Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP CHÍ LINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (201.38 KB, 29 trang )

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP CHÍ LINH
1. Giới thiệu về ngân hàng
NHNo_CL là một trong 14 chi nhánh loại 3 ( trước là chi nhánh cấp 2)
của NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương. Với trụ sở tại trung tâm của huyện, thuận
lợi cho nhân dân đến giao dịch cũng như mạng lưới phòng giao dịch, đại lý tại
các xã, ngân hàng có lợi thế chiếm được thị phần khá lớn, nhưng vẫn còn những
thách thức trước mắt khi ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng khác mở chi
nhánh tại đây, đòi hỏi ngân hàng phải có sự nỗ lực và cố gắng hơn nữa.
NHNo_CL trước đây là Ngân hàng Nhà nước huyện Chí Linh, theo QĐ
số 59/QĐ/NHNN ngày 26/3/1988 đã chuyển hệ thống ngân hàng Việt Nam từ
một cấp thành hai cấp và thành lập các ngân hàng thương mại quốc doanh nên
ngân hàng mới mang tên là NHNo_CL từ đó, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh
tiền tệ và các dịch vụ khác trên địa bàn huyện Chí Linh.
Huyện Chí Linh là một huyện miền núi của tỉnh Hải Dương, có 20 xã và
2 thị trấn. Dân số là hơn 160 ngàn người, khoảng 42120 hộ (trong đó hộ nghèo
là 4770, hộ kinh doanh là 8150 hộ).
• Diện tích sản xuất nông nghiệp: 13686 ha
• Diện tích lâm nghiệp: 7544 ha
• Diện tích nuôi cá : 545 ha
• Diện tích cây ăn quả : 6500 ha
Qua số liệu thống kê, ta có thể dễ dàng nhận thấy diện tích sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn, NHNo lại là ngân hàng phục vụ phát triển nông
nghiệp, nông thôn nên việc cho vay sản xuất nông nghiệp được chú trọng một
cách thoả đáng.
Trên địa bàn huyện có 9 quỹ tín dụng nhân dân, 5 ngân hàng thương mại
quốc doanh, 2 chi nhánh ngân hàng cổ phần và ngân hàng Chính sách xã hội,
nên sự cạnh tranh là rất gay gắt .
Chí Linh là một huyện miền núi có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi để
phát triển kinh tế:
• Có mạng lưới giao thông liên tỉnh đến các thành phố lớn như: Hà Nội,


Hải Phòng, Quảng Ninh.
• Có khu di tích được xếp hạng Quốc gia, hàng năm thu hút rất nhiều
khách thăm quan (Côn Sơn-Kiếp Bạc, đền thờ Nguyễn Trãi, Chu Văn
An).
• Đất đồi, rừng nhiều, khí hậu thích nghi với sự phát triển của các loại cây ăn quả
tại địa phương như: vải, nhãn, na, … và chăn nuôi các loại gia súc lớn: trâu, bò,

Từ những thuận lợi trên đã tạo ra nhu cầu và điều kiện để phát triển các
ngành, các loại hình phát triển kinh tế khác nhau, như: vận tải (hàng hoá, dịch
vụ), đầu tư và chăm sóc cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm, …Việc phát
triển đa dạng loại hình kinh tế giúp cho NHNo_CL có thuận lợi lớn trong việc
đầu tư triển khai các dịch vụ của mình.
Những khu công nghiệp, khu thương mại dịch vụ và đô thị mới mọc lên
nhanh chóng (Sao đỏ, Trường Linh, Tiên Sơn, …) làm thay đổi cơ cấu nền kinh
tế trong huyện theo hướng công nghiệp, xây dựng, nông nghiêp và dịch vụ nên
nền kinh tế địa phương đang từng bước phát triển theo hướng nhanh chóng và
tích cực.
Diện tích đất đồi rộng lớn lại đã tiến hành giao đất cho từng hộ dân nên
rất thuận lợi cho việc phát triển mạnh kinh tế vườn đồi (trồng trọt và chăn nuôi).
Kinh tế của huyện phát triển nhanh chóng là động lực, tiền đề mà cũng là
thách thức với NHNo_CL trong việc đồng hành với sự phát triển của địa
phương. Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, nay đã trở thành một ngân
hàng thương mại hàng đầu huyện Chí Linh với uy tín, truyền thống và mạng
lưới rộng khắp đến tận các xã, là bạn đồng hành của người nông dân.
NHNo_CL là ngân hàng hoạt động tại một huyện miền núi, đa số nhân
dân hoạt động sản xuất nông nghiệp nên trình độ dân trí còn chưa cao, việc tiếp
cận với những tiến bộ công nghệ mới vấp phải nhiều khó khăn, công nghệ sản
xuất còn khá lạc hậu, hoạt động nông nghiệp lại chịu nhiều chi phối của thời tiết
nên việc kinh doanh của ngân hàng cũng còn rất nhiều thách thức phải vượt qua.
Với những thuận lợi và khó khăn như vậy nên NHNo_CL vừa tiến hành

