Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

Bài thu hoạch lớp trung cấp LLCT một số giải pháp triển du lịch đà nẵng trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (143.16 KB, 19 trang )

1

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Thành phố Đà Nẵng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch như lợi thế về
vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, nguồn tài nguyên du lịch phong phú… Trong những
năm qua, thành phố đã chú ý đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, đặc
biệt là các tuyến đường giao thông cùng những công trình kiến trúc nhằm tạo ra
những điều kiện tốt để thu hút đầu tư và phát triển du lịch. Bên cạnh đó nhiều
loại hình du lịch mới được triển khai đã góp phần làm đa dạng hố sản phẩm du
lịch của thành phố. Nhờ đó, ngành du lịch Đà Nẵng đã phát triển nhanh chóng,
hướng đến trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Tuy nhiên, quá trình phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng du lịch
của địa phương. Do đó, việc đề ra các giải pháp nhằm khai thác các tiềm năng du
lịch để phát triển kinh tế- xã hội thành phố, là một đòi hỏi cần thiết đối với thành
phố Đà Nẵng. Xuất phát từ đó em đã tiến hành nghiên cứu nội dung: Một số giải
pháp triển du lịch Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch ở Đà
Nẵng hiện nay, đưa ra được các thành tựu đạt được và các tồn tại, vướng mắc. Từ
đó đưa ra một số giải pháp khắc phục các tồn tại đó.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại thành phố Đà Nẵng;
+ Phạm vi thời gian: từ 2021 đến tháng 4 năm 2021


2

NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1.1. Khái niệm du lịch


Từ lâu, khái niệm “du lịch” đã được các học giả sử dụng rộng rãi trên sách
báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, mỗi thời kỳ phát triển,
khái niệm về du lịch cũng mang những nét đặc trưng khác nhau và được bổ sung
ngày càng hoàn thiện hơn
Ở Việt Nam khái niệm về du lịch được Luật Du lịch (năm 2005) định
nghĩa:“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngồi nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Nhìn chung, các khái niệm về du lịch tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng
đều có đặc trưng chung: Du lịch là lĩnh vực dịch vụ; bao gồm nhiều hoạt động
khác nhau; là lĩnh vực hoạt động rộng trên toàn lãnh thổ bao gồm nhiều ngành,
lĩnh vực tham gia; các hoạt động du lịch diễn ra ở ngoài khu vực khách du lịch
cư trú.
1.2. Đặc điểm của ngành du lịch
- Du lịch là ngành công nghiệp khơng khói, ít gây ơ nhiễm mơi trường;
- Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu
tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực, sản phẩm du lịch là vơ hình;
- Q trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời, sản xuất kết
thúc cũng là lúc tiêu thụ sản phẩm hồn thành;
- Q trình sản xuất thực hiện nhiều công đoạn khác nhau;
- Sản phẩm của ngành du lịch không thể dự trữ và cũng khơng có tồn kho.
1.3. Vai trị của ngành du lịch đối với phát triển KT-XH


3

Ngành du lịch không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội nhưng
ngành du lịch lại có vai trị khá quan trọng trong phát triển KT-XH của các quốc
gia.
- Vai trị xuất khẩu tại chỗ: Khía cạnh xuất khẩu tại chỗ được thể hiện ở

cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch quốc tế và bán các sản phẩm cho khách
du lịch;
Về phương diện quốc tế, du lịch phát triển sẽ thu hút nhiều du khách quốc
tế đến tham quan, nghỉ ngơi và tiêu thụ khoản ngoại tệ lớn ở quốc gia sở tại;
- Vai trị xóa đói giảm nghèo: “Du lịch là phương tiện chuyển giao của cải
tự nguyện lớn nhất từ các nước giàu sang các nước nghèo… Khoản tiền do du
khách mang lại cho các khu vực nghèo còn lớn hơn việc viên trợ chính thức của
các Chính phủ”;
- Vai trị đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: Du lịch là một trong những
ngành có tốc độ phát triển nhanh, tỷ trọng đóng góp ngành du lịch vào GDP ngày
càng tăng;
- Vai trò huy động các nguồn lực: thể hiên qua việc thu hút các nguồn lực
bao gồm cả nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài để đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cho ngành du lịch;
- Vai trị truyền thơng giao lưu văn hóa: hoạt động du lịch cịn thể hiện nét
văn hóa và nếp sống văn minh của một xứ sở. Hoạt động du lịch là một hình thức
quảng bá nét văn hóa này đến với du khách;
- Vai trị bảo vệ mơi trường: ngành du lịch cịn có vai trị quan trọng trong
bảo vệ mơi trường và được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói;
- Vai trị hội nhập quốc tế: Du lịch là cầu nối cho thương mại quốc tế và đầu
tư nước ngồi. Du lịch là cầu nối tình hữu nghị, hợp tác, giao lưu văn hóa giữa
các quốc gia…


4

II. Tổng quan về thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên- Huế, phía Tây và Nam
giáp tỉnh Quảng Nam, phía đơng giáp biển Đơng. Trung tâm thành phố cách thủ
đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía

