Các loại bảo hiểm phi lợi nhuận
3.1. bảo hiểm xã hội (BHXH) 3.1.1. Tổng quan về BHXH 3.1.1.1. Đặc điểm của bảo hiểm
xã hội BHXH đã có một bề dày lịch sử hàng trăm năm. Xuất phát điểm ra đời của BHXH
bắt nguồn từ nhu cầu giảm nhẹ rủi ro trong cuộc sống được thực hiện bằng việc đoàn kết,
tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng. BHXH xuất hiện đầu tiên ở n?ước Đức trong bối cảnh
quá trình công nghiệp hóa diễn ra rất mạnh mẽ ở châu âu vào thế kỷ XIX. Thời kỳ này, các
đô thị ở châu âu trở thành nơi có công nghiệp phát triển và thương mại sầm uất. Người
nông dân bỏ thôn quê ra thành phố làm thuê, chấp nhận từ bỏ tấm lá chắn bền vững, truyền
kiếp bảo vệ cho họ và gia đình khi gặp khó khăn là quan hệ họ hàng, làng xã. Thay vào đó,
chỗ dựa duy nhất để có cái ăn, cái mặc, chỗ ở của họ là tiền lương và cuộc sống của họ
luôn bị đe dọa bởi các rủi ro như: ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già…Trong
bối cảnh đó, các hội tương tế đã xuất hiện, tổ chức ra việc để dành tiền tiết kiệm nhằm trợ
giúp cho người lao động những lúc khó khăn cả khi còn đang làm việc và khi đã về già.
Đồng thời, sự đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân đã buộc giới chủ và Nhà nước
cũng phải trợ giúp, đảm bảo cho cuộc sống cho họ. Năm 1850, ở Đức, các quỹ trợ cấp ốm
đau được thành lập và công nhân bắt buộc phải đóng góp để đề phòng khi bị giảm thu nhập
do ốm đau. Sau đó, các quỹ được thành lập bảo đảm cả trường hợp thất nghiệp, tuổi già và
tàn tật. Ban đầu các quỹ này chỉ có giới thợ tham gia, đến năm 1880, cơ chế đóng góp của
ba bên được thực hiện bao gồm: đóng góp của người làm thuê, đóng góp của giới chủ và
đóng góp của Nhà nước. Mô hình của Đức dần dần được truyền bá rộng rãi ra toàn châu âu
và thế giới và mặc dù không dập khuôn, BHXH đã được hình thành và phát triển ở nhiều
nước. BHXH là một bộ phận cấu thành của hệ thống An sinh xã hội (ASXH). Hệ thống
ASXH trên thế giới nói chung và ở Việt nam nói riêng đang trong quá trình phát triển và
hoàn thiện. Trong thực tế tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về ASXH và mỗi quốc gia có
thể theo đuổi một mô hình hệ thống ASXH phù hợp với mục tiêu, điều kiện kinh tế - xã hội
của quốc gia đó. Theo ILO (Tổ chức lao động quốc tế- International Labour Organization),
An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt
biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng
hoặc bị giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương
tật, tuổi già và chết, đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Ngày nay, khái niệm ASXH được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là sự bảo vệ mà xã hội
cung cấp cho các thành viên không may bị lâm vào hoàn cảnh không bình thường trong xã
hội, thông qua hệ thống các biện pháp phân phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ xã hội.
Theo cách hiểu này, hệ thống ASXH bao gồm 2 bộ phận cơ bản là: BHXH và cứu trợ xã
hội. Cứu trợ xã hội là sự gúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh
sống thiết yếu khác đối với các thành viên của xã hội trong trường hợp bất hạnh, rủi ro,
nghèo đói không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và của gia
đình. (Từ điển bách khoa Việt nam). Nếu nguồn tài chính chủ yếu của BHXH là do các bên
tham gia BHXH đóng góp thì cứu trợ xã hội được thực hiện bởi nguồn tài chính từ Ngân
sách Nhà nước, các tổ chức từ thiện hoặc đóng
67
góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân trong xã hội với mục đích từ thiện, nhân đạo.
