Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Kỹ thuật bảo quản một số loại gỗ keo, bạch đàn dùng trong xây dựng cơ bản và làm cột cọc ngoài trời - Thư Viện Số - Thông tin Khoa học và Công nghệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (261.45 KB, 9 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>KỸ THUẬT BẢO QUẢN MỘT SỐ LOẠI GỖ KEO, BẠCH ĐÀN DÙNG TRONG XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ </b>
<b>LÀM CỘT CỌC NGOÀI TRỜI </b>


<b> </b>
<b> Bùi Văn Ái, Trương Quang Chinh </b>


<b> Đinh Văn Tiến </b>
<i>Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam </i>


<b>I. MỞ ĐẦU </b>


Tại các vùng nông thôn miền núi nước ta, nhu cầu sử dụng gỗ làm vật liệu xây dựng nhà cửa và cột cọc
để trồng trọt, làm cột điện, điện thoại... ngày càng gia tăng. Gỗ sử dụng ngoài trời, tiếp xúc trực tiếp với đất
phải chịu tác động tổng hợp của sinh vật gây hại lâm sản và các yếu tố thời tiết gây hủy hoại gỗ. Chính vì
vậy, để sử dụng gỗ được lâu dài, theo kinh nghiệm truyền thống, người dân thường chọn các loại gỗ thuộc
nhóm “tứ thiết” có tính chất cơ lý cao và độ bền tự nhiên tốt. Hiện nay, trước nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng
tăng, lượng gỗ quý rừng tự nhiên đã cạn kiệt, đòi hỏi phải có sự thay đổi trong cách thức sử dụng gỗ.


Rừng trồng của nước ta được phát triển mạnh trong những thập kỷ gần đây đã dần từng bước góp phần
nâng tỷ lệ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và cung cấp gỗ nguyên liệu cho các nhu cầu sử dụng
của xã hội. Một số loại gỗ bạch đàn, keo có tính chất cơ học đáp được yêu cầu dùng trong xây dựng cơ
bản. Song nhược điểm chung của gỗ cây mọc nhanh thường chứa lượng lớn đường và tinh bột, do đó gỗ
sau chặt hạ rất dễ bị sâu nấm phá hại. Để có thể sử dụng gỗ rừng trồng lâu dài trong các điều kiện khắc
nghiệt, cần thiết phải nghiên cứu xác định được giải pháp xử lý bảo quản gỗ thích hợp, đảm bảo nâng cao
được tuổi thọ sử dụng gỗ đồng thời phải có yêu cầu kỹ thuật đơn giản dễ áp dụng tại các vùng nông thôn
miền núi.


<b>II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU </b>
<b>2.1 Vật liệu nghiên cứu </b>


- Các loài gỗ keo, bạch đàn được nghiên cứu xác định độ bền tự nhiên bao gồm:


1. Bạch đàn trắng <i>Eucalyptus camaldulensis Dehnh </i>


2. Bạch đàn đỏ <i>Eucalyptus robusta Smith </i>
3. Bạch đàn Urophylla <i>Eucalyptus urophylla </i>


4. Keo dậu Leucaena leucocephala (Lamk.) De Wit
5. Keo lá tràm <i>Acacia auriculiformis A.Cunn. ex Benth </i>
6. Keo lá bạc <i>Acacia aulococarpar </i>


7. Keo lai Acacia mangium x A. auriculiformis
8. Keo lưỡi liềm Acacia crassicerpa


9. Keo tai tượng Acacia mangium Willd.


10. Bồ đề Styrax tonkinensis Pierre (Làm đối chứng)


- Thuốc bảo quản gỗ: XM5 được pha chế theo công thức đã được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<i><b>Ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp </b><b>đá</b><b>nh giá </b><b>độ</b><b> b</b><b>ề</b><b>n c</b><b>ủ</b><b>a m</b><b>ộ</b><b>t s</b><b>ố</b><b> lo</b><b>ạ</b><b>i g</b><b>ỗ</b><b> keo và b</b><b>ạ</b><b>ch </b><b>đà</b><b>n t</b><b>ạ</b><b>i bãi th</b><b>ử</b><b> t</b><b>ự</b><b> nhiên </b></i>


Đánh giá độ bền của gỗ tại bãi thử nghiệm tự nhiên là cách thức xác định độ bền gỗ trước tác động
tổng hợp của các yếu tố sinh vật và phi sinh vật. Môi trường thử nghiệm tiệm cận với điều kiện sử dụng gỗ
trong thực tế. Số liệu về độ bền mẫu gỗ tại bãi thử nghiệm tự nhiên sẽ là cơ sở để phân nhóm gỗ theo độ
bền tự nhiên. Trong sản xuất, sẽ căn cứ vào bảng phân nhóm gỗ đó để lựa chọn giải pháp xử lý bảo quản
phù hợp với mục đích sử dụng gỗ.