Nam, cách thành phố Huế 108km về hướng Tây Bắc. Đây là một thành phố vừa
có núi cao, sơng sâu, đồi dốc trung du xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp
Đà Nẵng là vùng mang kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với nền
nhiệt chung khá cao và ít có sự biến động. Đà Nẵng có sự giao thoa giữa hai
kiểu khí hậu cận nhiệt đới ở miền Bắc và nhiệt đới xa van miền Nam nhưng ảnh
hưởng nhiều hơn bởi khí hậu nhiệt đới ở phía nam. Do đó nơi đây cũng có hai
mùa rõ rệt là mùa mưa (tháng 8 – tháng 12) và mùa khơ ( tháng 1 – tháng 7)
Diện tích: Thành phố có diện tích 1.256,53 km²
Dân số: 1.029.000 người (theo điều tra dân số 2021)
Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP, giá so sánh 2010) ước tăng
9,7%/năm (NQ: 13,5-14,5%/năm). GRDP bình quân đầu người (giá hiện hành)
đến năm 2021 ước đạt 2.704 USD (phương pháp cũ) và 2.908USD (phương pháp
mới) (NQ: 3.000-3.200 USD);
Cơ cấu kinh tế đến năm 2021 ước dịch vụ đạt 62,6% (NQ: 56,7%); công
nghiệp - xây dựng: 35,3% (NQ: 40,3%); nông nghiệp: 2,1% (NQ: 3,0%);
III. Thực trạng du lịch ở Đà Nẵng hiện nay
1. Thành tựu
Trong năm 2020 thành phố này đón gần 3 triệu lượt khách quốc tế, tăng
23,3% so với năm 2021, đạt 106,5% kế hoạch. Lượng khách nội địa đạt
4.785.000 lượt, tăng 11,2% so với năm 2021, đạt 100,3% kế hoạch. Tổng lượt
khách tham quan, du lịch đến Đà Nẵng ước cả năm 2020 đạt 7.660.000 lượt
khách, tăng 15,5% so với năm 2021. Theo Sở Du lịch TP Đà Nẵng, tổng thu từ
hoạt động du lịch ước cả năm 2020 Đà Nẵng đạt 24.060 tỷ đồng, tăng 23,3% so


5

với năm 2021. Số du khách đến Đà Nẵng bằng đường hàng không vào
khoảng 2,35 triệu lượt (mức tăng ấn tượng 48,7% so với năm 2021). Khách
đường biển cũng có sự đột phá với 100 chuyến tàu du lịch cập cảng Tiên Sa

đưa khoảng 145 ngàn lượt khách đến với thành phố (tăng 66% số khách so với
2021);
Cơng trình Cầu Vàng tại Khu du lịch Bà Nà Hills đã lọt vào top “100 điểm
đến tuyệt vời nhất thế giới 2020” do tạp chí Times bình chọn, đưa Đà Nẵng trở
thành trung tâm của truyền thông quốc tế về du lịch;
Xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái và trải nghiệm văn
hóa cộng đồng, phát triển điểm đến du lịch mới. Năm 2021, phấn đấu số lượt
khách cơ sở lưu trú phục vụ tăng 9,6% so với năm 2020; doanh thu du lịch (lưu
trú, lữ hành) tăng 8,1%. du lịch Đà Nẵng đặt mục tiêu đón 8,19 triệu lượt khách,
với gần 3,2 triệu lượt khách quốc tế và 5 triệu lượt khách nội địa. Mục tiêu tổng
thu du lịch sẽ đạt khoảng 27.400 tỷ đồng (tăng gần 14% so với ước thực hiện
năm 2020)
Những số liệu trên cho thấy du lịch đã dần trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn của thành phố và ngày càng có thương hiệu mang tầm vóc quốc tế. Điều đó
có thể thấy rõ qua các giải thưởng và danh hiệu nổi bật đã đạt được:
- Đà Nẵng là thành phố duy nhất của Việt Nam đạt giải thưởng Thành phố
bền vững về môi trường ASEAN và được công nhận là 1 trong 20 thành phố có
hàm lượng carbon trong khí thải ra môi trường thấp nhất thế giới;
- Bãi biển Mỹ Khê được bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành
tinh và là 01 trong 10 bãi biển ở châu Á được yêu thích nhất thế giới;
- Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng đã lọt top 3 sân bay tốt nhất thế giới
theo kết quả khảo sát của hãng hàng không Dragon Air - hãng hàng không lớn
thứ 2 của Hồng Kông về chất lượng dịch vụ tại 96 sân bay trên toàn cầu;


6

- Mới đây, Tạp chí New York Times (Mỹ) vừa chọn Đà Nẵng là một trong
52 điểm đến hấp dẫn nhất năm 2021. Đây là lần thứ hai thành phố biển xinh đẹp
của miền Trung lọt vào danh sách này kể từ năm 2021, nhưng lần này xếp ở vị trí

