng đồng dùng nguyên
vẹn trong giao tiếp, thì điển cố là một đơn vị sử dụng, tức là khơng có hình thức cố
định, có thể là từ, cụm từ hoặc câu. Tác giả đƣa ra một đĩnh nghĩa chung về điển cố
trên cơ sở kế thừa nhiều nhà nghiên cứu, nhƣng đặc biệt nhấn mạnh đến tính xuất xứ
của điển, điển nào cũng có nguồn gốc trong sách xƣa thuộc về văn chƣơng kinh bổn,

7



hoặc các sự kiện từng diễn ra trong lịch sử con ngƣời; và điều này là tiêu chí nhận diện
hàng đầu của điển cố trong đối sánh với các đơn vị ngơn ngữ khác. Tác giả đi sâu vào
phân tích cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của điển. Trong cấu trúc ngữ nghĩa,
điểm nhấn của luận án là chia tách hai lớp nghĩa điển cố thành nghĩa lịch sử cụ thể (hay
nghĩa từ nguyên, nghĩa nguyên thủy) và nghĩa biểu trƣng (hay nghĩa biểu niệm). Nghĩa
biểu trƣng đƣợc hình thành thơng qua nội dung ẩn dụ, hốn dụ và phúng dụ của điển.
Đây là các phƣơng tiện tu từ ngữ nghĩa của điển làm nên tính võ đoán đặc biệt của nội
dung điển cố. Luận án Nguyễn Văn Thành thiếu đi phần mô tả quan niệm của Trung
Quốc về điển, nhƣng lại phân tích rất kĩ nội dung và hình thức của điển, nhất là phƣơng
diện tu từ tạo nên giá trị kí hiệu học của nó.
Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu đều cố gắng xác lập một nội hàm điển cố nhằm
khu biệt điển với các hình thức dẫn văn liệu thi liệu khác. Các tác giả đều thống nhất
cho rằng điển cố là những câu chuyện và từ ngữ lấy ra từ các nguồn sách vở xác định
của quá khứ, đƣợc viết cô đọng, hàm súc trong văn bản hiện tại nhằm mục đích chuyển
tải quan niệm của ngƣời sáng tác. Điển cố đƣợc dẫn dụng trong thơ văn bao gồm hai
phƣơng thức: dùng điển và dùng chữ. Dùng điển là viện dẫn sự kiện câu chuyện nổi
tiếng, cịn dùng chữ là trích dẫn các đoạn văn, đoạn thơ, lời nói có giá trị trong các văn
bản kinh điển hoặc trong các tác phẩm thơ văn. Một số tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến
tính biểu trƣng, tƣợng trƣng, khái quát của điển cố đƣợc hình thành thơng qua các biện
pháp tu từ ẩn dụ và hốn dụ giàu tính liên tƣởng, hình tƣợng, linh động. Đây là những
gợi dẫn quan trọng bƣớc đầu để luận văn nhận diện điển cố. Tuy nhiên, các nhà nghiên
cứu dƣờng nhƣ vẫn chỉ tập trung vào tự thân điển cố, tức là điển cố với nguồn văn bản
của nó, ý nghĩa biểu trƣng của điển qua thời gian mà chƣa chú trọng đến tính tƣơng tác
giữa văn bản nguồn và văn bản dẫn điển, quan hệ giữa trạng huống của nguồn điển và
trạng huống của tác phẩm hiện tại, tức là quan hệ liên văn bản giữa cá nhân và truyền
thống mà qua đó cấp độ nghĩa hàm chỉ của tác phẩm đƣợc thể hiện. Mối tƣơng liên