Mẫu gỗ đưa vào thử nghiệm có kích thước mẫu 2,5x5x50cm (kích thước lớn nhất theo chiều dọc thớ
gỗ), số lượng mẫu cho mỗi loại gỗ là 20 mẫu. Mẫu gỗ được đánh số và chôn ngập 1/2 chiều dài mẫu dưới
đất tại bãi thử nghiệm. Độ bền của mẫu gỗ được đánh giá bằng chỉ số độ bền tương ứng với độ sâu mục
mềm và mức độ phá hoại của côn trùng trên mẫu. 6 tháng lấy số liệu một lần.



<i><b>B</b><b>ả</b><b>ng 1. Ch</b><b>ỉ</b><b> s</b><b>ố</b><b>độ</b><b> b</b><b>ề</b><b>n g</b><b>ỗ</b><b> t</b><b>ươ</b><b>ng </b><b>ứ</b><b>ng v</b><b>ớ</b><b>i </b><b>độ</b><b> sâu ph</b><b>ầ</b><b>n m</b><b>ụ</b><b>c m</b><b>ề</b><b>m (mm) </b></i>


<b>Chỉ số độ bền gỗ </b> 100 90 70 40 0


0  2 > 2 ; < 5  5
<b>Độ sâu mục mềm gỗ </b>


<b>(mm) </b> Diện tích phần bị mục mềm hoặc bị cơn trùng phá hại
> 30% diện tích mẫu sẽ hạ 1 cấp độ bền


<i><b> Ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp xác </b><b>đị</b><b>nh s</b><b>ứ</b><b>c th</b><b>ấ</b><b>m thu</b><b>ố</b><b>c b</b><b>ả</b><b>o qu</b><b>ả</b><b>n c</b><b>ủ</b><b>a g</b><b>ỗ</b><b> r</b><b>ừ</b><b>ng tr</b><b>ồ</b><b>ng </b></i>


Khảo sát sức thấm thuốc của gỗ rừng trồng với các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu: Độ ẩm gỗ, thời gian tẩm,
áp lực tẩm và nồng độ dung dịch thuốc theo các phương pháp tẩm: Ngâm thường, khuếch tán và chân
không áp lực. Sức thấm thuốc của gỗ rừng trồng được thể hiện bằng lượng thuốc thấm và độ sâu thấm
thuốc. Bố trí quy hoạch thực nghiệm yếu tố tồn phần (QHTNYTTP).


- Phương pháp xác định lượng thuốc thấm (kg/m3): Khi tẩm gỗ có độ ẩm thấp dưới điểm bão hoà thớ,
lượng thuốc thấm được xác định bằng phương pháp cân, đo. Khi tẩm gỗ có độ ẩm cao trên điểm bão hồ
thớ gỗ, lượng thuốc thấm được xác định bằng phương pháp hố học phân tích định lượng Complexan III để
xác định lượng thuốc thấm XM5.


- Phương pháp xác định độ sâu thấm thuốc (mm): Độ sâu thấm thuốc bảo quản vào mẫu gỗ được xác
định bằng thuốc chỉ thị màu.


<i><b>Ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp xác </b><b>đị</b><b>nh hi</b><b>ệ</b><b>u l</b><b>ự</b><b>c b</b><b>ả</b><b>o qu</b><b>ả</b><b>n g</b><b>ỗ</b><b> keo, b</b><b>ạ</b><b>ch </b><b>đà</b><b>n c</b><b>ủ</b><b>a thu</b><b>ố</b><b>c XM</b><b>5 </b></i>


Mẫu gỗ keo, bạch đàn có kích thước tương tự với mẫu khảo nghiệm độ bền tự nhiên. Mẫu gỗ được tẩm
thuốc XM5 theo các cấp nồng độ dung dịch thuốc là 2%, 5% và 8%; Trị số áp lực tẩm 0,3Mpa và 0,6 Mpa.



Thời gian duy trì áp lực 90 phút. Mau gỗ sau ngâm tẩm được dặt tại bãI thử tự nhiên. Hiệu lực của thuốc
được thể hiện bằng độ bền mẫu thử nghiệm, cách đánh giá theo quy định tại bảng 2,


<b> III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN </b>


<b>3.1. Kết quả xác định độ bền của một số loại gỗ keo và bạch đàn tại bãi thử tự nhiên </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<i><b>B</b><b>ả</b><b>ng 2. </b><b>Độ</b><b> b</b><b>ề</b><b>n c</b><b>ủ</b><b>a m</b><b>ẫ</b><b>u g</b><b>ỗ</b><b> t</b><b>ạ</b><b>i bãi th</b><b>ử</b><b> t</b><b>ự</b><b> nhiên </b></i>
<b>Chỉ số độ bền mẫu gỗ theo thời gian </b>
TT