thứ 15/52 so với 43/52 vào 4 năm trước.
Sự đột phá trong phát triển du lịch đã giúp thành phố “thay da đổi thịt”, chất
lượng cuộc sống của người dân được nâng cao, Đà Nẵng tự hào khi trở thành
thành phố biển có tiếng vang lớn về du lịch.
2. Tồn tại, vướng mắc
Lượng khách du lịch quốc tế chủ yếu tập trung hai thị trường khách trọng
điểm Hàn Quốc và Trung Quốc, trong đó khách Hàn Quốc đạt 801.792 lượt
khách, tăng 101% so với cùng kỳ năm 2021, chiếm tỷ lệ 50% trong cơ cấu quốc
tịch khách; khách Trung Quốc đạt 368,086 lượt, tăng 36% so với cùng kỳ năm
2021, chiếm tỷ lệ 23% trong cơ cấu quốc tịch khách. Việc gia tăng thị phần
khách Hàn Quốc và Trung Quốc đến Đà Nẵng đã đóng góp nguồn thu cho thành
phố, cho doanh nghiệp và người dân. Bên cạnh đó, nó cịn góp phần giải quyết
việc làm, đóng góp vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội của Đà Nẵng. Tuy
nhiên, khi một lượng khách chiếm tỷ trọng quá 50% như hiện nay thể hiện sự
phụ thuộc vào một thị trường khách, đây là nguy cơ, chỉ cần có dịch bệnh, sự
biến cố về chính trị sẽ khiến du lịch Đà Nẵng ảnh hưởng ngay
Đồng thời, việc xuất hiện tour giá rẻ làm thất thu lớn ngân sách Nhà nước
và gây ra nhiều hệ lụy. Các công ty du lịch Trung Quốc không chỉ thao túng
doanh nghiệp lữ hành Việt Nam về giá mà cịn sử dụng ln hướng dẫn viên
người Trung Quốc để hướng dẫn. Trên thực tế, những hướng dẫn viên này khơng
biết gì về lịch sử Việt Nam, họ chỉ hướng dẫn khách việc mua sắm nên xảy ra
tình trạng thuyết minh sai về lịch sử. Khi cơ quan quản lý Nhà nước siết chặt
việc kiểm tra, họ chuyển sang thuê một hướng dẫn viên nội địa, có thẻ hành nghề


7

nhưng thực chất người này chỉ là “bù nhìn”, mọi việc từ thuyết minh, hướng dẫn
vẫn do hướng dẫn viên người Trung Quốc đi theo đoàn thực hiện.
Đà Nẵng được đánh giá là một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn. Tuy

nhiên, vẫn chưa tạo sự khác biệt của riêng mình. Đây được xem là yếu tố “cốt
lõi” tạo nên sự hấp dẫn của điểm đến, không những vậy sản phẩm du lịch đặc
trưng cịn góp phần quan trọng tạo nên khả năng cạnh tranh của điểm đến. Bởi
cái để lại ấn tượng nhất cho du khách để họ quyết định quay trở lại lần thứ hai là
sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương, gắn với phát triển cộng đồng. Trong
bối cảnh các địa phương phụ cận (Thừa Thiên Huế và Quảng Nam) đã và đang
phát huy lợi thế về sản phẩm du lịch di sản văn hóa thế giới để hấp hẫn du khách
thì Đà Nẵng lại không trực tiếp sở hữu những di sản thế giới hay những điểm đến
nổi tiếng nên vấn đề về sản phẩm du lịch đặc trưng không chỉ ảnh hưởng đến sức
hấp dẫn của điểm đến mà còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của du lịch Đà
Nẵng trong tương lai.
Các dịch vụ vui chơi, giải trí ở Đà Nẵng còn thiếu và chưa tương xứng với
vai trò là một trung tâm du lịch của khu vực miền Trung nói riêng và của cả nước
nói chung. Sản phẩm du lịch Đà Nẵng chưa có nhiều mới mẻ. Ngồi khu du lịch
Bà Nà Hills chịu khó đầu tư làm mới để thu hút du khách và công viên Sun
World Danang Wonders đa dạng dịch vụ giải trí nằm ở trung tâm thành phố, Đà
Nẵng khơng có thêm nhiều điểm đến đủ sức hấp dẫn du khách đến vui chơi, giải
trí. Dịch vụ giải trí về đêm của Đà Nẵng lại càng thiếu thốn. Ngoài dịp Lễ hội
Pháo hoa hoa quốc tế Đà Nẵng có nhiều sự kiện văn hóa, hoạt động giải trí được
tổ chức song hành…, du khách nếu trở lại Đà Nẵng vào dịp khác cũng không
biết chơi gì, ở đâu? Đà Nẵng khơng cịn thiếu khách sạn hay resort chất lượng
cao, nhưng thành phố đang cần những trung tâm mua sắm chất lượng cao, những
trung tâm giải trí về đêm có uy tín và tạo niềm tin cho du khách. Các hoạt động
vui chơi, giải trí ảnh hưởng đến nỗ lực kéo dài thời gian lưu trú của khách ở Đà


8

Nẵng..Thực tế nhiều năm qua, lượng khách tăng qua các năm song tổng thu từ
khách du lịch của Đà Nẵng vẫn còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng.

Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế xã hội Đà Nẵng, số ngày
lưu trú bình quân của du khách đến Đà Nẵng vẫn chưa có nhiều cải thiện, mức
lưu trú bình quân của một du khách chỉ đạt khoảng 02 ngày, chi tiêu trung bình
của khách vẫn còn ở mức thấp. Hiện nay, số lượng khách đến Đà Nẵng chủ yếu
vẫn là khách đến từ thị trường Châu Á, đi theo tour giá rẻ như: Trung Quốc, Hàn
Quốc, những khách đến từ thị trường tiềm năng “nhà giàu” có mức chi tiêu cao
như khách Châu Âu, Mỹ, Úc… vẫn ở mức khiêm tốn. Theo số liệu Ban Thư ký
Hội đồng tư vấn du lịch Việt Nam, chi tiêu bình quân của du khách Trung Quốc
rất thấp, khoảng 638 USD/người và khách đến từ nhiều thị trường khác trong top
dẫn đầu tỷ trọng khách đến Việt Nam, cũng chi tiêu rất khiêm tốn, chỉ đạt 943,8
USD/người
Mặt khác, các mặt hàng lưu niệm còn đơn điệu về mẫu mã, chưa thực sự
đặc sắc. Thậm chí có sản phẩm nhìn qua thấy đẹp, chất lượng cũng tốt nhưng
quan sát kỹ lại thấy... nhái ý tưởng. Mặt hàng chủ lực là đá mỹ nghệ Non Nước,
các mặt hàng khác chưa có thương hiệu trên thị trường và chưa được du khách
quan tâm nhiều. Chính vì yếu tố này, Đà Nẵng đã mất đi một nguồn thu lớn góp
vào ngân sách để đầu tư cho phát triển du lịch.
Đà Nẵng có đặc thù riêng. Đây không chỉ là điểm đến du lịch mà còn là
trung tâm trung truyển, tiếp nhận khách từ Đà Nẵng khách di chuyển đến các
điểm đến miền Trung. Với các chức năng đó thì việc phát triển dịch vụ, cơ sở hạ
tầng càng trở nên quan trọng. Nhìn từ góc độ này thì Đà Nẵng hiện đang rất
thiếu, thiếu sân bay, thiếu tàu biển quốc tế… để kết nối với các điểm đến miền
Trung và quốc tế. Đà Nẵng hiện chưa có các đường bay thẳng đến những quốc
gia có lượng khách chi tiêu cao để tạo thuân lợi thu hút lượng khách này. Do đó,
muốn phát triển du lịch thì cơ sở hạ tầng du lịch, hạ tầng giao thông là một yếu


9

tố then chốt cần phải đầu tư, phải mời gọi được các nguồn lực tư nhân và tạo

điều kiện để họ được tham gia bình đẳng vào cơng cuộc thúc đẩy du lịch phát
triển...
Một trong những hạn chế khiến ngành du lịch Đà Nẵng trong những năm
qua chưa phát triển tương xứng với tiềm năng là thiếu sự liên kết giữa các trường
đào tạo về du lịch với các doanh nghiệp du lịch khiến “cung không đáp ứng đủ
cầu”. Trong khi đội ngũ HDV thành phố đang thiếu trầm trọng thì mỗi năm, từ
các trường đào tạo chỉ có khoảng 100 sinh viên là HDV ra trường. Rõ ràng
nguồn cung quá ít. Số lượng HDV du lịch của Đà Nẵng hiện đứng thứ 3 cả nước
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các hãng lữ hành, kinh doanh du lịch.
Hiện Đà Nẵng có hơn 15 cơ sở đào tạo liên quan đến hoạt động HDV du lịch.
Tuy nhiên, chỉ có 3 đơn vị có đào tạo chuyên ngành về HDV du lịch. Số HDV
được đào tạo chuyên ngành ở bậc đại học hầu như khơng có, chủ yếu ở trình độ
cao đẳng, trung cấp. Phần lớn HDV ở Đà Nẵng có bằng đại học là sinh viên
ngoại ngữ của các trường Đại học.
Mặc dù vài năm gần đây, thành phố đã có những bước tiến trong việc đào
tạo nguồn nhân lực du lịch, song nguồn nhân lực du lịch vẫn đang bị thiếu hụt,
nhất là cán bộ quản lý giỏi, chuyên nghiệp, năng động, thông thạo nhiều ngoại
ngữ; cán bộ kinh doanh, tiếp thị, xúc tiến du lịch, tổ chức các sự kiện du lịch.
Chất lượng đội ngũ làm du lịch cịn thấp: chỉ có 0,32% số lượng người có trình
độ trên đại học; 37,74% tốt nghiệp đại học, cao đẳng; số cịn lại có trình độ trung
cấp, sơ cấp. Theo phát biểu của một viên chức cấp cao của ngành du lịch thì các
khách sạn Việt Nam khơng thua kém các nước trong khu vực, nhưng trình độ
ngoại ngữ, kiến thức về văn hóa của đội ngũ nhân viên phục vụ, hướng dẫn viên
còn hạn chế. Do đó thực tế hiện nay các khách sạn, resort năm sao đều rất “khát”
nhân lực du lịch chất lượng cao. Nếu khơng có sự liên kết giữa nhà trường và


