1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phản vệ là một phản ứng dị ứng, có thể xuất hiện ngay lập tức từ vài giây, vài
phút đến vài giờ sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên, gây ra các bệnh cảnh lâm
sàng khác nhau, có thể nghiêm trọng dẫn đến tử vong nhanh chóng [3].
Trong những năm gần đây, vấn đề phản vệ ngày càng được quan tâm nhiều
hơn do tính chất nguy hiểm của nó và người ta cũng nhận thấy tình trạng phản vệ
ngày càng gia tăng. Tỉ lệ SPV tính trên dân sớ hàng năm là 5/1.000.000 trong đó tỉ
lệ tử vong SPV ở châu Âu 5/100.000, ở Mỹ 58,9 /100.000 tại các nước phát triển,
tỷ lệ tử vong mỗi năm do sốc phản vệ là 5- 6 người/1 triệu dân. Ở nước ta, theo GS
Nguyễn Năng An, Chủ nhiệm khoa Dị ứng Bệnh viện Bạch Mai, tỉ lệ SPV vào
khoảng 8,5/1.000.000 người, cao hơn các nước phát triển 1,7 lần. Tuy nhiên Bộ Y tế
chưa có cơng bớ sớ tử vong do sốc phản vệ tại các bệnh viện trong cả nước nhưng
theo ý kiến của các giáo sư đầu ngành, sốc phản vệ vẫn xảy ra thường xuyên, gặp ở
mọi nơi, các bệnh viện và cơ sở y tế. [6]
Một trong những nguyên nhân khiến tình trạng người bệnh tử vong do SPV
cao một phần là do phát hiện chậm trễ, kiến thức yếu, xử trí chậm, tuy nhiên cũng
khơng phải hồn tồn là như vậy mà một trong những nguyên nhân khác khiến
người bệnh tử vong hoặc nặng lên là do nhiều yếu tố nguy cơ như: người bệnh đến
viện muộn, tuổi tác, các bệnh phối hợp, các thuốc đang dùng kèm theo, tiền sử cá
nhân… Do đó việc xác định những yếu tớ nguy cơ này cùng với sự nắm vững kiến
thức về khái niệm, phòng và cấp cứu phản vệ của nhân viên y tế sẽ giúp làm giảm
tỷ lệ tai biến và tử vong do phản vệ. [5]
Chính vì hiểu được tầm quan trọng của việc xử trí sớc phản vệ Bộ Y tế nước
ta có quy định nơi tiêm th́c phải có hộp chớng sớc, phải có phương tiện chớng sớc
phản vệ; khi xảy ra sốc phản vệ phải xử lý kịp thời; đới với những th́c có tiềm
năng gây sớc phản vệ cao thì khơng được dùng tại nhà hay tại nơi khơng có những
điều kiện trên.
Để phịng và chớng sớc phản vệ đạt hiệu quả cao nâng cao chất lượng điều
trị, tạo uy tín cho Bệnh viện, giảm thiểu nguy cơ tử vong do SPV cho người bệnh,
mặt khác bảo vệ cho nhân viên y tế thì tồn bộ nhân viên y tế trong bệnh viện trong
2
đó điều dưỡng viên những người trực tiếp thực hiện các kỹ thuật tiêm truyền trên
người bệnh phải nắm chắc kiến thức về phản vệ và những can thiệp cấp cứu khi xảy
ra được quy định tại Thông tư số 51/2017/TT-BY ngày 29/12/2017 về việc hướng
dẫn phịng, chẩn đốn và xử trí phản vệ. [3]
Trung tâm Y tế huyện Phú Lương đã triển khai thực hiện Thông tư số
51/2017/TT- BYT ngày 29/12/2017 về việc hướng dẫn phịng, chẩn đốn và xử trí
phản vệ từ khi có hiệu lực. Tuy nhiên từ đó đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu
về vấn đề này. Để đánh giá thực trạng kiến thức của nhân viên điều dưỡng, hộ sinh,
(sau đây gọi chung là điều dưỡng viên) về kiến thức phòng và xử phản vệ, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng kiến thức về phòng và xử trí
phản vệ của điều dưỡng viên tại 04 khoa lâm sàng Trung tâm y tế huyện Phú Lương
năm 2021”.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng kiến thức về phịng và xử trí phản vệ của điều dưỡng
viên tại 04 khoa lâm sàng Trung tâm Y tế huyện Phú Lương năm 2021.