<b>Tên gỗ </b>


<b>6/2002 </b> <b>12/2002 </b> <b>6/2003 </b> <b>12/2003 </b> <b>6/2004 </b> <b>12/2004 </b>


1 Bạch đàn đỏ 98 97 87 67 41 18


2 Keo lá tràm 91 90 81 64 38 0


3 Bạch đàn trắng 90 89 66 42 19 0


4 Keo dậu 90 85 66 34 0 0


5 Keo lưỡi liềm 87 86 63 36 0 0


6 Keo lai 85 82 65 35 0 0


7 Bạch đàn Uro 86 85 49 29 0 0



8 Keo lá bạc 87 81 43 22 0 0


9 Keo tai tượng 69 59 37 16 0 0


10 Bồ đề 56 11 0 0 0 0


Nhận xét kết quả thực nghiệm:


Hầu hết mẫu của các loại gỗ đều bị nấm mục và cơn trùng phá huỷ hồn tồn sau 03 năm thử nghiệm tại
bãi thử tự nhiên. Gỗ Bạch đàn đỏ và Keo lá tràm và Bạch đàn trắng thể hiện có độ bền tự nhiên tốt hơn cả,
mẫu gỗ còn tồn tại đến năm thứ 3. Gỗ bồ đề làm đối chứng chỉ sau 01 năm thử nghiệm, mẫu gỗ đã bị phá
hủy hoàn toàn.


So sánh kết quả thực nghiệm với với bảng phân nhóm độ bền tự nhiên gỗ của IUFRO đưa ra như sau:
<i><b>B</b><b>ả</b><b>ng 3. B</b><b>ả</b><b>ng phân nhóm </b><b>độ</b><b> b</b><b>ề</b><b>n t</b><b>ự</b><b> nhiên c</b><b>ủ</b><b>a các lo</b><b>ạ</b><b>i g</b><b>ỗ</b></i>


<b>Nhóm phân loại </b> <b>Độ bền tự nhiên của </b>
<b>gỗ </b>


<b>Thời gian sử dụng gỗ ở </b>
<b>điều kiện khí hậu </b>


<b>ơn đới </b>


<b>Thời gian sử dụng gỗ </b>
<b>ở điều kiện </b>
<b>khí hậu nhiệt đới </b>
Nhóm I Rất bền Trên 25 năm Trên 15 năm


Nhóm II Bền 15 -25 năm 10 -15 năm



Nhóm III Bền trung bình 10 -15 năm 5 – 10 năm


Nhóm IV Kém bền 5 -10 năm 2- 5 năm


Nhóm V Rất kém Dưới 5 năm Dưới 2 năm


Đối chiếu vào cách phân nhóm tại bảng 3 thì gỗ Bạch đàn đỏ, Bạch đàn trắng và Keo lá tràm được xếp
vào nhóm IV, là nhóm có độ bền kém, các loại gỗ cịn lại trong nghiên cứu đều thuộc nhóm có độ bền tự
nhiên rất kém.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<b>3.2. Nghiên cứu sức thấm thuốc bảo quản của một số loại gỗ keo và bạch đàn </b>


Với nội dung nghiên cứu về sức thấm thuốc của một số loại gỗ keo và bạch đàn, do thời gian thực
hiện có giới hạn nên đề tài đã lụa chọn 03 loại gỗ đại diện đã được trồng phổ biến với diện tích lớn trên tồn
quốc đó là: Keo lá tràm, Keo lai và Bạch đàn Urô. Sức thấm thuốc bảo quản của gỗ được khảo sát theo
phương pháp ngâm thường và chân không áp lực.


<b>a/ Sức thấm thuốc của 3 loại gỗ theo phương pháp ngâm thường </b>


Khi tẩm gỗ theo phương pháp ngâm thường, thuốc bảo quản sẽ thấm vào gỗ theo các nguyên lý
khác nhau, phụ thuộc vào độ ẩm gỗ. Trường hợp độ ẩm gỗ cao trên điểm bão hòa thớ, lượng ẩm tự do
trong các mao mạch gỗ lớn, thuốc bảo quản (dạng muối vơ cơ hịa tan trong nước) sẽ thấm vào gỗ theo
nguyên lý khuếch tán là chủ yếu. Khi độ ẩm gỗ dưới điểm bão hòa thớ gỗ, thuốc bảo quản sẽ thấm vào gỗ
theo nguyên lý mao dẫn. Do đó, đề tài đã khảo sát sức thấm thuốc của 3 loại gỗ theo phương pháp ngâm
thường ở điều kiện gỗ có độ ẩm dưới điểm bão hịa thớ (gỗ có độ ẩm thấp) và gỗ có độ ẩm trên điểm bão
hịa thớ (gỗ có độ ẩm cao). Sức thấm thuốc của gỗ được xác định bằng lượng thuốc thấm vào gỗ sau qua
trình tẩm (kg/m3).