8



động giữa hệ thống giá trị văn hóa và chủ ý của văn bản hiện tại chƣa thực sự đƣợc chú
trọng.
2.2.Nghiên cứu điển cố trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần
Trong các nghiên cứu về văn học, triết học, lịch sử, mảng thơ ca Phật giáo thời
Lý Trần chủ yếu đƣợc quan tâm nhiều ở khía cạnh nội dung, khía cạnh mĩ học hơn là
khía cạnh hình thức. Bình diện ngơn ngữ ít khi đƣợc tách riêng mà thƣờng gộp chung
với tƣ cách là một phần “diện mạo, đặc điểm” hay “đặc trƣng nghệ thuật” nói chung
của thơ ca Phật giáo, hoặc rộng hơn là của văn học Phật giáo thời Lý Trần. Và đây đó
khi phân tích, nhận xét ngôn ngữ thơ ca, một số nhà nghiên cứu đã có quan tâm đến số
lƣợng và đặc điểm của hệ thống điển cố thơ ca Phật giáo giai đoạn này.
Cơng trình có đề cập đến điển cố thơ ca Phật giáo Lý Trần đáng kể hơn cả là luận
án Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam từ thế kỷ X – thế kỷ
XV [65] của Đồn Thị Thu Vân. Phần trình bày về điển cố nằm trong mục Ngôn ngữ
thơ Thiền. Tác giả cho rằng bên cạnh các thuật ngữ, các hình ảnh ẩn dụ, thơ Thiền Lý
Trần cịn “sử dụng vơ số điển cố Phật giáo” [65,53]. Tác giả thống kê tên các điển cố
kèm theo nguồn của chúng, đƣợc xếp theo ba loại chính: điển thuộc kinh sách nhà
Phật, điển thuộc kinh sách Nho gia, Lão Trang, và điển từ các nguồn tài liệu sách vở
khác. Tuy nhiên Đoàn Thị Thu Vân chỉ liệt kê mà không đƣa ra các nhận xét về hình
thức, nội dung cũng nhƣ vai trị của điển trong việc truyền tải thông điệp Phật học đối
với các bài thơ Thiền. Hơn nữa, việc tách hẳn ẩn dụ và điển cố thành hai mục, tuy tiện
cho cấu trúc luận án, nhƣng vơ hình trung đã bỏ qua nội dung có tính ẩn dụ trong các
điển cố vốn giàu hình tƣợng, liên tƣởng.
Cơng trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần – Diện mạo và đặc điểm [39] của
Nguyễn Công Lý cũng đề cập đến điển cố, nhƣng là điển cố trong văn học Phật giáo
Lý Trần nói chung. Phần nhận xét về ngôn ngữ, tác giả cho rằng ngoài việc sử dụng
các khái niệm, phạm trù triết lý Thiền, sử dụng những ẩn dụ với tính ƣớc lệ hóa, sử
dụng hình ảnh mang tính nghịch ngữ, phi logic, văn học thời kỳ này “còn ƣa sử dụng

9



điển cố” [39,269]. Tác giả chỉ đƣa ra một khái quát ngắn gọn về các nguồn điển và một
nhận xét tổng quát về ý nghĩa của điển cố: “Văn học Phật giáo Lý Trần nếu sử dụng
điển cố nhà Phật nhằm mục đích khơi gợi ngƣời học đạo giác ngộ chân lý thì việc dùng
điển cố từ nguồn kinh sách của Nho – Lão, đặc biệt là của Lão – Trang, đã cho thấy sự
gần gũi tƣơng đồng giữa Thiền học và Đạo học. Đồng thời những điển cố từ những
kinh sách trên là những điển cố giàu hình ảnh đã góp phần gợi cảm hứng sâu sắc cho
Thiền gia” [39,169].
Cuốn Thơ Thiền Việt Nam – Những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật [20]
của Nguyễn Phạm Hùng không giành một mục nhỏ nào bàn về điển cố, các nhận xét về
điển chỉ lác đác kèm theo nhận xét về nguồn thi liệu của thơ Thiền. Tác giả cho rằng
điển Phật giáo trong thơ Thiền nằm trong hệ thống “từ nhà Phật” làm nên đặc trƣng của
bộ phận thơ ca này: “Thơ Thiền phân biệt với thơ ca khác ở lớp từ ngữ nhà Phật, ở các
điển tích, điển cố, các hình ảnh thi ca gắn bó với Phật giáo (…). Từ nhà Phật là bộ
phận cấu thành quan trọng của thơ Thiền” [20,38]. Phân tích tác phẩm Trần Thái Tông
tác giả nhấn mạnh tới các phạm trù cơ bản của Phật lý, hay những quan niệm, truyền
thống sáng tác văn học Thiền “đƣợc dẫn ra từ Phật điển, Phật thoại” [20,144]. Bình
luận về Thượng sĩ ngữ lục, tác giả cũng lƣu ý việc Tuệ Trung thƣợng sĩ “sử dụng nhiều
từ ngữ, hình ảnh, điển tích, điển cố Phật giáo” [20,159].
Lê Thị Thanh Tâm trong luận án Tiến sĩ Nghiên cứu so sánh thơ Thiền Lý Trần
Việt Nam và thơ Thiền Đường Tống [56] cũng có nhận xét nhỏ nhắc đến điển cố:
“Nghệ thuật thơ Thiền thể hiện ở thể thức ngôn ngữ ẩn dụ của tôn giáo và thơ ca, ở
phƣơng thức tiếp nhận điển cố, điển tích thuộc các hệ tƣ tƣởng lỗi lạc nhất Trung Hoa
và Ấn Độ” [56,32]. Phần cốt lõi của luận án là đi sâu vào phân tích các biểu tƣợng
Thiền học trong thơ Thiền Lý Trần và Đƣờng Tống và dòng ảnh hƣởng một chiều các
biểu tƣợng Thiền này từ Trung Quốc sang Việt Nam. Hệ thống thi liệu này rất hữu ích
trong đối sánh tƣơng đồng và khác biệt với các điển cố Phật học.