Cứu trợ xã hội bao gồm hai nhánh cơ bản là: cứu tế xã hội và trợ giúp xã hội. Cứu tế xã hội
là sự giúp đỡ bằng tiền hoặc hiện vật có tính chất tức thời, cấp thiết và ở mức độ tối cần
thiết cho đối tượng khi họ bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng, không còn khả năng tự lo liệu
cuộc sống thường ngày của bản thân và của gia đình. Với nội dung như vậy, cứu tế xã hội
thường được thực hiện đối với người dân ở những vùng bị thiên tai khi nhu cầu bảo đảm
cái ăn, cái mặc, thuốc chữa bệnh…với họ mang tính cấp bách.Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ
thêm của các tổ chức và cá nhân trong xã hội, bằng tiền hoặc các phương tiện vật chất khác
để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia
đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng. BHXH là bộ phận chủ yếu và
quan trọng nhất trong hệ thống ASXH. Có nhiều khái niệm khác nhau về BHXH được nêu
ra trong các sách vở, tài liệu. Theo Từ điển bách khoa Việt nam: "BHXH là sự bảo đảm
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu
nhập do bị ốm đau, thai sản, TNLĐ và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử
tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự
bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống của người lao động
và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội." BHXH là thực hiện chuyển
giao rủi ro của cộng đồng theo nguyên tắc phân tán “số đông bù số ít" và phân tán, dàn trải
theo thời gian. Theo nguyên tắc "số đông bù số ít", rủi ro của một hoặc một số người sẽ
được chia sẻ cho nhiều người tham gia BHXH cùng gánh chịu. Theo cách đó, những rủi ro
trong cuộc sống như: đau ốm, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, chết sớm…là
gánh nặng của bản thân và gia đình của số ít những người không may sẽ được san sẻ cho
nhiều người. Theo nguyên tắc phân tán, dàn trải theo thời gian , người tham gia BHXH
phải "để dành" một khoản thu nhập bằng việc đều đặn đóng góp khoản "để dành" đó vào
quỹ BHXH trong thời gian có thu nhập để được hưởng trợ cấp lúc tạm thời hoặc vĩnh viễn
mất khả năng lao động. Mục tiêu cơ bản của BHXH là thực thi chính sách xã hội, không
nhằm mục đích kinh doanh. Cụ thể là: thay thế hoặc bù đắp cho người lao động những
khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ và gia đình; chăm
sóc sức khỏe và chống lại bệnh tật; bảo đảm điều kiện sống tối thiểu để người lao động
không lâm vào cảnh túng quẫn, góp phần bảo đảm an sinh xã hội. 3.1.1.2. Các chế độ
BHXH - Kết cấu của chế độ BHXH Chế độ BHXH được xác định bởi các yếu tố cơ bản là:
đối tượng BHXH, rủi ro được BHXH, điều kiện, mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp. •
Đối tượng BHXH Tùy theo từng nước và tùy từng chế độ BHXH mà có quy định về đối
tượng khác nhau. Đối tượng BHXH được chia thành 2 nhóm: Đối tượng BHXH bắt buộc
và đối tượng BHXH tự nguyện. Đối tượng BHXH bắt buộc là những người lao động theo
luật, sẽ phải đóng góp và được hưởng trợ cấp BHXH. Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
thường là những người có quan hệ lao động, làm công ăn lương. Đối tượng BHXH tự
nguyện là các đối tượng không thuộc diện đối tượng BHXH bắt buộc. Tùy thuộc vào chính
sách BHXH của mỗi quốc gia mà đối tượng BHXH tự nguyện có thể mở rộng cho những
nhóm đối tượng nào. Họ có thể tham gia BHXH tự nguyện với tất cả các chế độ BHXH
hiện có ở quốc gia đó hoặc chỉ tham gia BHXH tự nguyện ở một hoặc một số chế độ
BHXH nào đó. • Rủi ro được BHXH
68
Các rủi ro có thể được bảo hiểm trong các chế độ BHXH là các rủi ro mang tính xã hội.
