0
MỤC LỤC
Mở đầu
1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
3
1. Tìm hiểu về ODA
3
1.1. Khái niệm về ODA
3
1.2. Đặc điểm của ODA
3
1.3. Các hình thức cung cấp ODA
4
1.4. Các phương thức cung cấp ODA
4
1.5. Vai trò của ODA
4
2. Tổng quan về Ngân hàng Thế giới và vốn ODA của Ngân hàng Thế giới
5
2.1. Giới thiệu về Ngân hàng Thế giới
5
3. Nội dung và vai trò thu hút vốn ODA của WB
6
3.1. Nội dung thu hút vốn ODA của WB
6
3.2. Vai trò thu hút vốn ODA của WB
7
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn ODA của WB trên địa bàn tỉnh Quảng Bình thời
gian qua
8
1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
8
1.1. Vị trí địa lý
8
1.2. Đặc điểm kinh tế tỉnh Quảng Bình
8
1.3. Đặc điểm về xã hội tỉnh Quảng Bình
8
2. Tình hình thu hút vốn ODA của WB trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
9
3. Tình hình phân bổ, giải ngân vốn ODA của WB trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 10
3.1. Tình hình phân bổ vốn ODA
10
3.2. Tình hình giải ngân vốn WB
12
4. Kết quả đạt được và những tồn tại trong quá trình sử dụng vốn ODA của WB
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
13
4.1. Kết quả đạt được
13
4.2. Những tồn tại và nguyên nhân
14
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn ODA của WB trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình
17
1
1. Tăng cường công tác chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính
trị trong việc tham gia thu hút, vận động nguồn vốn nước ngoài phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình
17
2. Tăng cường xây dựng và rà sốt quy hoạch, cơ chế chính sách trong cơng tác vận
động Ngân hàng thế giới
17
3. Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trong công tác vận động và quản lý
nguồn vốn ODA của Ngân hàng Thế giới
18
4. Tăng cường cơ chế phối hợp trong công tác vận động vốn ODA của Ngân hàng
Thế giới
18
5. Xây dựng KH trả nợ trong nước và nước ngồi để giảm dần nợ cơng, nhằm góp
phần thu hút nguồn vốn ODA của WB và giải ngân nguồn vốn đã ký Hiệp định 19
Kết luận và kiến nghị
20
Tài liệu tham khảo
22
2
MỞ ĐẦU
Là quốc gia đang phát triển, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là
huy động, phát huy và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho cơng cuộc cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó có huy động nguồn vốn đầu tư nước
ngồi. Thông qua việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngồi có thể hỗ trợ thêm cho
Việt Nam việc đào tạo nhân sự và phương pháp quản lý tiên tiến. Do đó, đây là
nhiệm vụ có tầm chiến lược quan trọng trước mắt, và lâu dài được Đảng và Nhà
nước cụ thể hóa trong các Văn kiện Đại hội Đảng các cấp. Thực thi Nghị quyết của
Đảng, Chính quyền các cấp từ Trung ương đến các địa phương đã ban hành các
Quyết định phê duyệt Đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và
các khoản vốn vay ưu đãi khác” theo từng giai đoạn, xây dựng chiến lược, chính
sách hiệu quả cho cơng tác thu hút vốn ODA. Quảng Bình là tỉnh duyên hải miền
Trung với điều kiện kinh tế-xã hội cịn hạn chế, cơng cuộc xây dựng, tái thiết sau
khi tách ra từ tỉnh Bình Trị Thiên cũng như tiến tới mục tiêu chung của đất nước là
hội nhập kinh tế quốc tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa đi cùng với nền kinh tế tri
thức tiên tiến và hiện đại. Với mong muốn vươn lên ngang tầm với các tỉnh trong
khu vực và đạt mức trung bình chung của cả nước, yêu cầu đặt ra đối với Quảng
Bình, ngồi việc phát huy nội lực, cần phải huy động tối đa các ngoại lực đặc biệt
là các nguồn lực bên ngoài.
Thực tế hơn 20 năm qua, kể từ ngày Quảng Bình nhận được nguồn vốn viện trợ
đầu tiên của OECF (Nhật Bản) vào năm 1993. Đến nay, với hơn 292 triệu USD
được tài trợ đã góp một phần quan trọng cho phát triển hạ tầng kinh tế xã hội của
tỉnh. Có được điều này, phải kể đến sự đóng góp khơng nhỏ của nguồn vốn ODA
của Ngân hàng Thế giới, nhà tài trợ lớn nhất về số lượng và quy mô dự án tại tỉnh.
Mặc dù tổng vốn cam kết của cả giai đoạn của Ngân hàng Thế giới ở Quảng Bình
chỉ chiếm chưa đầy 1% GDP, với khoảng hơn 2.500 tỷ đồng, nhưng với sự ưu việt
nguồn vốn tài trợ, thủ tục đấu thầu theo chuẩn quốc tế, cũng như các thủ tục giải
ngân nhanh chóng và rõ ràng, đã giúp Ngân hàng Thế giới đã trở thành nhà tài trợ
đóng dấu ấn quan trọng nhất trong công tác thu hút vốn nước ngoài của tỉnh giai
3
đoạn 2000-2016. Những thành tựu đáng kể thể hiện qua sự thay đổi bộ mặt của
Thành phố Đồng Hới sau khi thực hiện thành công Dự án Vệ sinh Môi trường
thành phố Đồng Hới giai đoạn 1 và giai đoạn 2 góp phần đưa Đồng Hới từ đơ thị
loại III lên đô thị loại II hay hệ thống xử lý nước thải đồng bộ và hiện đại của 7/7
bệnh viện đa khoa trên địa bàn tồn tỉnh Quảng Bình; hệ thống điện hạ áp hoàn
chỉnh, cấp điện ổn định cho gần 60 xã/159 xã trên địa bàn toàn tỉnh...., đặc biệt hơn
nữa là qua quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Ngân hàng Thế giới đã
đào tạo cho tỉnh một đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm về thu hút, vận động cũng như
quản lý và thực hiện các dự án ODA.