10



Phạm Tú Châu trong bài viết Xác định tính chất và bối cảnh ra đời bài “Cảm
xúc khi đọc „Phật sự đại minh lục‟” của Trần Thánh Tơng [8] có đề cập tới hình thức
thơ vịnh cơng án qua nghiên cứu xuất xứ câu “Vân tại thanh thiên thủy tại bình” trong
bài thơ của Trần Thánh Tơng và thơ của một số tác giả khác. Đây là câu nói rất nổi
tiếng trong một công án về Thiền sƣ Dƣợc Sơn, Trung Quốc. Thực chất bài viết Phạm
Tú Châu là nghiên cứu một hình thức ảnh hƣởng, vay mƣợn của Thiền tịch Trung Hoa
đối với thơ Thiền Việt Nam. Đó cũng là một hình thức điển cố khi nguồn vay mƣợn là
một cơng án đƣợc xác định và câu nói của Thiền sƣ Dƣợc Sơn là mấu chốt của một tích
truyện về quan Thứ sử Lý Cao đi hỏi đạo Thiền sƣ Dƣợc Sơn.
Hoàng Văn Cảnh với luận án Tiến sĩ “Pháp bảo đàn kinh” và ảnh hưởng của nó
đối với các nhà Thiền học đời Trần [2] đã có những phân tích có tính hệ thống ảnh
hƣởng rõ rệt của quan niệm Thiền học trong kinh Pháp bảo đàn đối với các sáng tác
Phật học của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông và Tuệ Trung thƣợng sĩ. Tuy không đề
cập đến điển cố nhƣng việc phân tích các dấu ấn ảnh hƣởng của Pháp bảo đàn kinh về
nội dung (quan niệm về tự tính, về tọa Thiền) và ngơn ngữ (các cụm từ đặc hữu của
kinh nhƣ “bản lai diện mục”, “minh tâm kiến tính”…) trong sáng tác các nhà Phật học
đời Trần rất gợi dẫn cho ngƣời nghiên cứu suy ngẫm về sự hiện diện những trích dẫn từ
các nguồn điển nổi tiếng trong thơ ca Phật giáo. Bản thân những cụm từ nhƣ “bản lai
diện mục” vốn là một điển cố tồn tại dƣới dạng thành ngữ Phật học có xuất xứ là cuộc
đối đáp giữa Thƣợng tọa Minh và Huệ Năng về Phật tính, tự tính đƣợc chép trong
Pháp bảo đàn kinh.
Nhƣ vậy, điển cố trong thơ ca Phật giáo Lý Trần đã đƣợc để ý ở một chừng mực
nào đó. Các tác giả chủ yếu vẫn đặt điển trong hệ thống ảnh hƣởng vay mƣợn Thiền
tịch Trung Hoa với một hình dung chung, có tính gợi dẫn, gợi ý mà chƣa tách điển ra
thành một chủ đề nghiên cứu độc lập, để đánh giá ý nghĩa của điển đối với thơ Phật
giáo giai đoạn này.

11



3. Định hƣớng của luận văn
- Luận văn sẽ đƣa ra một cách nhìn chung về điển làm tiền đề trƣớc khi lựa chọn cách
hiểu về điển cố của các tác giả gốc Hoa chịu ảnh hƣởng của phƣơng Tây, nhất là quan
niệm của Peng Enhua Edward (Luận án Vai trò của điển cố trong thơ ca cổ điển Trung
Hoa) [69], của Liu Wan (Luận án Thi pháp của điển cố: Đỗ Phủ, Lý Thương Ẩn, Ezra
Pound và T.S Eliot) [72] và của Teresa Yee-Wah Yu (Luận án Lý Thương Ẩn: Thơ ca
của điển cố) [75]. Qua tổng hợp và phân tích các quan điểm nghiên cứu, tập trung nhất
là cơng trình của Liu Wan, luận văn coi điển cố nhƣ một hoạt động liên văn bản đƣợc
đặc trƣng bởi hệ thống các khung dẫn chiếu kép, hàm ẩn giữa văn bản trích dẫn và văn
bản đƣợc trích dẫn. Ý nghĩa của điển cố vừa phụ thuộc vào các hàm nghĩa biểu trƣng
trong nguồn điển, vừa phụ thuộc vào môi trƣờng văn cảnh mà nguồn điển đƣợc chuyển
hóa, chỉnh sửa để tƣơng thích với cấu trúc hình thức cũng nhƣ hàm ý của bài thơ hiện
tại. Trong hoạt động tƣơng tác với văn cảnh, giá trị ẩn dụ biểu trƣng của điển đƣợc
phát huy, đem đến cho bài thơ một trạng huống gợi mở, sống động.
- Với một cách hiểu tƣơng đối nhất quán về điển cố, nhiệm vụ chính của luận văn là
chỉ ra một số đặc điểm của điển cố trong thơ ca Phật giáo Lý Trần: nguồn điển, các dấu
hiệu nhận diện điển, các phƣơng thức dẫn điển, sự hiện diện của điển trong tƣơng quan
với văn cảnh bài thơ Thiền và nội dung ẩn dụ đặc biệt của nguồn trích dẫn điển cố
Thiền thể hiện trong các bài thơ.
- Khái niệm thơ ca Phật giáo mà luận văn dùng có nội hàm rộng hơn khái niệm thơ
Thiền, nhƣng lấy thơ Thiền làm bộ phận quan trọng nhất, tinh hoa nhất. Thơ Thiền chỉ
thơ ca chịu ảnh hƣởng của một dòng phái Phật giáo độc đáo, in đậm dấu ấn phong cách
và có ảnh hƣởng rộng rãi bậc nhất ở Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên dấu hiệu
ngơn ngữ Thiền học lại chủ yếu đƣợc hịa lẫn trong hệ thống ngôn ngữ chịu ảnh hƣởng
của Phật giáo nói chung. Bởi vậy khái niệm thơ Thiền và thơ ca Phật giáo nhiều lúc
đƣợc dùng thay thế nhau.