kinh doanh vừa phải tự hoàn thiện mình để nâng cao chất lượng nghiệp vụ
chuyên môn, giữ vững lượng khách hàng đã có và tăng sức cạnh tranh mở rộng
thị phần, khẳng định vị trí hàng đầu của các ngân hàng tại địa phương.
2. Thực trạng chất lượng cho vay hộ nông dân tại chi nhánh NHNo_CL
2.1. Vốn vay ngân hàng đối với sự phát triển sản xuất của hộ nông dân
2.1.1. Đặc điểm hộ nông dân tại địa phương
Xuất phát là một nước thuần nông, nông dân là lực lượng đông nhất và có
vai trò quan trọng nhất đối với đất nước ta, và Chí Linh cũng vậy, là một huyện
miền núi, những người làm nông nghiệp chiếm hơn 85% dân số. Trải qua quá
trình phát triển lâu dài, hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ hiện đại
thì người nông dân đang từng bước hoà mình vào sự phát triển chung của đất
nước.
Chí Linh có diện tích tự nhiên 29 810 ha, diện tích gieo trồng cả năm 13
686 ha, tốc độ tăng trưởng mạnh cả về nông, lâm, thuỷ sản (trung bình là 5,1%
năm), diện tích cấy lúa là 9 278 ha, năng suất cả năm ước đạt 47 tạ/ha, sản
lượng 44 240 tấn. Ngoài lúa, người nông dân còn gieo trồng thêm ngô, khoai,
đậu, lạc và các loại cây ăn quả, cây lâu năm năng suất của các loại cây này cũng
khá cao do lựa chọn được loại đất và hình thức trồng phù hợp.
Chăn nuôi cũng là hình thức phổ biến ở các hộ nông dân Chí Linh, ngoài
nuôi lợn, gà, … có hộ còn phát triển đàn trâu, bò, … vừa lấy sức kéo vừa tăng
thêm thu nhập cho gia đình, năm 2007, đàn trâu của huyện đã tăng thêm hơn
4000 con, đàn bò là gần 9000 con. Do diện tích rừng, đồi còn nhiều nên việc
chăn nuôi có nhiều thuận lợi.
Nuôi cá cũng là hoạt động được các hộ nông dân phát triển mạnh trong
những năm gần đây, sản lượng ước đạt 400 tạ/ha.
Cây lúa không còn giữ vai trò chủ đạo như trước nữa, một số hộ đã
chuyển những ruộng trũng cấy lúa hiệu quả thấp sang trồng các loại cây khác
hoặc đào ao nuôi thả tôm, cá,…
Ngoài vụ mùa ra thì những khi nông nhàn, người nông dân thường tăng
gia sản xuất bằng cách nhận việc thủ công về làm tại nhà hoặc xưởng tập trung