10

doanh nghiệp thì chất lượng nhân lực du lịch của thành phố sẽ không đáp ứng

được yêu cầu của xã hội đặt ra.
Môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên bị ô nhiễm, vệ sinh môi
trường tại các bãi biển và điểm tham quan có tiến bộ nhưng chưa được đảm bảo
thường xuyên. Mặt khác, cơ chế hỗ trợ cho một số hoạt động du lịch chậm được
ban hành. Các dự án đầu tư về du lịch đăng ký nhiều nhưng triển khai chậm, có
một dự án bị rút giấy phép đầu tư. Vấn đề hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp
trong công tác xúc tiến, quảng bá du lịch chưa được chính quyền thành phố quan
tâm đúng mức. Việc hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài vẫn còn hạn chế.
Theo số liệu thống kê, đến hết năm 2020 số thuế GTGT được hoàn 153.054.387
đồng; đến hết quý 3/2021, số thuế GTGT được hoàn là 130.432.154 đồng; trong
6 tháng đầu năm 2020, số thuế được hoàn ở Đà Nẵng, chỉ vào khoảng 50-100
triệu đồng.
3. Giải pháp phát triển du lịch ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay
- Phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn thành phố kiểm tra, xử lý

nghiêm hướng dẫn viên, cơng ty lữ hành phục vụ và quản lý đồn khách để xảy
ra hiện tượng người nước ngoài hướng dẫn du lịch tại Đà Nẵng. Lập đoàn thanh
tra liên ngành kiểm tra các cửa hàng phục vụ du khách. Lập đường dây nóng kết
nối Trung tâm hỗ trợ du khách; cho phép cử đại diện thị trường du khách Trung
Quốc, Hàn Quốc tại Đà Nẵng để kịp thời phối hợp xử lý những tình huống phát
sinh. Thành lập câu lạc bộ doanh nghiệp chuyên đón khách Trung Quốc. Ngành
Du lịch cử đồn cơng tác đến Đài Loan, Trung Quốc xúc tiến, quảng bá, phổ biến
rộng rãi quy định pháp luật Việt Nam, bộ quy tắc văn hóa ứng xử Đà Nẵng. Tổ
chức in ấn tờ rơi, tập gấp giới thiệu về khu du lịch, điểm du lịch bằng các ngoại
ngữ phù hợp với các thị trường khách có số lượng lớn như: Trung Quốc, Hàn
Quốc, Nga…; nghiên cứu, bố trí kinh phí lắp đặt hệ thống thuyết minh tự động
trực tiếp qua tai nghe bằng các thứ tiếng, phục vụ nhu cầu của du khách; khuyến


11


khích các doanh nghiệp lữ hành in ấn, phát các tập gấp giới thiệu cho khách du
lịch.
- Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng và các điểm vui chơi giải trí để góp
phần tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của điểm đến du lịch Đà Nẵng Đà Nẵng được
xem là điểm trung chuyển quan trọng trên con đường di sản miền Trung khi nằm
cận kề các di sản văn hóa thế giới và di sản thiên nhiên thế giới. Để Đà Nẵng trở
thành điểm sáng khiến du khách dừng chân lâu hơn qua mỗi lần trung chuyển,
những người làm du lịch phải biết khai thác bằng các hình thức phát triển cụ thể:
+ Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ du lịch đặc trưng, độc đáo; tạo thêm sản
phẩm du lịch mới hấp dẫn phong phú như: khu làng Pháp, khu trưng bày lịch sử
Bà Nà, đẩy mạnh phát triển du lịch đường sơng, nghiên cứu hình thành khu danh
thắng Ngũ Hành Sơn thành điểm du lịch quốc gia, tổ chức các loại hình giải trí
biển tầm quốc tế… để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Từ đó nâng
cao thương hiệu du lịch Đà Nẵng so với các thành phố khác trong nước và trong
khu vực. Quy hoạch những làng nghề văn hóa và những làng nghề truyền thống
thông qua các cuộc triển lãm về văn hóa (văn hóa Chăm); văn hóa làng nghề, văn
hóa ẩm thực nhằm mục đích lơi kéo sự tham gia của du khách.
+ Xác định và phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng mang tính khác biệt
của Đà Nẵng trong mối quan hệ với hệ thống sản phẩm nổi trội của các địa
phương phụ cận như: du lịch di sản văn hóa của Huế và Quảng Nam, du lịch sinh
thái - khám phá hang động của Quảng Bình, du lịch về nguồn của Quảng Trị. Để
thực hiện được vấn đề này cần phải xây dựng đề án riêng và có sự tham gia tư
vấn của các chuyên gia cao cấp có kinh nghiệm trong ngành du lịch. - Tăng
cường khai thác các tuyến du lịch biển hấp dẫn từ sông Hàn đến Sơn Trà, từ Nam
Thọ đến Cù Lao Chàm và khu du lịch Xuân Thiều, Nam Ô, Làng Vân vòng
quanh vịnh Đà Nẵng, vùng ven khu du lịch sinh thái Sơn Trà. Đầu tư và tổ chức
chuyên nghiệp hơn du thuyền thưởng ngoạn sông Hàn về đêm; câu cá, mực và



