Tải bản đầy đủ (.pdf) (187 trang)

Đời sống tôn giáo của cộng đồng người chăm islam ở tỉnh an giang hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (10.95 MB, 187 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------

ĐỖ THỊ THANH HÀ

ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO CỦA
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở
TỈNH AN GIANG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRƯƠNG VĂN CHUNG

TP.HỒ CHÍ MINH – 2011


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình do tôi nghiên cứu, kết quả nghiên cứu
là trung thực và chưa ai công bố.

Tác giả

ĐỖ THỊ THANH HÀ


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................... …1


2. Tình hình nghiên cứu ........................................................... .…..3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài................................ 9
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài ................................................. 9
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................ 10
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn .............................. 10
7. Kết cấu của luận văn ................................................................. 11
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG
QUAN VỀ NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở AN GIANG .... 12
1.1. QUAN NIỆM VỀ TÔN GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO .. 12
1.1.1. Khái niệm tôn giáo ................................................... 12
1.1.2. Những đặc trưng của tôn giáo và của Hồi giáo. .......... 20
1.1.3. Đời sống tôn giáo và đời sống tôn giáo của người
Chăm Islam ở Việt Nam hiện nay .............................. 33
1.2. TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở AN
GIANG ................................................................................... 49
1.2.1. Lịch sử tộc người và văn hóa tộc người Chăm Islam ở
An Giang ................................................................. 49
1.2.2. Kinh tế, xã hội và văn hóa ........................................ 59
1.2.3. Tơn giáo, tín ngưỡng ................................................ 69
CHƯƠNG 2. TÌM HIỂU ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI
CHĂM ISLAM Ở AN GIANG HIỆN NAY ............. 73
2.1. THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO CỦA CỘNG
ĐỒNG NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở AN GIANG HIỆN NAY . 73


2.1.1. Thế giới quan, nhân sinh quan Hồi giáo ............................ 73
2.1.2. Thực hiện nghi lễ thờ cúng Hồi giáo .................................. 93
2.1.3. Sinh hoạt cộng đồng của người Chăm Islam ở An Giang..100
2.2. NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA CỦA
NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở AN GIANG VÀ HẠN CHẾ

TRONG ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO CỦA HỌ HIỆN NAY ..... 123
2.2.1. Những giá trị truyền thống văn hóa của người Chăm
Islam ở An Giang............................................................. 123
2.2.2. Những hạn chế trong đời sống tôn giáo của người Chăm
Islam ở An Giang hiện nay .............................................. 127
2.3. NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY NHẰM ĐỒNG HÀNH,
HÒA HỢP ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO CỦA CỘNG ĐỒNG
NGƯỜI CHĂM ISLAM VỚI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN
TỘC KHÁC VÀ VỚI NỀN VĂN HÓA MỚI Ở AN GIANG
HIỆN NAY ........................................................................... 132
KẾT LUẬN .......................................................................................... 140
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................. 143
PHỤ LỤC.............................................................................................. 151


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tơn giáo từ lâu đã trở thành vấn đề được nhiều người quan tâm cả về
lý luận và thực tiễn. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận nhân dân, nhưng lại liên quan đến các lĩnh vực của đời sống xã hội,
tác động đến văn hóa, đạo đức, kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng. Tơn
giáo khơng chỉ là việc đạo mà cịn cả việc đời, tôn giáo ảnh hưởng không
nhỏ đến đời sống thực tại của con người. Đời sống tôn giáo luôn gắn bó
chặt chẽ với cuộc sống thường nhật của mỗi tín đồ, mỗi dân tộc.
Việt Nam có nhiều tơn giáo, có những tơn giáo từ nước ngồi du
nhập vào như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Nho giáo, Hồi giáo. Bên
cạnh đó cịn có những tơn giáo được hình thành từ một bộ phận nhân dân

Việt Nam như Cao Đài, Hòa Hảo. Tất cả các tôn giáo ở Việt Nam đều được
Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo đảm đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tạo
thuận lợi cho các tơn giáo có điều kiện thực hiện các sinh hoạt tín ngưỡng
của mình.
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Chăm là một trong số
những dân tộc thiểu số, sinh sống tập trung ở miền Trung và miền Nam.
Cùng với 53 dân tộc anh em, dân tộc Chăm là một phần của sự thống nhất
khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần tạo nên bức tranh về văn hóa trong đại
gia đình Việt Nam. Đã từ lâu dân tộc này nhận được nhiều quan tâm của
các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Theo thống kê dân số năm 1999,
người Chăm ở Việt Nam hiện nay có khoảng 132.873 người, trong đó
người Chăm theo đạo Hồi ở Đơng Nam Bộ là 49.154 người, vùng đồng
bằng sơng Cửu Long có khoảng 13.726 người. Người Chăm hiện cư trú ở
các tỉnh, thành phố ở Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Về


2

mặt địa lí hành chính, hiện nay người Chăm sinh sống ở 3 khu vực tiêu
biểu, tạo nên 3 tiểu cộng đồng riêng biệt. Đó là Chăm Hroi, Chăm Ninh
Thuận - Bình Thuận và Chăm An Giang. Về mặt tơn giáo, người Chăm có
3 cộng đồng tơn giáo khác nhau nhau: Chăm Bàlamơn, Chăm Bàni (ở Ninh
Thuận, Bình Thuận), Chăm Islam (ở An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh,
Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và một số làng Chăm ở
Ninh Thuận). Riêng đối với người Chăm Hroi không theo các tơn giáo trên.
An Giang là tỉnh có số người Chăm Islam sinh sống nhiều nhất ở
Nam Bộ. Trong quá trình cộng cư với các dân tộc khác, cộng đồng Chăm
nơi đây ln nêu cao tinh thần đồn kết, tương thân tương ái. Hầu hết
người Chăm ở An Giang đều là tín đồ Islam (Hồi giáo chính thống), xã hội
của họ được hình thành dựa trên nền tảng của kinh Qur’an, đức tin và giáo