như may, thêu,… hoặc làm công nhật cho các xưởng vật liệu xây dựng (nhà
máy gạch chịu lửa Trúc Thôn, mỏ đất cao lanh, xưởng giầy xuất khẩu,…)
Có nhiều hộ dân phát triển sang hoạt động nuôi rắn, ong lấy mật,… đã đạt
được hiệu quả cao, một hộ ở Cộng Hoà, nuôi ong nay đã hình thành cả một
công ty chuyên các sản phẩm về ong như: mật, sữa ong chúa, rượu nhân sâm
mật ong,…tạo công ăn việc làm cho nhiều người góp phần phát triển kinh tế của
địa phương.
Người nông dân ngày nay đã có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển
chăn nuôi sản xuất do nền kinh tế hàng hoá phát triển, dịch vụ được mở rộng
nên các sản phẩm phục vụ nông nghiệp đến tay người nông dân nhanh chóng và
thuận lợi.
Các chợ tiêu thụ nông thuỷ sản được hình thành ở nhiều nơi nên người
nông dân cũng không còn phải quá lo lắng cho việc tiêu thụ sản phẩm của mình
nữa.
Người nông dân trong huyện cũng như các thành phần kinh tế khác đoàn
kết cùng nhau xây dựng kinh tế địa phương phát triển nhanh chóng và ổn định.
Năm 2006 đã có 59% số hộ nông dân trong huyện đạt sản xuất kinh
doanh giỏi, toàn huyện chỉ có 12,4% hộ nghèo, hiện đang được các cấp hội vận
động nông dân đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, những hộ sản xuất kinh
doanh giỏi đã đăng ký giúp đỡ hộ nghèo về kinh nghiệm sản xuất, hướng dẫn kỹ
thuật sản xuất để thoát nghèo, hướng tới xoá nghèo ở Chí Linh trong thời gian
không xa.
Hệ thống đường giao thông và các công trình thuỷ lợi được đầu tư kiên
cố nên người nông dân yên tâm sản xuất nông nghiệp.
Người nông dân được nâng cao trình độ hiểu biết nên rất có ý thức trong
việc học tập của con em mình, chỉ trong trường hợp không có khả năng học tập
thôi còn những em có khả năng đều được bố mẹ cố gắng lo cho ăn học đầy đủ.
Những đối tượng nhàn rỗi, không có việc làm tại địa phương được chính quyền
tổ chức dạy nghề cho họ để họ có điều kiện làm việc cũng như có thể đi xuất
khẩu lao động ở nước ngoài.

Trình độ sản xuất của người nông dân đã được nâng cao nên việc làm
kinh tế đạt nhiều hiệu quả đáng mừng, ngày càng có nhiều “làng triệu phú” hay
cánh đồng “50 triệu/ha” xuất hiện.
Bản tính của người nông dân là thật thà, chất phác nên đa số họ khi đã
vay vốn ngân hàng đều rất có ý thức, cố gắng làm việc vừa để phát triển kinh tế
của mình, vừa lo trả nợ.
Tuy nhiên, trình độ của người nông dân còn có nhiều hạn chế nên đôi khi
việc giải thích cho họ hiểu về phương án, hình thức vay vốn còn khó khăn, đòi
hỏi nhiều thời gian và công sức của các cán bộ tín dụng.
Hoạt động kinh tế chủ yếu của người nông dân là sản xuất nông nghiệp
mà sản xuất nông nghiệp lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên nên nhìn
chung thì kết quả kinh tế của người nông dân vẫn không được chắc chắn và ổn
định như những ngành kinh tế khác.
2.1.2. Vai trò của vốn vay ngân hàng đối với sự phát triển sản xuất của hộ
nông dân
Người nông dân vay vốn ngân hàng chủ yếu là để chi phí về cây, con
giống, thức ăn cho vật nuôi, thuốc phòng, trị bệnh,… Ngoài ra có thể là chi phí
để cải tạo và chuyển đổi đất canh tác, xây dựng cơ sở vật chất để tiến hành nuôi
trồng. Người nông dân sản xuất nông nghiệp nên thường thì khi cần nguồn vốn
lớn để cải tạo hoặc đầu tư, chuyển đổi sản xuất thì họ không có, vì vậy mà họ
phải đi vay. Trong hoàn cảnh đó thì vốn vay ngân hàng là sự lựa chọn tốt nhất
của họ. Với lãi suất hợp lý, nhiều chế độ ưu tiên khác cho người nông dân thì
vốn vay ngân hàng đã và đang có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
nông nghiệp của nông thôn Việt Nam nói chung cũng như của huyện Chí Linh
nói riêng.
1. Vai trò điều tiết vốn
Ngân hàng No Chí Linh cũng như những ngân hàng thương mại khác, giữ
vai trò điều tiết vốn trong khu vực. Ngân hàng nhận tiền gửi từ dân cư và các tổ
chức kinh tế khác để cho các hộ kinh tế, trong đó chủ yếu là các hộ nông dân
vay vốn để sản xuất kinh doanh. Ngân hàng trung chuyển vốn từ người có vốn