Bên cạnh những ưu việt đó, cơng tác thu hút ODA cũng tồn tại một số bất cập:
Việc thu hút ODA vẫn cịn mang tính chất thụ động, thơng tin thu thập được cịn
hạn chế, quy mơ của các dự án hưa lớn và hình thức tài trợ vẫn chưa đa dạng, các
doanh nghiệp tư nhân chưa tiếp cận được nguồn vốn theo hình thức đối tác công tư
(PPP).... Trong điều kiện hiện nay, khi nguồn vốn đầu tư công ngày càng thắt chặt
cùng với những quy định khá nghiêm ngặt của Luật Đầu tư công năm 2014, Luật
Ngân sách Nhà nước năm 2015; và bị bó buộc trong kế hoạch đầu tư cơng trung
hạn của Chính phủ và của tỉnh thì cuộc cạnh tranh để thu hút vốn nước ngoài ngày
càng trở nên gay gắt. Trong khi đó, Quảng Bình là tỉnh nghèo, khả năng tích lũy
vốn nội bộ của địa phương cịn hạn chế và nguồn vốn Trung ương hỗ trợ hàng năm
không thể đáp ứng nhu cầu đầu tư của tỉnh. Do vậy, để tranh thủ được nguồn vốn
vay lãi suất thấp và tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi khác như SUV và IBRD của
WB cho đầu tư phát triển, việc thay đổi phương thức thu hút ODA của Ngân hàng
Thế giới đòi hỏi cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xuất phát từ những lý do đó, em đã chọn nghiên cứu vấn đề: “Giải pháp thu hút
vốn ODA của Ngân hàng Thế giới trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” làm đề tài Tiểu
luận cho mơn học Tài chính dự án của mình.
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Tìm hiểu về ODA:
1.1. Khái niệm về ODA:
ODA là tên viết tắt của Official Development Assistant- Hỗ trợ phát triển chính
thức hay viện trợ phát triển chính thức. Hỗ trợ phát triển chính thức là một hình
thức đầu tư nước ngồi. Gọi là hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các
khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Gọi là phát
triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng
cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là chính thức vì nó thường là nhà nước cho
vay. ODA bao gồm các khoản viện trợ khơng hồn lại, viện trợ có hồn lại hoặc tín
dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ
chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển. Theo quy định
tại Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/3/2016 của Chính phủ về quản lý và sử
dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà
tài trợ nước ngoài: “Vốn ODA, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn của nhà tài trợ nước
ngoài cung cấp cho nhà nước hoặc chính phủ Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
để hỗ trợ phát triển, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội”.
1.2. Đặc điểm của ODA:
ODA là nguồn vốn mang tính chất ưu đãi trong đó có thành tố hỗ trợ khơng hồn
lại là 25%.
- Phần cho vay chủ yếu là vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn các khoản tín dụng rất
nhiều (thường dưới 3%) và vay thương mại rất nhỏ.
- Thời gian ân hạn dài (thông thường là 5 năm), thời gian vay dài (40 năm đối với
Hàn Quốc, Nhật Bản; 25 năm đối với ADB, WB)...
- Đi kèm với tài trợ vốn ODA là các điều kiện ràng buộc, các khoản ODA ràng
buộc được thể hiện rõ ở các nhà tài trợ song phương (yêu cầu phải lựa chọn các nhà
thầu, thiết bị của nhà tài trợ...).
- Có khả năng gây nợ (một số quốc gia khơng sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA
có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian có thể lâm vào nợ
nần do khơng có khả năng trả nợ). Ngun nhân chính là ODA khơng có khả năng
5
đầu tư trực tiếp cho sản xuất nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào
thu xuất khẩu ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải
phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất
khẩu.
1.3. Các hình thức cung cấp ODA:
- Vốn ODA viện trợ khơng hồn lại: Là loại vốn ODA khơng phải hoàn trả lại cho
nhà tài trợ nước ngoài;
- Vốn vay ODA là loại vốn ODA phải hoàn trả cho lại cho nhà tài trợ nước ngoài
với mức ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố
khơng hồn lại đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc và 25% đối khoản
vay không ràng buộc;
- Vốn vay ưu đãi: Là loại vốn vay có mức vay ưu đãi cao hơn so với vốn vay
thương mại nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của vốn vay ODA.
1.4. Các phương thức cung cấp ODA:
- Theo chương trình;
- Theo dự án;
- Hỗ trợ ngân sách;
- Phi dự án.
1.5. Vai trò của ODA:
- ODA bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển: Quá trình phát triển
nền kinh tế đất nước đi theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát
triển kinh tế tri thức đòi hỏi một số lượng lớn vốn đầu tư. Do đó, nếu chỉ huy động
nguồn lực trong nước khơng thể đáp ứng được nhu cầu. Vì vậy, ODA trở thành một
trong những nguồn vốn quan trọng từ bên ngoài để góp phần đáp ứng nhu cầu vốn
cho đầu tư phát triển.
- ODA hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế đất nước: Các dự án ODA đầu tư cho
Việt Nam trong thời gian gần đây chủ yếu tập trung ưu tiên cho phát triển cơ sở hạ
tầng, kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước. Bên cạnh đó,
các dự án ODA hỗ trợ cải cách thể chế nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ
6
quan quản lý nhà nước. Tất cả những điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu
kinh tế đất nước.
- ODA góp phần nâng cao khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện mở rộng đầu tư
phát triển: Việc đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ (từ giao thông, cấp nước,
thông tin liên lạc và hệ thống điện) sẽ tạo điều kiện thu hút nhiều hơn các nhà đầu
tư trực tiếp nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam.
- Ngoài việc hỗ trợ nguồn vốn, ODA còn hỗ trợ việc tiếp thu khoa học kỹ thuật,
công nghệ tiên tiến và hiện đại cũng như hỗ trợ quá trình đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực.
- ODA đóng vai trị quan trọng trong cải thiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội: ODA giúp
tăng trưởng nhanh hơn, giảm tình trạng nghèo đói và đạt được những chỉ tiêu xã
hội. Đối với các nước có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ tăng lên 1% GDP thì tốc
độ tăng trưởng tăng lên 0,5%. Theo các chuyên gia về ODA, bình quân các nước
đang phát triển thu nhập bình quân đầu người tăng 1% dẫn đến tỉ lệ đói nghèo giảm
xuống 2% nói cách khác nếu có cơ chế quản lý tốt thì khi viện trợ tăng lên 1% GDP
thực tế sẽ làm giảm 1% tỉ lệ nghèo đói.Viện trợ sẽ tác động đến tăng trưởng, từ đó
đã tác động đến mục đích nâng cao mức sống.