12



Thơ ca Phật giáo ở đây chỉ chung bộ phận thơ kệ Thiền, sự bao hàm này là kết
quả tất yếu của mối quan hệ mật thiết giữa hai loại hình văn học và tơn giáo, giữa chức
năng thơ ca với chức năng nói Pháp thể hiện trong thơ nhà Phật giai đoạn này. Theo
đó, thơ Thiền Lý Trần bao gồm nhiều nhiều hình thức: thơ kệ đứng độc lập, phần thơ
trong các ngữ lục vấn đáp, kệ trong các tiểu truyện Thiền sƣ, kệ thơ trong phú, các bài
minh trong văn bia.
- Tác phẩm Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung thƣợng sĩ là trƣờng hợp nghiên cứu tiêu
biểu nhất để tìm hiểu hoạt động liên văn bản của điển cố trong thơ ca Phật giáo giai
đoạn này. Có ba lí do cho sự lựa chọn này: thứ nhất, thơ Tuệ Trung là thơ dẫn nhiều
điển cố nhất trong các tác giả thời Lý Trần; thứ hai, thơ Tuệ Trung thể hiện một cách
đầy đủ và sâu sắc các phƣơng diện triết học Thiền trong thơ thời Lý Trần, có thể coi
ơng là một trong các khn mặt đại diện cho thơ Thiền giai đoạn này xét về phƣơng
diện nội dung tƣ tƣởng Thiền trong thơ; và thứ ba, thơ Tuệ Trung là thơ có phong cách
và giọng điệu tác giả rõ rệt nhất, cho thấy dấu ấn bản ngã độc đáo trong cả các bài thơ
Thiền thuần túy lẫn các bài thơ đan xen Thiền và các yếu tố Lão Trang và Nho, do đó
việc viện dẫn điển cố trong thơ ông không hề câu nệ mà rất uyển chuyển, hoạt dụng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu
4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu: Với đối tƣợng nghiên cứu là điển cố, luận văn sử dụng
phƣơng pháp thống kê, phân loại qua đó dựng lại diện mạo chung của điển trƣớc khi đi
vào phân tích ý nghĩa của chúng trong các bài thơ.
Luận văn cũng sử dụng phƣơng pháp so sánh đối chiếu nhằm đặt điển cố trong
các hệ thống tƣơng cận nhƣ ẩn dụ, liên văn bản. Đối chiếu so sánh cũng cần thiết khi
nhận diện điển trong tƣơng quan với nguồn trích dẫn của chúng.
Cuối cùng luận văn dùng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp để bình luận, đánh giá
tác dụng và hiệu quả truyền đạt ý nghĩa Phật học của các điển cố khi đƣợc trích dẫn
trong các bài thơ.

13



4.2. Phạm vi tƣ liệu: Để khảo sát điển cố trong thơ ca Phật giáo Lý Trần, luận văn căn
cứ chủ yếu vào Thơ văn Lý Trần tập I [9] và Thơ văn Lý Trần tập II, quyển thƣợng
[10]. Ngoài ra còn một số tài liệu tham chiếu khác đƣợc sử dụng khi tìm thêm các chú
thích mà các soạn giả Thơ văn Lý Trần chƣa tra cứu hết, đặc biệt là về thơ của Tuệ
Trung thƣợng sĩ.
5. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần: Phần Mở đầu, phần Nội dung và phần Kết luận. Phần
Nội dung của luận văn chia làm ba chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng I: Quan niệm về dụng điển trong truyền thống và trong các nghiên cứu chịu
ảnh hƣởng phƣơng Tây
Chƣơng II: Diện mạo chung của điển cố trong thơ ca Phật giáo Lý Trần
Chƣơng III: Dụng điển trong thơ văn Lý Trần nhìn qua trƣớc tác của Tuệ Trung thƣợng
sĩ.