sang người cần vốn, đảm bảo sự an toàn và sinh lời cho khách hàng của mình.
Tín dụng ngân hàng là kênh cấp vốn chủ yếu và quan trọng nhất cho
người nông dân, tác động tích cực đến quá trình phát triển nông thôn. Qua ngân
hàng, nông dân có vốn để mở rộng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật
nuôi cho phù hợp để hiệu quả kinh tế đạt được là tốt nhất, xây dựng cuộc sống
ấm no hơn.
Nhờ có ngân hàng mà nhiều hộ nông dân đã có điều kiện để đầu tư sản
xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến, an toàn, vừa đạt được lợi ích kinh tế vừa có
hiệu quả xã hội. Việc ứng dụng công nghệ mới tuy vốn đầu tư ban đầu nhiều,
đòi hỏi người nông dân phải học hỏi, bỏ ra nhiều công sức hơn so với công nghệ
cũ, nhưng kết quả thu được lại vô cùng khả quan. Nhờ ngân hàng mà người dân
có vốn đầu tư nên đời sống của họ đã có nhiều thay đổi tích cực hơn.
Vốn vay ngân hàng đảm bảo cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn,
giảm thiểu ảnh hưởng do thiếu vốn đầu tư gây ra để hiệu quả kinh tế của người
nông dân không bị tổn thất. Trong mọi hoạt động kinh tế, điều gây ảnh hưởng
xấu nhất là bị gián đoạn, bởi trong thời gian đó, có thể có biết bao thay đổi, bao
sản phẩm và công nghệ mới ra đời nên dù có tiếp tục sản xuất trở lại thì hiệu
quả cũng không được tốt. Với người nông dân thì điều này lại càng nghiêm
trọng, bởi sản xuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, tiến hành theo mùa vụ nên
nếu chậm trễ, thời tiết thay đổi thì chắc chắn vụ đó sẽ không thể có kết quả tốt
được.
Ngân hàng còn là trung gian thực hiện các chính sách của nhà nước tới
người nông dân, những ưu đãi về lãi suất, hình thức,… của ngân hàng khiến cho
người nông dân rất vui mừng và càng tin tưởng, biết ơn đảng, nhà nước.
Những khi kết thúc mùa vụ hoặc thu hoạch sản phẩm, người nông dân thu
được lượng tiền lớn, nhưng lại chưa biết làm gì thì ngân hàng lại là người thủ
quỹ đảm bảo không những an toàn mà còn sinh lời thêm cho người nông dân.
Nguồn vốn này ngân hàng lại để giúp những người nông dân khác có nhu cẩu
để họ phát triển kinh tế.
2. Vai trò trung gian đối với các ngành sản xuất khác

Nông dân không phải là thành phần kinh tế duy nhất trong xã hội, quan
hệ với các thành phần kinh tế khác cũng là một tác nhân rất lớn kích thích sự
phát triển kinh tế nông nghiệp. Và ngân hàng là một trong những trung gian trực
tiếp góp phần kết nối và thúc đẩy quan hệ đó.
Nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác, hoạt động sản xuất diễn ra
theo chu kỳ, lúc cần vốn sản xuất lúc lại dư thừa vốn. Ngân hàng giữ vai trò
trung gian giữa các ngành, chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác để tạo
điều kiện cho các ngành cùng phát triển. Công nghiệp, dịch vụ tiêu thụ những
sản phẩm nông nghiệp và ngược lại, nông dân cũng tiêu dùng sản phẩm công
nghiệp thông qua dịch vụ, nếu một giai đoạn của quá trình, cũng tức là một
thành phần kinh tế bị gián đoạn, gặp khó khăn thì chắc chắn những thành phần
khác cũng không thể phát triển thuận lợi được.
Nông dân sản xuất theo mùa vụ nên họ thường có nhu cầu về vốn khi sản
xuất còn sau khi thu hoạch thì họ lại có vốn nhưng chưa cần sử dụng, lúc này,
hoạt động phục vụ nông nghiệp lại chính là tiêu thụ nông sản, ngân hàng có thể
cho vay các tổ chức chế biến nông sản hay dịch vụ để thúc đẩy việc tiêu thụ cho
người dân kịp thời và có kết quả tốt nhất. Bán nông sản xong thì ngân hàng lại
trở thành người thu hút vốn từ người nông dân, người dân vừa có nơi tin tưởng
để gửi tiền an toàn mà vừa thu được lãi trong thời gian tiền nhàn rỗi.
Vốn vay ngân hàng tạo điều kiện cho phát triển nhiều ngành nghề mới ở
nông thôn, giúp cho những người nông dân trong khi nông nhàn có điều kiện để
vừa tăng thêm thu nhập vừa tránh “nhàn cư vi bất thiện”, như nuôi trăn, trồng
hoa, thêu, may mặc,…giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dôi dư tại địa
phương.
Nguồn vốn cho vay nông nghiệp có thể được huy động từ các ngành sản
xuất khác chứ không phải chỉ của ngành nông nghiệp. Điều quan trọng nhất là
khéo léo kết hợp giữa các ngành sản xuất để tạo điều kiện cùng nhau phát triển,
đây là vai trò rất quan trọng của ngân hàng. Vì vậy có thể nói ngân hàng giữ vai
trò trung gian giữa nông nghiệp với các ngành sản xuất khác.
3. Vai trò thúc đẩy sản xuất