2. Tổng quan về Ngân hàng Thế giới và vốn ODA của Ngân hàng Thế giới:
2.1. Giới thiệu về Ngân hàng Thế giới:
- Lịch sử hình thành: Ngân hàng Thế giới (WB) được thành lập vào năm 1944, trụ
sở chính đặt tại Washington, D.C. Ngân hàng Thế giới cùng với quỹ tiền tệ Quốc tế
(IMF) là những sản phẩm của hệ thống Bretton Wood.
- Quy mô: Với hơn 189 quốc gia thành viên, hơn 900 nhân viên từ 170 quốc gia và
văn phòng đại diện trên 130 quốc gia, ngân hàng thế giới được là một tổ chức mang
tính tồn cầu.
- Phương châm hoạt động: Với tơn chỉ tìm kiếm các giải pháp bền vững cho việc
giảm nghèo, cùng xây dựng và chia sẽ thịnh vượng trọng các nước đang phát triển.
- Cơ cấu tổ chức: WB là một tổ chức quốc tế gồm có 5 cơ quan hoạt động tương
đối độc lập với nhau gồm:
+ Hiệp hội Phát triển Quốc Tế (IDA);
7
+ Ngân hàng Quốc tế về Tái Thiết và Phát triển (IBRD);
+ Cơng ty Tài chính Quốc Tế (IFC);
+ Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa biên (MIGA);
+ Trung tâm Quốc tế về xử lý tranh chấp Đầu tư (ICSID).
Trong các cơ quan trên của WB, Ngân hàng quốc tế về tái thiết và phát triển
(IBRD) và Tổ chức phát triển quốc tế (IDA) là hai tổ chức chiếm vị thế chủ yếu
hiện nay của WB trong đó IBRD có nhiệm vụ giảm đói nghèo ở các nước có thu
nhập ở mức trung bình và những nước ó uy tín trong việc vay vốn, còn IDA tập
trung chủ yếu ở các nước nghèo nhất thế giới. Các nhiệm vụ của hai cơ quan này
được hỗ trợ bởi IFC, MIGA và ICSID.
3. Nội dung và vai trò thu hút vốn ODA của WB:
3.1. Nội dung thu hút vốn ODA của WB:
- Công tác vận động vốn ODA, vốn vay ưu đãi được thực hiện thơng qua đối thoại
chính sách phát triển với các nhà tài trợ nước ngoài căn cứ vào Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 10 năm; Chiến lược dài hạn về nợ cơng và Chương trình quản
lý nợ công trung hạn; Hạn mức vay vốn ODA, vay ưu đãi hàng năm và trung hạn 5
năm; Định hướng thu hút ODA, vốn vay ưu đãi, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm và quy hoạch phát triển của cả nước, của Bộ, ngành, lĩnh vực và của địa
phương; kế hoạch vay và trả nợ nước ngồi hàng năm được cấp có thẩm quyền phê
duyệt.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan và các nhà
tài trợ nước ngoài tổ chức hội nghị và diễn đàn vận động vốn ODA, vốn vay ưu đãi
cấp quốc gia, liên ngành và khu vực.
- Bộ, ngành và địa phương căn cứ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển và
nhu cầu vốn ODA, vốn vay ưu đãi của mình, khả năng tổ chức thực hiện, khả năng
bố trí nguồn lực, chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan có liên
quan và các nhà tài trợ nước ngoài chủ động tổ chức hội nghị hoặc diễn đàn vận
động vốn ODA, vốn vay ưu đãi cấp ngành, địa phương.
- Căn cứ điều kiện cụ thể và được phép của cơ quan có thẩm quyền, Bộ, ngành có
thể tổ chức Nhóm quan hệ đối tác về lĩnh vực cụ thể để phối hợp, chia sẻ thông tin,
8
kiến thức, kinh nghiệm phát triển và bổ trợ lẫn nhau giữa các nhà tài trợ nước
ngoài, tránh trùng lặp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu
đãi.
- Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài hoặc đại diện của Việt Nam tại các
tổ chức quốc tế phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành vận động vốn ODA,
vốn vay ưu đãi tại nước tiếp nhận cơ quan đại diện hoặc tại tổ chức quốc tế đó.
3.2. Vai trị thu hút vốn ODA của WB:
Với hơn gần 20 tỉ USD được huy động trong thời gian qua, nguồn vốn ODA của
WB đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh tế gắn liền với xóa
đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội của Việt Nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, ODA nói chung và ODA của WB nói riêng là nguồn vốn bổ sung cho
đầu tư phát triển. Bên cạnh đầu tư cho phát triển hạ hạ tầng kỹ thuật (đô thị, giao
thông, năng lượng, giáo dục, y tế), một lượng vốn lớn của WB cũng tập trung cho
việc cải cách thể chế, đầu tư cơng và tài chính ngân hàng.
Thứ hai, việc đầu tư cải tạo, nâng cấp và đầu tư xây dựng mới các cơ cơ sở hạ
tầng kinh tế và xã hội; cải cách đổi mới thể chế (đầu tư công, cải cách hành chính
và tài chính ngân hàng) từ nguồn vốn WB sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi từ đó
góp phần hỗ trợ trong việc thu hút nguồn vốn FDI.
Thứ ba, với một số lượng nguồn vốn tài trợ tương đối lớn chiếm khoảng 12%
tổng vốn tài trợ của WB được đầu tư cho lĩnh vực cải cách thể chế, cải cách hành
chính đầu tư cơng đã góp phần hỗ trợ cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế của Việt
Nam, hỗ trợ tốt cho quá trình quản lý nhà nước ngày mộ tốt hơn.
Thứ tư, là đi cùng với hỗ trợ nguồn vốn là cách thức chuyển giao khoa học công
nghệ và kỹ năng quản lý, vận hành dự án cũng như hệ thống quy trình thủ tục đấu
thầu, giải ngân theo chuẩn quốc tế từ đó giúp cho Việt Nam đào tạo đội ngũ cán bộ
có năng lực, trình độ ngày càng cao. Đây chính là lợi ích quan trọng, lâu dài và có
tầm chiến lược của Việt Nam trong quá trình thu hút nguồn vốn ODA của nhà tài
trợ có vị trí quan trọng hàng đầu toàn cầu như WB.