12

sinh hoạt của dân chài. Xây dựng một số khu du lịch dành riêng cho người nước
ngoài, đặc biệt là khu du lịch sinh thái, tắm nắng, casino cao cấp… Xây dựng
những trung tâm giao lưu văn hóa để giới thiệu và thu hút khách du lịch. Những
trung tâm này có thể thành lập ở trong nước hoặc nước ngồi, nếu là nước ngồi
thì thơng qua các chương trình hợp tác quảng bá hình tượng du lịch với các nước
như: Singapore, Thái Lan,…
+ Đầu tư hơn nữa các khu liên hợp vui chơi, phố đi bộ và mua sắm về đêm
cho khách du lịch nước ngoài. Giới thiệu và quảng bá món ngon truyền thống
của Đà Nẵng đến với du khách thơng qua các chương trình ẩm thực cuối tuần
hoặc nhân dịp các ngày lễ lớn trong năm. Xây dựng mới các show diễn nghệ
thuật truyền thống tuồng phục vụ du khách. Xây dựng một số điểm vui chơi giải
trí tầm cỡ khu vực và quốc tế phù hợp với tính chất của một thành phố biển hiện
đại về cơng nghiệp - dịch vụ. Xây dựng trung tâm dịch vụ du khách tầm cỡ khu
vực để du khách có thể mua các sản phẩm hàng lưu niệm địa phương, các sản
phẩm tiêu dùng “hàng hiệu” đảm bảo về chất lượng và giá cả.
- Môi trường pháp lý và công tác liên kết phát triển du lịch:
+ Cần tạo ra một mơi trường pháp luật bình đẳng và thuận lợi cho khách du
lịch, đảm bảo khai thác du lịch theo hướng phát triển thành phố Đà Nẵng một
cách bền vững như: thủ tục xuất nhập cảnh cần đơn giản, đẩy nhanh tốc độ tác
nghiệp của các đơn vị trực tiếp làm công tác xuất nhập cảnh giữa Việt Nam và
các nước trên thế giới và khu vực. Cụ thể hơn nữa các quy định về bảo vệ tài
nguyên du lịch nói riêng và quản lý mơi trường tự nhiên nói chung. Quy định
trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức kinh doanh du lịch trong nước và nước
ngoài. Điều này rất quan trọng, vì theo một số đánh giá thì môi trường du lịch và
môi trường tự nhiên của Đà Nẵng bị xâm phạm và xuống cấp nghiêm trọng. Đặc
biệt là vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên biển phục vụ mục đích du lịch,
bằng các chương trình thiết thực tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân đối



13

với cơng tác bảo vệ mơi trường. Bên cạnh đó, cần xác định chế tài xử lý cụ thể
đối với các trường hợp không tuân thủ quy định. Thành phố cần nói “Khơng” với
các dự án có thể gây ơ nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến du lịch. Vận động các
doanh nghiệp sản xuất tại khu vực trung tâm di dời vào các khu công nghiệp đã
được quy hoạch. Tăng cường xử lý dứt điểm tình trạng đeo bám, chèo kéo khách
tại các khu vực trọng điểm; xử lý tình trạng ăn xin, bán hàng rong để Đà Nẵng
luôn là điểm đến an tồn thân thiện trong lịng du khách.
+ Tăng cường công tác liên kết phát triển du lịch, cụ thể: xây dựng và thiết
lập mối quan hệ liên kết phát triển du lịch với các tổ chức nước ngồi, tăng
cường mở rộng các văn phịng đại diện du lịch ở nước ngồi. Chú tâm đến hình
thức liên kết ngang và liên kết dọc trong phát triển du lịch, mở rộng nội dung và
phạm vi liên kết với các tổ chức du lịch trong và ngoài nước. Đặc biệt là liên kết
với các địa phương lân cận như: Quảng Nam, Huế và một số địa phương khác ở
vùng du lịch Bắc Trung Bộ. Mặc dù các địa phương này có đặc thù riêng trong
phát triển du lịch, song cần có tính thống nhất trong tiếp thị du lịch, hạn chế tình
trạng mạnh ai nấy làm, nếu liên kết tốt sẽ thúc đẩy du lịch phát triển. Mặt khác,
cần triển khai quy hoạch phù hợp với lợi thế thiên nhiên và lịch sử văn hóa của
các địa điểm du lịch thành phố theo các cụm du lịch được chuyên môn hóa sâu
như: cụm du lịch sinh thái, cụm du lịch kết hợp tìm kiếm cơ hội đầu tư và thương
mại, cụm di tích lịch sử và văn hóa, cụm giải trí phù hợp với nhiều đối tượng du
khách trong và ngồi nước. Quan trọng hơn nữa là tính liên kết hợp lý giữa các
điểm di tích tự nhiên và văn hóa thành một chương trình du lịch hấp dẫn, thỏa
mãn nhiều khía cạnh nhu cầu tham quan tìm hiểu của du khách. Bên cạnh việc
đẩy nhanh tiến độ xây dựng các cụm du lịch đã quy hoạch, nhà quản lý du lịch
thành phố nên mạnh dạn đề xuất xây dựng mới và kêu gọi thu hút đầu tư xây
dựng nhiều cụm du lịch có giá trị khác. Thực hiện liên kết khép kín giữa các
khâu phục vụ nhằm phục vụ khách du lịch một cách thuận lợi và hiệu quả như:



14

kết hợp các thủ tục xuất nhập cảnh - nơi ở - cụm du lịch - tham quan đi lại - hội
thảo - cung cấp các dịch vụ.
- Công tác quảng bá tuyên truyền du lịch Công tác tuyên truyền tiếp thị có
vai trị quan trọng trong việc quảng bá thương hiệu du lịch thành phố đến với đại
chúng. Trong thời gian đến ngành du lịch Đà Nẵng nên tập trung đầu tư hơn nữa
cho hoạt động này. Tăng cường sự hợp tác của các bên hữu quan trong quá trình
quảng bá thương hiệu Đà Nẵng, vận dụng và phối hợp chặt chẽ giữa các kênh
truyền thông, cụ thể:
+ Cung cấp thơng tin du lịch: nâng cao năng lực Phịng thông tin du lịch tại
ga đến quốc tế và nội địa sân bay Đà Nẵng; đặt ki-ốt thông tin du lịch; đặt các
máy tra cứu dữ liệu thông tin du lịch, pano quảng cáo, biển chỉ dẫn về du lịch tại
khu vực Bảo tàng Chăm, đường Bạch Đằng, trước nhà hát Trưng Vương và tại
các cửa ngõ vào thành phố; làm phim du lịch Đà Nẵng dưới các hình thức đĩa
VCD, DVD; tạp chí du lịch và sách chuyên đề về một số điểm tham quan du lịch
Đà Nẵng. - Tổ chức các sự kiện lớn, famtrip, chương trình quảng bá du lịch, cụ
thể các sự kiện du lịch thường xuyên như: Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế;
Liên hoan du lịch “Đà Nẵng - Biển gọi”; Liên hoan du lịch “Gặp gỡ Bà Nà”;
Liên hoan du lịch làng nghề , hội thi tay nghề, hướng dẫn viên; kêu gọi và tổ
chức cuộc thi Marathon, festival âm nhạc… Tổ chức các chương trình du lịch
làm quen dành cho các hãng lữ hành và báo chí đến Đà Nẵng. Tổ chức road
show du lịch tại Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc. - Tham gia và tổ chức các
hội chợ triển lãm về du lịch như: Hội chợ du lịch quốc tế - MITT tổ chức hằng
năm tại Moscow; Hội chợ du lịch International French Travel market Top Resa,
Hội chợ du lịch quốc tế - WTM… thông qua các hội chợ này là dịp để du lịch Đà
Nẵng có thể chủ động tổ chức các hội chợ du lịch mang tầm quốc tế nhằm mục
đích thu hút sự tham gia của các tổ chức du lịch trên thế giới và khu vực, kêu gọi

đầu tư về du lịch. Với phương châm “Nghe không bằng thấy”, du lịch Đà Nẵng


15

muốn thu hút du khách đến với Đà Nẵng nhiều hơn thì trên những bước đường
phát triển ngồi sự nỗ lực của các cấp chính quyền, rất cần sự chung tay phối
hợp, hỗ trợ tích cực từ phía các đơn vị kinh doanh, các cơ quan thơng tấn báo chí
và mỗi người dân Đà Nẵng, mỗi du khách đến Đà Nẵng sẽ là cầu nối trong việc
xúc tiến quảng bá, giới thiệu sản phẩm du lịch của Đà Nẵng đến với bạn bè, du
khách trong và ngoài nước.
- Giải pháp về đầu tư phát triển:
+ Để phát triển du lịch thì yếu tố kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch đóng vai
trị vơ cùng quan trọng. Đối với những tuyến đường bộ được xác định là lộ trình
du lịch với hành trình dài cần xây dựng và hình thành trạm dịch vụ dọc theo các
tuyến đường bộ với khoảng cách hợp lý; đối với đường hàng không, cần xây
dựng lộ trình mở, khai thác thêm các tuyến bay quốc tế đến Đà Nẵng và các
tuyến bay nội địa trực tiếp giữa các thành phố lớn khác đến Đà Nẵng. Đối với
đường biển, cần nghiên cứu xây dựng các tuyến du lịch đường biển đến Đà
Nẵng, quy hoạch và nâng cấp để tiếp nhận được các tàu du lịch biển quốc tế tải
trọng lớn.
+ Cần chú trọng chất lượng của các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như nâng
cao chất lượng dịch vụ tại các cơ sở lưu trú; dự báo về lưu trú và cơ sở lưu trú du
lịch làm cơ sở để xây dựng và công bố quy hoạch phát triển cơ sở lưu trú đáp
ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Quy hoạch phát triển các
khu nghỉ dưỡng cao cấp tại các khu du lịch biển, các đô thị du lịch.
- Giải pháp huy động và sử dụng nguồn vốn:
+ Để huy động nguồn vốn đầu tư cho du lịch, cần khơi thông tất cả mọi
nguồn vốn đầu tư trên địa bàn Thành phố, trong đó ưu tiên nguồn vốn ngân sách,
vốn ODA và đa dạng hóa các hình thức tạo lập vốn, thực hiện chính sách xã hội

hóa đối với hoạt động đầu tư vào du lịch ; cải thiện môi trường đầu tư để thu hút
nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài song song với việc xây dựng cơ chế