Tức là chúng phổ biến trong đời sống của những người lao động, là những rủi ro tác động
đến cuộc sống, sức khoẻ, tính mạng người lao động tiêu biểu như: ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động – bệnh nghề nghiệp, tuổi già, tử vong, thất nghiệp..v.v. Các rủi ro BHXH nêu trên
có thể phát sinh trong quá trình lao động hoặc trong đời sống của người lao động. Tuy
nhiên, không phải bất cứ "rủi ro xã hội" nào cũng được bảo hiểm mà phạm vi bảo đảm của
hoạt động BHXH phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng tài chính của quỹ
BHXH ở mỗi quốc gia. • Các điều kiện hưởng BHXH: Để ràng buộc giữa trách nhiệm,
nghĩa vụ và quyền lợi của người tham gia BHXH và để hạn chế sự lạm dụng về BHXH,
trong các chế độ BHXH đều quy định các điều kiện hưởng BHXH chặt chẽ. Việc quy định
điều kiện hưởng BHXH ở từng quốc gia cũng khác nhau, xuất phát từ những cơ sở thiết
lập khác nhau. Cơ sở của việc quy định điều kiện hưởng BHXH bao gồm: cơ sở nhân khẩu
học, điều kiện lao động và môi trường lao động, điều kiện kinh tế - xã hội và quan hệ tài
chính BHXH. Cơ sở nhân khẩu học là một trong những căn cứ quan trọng để xác lập điều
kiện hưởng của một chế độ BHXH. Ví dụ để xác định điều kiện tuổi đời của chế độ hu trí
thì cơ sở nhân khẩu học ở đây là khái niệm "già" của dân cư và của người lao động. Tuổi
già để hưởng hưu trí của các nước, các vùng là khác nhau vì tuổi già sinh học có khác
nhau. Có nước, 50-60 tuổi đã là tuổi nghỉ hưu, nhưng lại có nước cao hơn. Song song với
cơ sở nhân khẩu học, điều kiện lao động và môi trường lao động là một căn cứ rất quan
trọng để xác lập điều kiện nghỉ hưởng BHXH. Điểm chung nhất của điều kiện lao động
ảnh hưởng đến người lao động là suy giảm khả năng lao động của họ. Điều kiện lao động
khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau tới khả năng lao động của người lao động. Cùng một
độ tuổi như nhau, nhưng mức độ nặng nhọc khác nhau, tính chất của công việc khác nhau
thì mức độ "già lao động" khác nhau. Đây là yếu tố có liên quan tới "tuổi thọ lao động" của
người lao động. Khi xây dựng các điều kiện của chế độ BHXH, nhất là chế độ hưu trí, chế
độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp cần chú ý điều kiện suy giảm khả năng lao động.
Ngoài các yếu tố sinh học và điều kiện lao động, khi xác định điều kiện hưởng BHXH,
phải căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia trong mỗi thời kỳ. Các điều kiện
kinh tế - xã hội bao gồm: * Khả năng hoặc tiềm lực phát triển kinh tế của đất nước. * Trình
độ quản lý lao động, quản lý xã hội. * Các chính sách dân số của quốc gia. * Chính sách
lao động việc làm. * Trình độ dân trí và nhận thức xã hội... Điều kiện tài chính BHXH là
điều kiện tiên quyết để xác lập các điều kiện của một chế độ BHXH. Khi tính toán giữa các
mức đóng góp và mức hưởng; thời gian đóng góp và thời gian hưởng, luôn phải thể hiện
nguyên tắc cân bằng cân bằng thu - chi. Từ đó, phải quy định thời hạn đóng BHXH tối
thiểu (nhất là đối với các chế độ Bảo hiểm xã hội dài hạn). • Mức hưởng và thời hạn hưởng
trợ cấp BHXH: Mức hưởng trợ cấp BHXH được quy định cho từng loại trợ cấp BHXH.