9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ODA CỦA WB TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH THỜI GIAN QUA
1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu:
1.1. Vị trí địa lý:
Quảng Bình là một tỉnh duyên hải Bắc Trung bộ, với diện tích tự nhiên 8.052
km2, phía Bắc giáp Hà Tĩnh qua dãy Hồnh Sơn với chiều dài 136,5 km, phía Nam
giáp Quảng Trị với chiều dài 78,8 km, phía Đơng giáp biển Đông với bờ biển chạy
dài từ huyện Quảng Trạch đến huyện Lệ Thủy dài 116,04 km, phía Tây giáp tỉnh
Khăm Muộn và Tây Nam là tỉnh Savannakhet của CHDCND Lào, bên kia dãy
Trường Sơn với chiều dài 201,87 km. Tỉnh Quảng Bình gồm 8 đơn vị hành chính
gồm 01 Thành phố (Đồng Hới), 01 Thị xã (Ba Đồn), và 6 huyện (Minh Hóa, Tuyên
Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thủy) với 159 xã, phường, thị
trấn.
1.2. Đặc điểm kinh tế tỉnh Quảng Bình:
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân cả giai đoạn đạt
khoảng 6,5%,trong đó: tốc độ tăng trưởng của nơng, lâm, ngư nghiệp 4,2%, công
nghiệp - xây dựng 9,4%, dịch vụ 6,7%. Quy mô, hiệu quả và sức cạnh tranh của
nền kinh tế có bước cải thiện đáng kể. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng
dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; cơ cấu nội bộ từng ngành chuyển biến tích cực.
Đến năm 2016, cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng: nông, lâm nghiệp
và thủy sản 22,9%, công nghiệp, xây dựng 25,7% và dịch vụ 51,4%. Thu ngân sách
trên địa bàn tỉnh đạt 3.067 tỉ đồng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 10.824 tỉ đồng.
Giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh bình quân đầu người năm 2016 đạt 28,72
triệu đồng.
1.3. Đặc điểm về xã hội tỉnh Quảng Bình:
Đến năm 2019, tỉnh Quảng Bình đã giải quyết được việc làm cho 3,25 vạn lao
động, tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,0% so với giai đoạn 2011-2015. Tỉ lệ dân số tăng
0,52%. 99,58% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia. 82,4% xã, phường, thị trấn đạt
chuẩn quốc gia về y tế. Số giường bệnh bình quân trên 1 vạn dân đạt 21 giường
10
bệnh. 84,83% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Đến năm 2019, có 100% xã, phường,
thị trấn hồn thành phổ cập trung học cơ sở, 45,9% trường trung học cơ sở và trung
học phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 62,1% trong đó
lao động qua đào tạo nghề đạt 38,6%. Tỷ lệ dân cư thành thị sử dụng nước sạch và
hợp vệ sinh đạt 97,1%. Tỷ lệ hộ nông thôn được cung cấp nước sạch và hợp vệ sinh
đạt 85%. Tỉ lệ che phủ rừng đạt 68,5%.
2. Tình hình thu hút vốn ODA của WB trên địa bàn tỉnh Quảng Bình:
Năm 1993, WB đã vào Việt Nam, tuy nhiên, phải đến năm 2000, Quảng Bình
mới thu hút được 01 dự án đầu tiên cho lĩnh vực giao thông vận tải, với quy mô
tương đối nhỏ: 4,687 triệu USD tương đương với khoảng 78 tỉ đồng. Tuy nhiên,
theo thời gian, số lượng dự án sử dụng vốn WB ngày càng tăng về cả số lượng dự
án và quy mô tài trợ. Cụ thể, trong thời gian qua, tỉnh Quảng Bình đã thu hút được
14 dự án ODA của WB với tổng vốn ODA: 133,758 triệu USD đồng.
Bảng 1. Tình hình ký kết các dự án ODA của WB trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Năm
Vốn ODA ký kết
Vốn WB ký kết
Tỷ lệ vốn WB ký kết/vốn
2000
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
Tổng cộng
(triệu USD)
4,687
5,006
13,45
25,554
17,65
40,25
29,12
42,2
12,68
7,8
26,4
18,85
2,1
53,8
22,605
322,152
(triệu USD)
4,687
5,006
ODA ký kết (%)
100
100
5,83
22,81
28,0
3,2
42,2
12,68
69,57
10,99
100
100
6,0
2,1
1,45
22,605
133,758
31,83
100
2,69
100
41,52
3. Tình hình phân bổ, giải ngân vốn ODA của WB trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình:
3.1. Tình hình phân bổ vốn ODA:
11
Những năm qua, tỉnh Quảng Bình đã ký kết được 133,758 triệu USD tương
đương với 2.755.856 triệu đồng cho 14 dự án ODA cho 05 lĩnh vực: Giáo dục- Y
tế; Hạ tầng công cộng; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công nghiệp- Điện và
Giao thông Vận tải.
Bảng 2. Phân bổ vốn ODA của WB theo lĩnh vực trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Lĩnh vực
Số
lượng
Tổng vốn đầu tư (triệu đồng)
Tổng số
Vốn ODA
Vốn đối
dự án
3
1
4
2
3
1
của WB
Tỉ lệ (%)
ứng
Giáo dục y tế
187.662
171.423
16.239
5,45
Hạ tầng công cộng
1.549.532
1.233.598
315.934
45,04
NN & PTNT
820.547
699.198
121.349
23,84
Công nghiệp điện
301.840
247.263
54.577
8,77
Giao thông vận tải
532.460
365.980
166.480
15,48
Lĩnh vực khác
48.519
38.394
10.125
1,41
Tổng cộng
3.440.560
2.755.856
684.704
100
Theo số liệu ở bảng trên, vốn WB thu hút được của tỉnh được phân bổ theo theo
thứ tự: Hạ tầng công cộng 45,04%, nông nghiệp và phát triển nông thôn 23,84%%,
giao thông vận tải 15,48%, Công nghiệp điện 8,77%, Giáo dục - Y tế 5,45%, và
cuối cùng là các lĩnh vực khác 1,41%.