14


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ DỤNG ĐIỂN TRONG TRUYỀN THỐNG VÀ
TRONG CÁC NGHIÊN CỨU CHỊU ẢNH HƢỞNG PHƢƠNG TÂY
1.1.Điển cố nhìn từ truyền thống
1.1.1.Khái niệm và tên gọi
Trƣớc khi đƣa ra một quan niệm chung về điển cố thống nhất cho luận văn và đi
vào các nội dung nghiên cứu điển cố trong truyền thống, cần xem xét một số định
nghĩa điển cố của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại. Lời tựa cho cuốn Trung
Quốc điển cố đại từ điển đƣa ra định nghĩa điển cố: “Điển cố văn học trong Hán ngữ
bắt nguồn từ trong điển tịch thời cổ, đƣợc sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm văn học
lịch đại, chuẩn tắc của điển cố đƣợc khu biệt bởi lớp từ ngữ đặc thù hoặc các câu

chuyện thời cổ dƣới dạng những từ ngữ cổ hoặc thành ngữ cổ quen thuộc” [81,14]. Tác
giả Ngô Lễ Quyền trong cơng trình Tâm lý học tu từ xác định điển cố “là một thủ pháp
tu từ viện dẫn các câu chuyện lịch sử thời xƣa hoặc các từ ngữ có xuất xứ để phát ngơn
và trƣớc tác” [82,18]. Trong mục Điển cố là gì mở đầu cuốn Dụng điển nghiên cứu
[83] tác giả La Tích Dũng cũng nêu lên một định nghĩa ngắn gọn: “Nhằm phục vụ cho
mục đích tu từ nhất định, các tác phẩm thƣờng trực tiếp hay gián tiếp viện dẫn những
câu chuyện thời xưa hoặc những thành ngữ có lai lịch, thủ pháp đó gọi là dụng điển”
[83,2].
Có thể thấy các định nghĩa trên đều thống nhất với cách hình dung khái quát về
điển cố của các nhà nghiên cứu Việt Nam (Đã nêu trong phần Lịch sử vấn đề). Theo
đó, một khái niệm điển cố bao giờ cũng bắt buộc có hai nội hàm: thứ nhất là tính có
xuất xứ của yếu tố đƣợc viện dẫn, thứ hai là sự bao hàm hai phƣơng thức viện dẫn dẫn câu chuyện và dẫn từ ngữ.

15


Phƣơng thức dẫn câu chuyện và dẫn từ ngữ đƣợc đề cập đầu tiên là ở thiên Sự
loại, thiên bàn về dụng điển trong Văn tâm điêu long: “Muốn soi sáng cái lý thì phải
dẫn những lời có sẵn, muốn chứng tỏ việc làm hợp với chính nghĩa thì phải dẫn những
việc của ngƣời đời” (Nhiên tắc minh lý dẫn hồ thành từ, trƣng nghĩa cử hồ nhân sự). Ở
đây, Lƣu Hiệp dùng chữ “nhân sự” để chỉ phƣơng thức dẫn câu chuyện, chữ “thành từ”
để chỉ phƣơng thức dẫn từ ngữ. Cách phân loại của Lƣu Hiệp thực tế đã ảnh hƣởng
rộng rãi và qui định cách phân chia quen thuộc thành hai phƣơng thức viện dẫn ở cả
thời trung đại lẫn hiện đại, cả trong các nghiên cứu của Trung Quốc lẫn các nghiên cứu
điển cố Hán học chịu ảnh hƣởng phƣơng Tây. Tuy nhiên, có một số tác giả không
thừa nhận cả hai phƣơng thức này đều là dẫn điển. Phan Khơi, James.Y.Liu và Cao
Hữu Cơng có xu hƣớng không xem dẫn từ ngữ là điển cố đúng nghĩa. Bởi vậy, cần
phải có một xác định nội hàm thứ hai này của điển cố theo cả nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng.
Xét theo nghĩa hẹp, điển cố trong ý nghĩa chặt chẽ nhất chỉ bao hàm các câu chuyện, sự
kiện quá khứ. Khái niệm “cố” hoặc “sự” mà ngƣời xƣa hay dùng để chỉ điển cố có

nghĩa là câu chuyện, tích truyện. Xét theo nghĩa rộng, điển cố bên cạnh các câu
chuyện, sự kiện còn bao hàm các từ ngữ, câu chữ nổi tiếng đƣợc lấy từ các nguồn sách
vở quá khứ. Các câu chữ, từ ngữ có thể là tình tiết, chi tiết thuộc về một sự kiện đƣợc
trần thuật, do đó gần gũi với phƣơng thức dẫn câu chuyện, nhƣng cũng có thể là những
chữ, ngữ độc lập trong các tác phẩm thơ phú nổi tiếng. Tất nhiên, nhìn theo nghĩa rộng
thì điển cố cũng dễ bị đồng nhất với một số hình thức trích dẫn khác, chẳng hạn các ẩn



Ở Việt Nam hai phƣơng thức này đƣợc biểu đạt bằng những cặp từ nhƣ điển/sách, dùng điển/lấy chữ, điển
cố/chữ sách, điển chuyện/điển chữ. Trong các nghiên cứu Trung Quốc hiện đại cặp từ tƣơng tự là dẫn sự/dẫn
ngôn, sự điển/ngữ điển. Một số tác giả phƣơng Tây nghiên cứu điển cố Hán học cũng có cách phân chia tƣơng tự:
điển cố sự kiện (allusion of event)/điển cố khái niệm (allusion of concept) (Peng Edhua Edward), điển cố chủ đề
(topic allusion)/điển cố văn bản (textual allusion) (David Lattimore). Xem chi tiết tiểu mục 1.2.1.