Việc quy định mức hưởng trợ cấp BHXH dựa trên cơ sở các nguyên tắc căn bản sau: +
Mức trợ cấp BHXH chỉ được xem là khoản bảo đảm chi tiêu, bảo đảm mức sống tối thiểu
cho người hưởng trợ cấp.
69
+ Mức hưởng trợ cấp BHXH thấp hơn mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH lúc làm việc.
Nguyên tắc này nhằm khuyến khích người lao động làm việc và không ỷ lại vào chế độ trợ
cấp. + Mức hưởng trợ cấp BHXH thường có quan hệ tỷ lệ với mức thu nhập làm căn cứ
đóng BHXH. Với cùng điều kiện so sánh, mức hưởng trợ cấp BHXH của người đóng
BHXH nhiều hơn sẽ lớn hơn. Về thời gian hưởng trợ cấp BHXH cũng không giống nhau ở
các chế độ. Nhìn chung, trừ những chế độ trợ cấp BHXH có tính dài hạn, thời gian hưởng
trợ cấp BHXH ngắn hạn thường căn cứ vào khoảng thời gian để người lao động có thể
phục hồi được khả năng lao động hoặc tìm được việc làm. - Các chế độ BHXH theo Công
ước quốc tế 102 Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước mà chế độ BHXH bao gồm
những nhánh nào trong số 9 nhánh của các chế độ BHXH theo Công ước quốc tế 102
(Convention No. 102/1952 Concerning Minimum Standards of Social Security). Ngày
28/6/1952, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước số 102 về BHXH (qui
phạm tối thiểu), tập hợp các chế độ BHXH đã có trên toàn thế giới bao gồm 9 nhánh chế
độ: 1. Chăm sóc y tế 2. Trợ cấp ốm đau 3. Trợ cấp thai sản 4. Trợ cấp tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp 5. Trợ cấp thất nghiệp 6. Trợ cấp hưu trí 7. Trợ cấp gia đình 8. Trợ cấp
tàn tật 9. Chế độ tử tuất (trợ cấp mất người nuôi dưỡng) Các nước tham gia phê chuẩn
Công ước phải áp dụng tối thiểu 3 trong 9 chế độ trên, trong đó ít nhất phải áp dụng một
trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp tàn
tật, trợ cấp nuôi dưỡng. Trừ chế độ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình, tất cả các chế độ trợ
cấp còn lại đề thực hiện trợ cấp bằng tiền. Trợ cấp gia đình có thể bằng tiền và bằng hiện
vật. Hai chế độ trợ cấp tai nạn và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp thai sản bao gồm cả chăm sóc
y tế. Các chế độ được thiết lập ở các nước phải phù hợp với Công ước này về: loại đối
tượng được bảo vệ ; mức trợ cấp tối thiểu và phạm vi chăm sóc y tế ; nguyên tắc chung là
phải đối xử bình dẳng giữa kiều dân và người trong nước. Tiếp sau Công ước 102 (1952),
một loạt các Công ước và Khuyến nghị khác được ILO ban hành như: Công ước số 103
(1952-xét lại) và Khuyến nghị số 95 (1952) về bảo vệ thai sản; Công ước số 118 (1962) về
đối xử bình đẳng về ĐBXH đối với kiều dân và người trong nước; Công ước và Khuyến
nghị số 121 (1964) về trợ giúp trong những trường hợp bị tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp; Công ước số 128 (1967) về trợ giúp lúc tàn tật tuổi già, mất người trụ cột gia đình;
Công ước số 130 và Khuyến nghị 134 (1969) về chăm sóc y tế và trợ giúp lúc ốm đau;
Khuyến nghị số 162 (1980) về người lao động cao tuổi; Công ước số 157 (1982) và
Khuyến nghị số 167 (1983) về bảo lưu các quyền đảm bảo xã hội;… . Các Công ước và
khuyến nghị này thực chất là sự phát triển xoay quanh các nội dung cốt lõi của Công ước
102 và xu hướng phát triển của hệ thống an sinh xã hội hiện đại là tiến tới sụ bảo vệ phổ
cập, mở rộng cho toàn thể cộng đồng bằng nhiều chế độ da dạng. 3.1.2. Bảo hiểm xã hội ở
Việt nam
70
Cũng như nhiều nước trên thế giới, BHXH là nội dung cốt lõi và quan trọng nhất trong hệ
