Tải bản đầy đủ (.docx) (5 trang)

Chùa Phật Tích - Bắc Ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (203.28 KB, 5 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Chùa Phật Tích</b>



<b>Chùa Phật Tích (Phật Tích tự </b>佛跡寺<b>) còn gọi là chùa Vạn Phúc (Vạn Phúc tự </b>萬福寺<b>) là một ngơi chùa </b>
<b>nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích (cịn gọi núi Lạn Kha, non Tiên), xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh </b>
<b>Bắc Ninh. Trong chùa có tượng đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam. Chùa Phật Tích được </b>
<b>cơng nhận là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia.</b>


<b>Lịch sử</b>


Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ 4 (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc.
Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý. Ngôi chùa vào thời Lý hiện nay khơng cịn nữa.


Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng
Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng
này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thơn Phật Tích.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ "Phật" dài tới 5 m, sai khắc vào đá đặt
trên sườn núi. Bà Nguyên phi Ỷ Lan có đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích.


Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua
Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ "Bảo Hoa dư bút" dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tơng đã lấy Phật Tích làm nơi
tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ).


Vào thời nhà Lê, năm Chính Hịa thứ bảy đời vua Lê Hy Tơng, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn,
có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự. Người có cơng trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am
- đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này. Bia đá còn ghi
lại cảnh chùa thật huy hồng: "... Trên đỉnh núi mở ra một tịa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã
rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác
cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, lầu rộng và tay rồng với tới trời sao,cung Quảng vẽ hoa
nhụy hồng...". Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.



Nhưng rồi vẻ huy hồng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm. Kháng
chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá nhiều. Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hồn tồn vào
năm 1947.


Khi hịa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khơi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian
chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A-di-đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, nhà nước cơng nhận chùa Phật Tích là
di tích lịch sử-văn hoá.


<b>Kiến trúc</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

thiền.


Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà
cùng các vị Tam thế Phật, 8 gian nhà tổ và 7 gian nhà thờ thánh Mẫu.


Ngôi chùa có kiến trúc của thời Lý, thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi. Các nền hình chữ nhật dài khoảng 60
m, rộng khoảng 33 m, mặt ngồi bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật.


Theo tương truyền, bậc nền thứ nhất là sân chùa với vườn hoa mẫu đơn, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên:
"...Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho
tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng
Tiên..." Do tích này, trước đây chùa Phật Tích mở hội Hoa Mẫu Đơn hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng để
nhân dân xem hoa và các văn nhân thi sĩ bình thơ.


Bậc nền thứ hai là nơi có các kiến trúc cổ ngày nay khơng cịn được thấy. Khi đào xuống nền ngôi chùa này, các nhà
khảo cổ học đã tìm thấy nhiều di vật điêu khắc thời nhà Lý và nền móng của một ngơi tháp gạch hình vng, mỗi
cạnh dài 8,5 m.


Nền thứ ba cao nhất, có Long Trì (Ao Rồng) là một cái ao hình chữ nhật, đã cạn nước.



Sau sân nền có 32 tháp xây bằng gạch và đá là nơi cất giữ xá lị của các nhà sư từng trụ trì ở đây, phần lớn được
dựng vào thế kỷ 17.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

khối đá lớn.


Giữa chùa là pho tượng Phật bằng đá xanh ngồi thiền định trên tòa sen, cao 1,85 m. Trên bệ và trong những cánh
sen, có những hình rồng và hoa lá đặc trưng cho thời Lý. Ở chùa cịn có những di vật thời Lý khác như đá ốp tường,
đấu kê,...trên đó chạm khắc các hình Kim Cương, Hộ Pháp, các nhạc công, vũ nữ v.v...


Trong Ức Trai Thi Tập, Nguyễn Trãi có bài thơ vịnh cảnh chùa Phật Tích:
Đoản trạo hệ tà dương


Thơng thơng yết thượng phương
Vần quy thiền sáp lãnh


Hoa lạc giản lưu hương
Nhật mộ viên thanh cấp
Sơn khơng trúc ảnh trường
Có trung chân hữu ý
Dục ngữ hốt hoàn vương.


Hàng năm vào ngày 4 tết Nguyên Đán, nhân dân Phật Tích thường mở hội truyền thống để tưởng nhớ công lao các vị
tiền bối đã khai sinh và tu tạo chùa. Trong những ngày xuân tưng bừng ấy, khách thập phương về đây lễ Phật, hái
hoa mẫu đơn, thưởng ngoạn cảnh đẹp vùng Kinh Bắc hoặc tham dự các trò chơi ngày hội như đấu vật, chơi cờ, đánh
đu, hát quan họ...


<b>Di cốt của sư tổ:</b>


Năm 1988, đã xảy ra một vụ trộm tại khu tháp này: Kẻ gian đã nạy cửa tháp Báo Nghiêm để kiếm vàng và đồ cổ.
Chúng đã vứt ra một vại sành trong đó có chứa di cốt người và những mảnh bó cốt có cấu tạo giống như mảnh bồi


của tượng nhà sư chùa Đậu.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

Ngày nay, các nhà khoa học đã xác định đây là di cốt của thiền sư Chuyết Chuyết, đã viên tịch tại chùa Phật Tích.
Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy tất cả 133 mảnh xương và 209 mảnh bồi. Trong số này có đốt sống, xương đùi,
xương chày, một phần xương hàm trên, đặc biệt có một xương hàm dưới, một phần xương trán cùng hốc mắt phải
đính với hai mũi. Dựa vào các xương chi, các nhà khoa học tính tốn chiều cao của nhà sư khoảng 1,6 m. Qua phân
tích cấu tạo của khuyết hông và khớp mu, các nhà khoa học khẳng định đây là di hài của một nhà sư nam khoảng 65
- 70 tuổi.


Khi nghiên cứu những mảnh bồi, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một đoạn dây đồng đã gỉ mầu xanh. Điều này
chứng tỏ: Sau khi cải táng, người ta lấy xương của nhà sư đã tịch, đem dựng khung tạo thành hình ngồi thiền, rồi
mới bồi ra bên ngoài để tạo tượng. Điều này khác với kỹ thuật tạo tượng nhà sư Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu.


Với mong muốn phục ngun di hài thiền sư ở chùa Phật Tích, nhóm các nhà khoa học do PTS Nguyễn Lân Cường chỉ
đạo đã áp dụng phương pháp Guerasimov phục hồi mặt theo xương sọ.


</div>

<!--links-->

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×