<i><b>S</b><b>ứ</b><b>c th</b><b>ấ</b><b>m thu</b><b>ố</b><b>c c</b><b>ủ</b><b>a 3 lo</b><b>ạ</b><b>i g</b><b>ỗ</b><b> có </b><b>độ</b><b>ẩ</b><b>m th</b><b>ấ</b><b>p theo ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp ngâm th</b><b>ườ</b><b>ng </b></i>



<i><b>B</b><b>ả</b><b>ng 4. L</b><b>ượ</b><b>ng thu</b><b>ố</b><b>c th</b><b>ấ</b><b>m khi ngâm th</b><b>ườ</b><b>ng g</b><b>ỗ</b><b> có </b><b>độ</b><b>ẩ</b><b>m th</b><b>ấ</b><b>p </b></i>


<b>Chế độ tẩm </b> <b>Lượng thuốc thấm (kg/m3) </b>
<b>TT </b>


<b>Độ ẩm gỗ </b>
<b>(%) </b>


<b>Thời gian </b>


<b>ngâm (giờ) </b> <b>Keo lai </b> <b>Keo lá tràm </b> <b>Bạch đàn Urô </b>


1 35 72 2,75 2,50 1,99


2 15 72 3,71 3.33 2,97


3 35 24 1,80 1,50 1,09


4 15 24 2,39 2,10 1,68


5 25 48 3,32 3,11 2,34


Mối quan hệ giữa lượng thuốc thấm của 3 loài gỗ với các yếu tố độ ẩm gỗ (W), thời gian tẩm (T) khi
ngâm thường gỗ có mức độ ẩm thấp như sau:


<b> + Gỗ Keo lá tràm : Y</b>1 = 2,168 - 0,038 W+ 0,024 T (3.1)


<b> + Gỗ Keo lai: Y</b>2 = 2,491 - 0,039 W + 0,023 T (3.2)



<b> + Gỗ Bạch đàn Uro: Y</b>3 = 1,756 - 0,041 W + 0,024 T (3.3)


<i><b>Nh</b><b>ậ</b><b>n xét k</b><b>ế</b><b>t qu</b><b>ả</b><b> th</b><b>ự</b><b>c nghi</b><b>ệ</b><b>m </b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

<i><b> S</b><b>ứ</b><b>c th</b><b>ấ</b><b>m thu</b><b>ố</b><b>c c</b><b>ủ</b><b>a g</b><b>ỗ</b><b> có </b><b>độ</b><b>ẩ</b><b>m cao khi ngâm th</b><b>ườ</b><b>ng </b></i>


<i><b>B</b><b>ả</b><b>ng 5. L</b><b>ượ</b><b>ng thu</b><b>ố</b><b>c th</b><b>ấ</b><b>m khi ngâm th</b><b>ườ</b><b>ng g</b><b>ỗ</b><b>độ</b><b>ẩ</b><b>m cao </b></i>


<b>Chế độ tẩm </b> <b>Lượng thuốc thấm (kg/m3) </b>
<b>TT </b>


<b>Độ ẩm gỗ </b>
<b>(%) </b>


<b>Thời gian </b>


<b>ngâm (giờ) </b> <b>Keo lai </b> <b>Keo lá tràm </b> <b>Bạch đàn Urô </b>


1 95 72 3,92 3,56 2,92


2 65 72 2,25 1,75 1,28


3 95 24 3,27 2,84 2,25


4 65 24 1,72 1,15 0,98


5 80 48 2,65 2,15 1,74


Mối quan hệ giữa lượng thuốc thấm của 3 loại gỗ với các yếu tố độ ẩm gỗ (W), thời gian tẩm (T) khi
ngâm thường ở mức độ ẩm gỗ cao như sau:



<b> + Gỗ Keo lá tràm : Y</b>1 = -3,013 + 0,059 W + 0,014 T (3.4)


<b> + Gỗ Keo lai: Y</b>2 = - 2,099 + 0,054 W + 0,012 T (3.5)


<b> + Gỗ Bạch đàn Uro: Y</b>3 = -2,507 + 0,048 W + 0,010 T (3.6)


Với kết quả nhận được, khi ngâm thường gỗ có độ ẩm cao, thì độ ẩm gỗ càng cao càng thuận lợi
cho quá trình thấm thuốc. Ngược lại, khi ngâm gỗ có độ ẩm nhỏ dưới 50% thì khi độ ẩm gỗ càng tăng lại
cản trở quá trình thấm thuốc bảo quản.