Tín dụng ngân hàng góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều
kiện cho nông dân tiếp thu, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, nâng cao
chất lượng và sản lượng nông sản phẩm. Công nghệ hiện đại còn giúp nông dân
còn chủ động tìm đuợc đầu ra cho sản phẩm của mình, nắm bắt thời điểm tiêu
thụ để đạt hiệu quả cao nhất. Như người dân trồng vải, do vụ mùa vải rẻ, chỉ từ
1500-2000đồng/kg nên nhiều hộ đã chủ động chế biến thành vải sấy để chờ giá
lên mới bán. Chi phí cho 1kg vải sấy ước tính khoảng 8000 đồng, nay giá vải
sấy đã là 18000-20000 đồng/kg người dân mới bán ra. Việc chủ động được thời
điểm giúp người nông dân làm chủ được sản phẩm của mình và thu được lợi
xứng đáng. Tất nhiên việc chờ đợi giá cho nông sản cũng không phải là việc
đơn giản, vì họ còn cần phải có vốn để tiếp tục sản xuất, lúc này ngân hàng lại
phát huy vai trò của mình. Nhờ có vốn vay ngân hàng mà người nông dân chủ
động được mùa vụ khiến cho họ yên tâm lao động, qua đó thúc đẩy quá trình
sản xuất của người nông dân cũng như của các ngành kinh tế khác và nền kinh
tế chung của toàn huyện cùng phát triển.
Vốn vay ngân hàng đến với từng hộ nông dân góp phần giảm thấp tình
trạng cho vay nặng lãi, người nông dân được sử dụng nguồn vốn từ ngân hàng
với lãi suất thấp và nhiều ưu đãi từ nhà nước nên việc nuôi trồng của họ được
diễn ra thuận lợi hơn. Họ không phải quá lo về khoản lãi nặng mà yên tâm sản
xuất, bởi ngân hàng nông nghiệp bao giờ cũng áp dụng mức lãi suất phù hợp và
có lợi cho hoạt động của người nông dân. Nông nghiệp vốn là ngành sản xuất
không ổn định và chắc chắn về thành quả nên cần có sự hỗ trợ của các ngành
sản xuất khác trong nền kinh tế. Qua ngân hàng, sự hỗ trợ đó đến với người
nông dân, khiến cho hoạt động sản xuất diễn ra thuận lợi và hiệu quả hơn.
Sản xuất nông nghiệp vốn là một ngành đi sau so với các ngành kinh tế
khác, và thực tế đã chứng minh rằng bất kỳ ngành nào chỉ thực sự phát triển khi
nó chuyển qua sản xuất hàng hoá, và nông nghiệp cũng không phải là ngoại lệ.
Nông sản được sử dụng để trao đổi với các ngành sản xuất khác, công nghiệp và
dịch vụ, xuất khẩu ra các nước khác. Để quá trình này diễn ra liên tục và có hiệu
quả đòi hỏi phải chuyên môn hoá cao ở từng khâu sản xuất của cả quá trình.