Bài báo của Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn số 164/1932 [25] coi “lấy chữ” không nằm trong thủ pháp dụng
điển. James. Y.Liu trong Nghệ thuật thơ ca Trung Quốc [77] tách việc dẫn từ ngữ thành phƣơng thức trích dẫn
(quotation) phân biệt với điển cố. Trong bài viết Nghĩa, ẩn dụ và điển cố trong thơ Đường [78], Cao Hữu Công
chỉ khảo sát các điển cố sự kiện, không bao hàm hiện tƣợng dẫn từ ngữ. Ý kiến của James. Y.Liu và Cao Hữu
Công, xem mục 1.2.

16


dụ và thành ngữ khơng có nguồn văn bản xác định. Khi đó nội hàm thứ nhất của điển
là tính có xuất xứ (tác phẩm và tác giả) sẽ đƣợc áp vào để loại bỏ những hình thức trích
dẫn này. Trong các thao tác đối sánh nhằm khu biệt điển cố với các hình thức trích dẫn
gần gũi khác, điển cố thƣờng đƣợc thu hẹp lại nội hàm, nhấn mạnh đến yếu tố trần
thuật, yếu tố có cốt truyện tích truyện của nguồn điển nhƣ là đặc trƣng tiêu biểu nhất.
Lúc đó phƣơng thức dẫn câu chữ từ ngữ bị đặt ngoài nội hàm điển cố, điển cố chỉ đƣợc

hiểu theo nghĩa hẹp của nó.
Nhƣ vậy, trong cả nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng, với nghĩa hẹp làm đặc trưng khu
biệt quan trọng nhất, điển cố là các câu chuyện và từ ngữ có xuất xứ xác định trong
sách vở điển tịch thời xưa được viện dẫn trong văn bản hiện tại nhằm một mục đích
tu từ nào đấy. Đây là một hình dung khái quát về điển trƣớc khi đi vào các bình diện
sâu hơn trong các nghiên cứu truyền thống (cũng nhƣ trong các nghiên cứu phƣơng
Tây hiện đại).
Trong lịch sử tu từ học Trung Quốc, chữ “điển cố” có nhiều cách gọi, tùy theo
cách vận dụng của các nhà bình luận đối với mỗi tác phẩm. Theo các tài liệu Trung
Quốc, khái niệm điển cố thời trung đại có tới chín cách gọi: sự, điển, cố điển, cổ điển,
điển thực, cựu điển, vãng điển, cổ sự, cố thực. Cịn việc sử dụng điển cố cũng có tới
bảy cách gọi khác nhau: dụng sự, dụng điển, sử sự, dẫn sự, lệ sự, biên sự, vận điển.
Trong các tên gọi này thì chữ “điển cố”, “dụng điển” và “dụng sự” là phổ biến nhất.
Chữ “điển cố” có hai nghĩa. Từ nguyên, Từ hải và Hán ngữ đại từ điển đều
thống nhất xác định nghĩa đầu tiên của điển cố là chỉ điển chế, khuôn phép của đời


Trong bài báo của mình, Phan Khơi cho rằng những ví dụ “lấy chữ” của Dƣơng Quảng Hàm nhƣ “bể dâu” và
câu “cờ vào tay ai nấy phất” đều không phải là điển cố bởi “bể dâu” là một ẩn dụ phổ thơng, cịn “cờ vào tay ai
nấy phất” là thành ngữ không rõ nguồn gốc. Do khơng nhấn mạnh vào tính có xuất xứ của thủ pháp “lấy chữ”
nên Dƣơng Quảng Hàm bị Phan Khôi phủ nhận một cách xác đáng [25,243]. Cũng do khơng xác định rõ tính lai
lịch xuất xứ của điển nên nhƣ đã nói, cuốn Điển cố văn học của Đinh Gia Khánh đã đem vào rất nhiều từ ngữ,
thuật ngữ phi điển cố.

Các nghiên cứu của một số tác giả nhƣ Peng Endhua Edward, Cao Hữu Công, Shan Chou đều coi tính có cốt
truyện, có nội dung trần thuật, hay có một ngƣời “kể chuyện dấu mặt” trong điển cố là đặc trƣng quan trọng nhất
của điển, khu biệt điển với các biện pháp tu từ khác. Hình thức dẫn câu chữ khơng đƣợc đƣa vào phân tích. Xem
mục 1.2.