luật Islam đã chi phối sâu sắc đến mọi lĩnh lực văn hóa – xã hội, kinh tế,
phong tục tập quán của người Chăm ở An Giang. Chính tình cảm và niềm
tin cũng như sự gắn kết của tôn giáo Islam với mọi hoạt động thực tiễn,
mọi sinh hoạt của cộng đồng người Chăm nơi đây, làm cho đời sống tơn
giáo của họ có những điểm khác biệt nhất định với người Chăm ở Ninh
Thuận, Bình Thuận. Mặt khác, người Chăm Islam An Giang trong q trình
sinh hoạt tơn giáo, cịn có mối quan hệ khắng khít với các tổ chức Hồi giáo
ở khu vực Đông Nam Á như Malaysia, Inđônêsia và chịu ảnh hưởng sâu
sắc bởi những giáo luật quốc tế. Mặc dù vậy, đời sống tơn giáo của họ vẫn
tương thích với nền văn hóa bản địa, các nghi lễ tơn giáo vẫn được thực
hiện trên cơ sở của pháp luật Việt Nam.
Hiện nay, đời sống tôn giáo người Chăm An Giang luôn được chính
quyền địa phương và tỉnh An Giang quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong
sinh hoạt tín ngưỡng, tơn giáo, thắt chặt quan hệ giữa chính quyền với các
tổ chức tơn giáo, các chức sắc. Ngồi ra, trong giai đoạn hiện nay Hồi giáo


3

đang được xem là “vấn đề nóng” trên thế giới. Do đó chính quyền địa
phương rất quan tâm hơn đến đời sống tôn giáo của đồng bào Chăm Islam,
giúp họ nhận thức đúng, sống tốt đời đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc. Bên
cạnh đó, khơng qn cảnh giác với việc lợi dụng tơn giáo ảnh hưởng đến
tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở địa phương.
Có thể nói đời sống tơn giáo của người Chăm Islam ở An Giang ln
có những nét đặc thù riêng bởi giáo lý và quy định nghiêm ngặt của Hồi
giáo, tuy nhiên nó cũng khơng kém phần phong phú, đa dạng. Mặt khác
,không thể phủ nhận với giới luật khắt khe của tơn giáo phần nào làm hạn
chế việc hịa nhập với xã hội của người Chăm An Giang. Do đó, việc
nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống tơn giáo của người Chăm An Giang là vấn

đề đang được đặt ra.
Với những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Đời sống tôn
giáo của cộng đồng người Chăm Islam ở tỉnh An Giang hiện nay” làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc tìm hiểu, nghiên cứu về người Chăm ở Việt Nam từ trước đến
nay đã có nhiều cơng trình được cơng bố với nhiều phương diện tiếp cận
khác nhau:
- Phương diện lịch sử - nhân học:
Có thể kể đến một số cơng trình sau: Dorohiêm và Dohamide với
Dân tộc Chàm lược sử, 1965, Nguyễn Khắc Ngữ, Mẫu hệ Chàm (Nhà xuất
bản Trình Bày, 1967); Người Chàm hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam
(Bộ Văn hóa giáo dục và thanh niên, 1974) của Nguyễn Văn Luận. Cơng
trình này được tác giả phác họa khá cụ thể lịch sử hình thành dân tộc Chăm
ở miền Tây Nam Bộ. Giáo sư Lương Ninh, Vương quốc Champa (Nhà xuất
bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2006). Đây được coi là cơng trình nghiên


4

cứu khá đầy đủ về vương quốc Champa cổ cũng như sự xuất hiện của
người Chăm Việt Nam thời kỳ hậu Champa. Văn hóa tâm linh người Chăm
được thể hiện trong cơng trình Văn hóa tâm linh Nam Bộ của Nguyễn Đăng
Duy (Nhà xuất bản Hà Nội, 1997). Tác giả đã đi sâu nghiên cứu về sự
thiêng liêng của tháp Chàm, của ý niệm Hồi giáo ở người Chăm, bên cạnh
đó, tác giả cũng khơng qn làm rõ khơng gian văn hóa của người Chăm
qua hoạt động tiêu biểu là tang lễ và thờ cúng tổ tiên.
- Phương diện văn hóa học:
Phan Xuân Biên, Phan Văn Dốp, Phan An có cơng trình Văn hóa
Chăm, (Viện khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh, 1991). Cơng trình

này đã nghiên cứu khá chi tiết từ văn hóa vật chất đến văn hóa tinh thần
của người Chăm ở Việt Nam (người Chăm Bàlamôn, Bàni và Chăm Islam).
Tác giả Nguyễn Mạnh Cường với các cơng trình Văn hóa tín ngưỡng của
một số dân tộc trên đất nước Việt Nam và Văn hóa lối sống của người
theo Hồi giáo (Nhà xuất bản Văn hóa – Thơng tin và Viện văn hóa,
2005, 2010). Trong các cơng trình nghiên cứu trên, tác giả đã đi sâu tìm
hiểu văn hóa, lối sống và tín ngưỡng của người theo đạo Hồi ở Việt
Nam, tuy nhiên các cơng trình đa số đề cập đến đời sống văn hóa của
cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, chưa đi sâu
nghiên cứu người Chăm ở Nam Bộ.
Bộ môn Nhân học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
thành phố Hồ Chí Minh đã cho cơng bố cuốn sách Những biến đổi kinh tế,
văn hóa, xã hội của cộng đồng người Chăm, Khmer tại thành phố Hồ Chí
Minh (Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2006).
Cuốn sách này là tập hợp những bài báo cáo khoa học trong cuộc hội thảo
“Những biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Chăm,
Khmer tại Nam Bộ hiện nay” do bộ môn Nhân học tổ chức. Các bài viết