Với cơ cấu vốn ở trên cho thấy, nguồn vốn tập trung mạnh vào nhóm lĩnh vực hạ
tầng công cộng, giao thông vận tải và công nghiệp điện: Do tỉnh là tỉnh mới, tách
tỉnh từ tỉnh Bình Trị Thiên, với cơ sở hạ tầng cịn thiếu, yếu và lạc hậu, do đó,
nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong các kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh là tập trung ưu
tiên thu hút đầu tư để kích cầu cho phát triển hạ tầng thiết yếu nhằm tạo nền tảng
cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh. Cả giai đoạn, Quảng Bình đã ký
kết tất cả 6 dự án trong các lĩnh vực này với tổng vốn là 2.383.832 tỷ đồng, chiếm
69,29% tổng vốn ký kết. Trong đó, dự án Vệ sinh mơi trường thành phố Đồng Hới
có số vốn ký kết lên đến 59,060 triệu USD tương đương với khoảng 1.293,598 tỷ
đồng (theo tỉ giá quy đổi tại từng thời điểm giải ngân trong 7 năm thực hiện dự án),
chiếm 37,60% trong tổng vốn đầu tư WB ký kết cho cả giai đoạn. Đây là dự án có
quy mơ lớn nhất của tỉnh. Việc đầu tư dự án đã góp phần nâng cấp và cải thiện hệ
thống hạ tầng thoát nước và vệ sinh đô thị của thành phố Đồng Hới, tạo cảnh quan
đô thị xanh sạch đẹp của thành phố và là một trong các tiêu chí quan trọng hỗ trợ
12
cho Đồng Hới từ đô thị loại III lên đô thị loại II.
Tiếp theo lĩnh vực hạ tầng công cộng là công nghiệp điện: Cả giai đoạn tỉnh huy
động được 02 dự án thuộc lĩnh vực với tổng vốn ODA 301,840 tỉ đồng chiếm
14,47% tổng vốn WB ký kết cho cả giai đoạn nhằm hoàn thiện mạng lưới điện hạ
áp nông thôn nhằm cung cấp điện năng ổn định cho gần 60 xã/159 xã trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình. Lĩnh vực giao thông vận tải cũng đánh dấu mốc quan trọng trong
việc huy động 03 dự án đầu tư hệ thống giao thông giao thông nông thôn các huyện
với tổng vốn 532.460 tỉ đồng. Xét về số vốn huy động, mặc dù lĩnh vực giao thông
vận tải chiếm tỉ lệ khơng đáng kể tuy nhiên đã góp phần tạo điều kiện thông thương
thuận lợi cho nhân dân và nâng cao khả năng tiếp cận của các địa phương vùng sâu,
vùng xa với các trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội.
Tiếp đến là lĩnh vực Nông nghiệp: Với 04 dự án được huy động trong giai đoạn,
chiếm tỷ trọng 23,85% tổng vốn ODA của WB được ký kết. Đây là lĩnh vực thứ 2
chiếm tỷ trọng vốn ODA lớn của WB được dành để đầu tư nâng cấp hệ thống thủy
lợi (hồ đập, cảng cá...) hỗ trợ cho việc đầu tư hỗ trợ hạ tầng phát triển sản xuất kinh
doanh và hệ thống hạ tầng nông thôn.
Cuối cùng là lĩnh vực Y tế Giáo dục:Tuy chỉ huy động 03 dự án với quy mô nhỏ,
chiếm 5,45% tổng vốn WB ký kết cho cả giai đoạn nhưng các dự án này đã góp
một phần rất quan trọng trong việc đầu tư hệ thống hạ tầng bệnh viện, trường học
và tiến tới nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho các bệnh viện, trung tâm y tế
cũng như chất lượng dạy và học của một số trường học trên địa bàn toàn tỉnh.
Bảy lĩnh vực được huy động vốn WB trong thời gian qua của tỉnh Quảng Bình
đã góp một phần quan trọng trong việc bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển và
góp phần hỗ trợ tỉnh hồn thành kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm (2000-2005, 20062010, 2011-2015) và kế hoạch các năm 2016 - 2019 của tỉnh.
3.2. Tình hình giải ngân vốn WB:
Số vốn thu hút ODA của WB đã được giải ngân tăng dần qua các năm. Tổng giá
trị giải ngân của cả giai đoạn là 92,385 triệu USD, đạt 69,07% so với tổng vốn WB
đã ký kết với các nhà tài trợ và 28,64% tổng vốn ODA cam kết của các nhà tài trợ
cam kết cho tỉnh. Năm 2007, tốc độ giải ngân vốn WB thấp nhất chỉ đạt khoảng 4,5
13
% so với tổng vốn ODA đã giải ngân của năm. Lý do là năm này các dự án đang
tiến hành các thủ tục chuẩn bị cho đầu tư xây dựng cơ bản. Trong đó, năm 2012, tỉ
lệ giải ngân cao nhất chiếm 71,27% tổng vốn ODA đã giải ngân cho cả năm. Tỉ lệ
giải ngân nguồn vốn thu hút nêu trên đã chứng tỏ khả năng bám sát tiến độ và kỹ
năng quản lý, sử dụng nguồn vốn của các BQL dự án ODA trên địa bàn tỉnh đã
được nâng cấp dần qua các năm.
14
Bảng 3. Tình hình giải ngân vốn WB so với tổng vốn ODA của tỉnh Quảng
Bình
Năm
2000
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
Tổng cộng
Giải ngân
Giải ngân
Giải ngân
Tỷ lệ vốn WB
vốn ODA
vốn đối ứng
vốn WB
giải ngân/vốn
(triệu USD)
(triệu USD)
(triệu USD)
ODA giải ngân
0,39
1,0
2,375
1,340
0,630
0,810
9,2
5,72
8,75
10,69
21,81
15,38
9,9
0,55
3,84
92,385
(%)
15,12
20,51
50,42
29,78
12,52
4,50
38,77
35,05
49,97
42,76
71,27
55,74
42,91
10,60
27,02
41,44
2,58
4,875
4,71
4,5
5,03
18
23,73
16,318
17,51
25
30,6
27,59
23,07
5,19
14,21
222,913
0,25
0,5
2,2
0,8
2,48
1,63
6,78
4,44
5,23
4,34
4,97
4,10
4,49
6,38
4,32
52,91
4. Kết quả đạt được và những tồn tại trong quá trình sử dụng vốn ODA của
WB trên địa bàn tỉnh Quảng Bình:
4.1. Kết quả đạt được:
Từ năm 2004 đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình chỉ có 14 dự án đầu tư của
WB với tổng vốn đầu tư 133 triệu USD cam kết và 89 triệu USD vốn giải ngân,
chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số vốn của các nhà đầu tư trong giai đoạn này. Tuy
số vốn thu hút này chỉ chiếm 19,87% tổng vốn ODA của WB thu hút của toàn khu
vực, thấp hơn so với một số tỉnh trong khu vực.