thống ASXH của Việt nam. Ngoài hai nhánh là BHXH và Cứu trợ xã hội, hệ thống ASXH
ở Việt nam còn bao gồm nhánh Ưu đãi xã hội. Cứu trợ xã hội bao gồm Cứu tế xã hội và
Trợ giúp xã hội. Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt, ưu tiên Nhà nước, cộng đồng xã hội
dành cho một bộ phận dân cư nào đó như: cá nhân và gia đình người có công với đất nước,
người nghèo, người ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa… Là một trong những
thành viên phê chuẩn Công ước 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế, ở Việt nam đến nay,
hoạt động BHXH đã thực hiện được 6 chế độ bao gồm: 1. Chế độ trợ cấp ốm đau 2. Chế
độ trợ cấp thai sản 3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 4. Chế độ hưu
trí (bảo hiểm tuổi già) 5. Chế độ tử tuất (trợ cấp mất người nuôi dưỡng) 6. Chế độ bảo
hiểm y tế Ngoài 6 chế độ có nội dung tương đồng với các chế độ BHXH quy định trong
công ước 102, từ 01/6/2001, BHXH Việt nam thực hiện thêm Chế độ nghỉ dưỡng sức,
phục hồi sức khỏe. Chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe áp dụng cho người lao động
tham gia BHXH bắt buộc có từ 3 năm công tác trở lên, tại các cơ quan, đơn vị mà bị suy
giảm sức khỏe, sau khi điều trị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà chưa phục
hồi sức khỏe hoặc lao động nữ yếu sức khỏe sau khi nghỉ thai sản. Việc tạo lập và sử dụng
quỹ BHXH ở Việt nam theo mô hình hệ thống với mức hưởng xác định. Theo mô hình
này, quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây: • • • • • Đóng góp của người lao
động; Đóng góp của người sử dụng lao động; Tài trợ của Ngân sách Nhà nước; Tiền sinh
lời của quỹ; Các nguồn khác.
Theo quy định ở điều 149 của Bộ luật lao động hiện hành (Bộ Luật lao động sửa đổi
2002), mức đóng góp cho các chế độ BHXH bắt buộc (trừ bảo hiểm y tế) được quy định
như sau: • Mức đóng góp của người sử dụng lao động bằng 15% tổng quỹ lương; • Mức
đóng góp của người lao động đóng bằng 5% tiền lương. Mức đóng góp cho chế độ BHYT
bắt buộc được quy định như sau: • Mức đóng góp của người sử dụng lao động bằng 2%
tổng quỹ lương; • Mức đóng góp của người lao động đang làm việc bằng 1% trên lương
hoặc thu nhập. 3.1.2.1. Đối tượng áp dụng các chế độ BHXH - Đối tượng bắt buộc. Các
đối tượng áp dụng các chế độ BHXH bắt buộc (trừ BHYT) bao gồm: (1) Người lao động
làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động
không xác định thời hạn trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sau: • • • • • Doanh
nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước; Doanh nghiệp thành lập,
hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam; Doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
Hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, tổ hợp tác;
71
Các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác, lực lượng
vũ trang; • Cơ sở bán công, dân lập, tư nhân thuộc các ngành văn hóa, y tế, giáo dục, đào
tạo, khoa học, thể dục thể thao và các ngành sự nghiệp khác; • Trạm y tế xã, phường, thị
trấn; • Cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp
Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy
định khác. • Các tổ chức khác có sử dụng lao động. (2) Cán bộ, công chức, viên chức theo
Pháp lệnh cán bộ công chức. (3) Người lao động, xã viên làm việc và hưởng tiền công theo
hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã thành lập, hoạt động theo