16

khuyến khích thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc lưu thông hàng hóa và phát triển các loại
hình dịch vụ ở các khu, điểm du lịch.
+ Thành lập Quỹ Phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng dùng để hỗ trợ
công tác đầu tư du lịch cho các tổ chức, cá nhân bằng cách cho vay với lãi suất
thấp, hoặc tham gia trực tiếp đầu tư dự án du lịch, hỗ trợ cho công tác tuyên
truyền, quảng bá du lịch của Thành phố. Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hoá, huy
động các nguồn lực khác cho công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch.
- Giải pháp đề cao vai trò của cộng đồng dân cư
+ Trong quá trình phát triển du lịch, cần tôn trọng và vận động cộng đồng
dân cư tham gia vào q trình hoạch định chính sách và ra quyết định, nâng cao
năng lực để cho họ hiện thực hóa các sáng kiến đề ra. Q trình lập dự án, thẩm
định và triển khai dự án du lịch cần có sự tham gia của địa phương nhằm giảm
thiểu các tác động xã hội và tối đa hóa yếu tố tích cực bởi cộng đồng địa phương
là những người chịu tác động trực tiếp của các dự án du lịch.
+ Bên cạnh đó, khi triển khai dự án du lịch cần phải tính đến việc triển khai
các hoạt động, chương trình gắn kết giữa hoạt động của các dự án đầu tư và các
hoạt động làm ăn, sinh sống cho cư dân thuộc vùng dự án tạo ra sự hài hịa lợi
ích giữa Nhà nước, nhà doanh nghiệp và người dân để nâng cao mức sống cho
cộng đồng dân cư.
- Bền vững về tài nguyên-môi trường
+ Đối với môi trường tự nhiên, cần duy trì và cải tạo cảnh quan biển; tăng
cường hơn nữa đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý rác thải ven vịnh Đà
Nẵng và bờ biển Sơn Trà -Non Nước. Bên cạnh đó, cần có biện pháp bảo vệ

nghiêm ngặt rừng cấm Sơn Trà và khu bảo tồn thiên nhiên, tăng diện tích cây
xanh trong nội thành. Xây dựng một bản đồ quy hoạch du lịch tổng thể để tránh
nguy cơ các dự án, dịch vụ phát triển ồ ạt dẫn đến phá vỡ cảnh quan, môi trường


17

+ Đối với môi trường nhân văn, cần đảm bảo kiến trúc các cơng trình du
lịch hài hồ với thiên nhiên, mang bản sắc văn hoá truyền thống đặc trưng của
địa phương, phát triển các mơ hình du lịch tạo điều kiện gìn giữ và phát huy mơi
trường văn hố, lịch sử và xã hội. Ngồi ra, cần khơng ngừng nâng cao năng lực
về du lịch cho mọi chủ thể và cần phải tn thủ những mơ hình phát triển du lịch
lành mạnh và hiệu quả nhất. Đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng về du lịch,
ứng xử văn minh và thân thiện.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch Để phục vụ tốt khách du lịch
trong thời gian đến, các nhà quản lý du lịch thành phố cần tập trung vào việc:
+ Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch để nâng cao tỷ lệ
lao động trong ngành du lịch được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ như: mở các lớp
đào tạo chuyên đề về trình độ quản lý cho đội ngũ làm công tác quản lý tại các
đơn vị kinh doanh; đào tạo lại và bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho
đội ngũ phục vụ. Chủ trương mở những hội nghị, hội thảo trường - ngành để
cùng trao đổi khả năng đào tạo và yêu cầu thực tế của ngành. Tăng cường hợp
tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực du lịch.
+ Xây dựng các yêu cầu về tiêu chuẩn cho từng nghề cụ thể, rà soát và đánh
giá khả năng đáp ứng của đội ngũ, trên cơ sở đó tiến hành đào tạo và bồi dưỡng.
Chú trọng vào những nghề như: hướng dẫn du lịch, phục vụ ăn uống Âu - Á,
nghiệp vụ lưu trú… Cần có chế độ hợp lý để thu hút nhân tài, chuyên gia, nghệ
nhân tham gia vào việc phát triển du lịch.
+ Tiêu chuẩn hóa trình độ chun mơn nghiệp vụ cho đội ngũ phục vụ du
lịch, kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ, kiến thức tổng quát về thành phố Đà Nẵng và

kiến thức chuyên đề về các cụm du lịch của Đà Nẵng. Mục đích chủ yếu là thơng
qua quan hệ trực tiếp giữa du khách và nhân viên nhằm làm cho du khách hiểu
biết về Đà Nẵng hiệu quả hơn.


18

+ Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát
triển du lịch, chú trọng đúng mức việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông
tin du lịch: xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ngành du lịch phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội; khuyến khích tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức tham gia
nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động kinh doanh
du lịch; tăng cường hợp tác với các tổ chức nước ngoài để nghiên cứu ứng dụng
phát triển du lịch thành phố.

Kết luận
Phát triển du lịch không chỉ là vấn đề riêng của thành phố Đà Nẵng mà nó
ln là vấn đề cấp bách đối với quá trình phát triển du lịch Việt Nam. Đối với
thành phố Đà Nẵng, một trong những thành phố du lịch lớn của cả nước, ngành
du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thì vấn đề phát triển trở nên vô cùng
quan trọng. Bên cạnh những thành tựu đạt được thì vẫn cịn đó những tồn tại
vướng mắc cần khắc phục. Xuất phát từ đó, em mạnh dạn đề xuất một số giải
pháp như: tăng cường công tác quản lý; nâng cao chất lượng nguồn lực; tăng
cường đầu tư cải tạo cơ sở vật chất… Em mong muốn bản thân có thể đóng góp
một chút tiếng nói, ý kiến cá nhân của mình để có thể thúc đẩy sự phát triển hơn
nữa du lịch của thành phố Đà Nẵng.


19


XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN

HỌC VIÊN

CHỦ NHIỆM

Nguyễn Thị Nga



×