Với tỉ lệ giải ngân của các dự án được kết thúc đạt 99%, đã cho thấy các dự án
đã hoàn thành mục tiêu đề ra ban đầu.
Các dự án sử dụng vốn WB của tỉnh thu hút được trong thời gian qua đã góp
phần quan trọng vào việc bổ sung ngân sách tồn xã hội của tỉnh, góp phần quan
trọng trong việc hỗ trợ đầu tư hệ thống hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội của tỉnh,
15
thông qua việc hỗ trợ đầu tư hệ thống giao thơng nơng thơn, cấp thốt nước, xử lý
chất thải và nước thải của các bệnh viện,...Đến năm 2019, đã có 93% xã có đường ơ
tơ đến trung tâm xã và 159/159 xã đã có điện với 98% dân số đã được sử dụng
điện. Chất lượng đường giao thông nông thôn được nâng cao, tạo điều kiện thông
thương thuận lợi và góp phần xóa dần khoảng cách giữa miền xi và miền ngược,
đồng bằng và dân tộc thiểu số. Việc hỗ trợ nhân dân sản xuất và phát triển một số
ngành nghề nông nghiệp trọng tâm trọng điểm cũng được quan tâm đầu tư từ nguồn
vốn WB thông qua việc đầu tư nâng cấp hệ thống cảng sông, cảng biển, đầu tư hệ
thống kênh mương thủy lợi,...nhờ đó, những năm qua, cùng với các nguồn vốn hỗ
trợ chương trình mục tiêu khác, nơng nghiệp nơng thơn của tỉnh đã có sự phát triển
khá với năng suất cây trồng và vật nuôi tăng cao, đời sống người dân được cải thiện
rõ rệt.
Bên cạnh việc hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, các dự án WB thu hút
được còn hỗ trợ quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ và khoa học kỹ thuật.
Với việc đầu tư cơ sở hạ tầng cùng hệ thống trang thiết bị máy móc đạt chuẩn, các
cơ sở y tế trong tỉnh đã nâng cao được chất lượng khám chữa bệnh và quan trọng
hơn cả là tạo điều kiện cho người nghèo, người cận nghèo và người dân ở vùng sâu,
vùng xa được tiếp cận với các dịch vụ y tế. Nhờ đó, đã góp phần nâng cao tỉ lệ
người dân được các cơ sở y tế phục vụ, nâng cao chất lượng cuộc sống.
4.2. Những tồn tại và nguyên nhân:
Bên cạnh những mặt đạt được, quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của
WB còn bộc lộ một số hạn chế, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, thiết kế dự án chưa phù hợp. Việc xây dựng dự án thu hút vốn WB còn
chưa sát thực tiễn địa phương. Trong giai đoạn đầu (2000-2010), một số dự án
ODA, đặc biệt là các dự án về giao thông, thiết kế dựa trên điều kiện chung của cả
nước mà chưa căn cứ vào điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý cụ thể của từng vùng miền
nên đề xuất các tiêu chuẩn kỹ thuật cịn chưa sát với điều kiện địa hình của địa
phương. Do đó, trong q trình triển khai thực hiện phải điều chỉnh thiết kế dẫn đến
tình trạng dự án kéo dài.
- Thứ hai, chưa chủ động trong công tác thu hút theo các lĩnh vực được xây dựng.
16
Mặc dù, các lĩnh vực thu hút được bám sát quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh, tuân thủ đúng lĩnh vực ưu tiên tài trợ của nhà tài trợ, tuy nhiên lại
không phải là các dự án do tỉnh chủ động xây dựng trong các đề án thu hút vốn
ODA mà lại kênh thông tin thu nhận được hàng năm. Điều này, thể hiện tính chưa
chủ động trong công tác thu hút vốn của các cấp chính quyền và cán bộ làm cơng
tác đối ngoại.
- Thứ ba, công tác đối ngoại chưa được chú trọng đầu tư. Thực tế, trong thời gian
qua, chất lượng đối ngoại đã được cải thiện rõ rệt thông qua việc số lượng dự án
thu hút được ngày càng nhiều, tỉ lệ giải ngân vốn ODA trên vốn thu hút ngày càng
cao. Tuy nhiên, kỹ năng đối ngoại và trình độ ngoại ngữ vẫn còn thấp. Các cá nhân,
tập thể làm công tác đối ngoại vẫn chưa thực sự chủ động. Nguồn vốn thu hút được
chưa theo đa kênh mà chủ yếu theo chiều dọc từ trên xuống (từ Chính phủ xuống
Bộ, rồi từ Bộ xuống địa phương).
- Thứ tư, sử dụng các nguồn vốn đầu tư không hiệu quả do:
+ Nhận thức sai về bản chất vốn ODA: một thời gian dài, rất nhiều tổ chức, cá nhân
có nhận thức lệch lạc cho rằng nguồn vốn ODA là nguồn vốn cho khơng, tỉnh
khơng có trách nhiệm phải trả nợ, do đó, việc quản lý và sử dụng nguồn vốn chưa
thực sự hiệu quả.
+ Thể chế pháp luật của Việt Nam về quản lý dự án ODA còn chưa ổn định. Riêng
quy định về ODA đã thay đổi 04 lần từ Nghị định 17/2001/NĐ-CP, Nghị định
131/2006/NĐ-CP, Nghị định 38/2013/NĐ-CP và Nghị định 16/2016/NĐ-CP. Việc
thay đổi này, giúp cho các quy định dần sát với quy trình, thủ tục của nhà tài trợ.