5

trong tập sách này bước đầu đã cung cấp một lượng thông tin khoa học
nhất định về thực trạng cũng như những biến đổi về kinh tế, xã hội, văn
hóa của người Chăm và Khmer; đề xuất kiến nghị và nêu giải pháp góp
phần phát triển cộng đồng Chăm và Khmer sinh sống tại thành phố Hồ
Chí Minh.
Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thành phố Hồ Chí Minh với
tập sách Đời sống văn hóa xã hội người Chăm thành phố Hồ Chí Minh,
(Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2005). Tập sách gồm 18 bài nghiên cứu,
đề cập đến khá nhiều lĩnh vực, từ thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội đến

tơn giáo, hơn nhân gia đình, văn học nghệ thuật, giáo dục của cộng đồng
Chăm thành phố Hồ Chí Minh. Tập sách đã cung cấp cho người đọc một
cái nhìn tồn cảnh về đời sống văn hóa xã hội của người Chăm ở thành
phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây.
Mai Bửu Minh với bài Vài nét về văn hóa người Chăm ở An Giang
(Tạp chí văn hóa các dân tộc, số 8/2009, tr. 7 - 9), Nét văn hóa Chăm giữa
lịng châu thổ của tác giả Trần Phỏng Diều đăng trên Tạp chí Văn nghệ dân tộc số 10/2003 (tr 13- 16), Vũ Hồng Thuật có bài Nghi lễ vịng đời
của người Chăm Islam An Giang (Nam Bộ - Đất & Người, Nhà xuất bản
Trẻ, 2006, tr. 240 - 250). Đây là một số bài viết đề cập đến những nét văn
hóa cũng như những nghi lễ trong cuộc sống hàng ngày của người Chăm
tại An Giang.
Lâm Tâm với cuốn “Một số tập tục người Chăm An Giang” (Chi hội
Văn nghệ dân gian tỉnh An Giang, 1994) đã trình bày khá chi tiết về các
phong tục tập quán như các ngày lễ lớn, vấn đề chấp hành giáo luật của Hồi
giáo, vấn đề hôn lễ và tang lễ, về văn hóa văn nghệ của người Chăm An
Giang. Tuy chưa thật sự toàn diện nhưng nó cũng đóng vai trị quan trọng
trong việc giúp mọi người hiểu rõ hơn về văn hóa Chăm ở An Giang.


6

Về luận án, luận văn ở phương diện này có thể kể đến: Bá Trung
Phụ, Gia đình và hơn nhân của người Chăm ở Việt Nam, luận án phó tiến
sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh,
1996, Vũ Thị Huyền, Văn hóa của người Chăm Islam Nam Bộ, luận văn
thạc sĩ trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, thành phố Hồ Chí
Minh, 2010.
- Phương diện tơn giáo học và xã hội học tôn giáo:
Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc có cơng trình Tơn giáo –
tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long (Nhà xuất bản

Phương Đơng, 2005). Các tác giả dành một chương tìm hiểu về người
Chăm ở đồng bằng Nam Bộ. Với chương này, ngoài việc nêu ra những
nhận biết cơ bản về đạo Hồi, các tác giả cịn tìm hiểu về đời sống tôn giáo
của người Chăm Tây Nam Bộ hiện nay. Đặc biệt tác giả đã nghiên cứu về
người Chăm Hồi giáo ở An Giang. Chỉ ra sự khác biệt trong đời sống xã
hội cũng như tín ngưỡng giữa người Chăm Islam với người Chăm
Bàlamôn và Chăm Bàni.
Nguyễn Hồng Dương (chủ biên), Một số vấn đề cơ bản về tơn giáo,
tín ngưỡng của đồng bào Chăm ở hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận hiên
nay (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2007). Cơng trình này tác giả thể hiện
khá rõ nét về tôn giáo của người Chăm ở hai tỉnh miền Trung Việt Nam
với tơn giáo chính là Bàlamơn và Bàni. Mặt khác, tác giả cũng nêu rõ sự
tách ra và hình thành Islam giáo trong cộng đồng người Chăm theo đạo
Bàni ở Ninh Thuận.
Phạm Thị Vinh với bài Hồi giáo và đời sống xã hội của người Chăm
(Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/1993, tr. 43 – 51). Thông qua bài
viết, này tác giả đã cung cấp một số thông tin cơ bản về nguồn gốc của
người Chăm ở Việt Nam và ảnh hưởng của Hồi giáo trong một số mặt đời


7

sống xã hội của người Chăm, ngoài ra tác giả cũng đã đề cập đến giáo luật
và nếp sống của người Chăm Hồi giáo.
Lê Nhẩm và bài viết Về cộng đồng Hồi giáo ở Việt Nam hiện nay
(Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam – 2/2004, tr. 113 - 120), tác giả đã đề
cập đến dân tộc Chăm nói chung ở Việt Nam, sự tương đồng và khác biệt
giữa Chăm Bàni và Chăm Islam, đồng thời bài viết còn nêu lên các tổ chức
cơ sở thời tự, chức sắc của người Chăm Hồi giáo ở Việt Nam hiện nay.
Người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long của Phan Văn Dốp,