Luật Hợp tác xã. (4) Người lao động làm việc và hưởng tiền lương, tiền công theo hợp
đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp, diêm nghiệp. Đối với người lao động làm việc tại các doanh nghiệp nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp đã thực hiện giao khoán đất có quy định riêng. (5)
Người lao động làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức quy định ở điểm (1); (3)
và (4) làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng, khi hết hạn hợp đồng mà
người lao động tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng lao động mới đối với doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân đó thì phải tham gia BHXH bắt buộc. (6) Người lao động quy
định tại tất cả các điểm trên đi học, thực tập, công tác, điều dưỡng trong và ngoài nước mà
vẫn hưởng tiền lương hoặc tiền công Sĩ quan quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp,
sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân thuộc diện hưởng lương có quy định riêng. -
Đối tượng áp dụng chế độ BHYT BHYT Việt nam hiện đang áp dụng với hai loại đối
tượng: đối tượng BHYT bắt buộc và đối tượng BHYT tự nguyện. Đối tượng BHYT bắt
buộc: theo quyết định Quyết định 722/QĐ- BHXH ngày 26/5/2003 của Tổng giám đốc
BHXH Việt nam, đối tượng BHYT bắt buộc bao gồm: (1) Người lao động Việt nam trong
danh sách lao động thường xuyên, lao động hợp đồng từ đủ 3 tháng trở lên làm việc trong:
• Các doanh nghiệp nhà nước kể cả các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang; • Các tổ
chức kinh tế thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị xã
hội; • Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp tập
trung bao gồm: doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, các cơ
quan tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt nam trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác; • Các đơn vị,
tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên. (2) Cán bộ công chức làm việc
trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, người làm việc trong các cơ quan Đảng, các tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, cán bộ xã, phường, thị trấn hưởng sinh hoạt phí
hàng tháng theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính
phủ, người làm việc trong các cơ quan dân cử từ Trung ương đến cấp xã, phường.
•
72
(3) Đại biểu Hội đồng nhân dân đương nhiệm các cấp không thuộc biên chế Nhà nước
hoặc không hưởng BHXH hàng tháng. (4) Người có công với Cách mạng theo quy định tại
Nghị định số 28 CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ. (5) Thân nhân sĩ quan tại ngũ theo quy
định tại Nghị định số 63/2002/ NĐ- CP ngày 18/6/2002 của Chính phủ. (6) Lưu học sinh
nước ngoài học tại Việt nam quy định tại Thông tư liên bộ số 68/LB/ TC-KH ngày
04/11/1996 của Bộ Tài chính & Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (7) Đối tượng bảo trợ xã hội được
Nhà nước cấp kinh phí thông qua BHXH. (8) Người nghèo được hưởng chế độ khám chữa
bệnh theo quy định tại Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng
Chính phủ. (9) Người đang hưởng chế độ trợ cấp BHXH hàng tháng (hưu trí, mất sức lao
động, tai nạn lao động, công nhân cao su). Riêng trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức
khỏe ban đầu, được khám chữa bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công
lập. Ngoài đối tượng BHYT bắt buộc, BHYT Việt nam còn áp dụng mở rộng với các đối