Kết quả nghiên cứu sức thấm thuốc của ba loại gỗ rừng trồng khi tẩm bằng phương pháp ngâm thường
ở mức độ ẩm thấp và độ ẩm cao thể hiện bằng các phương trình tương quan có thể áp dụng trong thực tế
để xác định chế độ cho mỗi mẻ tẩm tuỳ thuộc vào yêu cầu chất lượng gỗ tẩm.


<i><b>b/ S</b><b>ứ</b><b>c th</b><b>ấ</b><b>m thu</b><b>ố</b><b>c c</b><b>ủ</b><b>a 03 loài g</b><b>ỗ</b><b> theo ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp chân không áp l</b><b>ự</b><b>c </b></i>


Khi tẩm gỗ theo phương pháp chân không áp lực, yêu cầu cơ bản là gỗ cần tẩm phải có độ ẩm khơng
vượt q 50%. Nếu q ngưỡng độ ẩm trên, lượng thuốc thấm đạt được rất hạn chế, khơng đảm bảo hiệu
quả bảo quản. Vì vậy, sức thấm thuốc của gỗ theo phương pháp chân không áp lực chỉ tiến hành khảo sát
với gỗ có độ ẩm dưới điểm bão hịa thớ.


<i><b>B</b><b>ả</b><b>ng 6. L</b><b>ượ</b><b>ng thu</b><b>ố</b><b>c th</b><b>ấ</b><b>m c</b><b>ủ</b><b>a 03 lo</b><b>ạ</b><b>i g</b><b>ỗ</b><b> r</b><b>ừ</b><b>ng tr</b><b>ồ</b><b>ng theo ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp chân không áp l</b><b>ự</b><b>c </b></i>


<b>Chế độ tẩm </b> <b>Lượng thuốc thấm (kg/m3) </b>


<b>TT </b> <b><sub>Độ ẩm </sub></b>


<b>(%) </b>



<b>Thời gian </b>
<b>(phút) </b>


<b>áp lực </b>


<b>(kg/cm2) </b> <b>Keo lá tràm </b> <b>Keo lai </b> <b>Bạch đàn Urô </b>


1 35 90 7 7,48 10,79 5,10


2 15 90 7 9,07 12,23 6,40


3 35 30 7 6,19 8,14 4,39


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

5 35 90 3 5,23 9,67 4,01


6 15 90 3 4,52 11,12 3,54


7 35 30 3 3,78 7,06 2,75


8 15 30 3 3,23 7,54 2,89


9 25 60 5 3,51 9,63 3,04


Với các kết quả nhận về lượng thuốc thấm của ba loại gỗ, qua tính tốn, mối quan hệ giữa lượng
thuốc thấm và độ sâu thấm thuốc của 03 loại gỗ với các yếu tố độ ẩm gỗ (W), thời gian duy trì áp lực (T), áp
lực tẩm (P) khi tẩm gỗ bằng phương pháp chân không áp lực như sau:


<b> + Gỗ Keo lá tràm : Y</b>1 = - 0,504 + 0,022 W + 0,038 T + 0,630 P (3.7)


<b> + Gỗ Keo lai: </b> Y2 = 6,141 - 0,049 W + 0,052 T + 0,280 P (3.8)



+ Gỗ Bạch đàn Uro: Y3 = 0,969 + 0,007 W + 0,021 T + 0,347 P (3.9)


Kết quả thực nghiệm trên đây cho thấy kết quả lượng thuốc thấm khi tẩm bằng phương pháp
chân không áp lực của gỗ Keo lai đạt lớn nhất tiếp theo là gỗ Keo lá tràm và nhỏ nhất vẫn là Bạch đàn Urô.
Việc lựa chọn áp dụng phương pháp tẩm ngâm thường hoặc chân khơng áp lực cịn phụ thuộc vào u cầu
của sản phẩm được bảo quản, mức độ đầu tư và quy mô sản xuất của doanh nghiệp.


<b>3.3. Xác định hiệu lực của thuốc XM5 bảo quản gỗ dùng trong xây dựng và làm cột cọc </b>
<b>ngoài trời </b>


Gỗ dùng trong xây dựng cơ bản rất đa dạng về hình thức sử dụng như gỗ làm cột, làm ván thưng,
làm sàn, cửa, giàn mái…. Với mỗi loại hình kết cấu trong cơng trình xây dựng, gỗ sẽ chịu tác động các yếu
tố môi trường khác nhau. Kết cấu gỗ chịu tác động khắc nghiệt nhất là cột, ván thưng, của… phải thường
xuyên tiếp xúc với nền đất ẩm hoặc bị hút ẩm thất thường do tiếp xúc với nước mưa, nước sinh hoạt nên
cần được xử lý bảo quản thích đáng. Thuốc XM5 là loại thuốc có hiệu lực tốt với cả cơn trùng và nấm gây


hại lâm sản. Đề tài đã tiến hành nghiên cứu xác định hiệu lực bảo quản gỗ tại bãi thử tự nhiên nhằm xác
định nồng độ và liều lượng thuốc cần sử dụng để đảm bảo hiệu lực bảo quản gỗ dùng trong xây dựng và
làm cột cọc ngoài trời