Nguyễn Việt Cường (Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, 1991). Cơng trình trên đã đi sâu nghiên cứu về
đời sống của các dân tộc thiểu số tại đồng bằng sông Cửu Long, trình bày
về đặc điểm sinh hoạt, xã hội và tơn giáo người Chăm Islam vùng Tây Nam
Bộ nói chung và ở tỉnh An Giang nói riêng.
Tác giả Phú Văn Hẳn với một loạt bài Cộng đồng Islam Việt Nam –
sự hình thành, hịa nhập, giao lưu và phát triển (Tạp chí Nghiên cứu tơn
giáo, số 1/ 2001, tr. 45 - 50), Một số tập quán của người Chăm ở Nam Bộ
(Tạp chí Văn hóa các dân tộc số 10/2006, tr. 8 – 11), Đạo Islam và sự phát
triển văn hóa của người Chăm ở đồng bằng sơng Cửu Long (Nam Bộ - Đất
& Người, Nhà xuất bản Trẻ, 2006, tr. 251 – 263). Với những hướng tiếp
cận khác nhau nhưng các bài viết đều đề cập đến đạo Hồi Islam cũng như
cuộc sống của cộng đồng người Chăm tại Nam Bộ, như các nghi lễ tôn giáo
công cộng, các nghi lễ vòng đời và tập quán thường nhật.
Bá Trung Phụ có bài Cộng đồng Chăm Islam giáo ở Việt Nam với
đời sống xã hội (Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 2/ 2005, tr. 39 – 41). Bài
viết trên, tác giả đã trình bày sự hình thành của Islam giáo ở Việt Nam,
cùng với việc thực hiện đức tin và sự thực hành đầy đủ các bổn phận của
tín đồ được quy định trong giáo luật cơ bản của Islam giáo.


8

Nguyễn Thị Thu Thủy có bài Cộng đồng người Chăm Islam Nam Bộ
trong thời kỳ cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa (Nam Bộ - Đất & Người, Nhà
xuất bản Trẻ, 2006, tr. 230 – 239). Bài viết đã mô tả những sinh hoạt
thường nhật của người Chăm Islam thông qua những phong tục tập quán
đặc thù của họ, nêu những trăn trở với sự khắt khe trong giới luật của tơn
giáo khiến người Chăm Islam gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập
vào xã hội nhất là trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn

ra hiện nay.
Đời sống tình cảm gia đình, cộng đồng, tơn giáo của người Chăm
Việt Nam (Tạp chí Khoa học xã hội số 1/2010, tr. 73 - 76) của Tạ Quốc Trị
đã thể hiện những nội dung cơ bản về tình cảm gia đình, cộng đồng và tơn
giáo của người Chăm. Trong tình cảm gia đình, tác giả đặc biệt quan tâm
đến tình cảm giữa cha mẹ, con cái cùng mối quan hệ tình cảm giữa các
thành viên trong paley Chăm. Đối với tình cảm về tơn giáo, tác giả nhận
định đó là một đặc điểm tâm lý nổi bật của người Chăm.
Về luận án, luận văn nghiên cứu người Chăm ở Việt Nam có một số
cơng trình như: Phan Văn Dốp, Tơn giáo người Chăm ở Việt Nam, luận án
phó tiến sĩ khoa học Lịch sử, viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí
Minh, 1993; Nguyễn Đệ, Ảnh hưởng của tơn giáo trong văn hóa vật chất
của nhóm người Chăm Islam Nam Bộ, luận văn thạc sĩ, Khoa Lịch sử ,
thành phố Hồ Chí Minh, 1994.
Phan Văn Dốp, Nguyễn Thị Nhung, Cộng đồng người Chăm ở Nam
Bộ trong quan hệ giới và phát triển, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội,
2006. Trong cơng trình này, hai tác giả đã trình bày những vấn đề liên
quan đến gia đình, mức sống và vai trò của người phụ nữ trong việc tạo
thu nhập của hộ gia đình, việc chăm sóc sức khỏe và y tế. Cơng trình này


9

góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về vị thế của giới nữ trong xã hội
người Hồi giáo và những biến đổi tích cực trong đời sống xã hội hiện nay.
Vũ Hồng Thuật, Nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam (nghiên
cứu người Chăm Islam tại huyện Tân Châu, tỉnh An Giang), luận văn thạc
sĩ, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh,
2004; Nguyễn Đức Tồn, Ảnh hưởng của tơn giáo đối với tín ngưỡng của
người Chăm ở Việt Nam, luận án tiến sĩ, trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, 2002
Dù có nhiều cơng trình nghiên cứu cũng như các bài viết về người
Chăm ở Việt Nam nói chung và người Chăm ở An Giang nói riêng, tuy
nhiên những cơng trình nghiên cứu chun biệt về đời sống tôn giáo của
cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang vẫn còn khá khiêm tốn. Do đó
việc tác giả chọn đề tài này có ý nghĩa cơ bản và cấp bách cả về lý luận và
thực tiễn hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về đời sống tôn giáo của
cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang, vấn đề nghiên cứu của đề tài là
những hoạt động trong đời sống tôn giáo của tín đồ Islam người Chăm An
Giang như thế giới quan, nhân sinh quan Hồi giáo, nghi lễ thờ cúng, sinh
hoạt cộng đồng.
- Phạm vi nghiên cứu: Người Chăm Islam ở An Giang sinh sống ở
nhiều địa bàn khác nhau trong tỉnh, do đó đề tài chỉ tập trung nghiên cứu,
khảo sát một số địa bàn có nhiều người Chăm Islam cư trú: xã Châu Phong
(thị xã Tân Châu), xã Đa Phước, xã Vĩnh Trường (huyện An Phú).
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích chính của luận văn là làm rõ đời sống tôn giáo của cộng
đồng người Chăm Islam ở An Giang hiện nay.