tượng BHYT tự nguyện khác. 3.1.2.2. Nội dung các chế độ BHXH hiện hành ở Việt nam -
Chế độ trợ cấp ốm đau: được coi là trợ cấp ngắn hạn - hình thức trợ cấp bằng tiền, bù đắp
thu nhập của người lao động tạm thời bị gián đoạn khi nghỉ việc có thời hạn do ốm đau. •
Điều kiện hưởng trợ cấp ốm đau. Phải thoả mãn những điều kiện sau đây:
+ Người lao động tham gia BHXH khi ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc, được khám,
chữa bệnh và phải có đủ hồ sơ theo quy định. + Người lao động có con nhỏ (dưới 7 tuổi) bị
ốm đau, có yêu cầu của tổ chức y tế phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau. + Người lao
động thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa dân số. Trường hợp người lao động nghỉ việc
do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc do sử dụng ma túy thì không được hưởng trợ
cấp ốm đau • Mức hưởng trợ cấp ốm đau. Xác định theo công thức sau: Mức trợ cấp ốm
đau = Mức trợ cấp 1ngày x Số ngày được trợ cấp
Mức trợ cấp một ngày được tính theo công thức sau: Mức trợ cấp 1 ngày Tiền lương làm
căn cứ đóng BHXH của tháng trước khi nghỉ ốm = 26 ngày x 75%
73
Trong đó tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của tháng trước khi nghỉ ốm bao gồm: lương
theo cấp bậc, chức vụ, hợp đồng, thâm niên, chức vụ dân cử; hệ số chênh lệch; phụ cấp
chức vụ; phụ cấp khu vực; phụ cấp đắt đỏ (nếu có). Đối với quân nhân, công an nhân dân
thì mức trợ cấp ốm đau, nghỉ việc do thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa dân số bằng
100% mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của tháng trước khi nghỉ việc, mức trợ cấp
nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau bằng 85% mức tiền lương đóng BHXH. - Chế độ trợ
cấp thai sản • Điều kiện được hưởng trợ cấp thai sản. Gồm có những điều kiện sau:
+ Lao động nữ có thai, sinh con (không phân biệt số lần sinh con) khi nghỉ việc. + Người
lao động (không phân biệt nam hay nữ) nếu nuôi con nuôi sơ sinh theo quy định tại Luật
Hôn nhân và gia đình khi nghỉ việc. • Mức hưởng trợ cấp thai sản: bằng 100% mức tiền
lương đóng BHXH trước khi nghỉ. Ngoài ra, khi sinh con được trợ cấp 1 lần bằng 1 tháng
tiền lương đóng BHXH. Mức trợ cấp thai sản được tính như sau: Trợ cấp khi nghỉ việc đi
khám thai, sảy thai Trợ cấp khi nghỉ việc sinh con Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của
tháng trước khi nghỉ = = 26 ngày Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của tháng trước khi
nghỉ sinh con x 100% x x số ngày nghỉ số tháng nghỉ sinh con
Trong đó tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của tháng trước khi nghỉ ốm bao gồm: lương
theo cấp bậc, chức vụ, hợp đồng, thâm niên, chức vụ dân cử; hệ số chênh lệch; phụ cấp
chức vụ; phụ cấp khu vực; phụ cấp đắt đỏ (nếu có). - Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp (TNLĐ - BNN) • Điều kiện hưởng trợ cấp TNLĐ - BNN. Đối tượng
được hưởng trợ cấp TNLĐ - BNN bao gồm những người lao động (tương tự như chế độ
trợ cấp ốm đau) bị bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động trong các trường hợp sau đây: +
TNLĐ trong giờ làm việc, tại nơi làm việc ngoài giờ do yêu cầu của người sử dụng lao
động; + TNLĐ ngoài nơi làm việc khi thực hiện công việc yêu cầu của người sử dụng lao
động; + TNLĐ trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc. • Mức hưởng trợ cấp
Tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động và được tính theo mức tiền lương tối