<i><b>B</b><b>ả</b><b>ng 7. Hi</b><b>ệ</b><b>u l</b><b>ự</b><b>c b</b><b>ả</b><b>o qu</b><b>ả</b><b>n c</b><b>ủ</b><b>a thu</b><b>ố</b><b>c XM</b><b>5</b><b> t</b><b>ạ</b><b>i bãi t</b><b>ự</b><b> nhiên </b></i>


Ngày đặt mẫu tháng 11 năm 2001
<b>Chế độ tẩm </b> <b>Chỉ số độ bền theo thời gian </b>


TT


<b>Nồng độ </b>
<b>thuốc (%) </b>



<b>áp lực tẩm </b>
<b>(kg/cm2) </b>


<b>Lượng </b>
<b>thuốc thấm </b>


<b>(kg/m3) </b> <b>5/2002 </b> <b>11/2002 </b> <b>5/2003 </b> <b>11/2003 </b> <b>5/2004 </b>


<b>Keo lá tràm </b>


1 2 3 1,46 100 100 100 90 79


2 2 6 2,77 100 100 100 91,5 83


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

4 8 6 8,40 100 100 100 98 90
<b>Bạch đàn Urô </b>


5 2 3 1,38 100 100 95 87 76


6 2 6 2,35 100 100 100 90 81.5


7 5 6 5,67 100 100 100 92 85


8 8 6 7,42 100 100 100 95 88


9 Đ/C Keo lá tràm 91 90 81 75 40


10 Đ/C Bạch đàn Uro 86 85 49 29 0



<b>Nhận xét </b>


<b>- Mẫu đối chứng: Trong cùng điều kiện bãi thử, gỗ keo lá tràm không tẩm thuốc sau 1 năm chỉ số độ bền </b>
vẫn còn rất cao, sang năm thứ 2, chỉ số độ bền giảm xuống rất nhanh và bị phá huỷ nặng sau 30 tháng chơn
ngồi bãi. Gỗ Bạch đàn Urơ có chỉ số độ bền kém hơn nên mẫu đã bị phá huỷ sau 24 tháng thử nghiệm.


<b>- Mẫu tẩm thuốc: Các mẫu tẩm có lượng thuốc thấm nhỏ (<2kg/m</b>3) có chỉ số độ bền mẫu trong 2 năm
đầu vẫn đạt 100 song đến năm thứ 3 thử nghiệm, chỉ số độ bền mẫu đã giảm nhiều. Các mẫu tẩm đạt lượng
thuốc thấm cao hơn (>2kg/m3), có chỉ số độ bền trong 2 năm đầu không thay đổi (đạt 100) nhưng sang năm
thứ 3 chỉ số độ bền đã giảm, song lượng giảm rất thấp (có thể thấy chỉ số độ bền vẫn còn rất cao trên 90).
Sở dĩ chỉ số độ bền giảm là do một phần thuốc đã bị rửa trôi và các yếu tố ngoại cảnh khác tác động.


<b>3.4. Đề xuất quy trình bảo quản gỗ rừng trồng dùng trong xây dựng cơ bản và cột cọc ngồi trời </b>
<i><b>a/ Quy trình b</b><b>ả</b><b>o qu</b><b>ả</b><b>n g</b><b>ỗ</b><b> theo ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp ngâm th</b><b>ườ</b><b>ng </b></i>


<i>Phạm vi áp dụng </i>


+ Gỗ nguyên liệu: Gỗ keo, bạch đàn ở dạng gỗ tròn, gỗ xẻ


+ Loại thuốc dùng để bảo quản: Thuốc XM5, nồng độ dung dịch 15% dùng để bảo quản gỗ dùng ngoài


trời hoặc tiếp xúc với nền đất, nguồn nước. Thuốc XM5, LN5 nồng độ sử dụng 5% dùng để bảo quản gỗ


dùng dưới mái che.


+ Đối tượng phòng trừ chủ yếu: côn trùng và nấm gây mục hỗn hợp
<i>Chuẩn bị </i>


+ Gỗ tròn được loại bỏ sạch vỏ, cành nhành, cắt gỗ thành từng khúc theo độ dài cần sử dụng.
+ Gỗ xẻ đã được gia cơng theo kích thước u cầu.