10

Để thực hiện mục đích trên, luận văn xác định những nhiệm vụ cụ
thể sau:
Thứ nhất: Phân tích quan niệm về tơn giáo và đời sống tơn giáo
trong q trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai: Tìm hiểu thực trạng đời sống tơn giáo của cộng đồng người
Chăm Islam ở An Giang hiện nay.

Thứ ba: Xác định những mặt tích cực, hạn chế trong đời sống tôn
giáo của người Chăm ở An Giang và những giải pháp cho sự đồng hành,
hòa hợp đời sống tôn giáo của người Chăm với các cộng đồng người khác
và với nền văn hóa mới ở An Giang hiện nay.
5. Cơ sơ lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn sử dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, đồng
thời có kế thừa những kết quả của một số cơng trình nghiên cứu đã được
cơng bố có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, ngồi ra để hồn thành đề tài, tác
giả cịn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp điền dã khảo
sát ở địa phương có đơng người Chăm sinh sống.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt khoa học: Luận văn góp phần bổ sung về tư liệu nhằm làm
sáng tỏ hơn về đời sống tôn giáo của người Chăm Islam ở An Giang. Phân
tích đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong đời sống tôn giáo của
người Chăm Islam ở An Giang hiện nay.


11

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu
tham khảo cho những ai có quan tâm đến đời sống tơn giáo của người
Chăm Islam ở An Giang. Bên cạnh đó, luận văn góp phần cung cấp những
cơ sở khoa học giúp chính quyền tham khảo và có chính sách phù hợp
nhằm phát huy những nét đẹp trong đời sống tôn giáo của người Chăm ở
An Giang nói riêng và người Chăm ở Việt Nam nói chung.

7. Kết cấu của luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm hai chương và năm tiết.


12

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI
CHĂM ISLAM Ở AN GIANG
1.1. QUAN NIỆM VỀ TÔN GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG TƠN GIÁO
1.1.1. Khái niệm tơn giáo
Tơn giáo là một sản phẩm lâu đời của lịch sử, không ra đời cùng lịch
sử loài người mà chỉ xuất hiện khi nhu cầu cuộc sống đòi hỏi, khi con
người đạt đến trình độ tư duy trừu tượng cao. Từ khi ra đời đến nay, tôn
giáo đã trải qua nhiều thăng trầm nhưng nó vẫn tồn tại và ngày càng có xu
hướng phát triển. Vậy tơn giáo là gì? Đây là một khái niệm được nhiều đối
tượng nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Để tìm ra một định
nghĩa chung nhất về tôn giáo thật không dễ bởi mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi
một tơn giáo đều có cách diễn đạt riêng và cách hiểu khác nhau, giữa
những tín đồ và những người khác đạo vẫn có những quan điểm khơng
đồng nhất về tơn giáo. Hiện nay, trước tình hình biến động của đời sống tơn
giáo, việc đưa ra một định nghĩa khái quát nhất về tôn giáo lại càng khó. Về
đại thể có thể đưa ra một số cách tiếp cận về vấn đề tôn giáo.
Thật ra “tôn giáo” là một thuật ngữ khơng thuần Việt, nó được du
nhập từ nước ngoài vào cuối thế kỷ XIX. Xét về nội dung, thuật ngữ “tơn
giáo” khó có thể hàm chứa được tất cả nội dung đầy đủ từ cổ đến kim, từ
Đông sang Tây. Thuật ngữ “tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và
bản thân nó cũng có một q trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này
trở thành phổ biến trên thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền

thống không tương ứng của cư dân thuộc các nền văn minh khác nhau. Vì
vậy, trên thực thế đã xuất hiện nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về
tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới.


13

Tơn giáo bắt nguồn từ thuật ngữ religion có nghĩa là thu lượm thêm
sức mạnh siêu nhiên [80, 25]. Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất
hiện, đế chế Rơma địi hỏi phải có một tơn giáo chung với mục đích xóa bỏ
các tơn giáo trước đó nên lúc này khái niệm religion chỉ mới dành riêng để
chỉ đạo Kitô. Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo.
Về vấn đề này, giáo sư Đặng Nghiêm Vạn có trích dẫn ý kiến của học giả
Kitơ giáo Lactance: “Thuật ngữ Religion nói đến mối quan hệ về tình
thương, lịng thành kính, bởi lẽ Chúa đã ràng buộc với con người và con
người tự mình cột chặt với Chúa bằng tình thương và lịng thành kính” [80,
26]. Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của của đạo Tin Lành (tách từ Cơng
giáo) thì lúc này religion mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ
cùng một Chúa. Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi
Châu Âu, sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô
giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ religion được dùng nhằm chỉ các
hình thức tơn giáo khác nhau trên thế giới.
Thuật ngữ religion được dịch chuyển thành Tông giáo đầu tiên xuất
hiện ở Nhật Bản vào thế kỷ XVIII và sau đó du nhập vào Trung Hoa. Ở
Trung Hoa lúc bấy giờ thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa hồn
tồn khác: nó nhằm chỉ đạo Phật (giáo: lời giảng của Đức Phật, tơng: lời
nói của các đệ tử Đức Phật).
Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam cuối thế kỷ XIX
và được đăng trên các báo, tuy nhiên do kỵ húy với vua Thiệu Trị nên được
gọi là tơn giáo.