17



trƣớc. Chữ “điển cố” với nghĩa này xuất hiện sớm nhất là trong thiên Đơng Bình Tân
vương Thương truyện sách Hậu Hán thư: “Bệ hạ với bậc chí tơn thì cúi mình ngƣỡng
vọng, với bề tơi thì giáng lễ; mỗi khi ban yến tiệc [cho bề tơi] thì đổi nét mặt vui vẻ,
vái chào các quan trong triều, rồi dùng điển chế đời trƣớc để bàn việc” (Quan khuất chí
tơn, giáng lễ hạ thần, mỗi tứ yến kiến, chiếp hứng tịch cải dung, trung cung thân bái, sự
quá điển cố) [91,291]. Còn nghĩa thứ hai xuất hiện muộn hơn, mới là nghĩa điển cố với
tƣ cách một phƣơng tiện tu từ học.
Về việc sử dụng điển cố trong các tác phẩm thơ văn, hai thuật ngữ thƣờng dùng
nhất là “dụng điển” và “dụng sự”. Chữ “dụng sự” ra đời sớm hơn rất nhiều so với chữ
“dụng điển”. Tuy nhiên vì xuất hiện sớm nên chữ “dụng sự” cũng bao hàm nghĩa rộng
hơn. Theo Hán ngữ đại từ điển, trƣớc khi có nghĩa là “sử dụng điển cố”, “dụng sự” chỉ
một số hoạt động có tính lễ nghi tơn giáo hoặc chính trị. Ngƣời đầu tiên dùng “dụng
sự” để chỉ một phƣơng thức trích dẫn của trƣớc thuật là Lƣu Hiệp trong Văn tâm điêu
long, thiên Sự loại: “Dụng sự nhƣ vậy có thể gọi là đạt đƣợc cái lí và cái nghĩa của nó
cũng giản yếu vậy. Cho nên nếu nắm đƣợc cái chủ yếu, thì tuy nhỏ nhƣng cũng thành
nên cơng dụng”. Gần với Lƣu Hiệp nhất có nhắc đến “dụng sự” là Chung Vinh trong
Thi phẩm: “Đến nhƣ ngâm vịnh tính tình, mà cũng q ở việc dụng sự hay sao?” và
Nhan Chi Thôi trong Nhan thị gia huấn: “Văn chƣơng của Thẩm Ƣớc, dụng sự mà
ngƣời ta không thấy ông đang dụng, giống nhƣ từ ngữ từ trong ngực nhớ ra vậy”. Từ



Chiêu Liên đời Thanh trong Khiếu đình tục lục nói rằng: “những điển cố của thời ấy nhƣ việc “Khuất Tử cạnh

độ”, “Tử An đề các” không đâu là không phổ biến” (Kỳ thời điển cố nhƣ “Khuất Tử cạnh độ”, “Tử An đề các”
chƣ sự, vô bất phổ nhập) [94,114]. Triệu Dực đời Thanh trong Âu Bắc thi thoại phát biểu: “ngay những chuyện
tạp ngữ khơi hài mà đều có gốc tích điển cố, thì các trƣớc thuật lƣu truyền lâu đời lại há có thể biết sơ sài đƣợc
sao”(Ngữ tạp khơi hài giai điển cố, lão truyền trứ thuật khởi sơ tâm) [94,114].



“Dụng sự” ban đầu có nhiều nghĩa nhƣ: chỉ việc thi hành tế lễ, chỉ việc chấp pháp hành hình, chỉ việc khởi binh,

sử dụng vũ lực, hoặc chỉ việc chấp chính đƣơng quyền. [93,1024].

18


đời Đƣờng trở đi, chữ “dụng sự” ngày càng đƣợc văn nhân dùng rộng rãi và trở thành
thuật ngữ phổ biến nhất chỉ việc sử dụng điển cố trong các phẩm bình văn học.
Theo tác giả Ngơ Vinh Phú, chữ “dụng điển” xuất hiện đầu tiên là trong Ngọc
Khê sinh thi tập tiên chú, quyển một Chiêu Túc hoàng đế vãn ca từ của Phùng Hạo đời
Thanh: “Vua Vũ Đế lừng lẫy võ cơng, lại dốc lịng tin tiên thuật, là ơng Vũ Đế nhà Tây
Hán vơ tiền khống hậu. Ba bài thơ đều dụng điển, phân nửa lấy điển về vua Vũ Đế”
[79,42]. Tuy nhiên trong thời trung đại ngƣời ta hiếm dùng chữ “dụng điển” mà thƣờng
dùng “dụng sự”. Theo Ngô Vinh Phú, thời điểm khái niệm “dụng điển” bắt đầu đƣợc
phổ biến là sau khi Hồ Thích cho đăng bài viết Bàn về văn học cải lương trên tạp chí
Tân thanh niên tháng giêng năm 1917. Trong bài viết này Hồ Thích đề ra chủ trƣơng
“bát bất” (tám điều khơng nên làm), trong đó có chủ trƣơng thứ sáu “bất dụng điển”.
Luận điểm của Hồ Thích sau đó đƣợc nhiều học giả đem ra thảo luận, tạo điều kiện cho
khái niệm “dụng điển” phổ biến rộng rãi.
1.1.2. Điển cố với truyền thống trọng lịch sử và học vấn sách vở
Dụng điển trong thơ văn là một tập quán quen thuộc để văn nhân hƣớng về quá
khứ, đối thoại với tiền nhân và kiếm tìm các hình mẫu biểu trƣng ứng chiếu cho các
trạng huống hiện tại. Điển cố trong ý nghĩa chung nhất không trở thành một “nỗi lo ảnh
hƣởng” mà luôn thƣờng trực trong tâm thế đƣợc ảnh hƣởng của ngƣời sáng tác, đƣợc
thấy cổ nhân ở trong mình. Lý giải cho hiện tƣợng này, các nhà nghiên cứu thƣờng căn
cứ vào chủ trƣơng “hiếu cổ”, “thuật nhi bất tác” của Nho gia. Chủ trƣơng này đƣợc thể
hiện rõ trên phƣơng diện lý luận văn học là trong Văn tâm điêu long của Lƣu Hiệp.