Tuy nhiên, mặt trái của nó là các Nghị định ban hành chưa có thời gian để áp dụng
trong thực tiễn nhiều, chưa đúc rút được kinh nghiệm thì đã chỉnh sửa. Điều này
gây tốn kém nguồn lực. Trong khi đó, các quy định của WB thường ổn định, ít có
sự thay đổi và thơng thường nếu có thay đổi thì chỉ là cập nhật, điều chỉnh ở quy
mơ nhỏ.
+ Năng lực cán bộ tham gia quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA cịn
yếu về nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hợp tác quốc tế và ngoại ngữ; đội ngũ cán
bộ làm việc trong Ban QLDA ODA chủ yếu là kiêm nhiệm, bên cạnh đó khối lượng
17
công việc tương đối lớn nên ảnh hưởng tới tiến độ triển khai thực hiện dự án.
- Thứ năm, cơ chế phối hợp theo chiều dọc (giữa các sở ngành, địa phương) và
chiều ngang (giữa tỉnh, Bộ, ngành Trưng ương và các Bộ chủ quản), cơ chế song
song (giữa tỉnh và các nhà tài trợ) đã có nhiều thay đổi tích cực nhưng vẫn chưa
chặt chẽ, dẫn đến các dự án thu hút chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu và các dự
án sử dụng chưa phát huy được hiệu quả trong quá trình triển khai.
18
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ODA
CỦA WB TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
Trong thời gian qua, công tác thu hút vốn ODA của WB đã gặt hái được nhiều
thành công đáng kể thể hiện trên các mặt: hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội, góp
phần cải cách thể chế, cơ cấu lại nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh các ưu điểm,
công tác thu hút vốn vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần có định hướng và giải pháp
khắc phục, cụ thể như sau.
1. Tăng cường công tác chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị trong việc tham gia thu hút, vận động nguồn vốn nước ngoài phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình:
Xác định cơng tác thu hút vận động ODA nhằm bổ sung nguồn lực đầu tư cho
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà là sự nghiệp của tồn bộ cấp ủy Đảng, chính
quyền và tồn dân. Việc cùng đồng lòng, đồng sức của các cơ quan Nhà nước sẽ
tranh thủ được thời gian và cơ hội tiếp cận nguồn vốn cũng như đẩy nhanh tiến độ
chuẩn bị dự án và nâng cao hiệu quả công tác chuẩn bị dự án, cũng như giảm bớt
được các chi phí thời gian và tăng thêm chi phí cơ hội khác.
Bên cạnh đó, việc tăng cường cơng tác chỉ đạo của các cấp chính quyền sẽ đóng
một vai trị quan trọng đối với quá trình thu hút, sử dụng nguồn vốn. Đồng thời,
phải hoàn thiện thể chế thu hút ODA tinh gọn và hiệu quả.
2. Tăng cường xây dựng và rà sốt quy hoạch, cơ chế chính sách trong cơng
tác vận động Ngân hàng thế giới:
Quy hoạch hướng vào việc huy động vốn theo từng bước và tổ chức tài trợ trên
cơ sở dự báo hạn mức huy động, cơ cấu và điều kiện tài trợ để xác định khả năng
huy động vốn thực hiện trong từng năm và từng thời kỳ, từ đó đảm bảo sự cân đối
trong tổng nguồn lực khác cũng như đối với khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Chủ
động đưa ra danh mục các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư trong từng giai đoạn
phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế địa phương. Chủ động xây dựng đề cương
danh mục các chương trình, dự án vận động vốn WB của tỉnh, bám sát tiêu chí ưu
tiên tài trợ của Nhà tài trợ và định hướng thu hút vận động ODA của Chính phủ,
19
của tỉnh để tạo tính sẵn sàng.
Tổ chức thực hiện, theo dõi quy hoạch một cách có hiệu quả, đảm bảo trong quá
trình thực hiện phải đúng mục tiêu ưu tiên và kế hoạch sử dụng trung hạn đã đề ra.
WB là một trong những nhà tài trợ có chính sách tài trợ và các quy định pháp lý
ổn định nhất trong các tổ chức đa phương và song phương khác trên thế giới. Các
quy định về đấu thầu, giải ngân nguồn vốn của WB đã tuân thủ theo chuẩn quốc tế
và vài năm có cập nhật, chỉnh sửa tuy nhiên sự thay đổi không đáng kế. Do vậy,
chung ta cần phải tích cực nghiên cứu, xây dựng, hồn thiện hệ thống văn bản pháp
lý về quản lý nguồn vốn ODA để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của Việt Nam nói
chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng.
3. Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trong công tác vận động và quản lý
nguồn vốn ODA của Ngân hàng Thế giới:
Cán bộ phụ trách trực tiếp dự án có sử dụng vốn ODA ngoài kinh nghiệm, cần
phải được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ, ngoại ngữ và khả năng phân tích, báo
cáo, thúc đẩy giải ngân nguồn vốn đảm bảo dự án thực hiện có hiệu quả, tránh tình
trạng do trình độ kém khơng có khả năng thúc đẩy tiến độ dẫn đến dự án giải ngân
chậm, làm tăng gánh nặng đối ứng và phải chi trả các khoản chi phí khác như phí
cam kết, phí quản lý và các loại phí khác cho ngân sách tỉnh.
4. Tăng cường cơ chế phối hợp trong công tác vận động vốn ODA của Ngân
hàng Thế giới:
Muốn nguồn vốn thu hút được nhiều về quy mơ và số lượng thì một trong những
ngun tắc quan trọng là khả năng phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa các cơ
quan từ khâu đăng ký danh mục, đề xuất dự án, phê duyệt chủ trương đầu tư đến
khâu thẩm định năng lực và tiến trình triển khai thực hiện dự án. Dự án nào được
quan tâm, hỗ trợ tốt, dự án đó sẽ thực hiện hiệu quả. Mối quan hệ này được xây
dựng theo chiều dọc (từ Chính phủ xuống các Bộ và UBND các tỉnh thụ hưởng dự
án), chiều ngang (giữa các Sở, ban ngành có liên quan) và song song cùng phối hợp
thực hiện giữa UBND các tỉnh và Nhà tài trợ. Các quan hệ này càng được thắt chặt
thì hiệu quả thu hút càng cao và hiệu quả thực hiện dự án càng bền vững.