+ Thuốc XM5 hoặc LN5 được pha với nước sạch theo mức nồng độ phù hợp với mục đích sử dụng gỗ


tẩm. Lượng thuốc bột sử dụng sẽ căn cứ vào lượng tre cần tẩm. Trung bình lượng thuốc bột để tẩm 01m3
gỗ làm cột cọc, sử dụng ngoài trời cần 9-12kg. Gỗ dùng dưới mái che cần 2-4kg/m3.


+ Trang thiết bị ngâm tẩm: Máy bơm, thùng pha thuốc, bề ngâm gỗ bằng vật liệu chịu ăn mịn hóa học.
Kích thước và số lượng bể ngâm phụ thuộc vào lượng gỗ cần tẩm.


<i>Tiến hành ngâm tẩm </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

+ Bơm dung dịch thuốc vào bể, gỗ phải chìm dưới dung dịch thuốc 10cm.
+ Thời gian ngâm gỗ (không kể thời gian xếp và vớt gỗ)


Đối với gỗ tròn, gỗ xẻ làm cột cọc sử dụng ngoài trời, tiếp xúc với nền đất: thời gian ngâm 20 ngày.


Đối với gỗ dùng dưới mái che: thời gian ngâm từ 2-3 ngày cho gỗ có độ ẩm nhỏ hơn 50%; thời gian ngâm
4-5 ngày cho gỗ có độ ẩm lớn hơn 4-50%.


+ Vớt gỗ: sau thời gian ngâm, vớt gỗ và chuyển ra kho bãi dưới mái che để gỗ khô từ từ và thuốc ổn định
trong gỗ. Thời gian lưu giữ tại kho bãi tối thiểu từ 10-15 ngày.


+ Kiểm tra nồng độ dung dịch thuốc sau mỗi lần ngâm tẩm và pha thuốc bổ sung: Dùng Bomme kế để
xác định nồng độ của dung dịch thuốc sau ngâm tẩm và tính tốn lượng thuốc bột pha bổ xung.


<i>An tồn lao động </i>


Cơng nhân làm cơng tác ngâm tẩm bảo quản gỗ phải mang bảo hộ lao động, rửa tay bằng xà phòng sau
khi kết thúc quá trình ngâm tẩm. Thuốc cặn, nước rửa dụng cụ có dính thuốc đổ xuống bể chứa riêng để
tiêu huỷ thuốc, không đổ xuống ao hồ, sông, suối.



<i><b>a/ Quy trình b</b><b>ả</b><b>o qu</b><b>ả</b><b>n g</b><b>ỗ</b><b> theo ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp chân không áp l</b><b>ự</b><b>c </b></i>


<i>Phạm vi áp dụng </i>


+ Gỗ nguyên liệu: Gỗ keo, bạch đàn ở dạng gỗ tròn, gỗ xẻ


+ Loại thuốc dùng để bảo quản: Thuốc XM5, nồng độ dung dịch 15% dùng để bảo quản gỗ dùng ngoài


trời hoặc tiếp xúc với nền đất, nguồn nước. Thuốc XM5, LN5 nồng độ sử dụng 5% dùng để bảo quản gỗ


dùng dưới mái che.


+ Đối tượng phòng trừ chủ yếu: côn trùng và nấm gây mục hỗn hợp
<i>Chuẩn bị </i>


+ Gỗ tròn được loại bỏ sạch vỏ, cành nhành, cắt gỗ thành từng khúc theo độ dài cần sử dụng
+ Gỗ xẻ đã được gia cơng theo kích thước u cầu.


+ Thuốc XM5 hoặc LN5 được pha với nước sạch theo mức nồng độ phù hợp với mục đích sử dụng gỗ


tẩm. Lượng thuốc bột sử dụng sẽ căn cứ vào lượng tre cần tẩm. Trung bình lượng thuốc bột để tẩm 01 m3
gỗ làm cột cọc, sử dụng ngoài trời cần 9-12kg. Gỗ dùng dưới mái che cần 2-4 kg/m3.


+ Trang thiết bị ngâm tẩm


- Hệ thống thiết bị tẩm chân khơng áp lực: Bình tẩm, thùng chứa chế phẩm, Bơm chất lỏng, thiết bị
hút chân không, thiết bị nén khí, hệ thống van, ống dẫn, đồng hồ các loại, đường ray, xe goòng… . Các thiết
bị tiếp xúc trực tiếp với dung dịch thuốc phải được làm bằng kim loại không gỉ .



- Thùng pha chế dung dịch thuốc; Cân kỹ thuật


- Khẩu trang, găng tay, ủng và các dụng cụ bảo hộ lao động khác.
<i>Tiến hành tẩm </i>


+ Xếp gỗ lên xe goong, đưa vào bình tẩm
+ Đóng chốt nắp bình tẩm.