2. Xác định một số yếu tố liên quan tới kiến thức phịng và xử trí phản vệ của
điều dưỡng viên tại 04 khoa lâm sàng Trung tâm Y tế huyện Phú Lương năm 2021.
4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa và khái quát chung [3]
1.1.1. Phản vệ: là một phản ứng dị ứng, có thể xuất hiện ngay lập tức từ vài
giây, vài phút đến vài giờ sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên gây ra các bệnh cảnh
lâm sàng khác nhau, có thể nghiêm trọng dẫn đến tử vong nhanh chóng.
1.1.2. Dị ngun: là yếu tớ lạ khi tiếp xúc có khả năng gây phản ứng dị ứng
cho cơ thể, bao gồm thức ăn, thuốc và các yếu tố khác.
1.1.3. Sốc phản vệ: là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn tồn bộ
hệ thớng mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng một vài phút.
1.2. Cơ chế bệnh sinh và nguyên nhân gây sốc phản vệ
1.2.1. Cơ chế bệnh sinh
1.2.1.1. Cơ chế miễn dịch
Là một phản ứng kháng nguyên, trong đó yếu tớ kích thích là dị ngun
(antigen hay allergen) với kháng thể đặc biệt IgE của cơ thể được tổng hợp từ tương
bào.
Phản ứng kháng nguyên - kháng thể này còn được gọi là phản ứng quá mức
ngay tức khắc, hay phụ thuộc kháng thể (regain - dependent) hay đáp ứng hướng tế
bào, là một phản ứng miễn dịch type I như kiểu viêm xoang dị ứng, hay mẩn ngứa
đỏ da, hay hen dị ứng [1], [5].
1.2.1.2. Cơ chế sốc dạng keo
Chất gây sốc tác động trực tiếp hay gián tiếp trên mặt tương bào bạch cầu ái
kiềm phóng thích ra histamine, leukotriene, thơng qua cơ chế miễn dịch IgE kích
thích tương bào hay bạch cầu ái kiềm phóng thích ra các chất trung gian hóa học
như kinin, lymphokin và protein bị men tiêu hủy [1].
1.2.1.3. Cơ chế sốc phản vệ
Do độc tố giống cơ chế sốc của đáp ứng viêm trong sốc nhiễm khuẩn hay
chấn thương.
Cho dù sốc theo cơ chế nào thì, sự giải phóng các chất trung gian hóa học
trong SPV đều gây ra những hậu quả nguy kịch, đe dọa đến tính mạng người bệnh
do tác dụng của các chất trung gian hóa học đó [1].
5
1.2.1.4. Hậu quả sinh bệnh học
- Là sự tăng tính thấm mao quản và tính nhạy cảm quá mức của phế quản gây ra:
+ Phù hầu họng.
+ Co thắt phế quản, tăng tính thấm thành mạch gây phù phổi thơng khí phế
nang giảm nhanh.
+ Tụt huyết áp (HA) nặng cung lượng tim giảm
+ Chậm nhịp tim ngừng tim [1].
1.2.2. Nguyên nhân gây sốc phản vệ
- Các loại thuốc:
+ Kháng sinh: Penicillin và các Bentalactamin khác, Cephalosporin,
Tetracylin, Streptomycin, Erythromycin…
+ Thuốc kháng viêm không steroid: Salicylate, Amidopyrin…
+ Vitamin C: một trong những nguyên nhân gây SPV hay gặp ở nước ta.
+ Thuốc giảm đau, gây mê: Morphin, Codein..…
+ Thuốc gây tê: Procain, Lidocain, Cocain, Thiopental…
+ Thuốc khác: Protamine, Chlorpropamid, viên sắt, thuốc lợi tiểu Thiazide…
+ Th́c để chẩn đốn: th́c cản quang, iod…
+ Các hormon: Insulin, ACTH…
- Các sản phẩm máu: huyết tương, hồng cầu, tiểu cầu, Acid amin….