Điều này đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn, cụ thể là sự tài trợ của hệ thống
ngân hàng, nhất là ngân hàng nông nghiệp ở vùng nông thôn. Như vậy là nhờ có
ngân hàng mà quá trình sản xuất nông nghiệp được diễn ra theo hướng chuyên
môn và mở rộng quy mô sản xuất. Quy mô được mở rộng và tập trung cũng
giúp ngân hàng tập trung được vốn đầu tư của mình, quản lý, kiểm soát dễ dàng
hơn, nhờ đó mà chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng được nâng
cao hơn.
Tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển sản
xuất của hộ nông dân và để đảm bảo vai trò của mình thì ngân hàng cần phải nỗ
lực nhiều hơn nữa, tự hoàn thiện mình trong từng bước trưởng thành. Cụ thể:
Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ có trình độ năng lực tốt, nắm bắt và
sử dụng công nghệ hiện đại, nhưng cũng phải có hiểu biết thực tế về người nông
dân, hoạt động sản xuất, mùa vụ của họ thì mới có thể xử lý thoả đáng và sát
thực nhu cầu cũng như khả năng của họ. Có vậy mới đảm bảo và nâng cao chất
lượng hoạt động cho vay hộ nông dân của ngân hàng.
Mở rộng mạng lưới đến khắp các nơi trên địa bàn, vừa nhằm mục đích
huy động vốn vừa đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vốn của người nông dân,
đồng thời còn tiết kiệm chi phí huy động của ngân hàng cũng như chi phí vay
vốn của người nông dân.
Khai thác và sử dụng tốt các nguồn vốn khác, nhất là vốn ưu đãi cho phát
triển nông nghiệp để có thể đáp ứng đủ lượng cũng như nguồn lãi suất thấp để
cho nông dân vay, bởi nguồn huy động tại chỗ thường thấp, không đáp ứng đủ
nhu cầu cho hoạt động sản xuất trên địa bàn.
Đơn giản hoá thủ tục cho vay đến mức có thể để giúp người dân có thể dễ
dàng hiểu và nhanh chóng được sử dụng vốn, đáp ứng nhu cầu sản xuất của họ.
Thực hiện được những điều này thì chắc chắn hoạt động cho vay của
ngân hàng sẽ có được chất lượng cao, ngân hàng giữ được vị trí và vai trò của
mình trong sự phát triển kinh tế của huyện.
2.2. Chất lượng cho vay hộ nông dân tại NHNo_CL
Để xem xét thực trạng chất lượng cho vay hộ nông dân tại ngân hàng, ta

sẽ phân tích và đánh giá thông qua các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay.
2.2.1. Chỉ tiêu doanh số cho vay
Như đã trình bày, doanh số cho vay là số tiền cho vay ra trong một kỳ, ở
đây ta sẽ xem xét một kỳ tương đương với một năm kinh doanh của ngân hàng.
Doanh số cho vay của NHNo_CL tăng liên tục qua các năm, thể hiện chi
tiết qua bảng sau:
Bảng 2.1: Doanh số cho vay hộ nông dân
Đơn vị: triệu đồng
NĂM
CHỈ TIÊU
Năm 2006 Năm 2007 Thay đổi so 2006
số tiền
(1)
tỷ trọng
(2)
số tiền
(3)
tỷ trọng
(4)
số tiền
(5)
tỷ trọng
(6)=(5)/(1)
Tổng doanh số cho
vay
218.749 100% 393.991 100% 175.242 80,1%
Hộ nông dân 208.321 97,2% 334.541 84,9% 126.220 60,6%
Doanh số cho vay
hộ nông dân theo
thời gian

208.321 100% 334.541 100% 126.220 60,6%
Trong
đó
Ngắn hạn 85.005 40,8% 170.246 50,9% 85.241 100,3%
Trung,
dài hạn
123.316 59.2% 164.295 49.1% 40.979 33,2%
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh qua các năm của NHNo_CL)
Qua số liệu trên ta thấy tổng doanh số cho vay năm 2007 là 393991 triệu
đồng, tăng so với năm 2006 là 175242 triệu đồng, tỷ lệ là 80.1%, tỷ lệ doanh số
cho vay tăng nhanh và lớn như vậy là một tín hiệu đáng mừng cho toàn huyện,
chứng tỏ hoạt động sản xuất của nông dân đã được mở rộng hơn. Từ đó có tác
động làm cho kinh tế chung của toàn huyện có điều kiện phát triển. Hoạt động
kinh doanh của ngân hàng cũng có những bước tiến hơn nhiều so với những
năm trước.
2.2.2. Chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay
Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng cũng tăng lên rất nhiều, để đánh giá
chính xác sự tăng lên này, ta sử dụng bảng so sánh số liệu dư nợ cho vay hộ
nông dân qua các năm như sau:

×