thiểu chung. Theo quy định hiện hành, mức trợ cấp được quy định như sau: + Trợ cấp một
lần: người lao động bị suy giảm từ 5% đến 30% khả năng lao động được trợ cấp một lần
theo quy định dưới đây: Mức suy giảm khả năng lao động Mức trợ cấp một lần Từ 5% đến
10% 4 tháng tiền lương tối thiểu Từ 11% đến 20% 8 tháng tiền lương tối thiểu Từ 21% đến
30% 12 tháng tiền lương tối thiểu + Trợ cấp hàng tháng: người lao động bị suy giảm từ
31% khả năng lao động trở lên, được hưởng trợ cấp hàng tháng kể từ ngày ra viện theo quy
định dưới đây:
74
Mức suy giảm khả năng lao động Từ 31% đến 40% Từ 41% đến 50% Từ 51% đến 60% Từ
61% đến 70% Từ 71% đến 80% Từ 81% đến 90% Từ 91% đến 100% - Chế độ bảo hiểm y
tế • Quyền lợi trợ cấp BHYT
Mức trợ cấp một lần 0,4 tháng tiền lương tối thiểu 0,6 tháng tiền lương tối thiểu 0,8 tháng
tiền lương tối thiểu 1 tháng tiền lương tối thiểu 1,2 tháng tiền lương tối thiểu 1,4 tháng tiền
lương tối thiểu 1,6 tháng tiền lương tối thiểu
Người có phiếu khám chữa bệnh (KCB) khám chữa bệnh theo đúng tuyến chuyên môn kỹ
thuật do Bộ Y tế quy định được cơ quan BHXH thanh toán chi phí KCB theo giá viện phí
hiện hành tại cơ sở KCB, bao gồm các khoản: + Tiền khám bệnh . + Chi phí thuốc, hoá
chất, máu và các chế phẩm của máu… + Chi phí các dịch vụ kỹ thuật y tế có trong danh
mục do nhà nước quy định sử dụng trực tiếp cho người bệnh như: xét nghiệm, thăm dò
chức năng, chẩn đoán hình ảnh, các thủ thuật … + Tiền ngày giường bệnh (bao gồm cả chi
phí vật tư tiêu hao thông dụng như: chăn, màn, chiếu… + Chi phí của từng loại thủ thuật và
một số phẫu thuật đặc biệt theo danh mục do Bộ Y tế quy định. + Chi phí vật tư y tế
chuyên dụng theo danh mục do Bộ Y tế quy định. Đối với các trường hợp khám chữa bệnh
theo yêu cầu riêng, người bệnh phải tự thanh toán chi phí KCB và được cơ quan BHXH
thanh toán một phần chi phí KCB theo mức chí phí bình quân tại tuyến chuyên môn kỹ
thuật phù hợp do Bộ Y tế quy định, bao gồm các trường hợp sau: + Khám chữa bệnh tại
các cơ sở y tế của nhà nước không phải là nơi người bệnh đăng kỳ KCB ban đầu mà không
phải trong tình trạng cấp cứu, hoặc không có giấy giới thiệu chuyển viện hợp lệ. + Tự chọn
thầy thuốc, tự chọn buồng bệnh, giường bệnh. + Không thực hiện đầy đủ các thủ tục khi
KCB theo quy định. + Khám chữa bệnh ở nước ngoài. Các trường hợp sau không thuộc
phạm vi chi trả của Quỹ BHYT: + Điều trị bệnh phong. + Sử dụng thuốc đặc trị (theo danh
mục của Bộ Y tế) đã được ngân sách Nhà nước cấp để điều trị các bệnh như: lao, sốt rét,
tâm thần phân liệt, động kinh. + Dịch vụ kế hoạch hoá gia đình, bao gồm: dùng thuốc tránh
thai, đặt dụng cụ tử cung, nạo hút thai, đình sản nam, đình sản nữ và các biện pháp tránh
thai khác. + Phòng và chữa bệnh dại. + Phòng bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị
HIV/AIDS, lậu, giang mai. + Chi phí khám, quản lý thai và đẻ từ con thứ 3 trở đi. + Tiêm
chủng phòng bệnh, điều dưỡng, an dưỡng, khám sức khoẻ định kỳ, khám sức khoẻ tuyển
lao động. + Chỉnh hình thẩm mỹ và tạo hình thẩm mỹ, kính mắt, máy trợ thính, làm chân
tay giả, răng giả, mắt giả, ổ khớp nhân tạo, thuỷ tinh thể nhân tạo, van tim nhân tạo. + Điều
trị phục hồi chức năng ngoài danh mục Bộ Y tế quy đinh. + Các bệnh bẩm sinh và dị tật
bẩm sinh. + Bệnh nghề nghiệp. + Tại nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn chiến tranh,
tai nạn do thiên tai. + Tự tử, cố ý gây thương tích, nghiện chất ma tuý, vi phạm pháp luật.
75