+ Rút chân khơng trong bình tẩm đạt - 0,08MPa và duy trì 15 phút.


+ Bơm dung dịch thuốc vào bình tẩm, gỗ phải chìm dưới bề mặt dung dịch thuốc tối thiểu 20cm.
+ Dùng thiết bị tăng áp lực trong bình tẩm:


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

- Đối với gỗ dùng dưới mái che: Trị số áp lực tẩm đạt 0,3Mpa, duy trì áp lực trong thời gian 30 phút.
+ Xả áp, đưa áp suất trong bình tẩm về áp suất thường, bơm dung dịch thuốc trong bình tẩm ra thùng
chứa


+ Rút chân không trong bình tẩm đạt - 0,08Mpa và duy trì 10 phút.


+ Kết thúc q trình tẩm chân khơng áp lực, chuyển gỗ ra khỏi bình tẩm, xếp đống ủ trong thời gian 15
ngày để thuốc tiếp tục ổn định trong gỗ tẩm.


<i>An toàn lao động </i>


Phải kiểm tra hệ thống thiết bị tẩm chân không, áp lực trước mỗi ca làm việc; Vận hành thiết bị tẩm theo
đúng các bước quy định. Công nhân làm công tác ngâm tẩm bảo quản gỗ phải mang bảo hộ lao động, rửa
tay bằng xà phòng sau khi kết thúc quá trình ngâm tẩm. Thuốc cặn, nước rửa dụng cụ có dính thuốc đổ
xuống bể chứa riêng để tiêu huỷ thuốc, không đổ xuống ao hồ, sông, suối.


<b>IV. KẾT LUẬN </b>



- Đã xác định độ bền tự nhiên của 9 loại gỗ keo và bạch đàn tại điều kiện bãi thử tự nhiên. Các loại gỗ
keo, bạch đàn trong nghiên cứu bị phá hủy hoàn toàn sau 03 năm thử nghiệm và được xếp loại độ bền tự
nhiên từ kém đến rất kém.


- Đã xác định được sức thấm thuốc bảo quản của 03 loại gỗ keo lá tràm, Keo lai và Bạch đàn Urô theo
các phương pháp tẩm ngâm thường và chân khơng áp lực. Gỗ Keo lai có sức thấm thuốc tốt, gỗ Keo lá
tràm và Bạch đàn Uro có sức thấm thuốc trung bình.


- Từ kết quả nghiên cứu, đã đề xuất 02 quy trình kỹ thuật bảo quản gỗ rừng trồng dùng trong xây dựng
và làm cột cọc ngoài trời theo phương pháp ngâm thường và chân không áp lực.


<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>


1. Nguyễn Xuân Khu, 1985. “ Sơ bộ xác định khả năng thấm thuốc của một số loài gỗ vùng Thanh Sơn
- Vĩnh Phú”, Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng KHKT công nghiệp rừng, NXB Nông nghiệp, tr 97-109.


2. Lê Văn Lâm, Bùi văn Ái và các cộng tác viên, 2004. “ Nghiên cứu bảo quản một số tre, gỗ rừng
trồng sử dụng ngoài trời làm nọc tiêu, xây dựng cơ bản, nguyên liệu dồ mộc, ván dán lạng”, Báo cáo tổng
kết KHCN đề tài trọng điểm cấp Bộ, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.


3. Nguyễn Vũ Lâm, 2002. Nghiên cứu khả năng thấm thuốc XM5 của gỗ Keo lá tràm (Acacia


<i>Auriculiformis Cunn) bằng phương pháp Ngâm thường và Chân không áp lực, Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật, </i>
Trường ĐH Lâm nghiệp, Hà Tây.


4. Lê Duy Phương, 2002. Nghiên cứu khả năng thấm thuốc XM5 của gỗ Keo lai (Acacia Auriculiformis


Cunn x A. mangium) bằng phương pháp Ngâm thường và Chân không áp lực, Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật,
Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây.



5. Nguyễn Chí Thanh, 1985. “Một số kết quả thử nghiệm hiệu lực của thuốc bảo quản và độ bền tự
nhiên của gỗ trong điều kiện trên bãi thử tự nhiên”, Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng KHKT công nghiệp
rừng, NXB Nông nghiệp, tr 116-123


6. Nguyễn Văn Thống, 1985. “Hiệu lực phòng nấm hại gỗ của thuốc Celcure-T và Ascu-T”, Một số kết
quả nghiên cứu ứng dụng KHKT công nghiệp rừng, NXB Nông nghiệp, tr91-97.


7. FAO, 1986. Wood preservation manual, Paper 76.


</div>

<!--links-->

×