Chúng ta có thể tiếp cận khái niệm tôn giáo qua một số quan điểm
sau đây:
Nhà duy vật nổi tiếng của Châu Âu thế kỷ XVIII Paul Holbach đã
tiếp cận tôn giáo từ phương diện tâm lý. Holbach cho rằng, chính nỗi sợ


14

của con người trước những hiện tượng mù quáng, dữ tợn, nguy hiểm của
thiên nhiên đã đẻ ra niềm tin vào thần thánh. Nỗi sợ hãi là một hiện tượng
tâm lý bộc phát mang tính tự nhiên tiềm ẩn trong tâm thức mỗi người. Dưới
tác động của nỗi sợ trong tâm trí con người đã hình thành hình ảnh ma quỷ
và từ con ma đó con người tiếp tục sáng tạo nên hình bóng Thượng Đế.
Đây cũng chính là quan điểm đầu tiên khi Holbach nói về tơn giáo và
nguồn gốc của nó.
Với quan điểm duy tâm, nhà triết học Đức Hegel cho rằng “Tôn giáo
là lĩnh vực của ý thức con người, giải đáp mọi điều bí ẩn của thế giới quan,
gạt bỏ mọi mâu thuẫn thầm kín trong tư tưởng con người, xoa dịu mọi nỗi
đau, là lĩnh vực của chân lý vĩnh cửu, của sự tĩnh lặng vô bờ, của thế giới
vô biên” [53, 9]. Đối với ông, tôn giáo là lĩnh vực tận cùng và cao nhất của
ý thức con người, là hình thức bậc cao của văn hóa.
Feuerbach cũng đã khẳng định: “tơn giáo là sự khám phá trang trọng
nhất những của cải cất giấu trong con người, là sự thừa nhận công khai nhất
những tình cảm bí mật của con người” [53, 10]. Như vậy, với ông tôn giáo
là sản phẩm tinh thần của con người, là hình thái ý thức xã hội đặc biệt.
Mặc khác, Feuerbach cho rằng con người tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo
không tạo ra con người. “Tôn giáo là bản chất con trẻ của loài người,
những đứa trẻ lại thấy bản chất của mình, tức con người, ở ngồi mình”
[82, 105]. Quan niệm về tơn giáo của Feuerbach được coi là đánh dấu bước
tiến dài của con người trong nhận thức, kiến giải hiện tượng xã hội đặc biệt

này. Tuy nhiên, quan điểm trên không tránh khỏi hạn chế, khi Feuerbach
nói đến tơn giáo là tình cảm bí mật của con người, nhưng con người trong
triết học Feurbach là con người thốt khỏi hồn cảnh lịch sử cụ thể, con
người trừu tượng, muốn tìm kiếm một tơn giáo khác nhằm thay cho tôn
giáo hiện tại.


15

Nhà dân tộc học nổi tiếng ở thế kỷ XIX Edwar.B.Tylor cho rằng:
“Nếu hiểu tôn giáo là niềm tin với đấng tối cao, sự phán xét sau khi chết,
thờ cúng và các thần tượng, có tập tục hiến tế, hay các giáo thuyết hoặc
nghi thức nào tương đối phổ biến, thì tất nhiên gạt bỏ nhiều bộ lạc ra khỏi
thế giới tôn giáo” [80, 63]. Với định nghĩa này của B.Tylor, nhà xã hội học
E.Durkheim cho rằng nó quá rộng, không thấy được sự tương tác của cặp
đôi tự nhiên – siêu nhiên. Trên cơ sở đó, Durkheim đưa ra khái niệm về tôn
giáo như sau: “Tôn giáo là một hệ thống tín ngưỡng và thực hành có liên
quan đến sự vật thiêng tức là sự vật tách riêng ra, bị cấm đốn, đó là những
tín ngưỡng và thực hành thống nhất tất cả những ai tin theo thành một cộng
đồng tinh thần, gọi là Giáo hội” [82, 157]. Với quan điểm này, ông đã quy
tôn giáo về cái thiêng và bước đầu đưa ra cấu trúc của tôn giáo bao gồm:
đức tin và giáo hội.
Các quan điểm trên về tơn giáo vẫn cịn tính chất duy tâm siêu hình,
xem đặc tính bản chất của tơn giáo là cái linh thiêng, siêu tự nhiên, không
thực tế. Vượt qua những hạn chế đó, trên quan niệm duy vật lịch sử, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm cơ bản về tôn giáo. Những tư
tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay vẫn còn
nguyên giá trị, đặc biệt là ý nghĩa phương pháp luận.
Cả C.Mác và Ph.Ăngghen không phải là những nhà tôn giáo học
nhưng trong quá trình đấu tranh và xây dựng lý luận của mình, những quan

điểm về tơn giáo của các ơng được đề cập qua một số tác phẩm như: Luận
cương về Lutvích Phơbách, Hệ tư tưởng Đức, Góp phần phê phán triết học
pháp quyền Hêghen – Lời nói đầu, Chống Duyrinh…
Năm 1843, C.Mác đã cho rằng: “Đối với chúng ta, tơn giáo khơng
cịn là nền tảng, mà chỉ là hiện tượng thuộc giới hạn trần thế… Chúng ta
không biến những vấn đề trần thế thành những vấn đề thần học. Chúng ta


16

biến những vấn đề thần học thành những vấn đề trần thế” [82, 216]. Từ
hướng nghiên cứu trên, Mác đã bỏ lại sau lưng mình phương pháp tư duy
của những nhà Hegel trẻ và đặt cơ sở cho phương pháp tiếp cận tơn giáo
của riêng mình – nghiên cứu lịch sử xã hội làm nảy sinh tơn giáo. Cũng
chính từ đó, xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử để giải thích tơn giáo,
C.Mác chỉ ra rằng, chính con người tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo
sáng tạo ra con người. Nhưng con người không phải là một “sinh vật trừu
tượng, ẩn náu đâu đó ở ngồi thế giới. Con người chính là thế giới con
người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo”
[47, 569].
Trong tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen – Lời
nói đầu Mác viết vào cuối năm 1843 đầu năm 1844, tuy chỉ tập trung vào
mấy trang ngắn nhưng lại là bài viết rõ nhất của Mác về vấn đề bản chất
tôn giáo. “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của
thế giới khơng có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự
khơng có tinh thần. Tơn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [47, 570]. Với
quan điểm này Mác đã chỉ ra tính hai mặt của tơn giáo. Một là, tơn giáo
đóng vai trị là liệu pháp tinh thần, xoa dịu nỗi đau của con người; hai là,
tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng.
Với cách nhìn đúng đắn, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội

khoa học đã chỉ ra được nguồn gốc tự nhiên và xã hội của tôn giáo. Sự ra
đời của tơn giáo theo quy luật của hình thái ý thức, đó là sự phản ánh tồn
tại xã hội dưới dạng hoang đường, hư ảo. Cũng từ cách tiếp cận trên, các
ông đã đưa ra quan điểm về tôn giáo: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là
sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của lực lượng ở bên
ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó


17

những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần
thế” [46, 437].
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra những câu hỏi cần thiết
cho một định nghĩa về tơn giáo: tơn giáo là gì, phản ánh cái gì và phản ánh
như thế nào? Ngồi ra, các ông cũng bổ sung thêm rằng tôn giáo không chỉ
là một hình thái ý thức xã hội mà cịn là một thực thể xã hội.
Cùng đứng trên lập trường của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin có
những quan điểm về tơn giáo rất đặc sắc, tiêu biểu qua hai tác phẩm Chủ
nghĩa xã hội và tôn giáo (1905) và Về thái độ của công nhân đối với tôn
giáo (1907). Cũng như C.Mác, V.Lênin nhìn nhận vấn đề tơn giáo từ nguồn
gốc kinh tế - xã hội. Theo ông, nguồn gốc lịch sử là căn nguyên của tôn
giáo. “Tất nhiên việc giải thích cương lĩnh của chúng ta cần phải bao gồm
việc giải thích căn nguyên lịch sử và kinh tế thực sự của đám mây mù tôn
giáo” [41, 173]. Lênin đánh giá cao luận điểm “tôn giáo là thuốc phiện của
nhân dân” của Mác, đồng thời ông bổ sung thêm: “Tôn giáo là thứ rượu
tinh thần làm cho những người nô lệ của tư bản mất hết phẩm cách con
người và quên hết những điều họ đòi hỏi để được sống một cuộc đời đôi
chút xứng đáng với con người” [41, 170]. Lênin khuyên công nhân hãy vứt
bỏ thành kiến về tôn giáo mà cần thiết là phải giành lấy cuộc đời tốt đẹp
hơn trên trần thế. Khi so sánh tôn giáo với “thuốc phiện” và “rượu tinh

thần”, dù các nhà kinh điển của học thuyết Mác – Lênin có phê phán mặt
tiêu cực, song không phủ nhận những giá trị, vai trị tích cực nhất định của
tơn giáo trong đời sống xã hội. Lênin cũng cho rằng đấu tranh chống tơn
giáo là những điều sơ đẳng của những nhà Mácxít. Theo ơng, khơng phải
xóa bỏ tất cả những gì có trong tơn giáo mà chỉ là xóa bỏ mặt hư ảo, tiêu
cực có trong tơn giáo mà thơi, Mác từng viết: “Xóa bỏ tơn giáo với tính
cách là xóa bỏ hạnh phúc hư ảo của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh


18

phúc thật sự của nhân dân” [47, 570]. Ở đây, Lênin khuyên giai cấp vô sản
phải biết chống lại đám mây mù tôn giáo. Trước hết, người nô lệ chỉ cần
hiểu rõ cái thân phận nơ lệ của mình mà đứng lên đấu tranh. Điều cần thiết
theo ông là phải giành lấy cuộc đời tốt đẹp hơn nơi trần thế để có cuộc sống
“đơi chút xứng đáng với con người”.
Có thể nói, cả C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin vẫn chưa có điều
kiện dành nhiều thời gian và công sức cho một cơng trình cụ thể nào để
nghiên cứu thật đầy đủ và hệ thống về tôn giáo, mà chỉ thấy những quan
điểm được kiến giải trên nhiều tác phẩm khác nhau. Tuy nhiên, những di
sản về tôn giáo mà các nhà kinh điển của học thuyết Mác – Lênin để lại cho
hậu thế là rất quý báu. Có những quan điểm của các ông sống dài qua năm
tháng, trở thành nguyên lý cho mọi thời đại.
Ở Việt Nam, vấn đề tôn giáo từ lâu đã nhận được nhiều sự quan tâm
của các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau, việc đưa ra được khái
niệm tôn giáo một cách cụ thể nhất vẫn đang là đề tài được học nghiên cứu
và thảo luận.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nghiên cứu về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam
– quốc gia đa tôn giáo, Người từng nhận định: “Người An Nam khơng có
linh mục, khơng có tơn giáo theo cách nghĩ của Châu Âu. Việc cúng bái tổ

tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội” [48, 479]. Trong quan điểm về tơn
giáo, Hồ Chí Minh khẳng định quyền tự do tín ngưỡng cho mọi cơng dân
của nước Việt Nam và sự bình đẳng dân tộc. Người từng nói: “vấn đề tơn
giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hồn tồn tơn trọng quyền tự do tín
ngưỡng của mọi người” [38, 169]. Hồ Chí Minh sớm nhìn nhận những giá
trị tích cực về mặt văn hóa, đạo đức của tơn giáo cũng như khả năng đóng
góp của các tơn giáo trong việc làm giàu thêm đời sống văn hóa, tinh thần