Trong công tác quản lý tại địa phương, lãnh đạo các cấp phải chủ động gặp gỡ
20
trao đổi tìm ra cách giải quyết cho những quan điểm còn khác nhau trong thu hút và
sử dụng nguồn vốn giữa Việt Nam và Nhà tài trợ để tham mưu đề xuất hướng xử lý
kịp thời. Phối hợp với các đơn vị liên quan, tổ chức các cuộc thảo luận, gặp gỡ vơi
WB để tăng hiểu biết giữa hai bên, cung cấp các thông tin, tài liệu chứng minh cho
các khó khăn làm giảm tiến độ giải ngân. Đồng thời, đưa ra những kiến nghị, biện
pháp khắc phục giải quyết tình trạng giải ngân mà tỉnh đang gặp phải.
5. Xây dựng kế hoạch trả nợ trong nước và nước ngồi để giảm dần nợ cơng,
nhằm góp phần thu hút nguồn vốn ODA của WB và giải ngân nguồn vốn đã
ký Hiệp định:
Theo quy định tại Nghị định số 52/2017/NĐ-CP, Quảng Bình là tỉnh thuộc đối
tượng vay lại 20% nguồn vốn IDA và 70% nguồn vốn IBRD của WB. Đi kèm với
cơ chế tài chính trong nước đối với nguồn vốn ODA cho vay lại một phần là
phương án trả nợ được chia thành hai phương án: Phương án trả nợ thơng thường
trong vịng 25 năm (5 năm ân hạn và 20 năm trả nợ gốc) và phương án trả nợ nhanh
trong vòng 15 năm (5 năm ân hạn, 10 năm trả nợ gốc) đã làm tăng áp lực trả nợ cho
các tỉnh, đặc biệt là các tỉnh nghèo, hàng năm Trung ương vẫn hỗ trợ ngân sách như
tỉnh Quảng Bình.
Mặt khác, theo quy định hiện hành của Luật Ngân sách năm 2015, hạn mức vay
của tỉnh Quảng Bình sẽ bằng 20% tổng thu ngân sách địa phương được hưởng theo
phân cấp. Điều đó đồng nghĩa với việc, khả năng vay lại của tỉnh tương ứng với
trần nợ công của tỉnh. Do đó, để có thể thu hút nguồn vốn WB cho đầu tư phát
triển, tỉnh phải xác định được nguồn lực trả nợ cũng như lộ trình trả nợ nước ngồi
phù hợp, đảm bảo hài hịa giữa trả nợ và đầu tư.
21
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Thực tế việc triển khai dự án sử dụng vốn ODA trong thời gian qua cho thấy,
vốn ODA thực sự là một nguồn vốn quan trọng với sự phát triển của tỉnh và tạo ra
hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối hiện tại. Trong đó, WB là nhà tài
trợ tiềm năng và đóng góp lớn với số dự án triển khai trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Nhìn chung, tiến độ thực hiện các dự án ODA nói chung và của WB nói riêng đã
đạt được các kết quả khả quan với tỉ lệ giải ngân vốn WB so với vốn cam kết khá
cao. Các dự án hoàn thành thường giải ngân trên 99% vốn ODA ký kết tại các Hiệp
định. Tình hình phân bổ và sử dụng vốn WB đã bám sát theo tiêu chí và lĩnh vực ưu
tiên của nhà tài trợ.
Tuy nhiên, trong thời gian tới, phần vốn vay ưu đãi sẽ chấm dứt và nhường chỗ
cho phần vốn vay thông thường IBRD và các nguồn vốn khác của WB, Việt Nam
nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng sẽ đối diện với việc đẩy nhanh tiến độ trả
nợ nguồn vốn IDA và tìm các giải pháp thích hợp để tiếp cận và trả nợ nguồn vốn
IBRD với lãi suất kém ưu đãi.
Để có thể thu hút được nhiều hơn nguồn vốn ODA của WB, cần thực hiện một
số giải pháp như sau:
- Đối với Nhà nước:
+ Nhanh chóng hồn thiện cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng vốn ODA, đặc
biệt là chính sách tài chính, các định chế về quản lý và trả nợ công;
+ Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành đồng bộ từ trung ương đến địa phương
– các đơn vị tiếp nhận dự án ODA;
+ Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ từ Trung ương đến địa phương;
+ Bố trí đủ nguồn tài chính cho các tỉnh để thực hiện triển khai các dự án tốt
hơn;
+ Tăng cường công tac thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các dự án. Tăng cường
hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động đầu tư bằng nguồn
vốn ODA.
- Đối với UBND tỉnh Quảng Bình:
22
+ Có kế hoạch mang tính chiến lược về thu hút vốn WB, cần xây dựng các dự án
cụ thể, chi tiết để kêu gọi thu hút vốn WB.
+ Định hướng cụ thể thu hút đầu tư vốn WB vào các ngành, lĩnh vực, địa bàn
phù hợp với quy hoạch. Nêu rõ tính khả thi, khả năng hấp thụ nguồn vốn của
ngành, lĩnh vực, địa bàn, khả năng trả nợ phần vốn vay lại và các giải pháp cụ thể
khác.
+ Đẩy nhanh cải cách thủ tục hành chính có liên quan. Đồng thời, hồn thiện
chính sách đền bù, tái định cư sẽ khắc phục được những khó khăn và vướng mắc
gây tổn hại đến hiệu quả của các dự án ODA.
+ Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch chương trình phát triển kinh tế - xã hội, cán bộ
tỉnh chủ động đề xuất nội dung các chương trình, dự án ODA khi làm việc với nhà
tài trợ, tránh tình trạng phụ thuộc vào nhà tài trợ và tư vấn.
+ Nâng cao chất lượng và năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, thực hiện các dự án
ODA. Tổ chức đào tạo cán bộ trong các lĩnh vực lập kế hoạch, thu thập thông tin,
quản lý và tổ chức thực hiện thông qua các lớp đào tạo, tập huấn ngắn hạn và trung
hạn, tăng cường kỹ năng lãnh đạo để quản lý các dự án ODA.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đoàn Hùng Cường (2018), Thu hút vốn ODA của Ngân hàng Thế giới trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế
Huế - Đại học Huế.