Trong thiên Sự loại, Lƣu Hiệp cho rằng việc “lấy xƣa để làm chứng cho nay” vốn là
“khuôn phép của thánh nhân”. Ông dẫn các thí dụ mà Kinh dịch, Kinh thư đã viện dẫn
các sự kiện thời cổ để chứng tỏ rằng sáng tác văn học là một dòng chảy khép kín, liên
tục, khơng gián đoạn, khơng chỉ ngƣời đời sau trích dẫn kinh điển thánh nhân, mà ngay
kinh điển cũng phải trích dẫn các sự kiện xa xƣa hơn.

19


Do vậy khi đề cao điển cố, dụng điển, lý luận văn học nhà Nho nói riêng cũng
nhƣ lý luận văn học thời trung đại nói chung đặc biệt coi trọng cơng phu học tập tích
lũy tri thức của ngƣời làm văn. Trong thiên Sự loại, Lƣu Hiệp giành riêng một đoạn
phê phán “cái bệnh của ngƣời học ít” khơng thấy đƣợc tầm quan trọng của tri thức
phong phú đối với sáng tác. Vƣơng Ký Đức trong Khúc luận cũng nói rằng: “Cần phải
đọc nhiều sách, phải biết nhiều điển cố thì dẫn điển mới đích xác, dụng điển mới thích
hợp” [83,21]. Cịn Hồng Đình Kiên đời Tống thì chủ trƣơng “lấy tài học làm thơ” (dĩ
học tài vi thi), ông cho rằng ngay cả những nhà thơ tài ba nhƣ Đỗ Phủ cũng phải nhờ
tích lũy tri thức mà có đƣợc tài thơ: “Lão Đỗ làm thơ, đằng sau mỗi bài thơ khơng một
chữ nào mà khơng có xuất xứ, đại để hậu nhân đọc ít sách nên cho rằng Hàn Đỗ [Hàn
Dũ và Đỗ Phủ] tự sáng tác ra những lời ấy” [87]. Dễ thấy rằng trong thời trung đại,
việc sáng tác thơ văn cũng nhƣ bình giá thƣởng ngoạn các tác phẩm dẫn điển đòi hỏi
một độ dày về tri thức lịch sử và sách vở quá khứ. Hệ thống tri thức này đƣợc mặc
nhận và đƣợc hợp thức hóa tạo nên nền tảng học vấn chung của đội ngũ trí thức, gồm
cả ngƣời sáng tác và ngƣời đọc văn chƣơng. Trong tiểu luận Điển cố và Đường thi
[73], David Lattimore từng nhấn mạnh vào hiện tƣợng mà ơng gọi là tính hợp thức tập
thể (corporate legitimacy) trong việc chia sẻ tri thức lịch sử đƣợc lƣu giữ trong hệ
thống điển cố: “Bất cứ điển cố nào cũng cho thấy một hứng thú có chủ đích thơng qua
việc gia cố cái cảm giác rằng tác giả và ngƣời đọc đang trong cùng một trạng thái hài
hƣớc hay ƣu sầu mà “cả hai đều biết đến”. Trong một cộng đồng có học vấn, đƣợc hợp
thức bởi mối quan hệ của nó với q khứ, thì việc dùng các điển cố sách vở sẽ gia cố

cái cảm giác này theo một dạng thức đặc biệt (…), một cảm giác về tính hợp thức tập
thể căn cứ trên một lƣợng lớn tri thức chung và chuyên biệt về quá khứ. Trong một
cộng đồng nhƣ vậy, việc đọc một bài thơ có điển cố giống nhƣ tham dự vào một nghi
lễ. Ngƣời đọc tham dự khi kí ức của họ gia nhập vào kinh nghiệm thẩm mỹ, gia nhập
vào sự hồi tƣởng cần thiết các dẫn chiếu, minh họa cho cái mà E.H. Gombrich trong
Nghệ thuật và ảo giác gọi là sự “sự chia sẻ của những kẻ dự phần” (beholder‟s share)

20


×