19

của xã hội. Bên cạnh đó, Người cho rằng tơn giáo là một hiện tượng văn
hóa và nó sẽ tồn tại lâu dài trong quần chúng nhân dân.
Cùng một suy nghĩ với Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm
Văn Đồng khẳng định: “Từ xa xưa, dân tộc Việt Nam khơng có tơn giáo
theo nghĩa thơng thường của nhiều nước khác. Cịn nói tơn giáo là thờ
cúng, thì mọi người đều thờ cúng ông bà, mỗi họ đều thờ cúng tổ tiên, làng
thì thờ cúng thành hồng và các bậc anh hùng cứu nước, các tổ phụ ngành
nghề, các danh nhân văn hóa” [25, 66]. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhìn nhận tơn giáo ở khía cạnh là một đặc
trưng trong truyền thống văn hóa của Việt Nam. Theo cách hiểu này, tơn
giáo là một hiện tượng văn hóa – xã hội.
Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn đã đưa ra định nghĩa về tôn giáo như sau:
“Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vơ hình, mang tính chất
thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một
cách siêu thực (hay hư ảo) với con người, nhằm lý giải những vấn đề trên
trần thế, cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa
dạng, tùy thuộc và những thời kỳ lịch sử, hồn cảnh địa lý – văn hóa khác
nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những
nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội - tôn

giáo khác nhau” [80, 167].
Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa Thơng tin lý giải tơn
giáo qua hai định nghĩa:
“1. Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin
và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng
siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và
tôn thờ.


20

2. Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thần linh
nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy” [61, 749].
Từ điển Triết học quan niệm tôn giáo là “sự phản ánh hư ảo trong
đầu óc con người những lực lượng bên ngoài thống trị họ cuộc sống hàng
ngày, sự phản ánh trong đó các lực lượng trần thế mang hình thức các lực
lượng siêu phàm” [67, 588].
Có nhiều quan niệm khác nhau về tơn giáo, nhưng chúng ta có thể
kết luận chung về cách hiểu tơn giáo ở các khía cạnh sau:
- Tơn giáo là một hiện tượng văn hóa – xã hội.
- Tôn giáo là sự phản ánh hiện thực một cách hư ảo.
- Tôn giáo là niềm tin vào thế giới siêu nhiên.
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của tôn giáo và của Hồi giáo
1.1.2.1. Những đặc trưng cơ bản của tôn giáo
Khi ý niệm về một thế giới bên kia ra đời cũng là lúc tơn giáo được
hình thành. Nó biến đổi, thích nghi, thay đổi hình thức cùng với thời gian
và hiện nay vẫn hiện diện với nhân loại, với tuyệt đại đa số người tin theo.
Nghiên cứu về đặc trưng của tơn giáo có thể xét ở các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, tôn giáo được dựa trên cơ sở niềm tin tôn giáo
Niềm tin tơn giáo là tồn bộ thái độ của các cá nhân đối với một thực

thể tối cao hay một sức mạnh được cảm nhận là siêu việt hay huyền bí.
Niềm tin tôn giáo “trước hết là một mối liên hệ (một lịng tin vào…), nói
lên việc thừa nhận một sự phục tùng, một giới hạn và một sự bất lực của
con người đối với một thực thể tỏ ra hùng mạnh, đầy ánh sáng và chân lý;
trên cơ sở thừa nhận ấy, các cá nhân xếp đặt trật tự trong các hệ thống nhận
thức của họ” [55, 101]. Ngoài việc xác định như trên, niềm tin tơn giáo cịn
có ý nghĩa là một tập hợp những giáo điều, những chân lý được chấp nhận


21

như một cái gì gắn một cách tất yếu với sự tán thành một nguyên lý siêu
việt.
Niềm tin tôn giáo có tính thiêng và nó là niềm tin chắc chắn, mang
tính chủ quan, trực giác, khơng cần lý giải một cách khoa học. Đây cũng
chính là yếu tố quyết định đưa con người đến với tơn giáo, để có được niềm
tin đó, người theo đạo cần phải có một số hiểu biết nhất định về giáo lý,
tuân thủ những hành vi, phép tắc tơn giáo… theo cách của mình.
Ví dụ như các tín đồ Hồi giáo, họ tin tưởng tuyệt đối vào đấng cứu
thế là Thánh Allah và thiên sứ Mohammad, tin tưởng và thực hiện nghiêm
chỉnh những giới luật và giáo lý được ghi nhận trong Kinh Qur’an. Tín đồ
Phật giáo tin vào những nguyên lý cơ bản của Phật giáo được thể hiện
trong Tam tạng kinh điển (Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng). Tín đồ Cơng
giáo lại đặt niềm tin của mình vào Kinh thánh, tin tưởng vào Thiên Chúa và
sự màu nhiệm của Thiên Chúa thể hiện ở ba ngôi: Đức Chúa Cha, Đức
Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần.
Như vậy, niềm tin tôn giáo là một đặc trưng hết sức quan trọng của
tôn giáo, đây là một niềm tin mang tính bền vững, một sự bền vững đặc
biệt so với các niềm tin khác ở các tín đồ. Sự bền vững của niềm tin tơn
giáo thể hiện ở chỗ những người theo tôn giáo tin vào các lực lượng siêu

nhiên, vào thế giới hư ảo. Nhiều người vì niềm tin tơn giáo của bản thân,
họ có thể sẵn sàng làm tất cả, kể cả hy sinh tính mạng. Tính bền vững của
niềm tin tơn giáo cịn thể hiện ở chỗ cá nhân tin vào niềm tin mà họ đã theo
đuổi trong suốt cuộc đời của mình – một niềm tin dường như khơng thay
đổi. Đây chính là yếu tố cơ bản để giải thích tinh thần “tử vì đạo” tới mức
mê muội của các tín đồ cuồng tín, là lý do để giải thích sức sống lâu dài của
tôn giáo, cũng như sự bám rễ vững chắc của hiện tượng này trong đời sống
xã hội.


×