- Các huyết thanh kháng độc: huyết thanh kháng nọc rắn, kháng uốn ván…
- Nọc của các sinh vật và côn trùng cắn: nọc ong, bọ cạp cắn, nhện cắn, ong
vị vẽ đớt, rắn cắn, một số loại cá biển…
- Thực phẩm và hoa quả: trứng, sữa, đậu, cá, nhộng, dứa…[1] trường hợp
SPV đã được xử lí, nhưng 1-2 tuần lễ sau đó, xuất hiện hen phế quản, mề đay tái
phát nhiều lần, phù Quincke và đôi khi là những bệnh tạo keo (luput ban đỏ hệ
thống, viêm nút quanh động mạch) [5].
1.3. Chẩn đoán phản vệ [3]
1.3.1. Chẩn đoán phản vệ
1.3.1.1. Triệu chứng gợi ý
Nghĩ đến phản vệ khi xuất hiện ít nhất một trong các triệu chứng sau:
6
a) Mày đay, phù mạch nhanh.
b) Khó thở, tức ngực, thở rít.
c) Đau bụng hoặc nơn.
d) Tụt huyết áp hoặc ngất.
e) Rối loạn ý thức.
1.3.1.2. Các bệnh cảnh lâm sàng [3]
* Bệnh cảnh lâm sàng 1: Các triệu chứng xuất hiện trong vài giây đến vài giờ
ở da, niêm mạc (mày đay, phù mạch, ngứa…) và có ít nhất 1 trong 2 triệu chứng sau:
a) Các triệu chứng hô hấp (khó thở, thở rít, ran rít).
b) Tụt huyết áp (HA) hay các hậu quả của tụt HA (rối loạn ý thức, đại tiện,
tiểu tiện không tự chủ…).
* Bệnh cảnh lâm sàng 2: ít nhất 2 trong 4 triệu chứng sau xuất hiện trong
vài giây đến vài giờ sau khi người bệnh tiếp xúc với yếu tố nghi ngờ:
- Biểu hiện ở da, niêm mạc: mày đay, phù mạch, ngứa.
- Các triệu chứng hơ hấp (khó thở, thở rít, ran rít).
- Tụt huyết áp hoặc các hậu quả của tụt huyết áp (rối loạn ý thức, đại tiện,
tiểu tiện không tự chủ…).
- Các triệu chứng tiêu hóa (nơn, đau bụng …).
* Bệnh cảnh lâm sàng 3: Tụt huyết áp xuất hiện trong vài giây đến vài giờ
sau khi tiếp xúc với yếu tố nghi ngờ mà người bệnh đã từng bị dị ứng:
- Trẻ em: giảm ít nhất 30% huyết áp tâm thu (HA tối đa) hoặc tụt huyết áp
tâm thu so với tuổi (huyết áp tâm thu < 70mmHg).
- Người lớn: Huyết áp tâm thu < 90mmHg hoặc giảm 30% giá trị huyết áp
tâm thu nền.
1.3.2 . Chẩn đoán phân biệt [3]
- Các trường hợp sốc: sốc tim, sốc giảm thể tích, sớc nhiễm khuẩn.
- Tai biến mạch máu não.
- Các nguyên nhân đường hô hấp: COPD, cơn hen phế quản, khó thở thanh
quản (do dị vật, viêm).
- Các bệnh lý ở da: mày đay, phù mạch.
7
- Các bệnh lý nội tiết: cơn bão giáp trạng, hội chứng carcinoid, hạ đường máu.
- Các ngộ độc: rượu, opiat, histamin.
1.3.3. Chẩn đoán mức độ phản vệ [3]
Phản vệ được phân thành 4 mức độ như sau:
(lưu ý mức độ phản vệ có thế nặng lên rất nhanh và khơng theo tuần tự)
1.3.3.1. Nhẹ (độ I): Chỉ có các triệu chứng da, tổ chức dưới da và niêm mạc
như mày đay, ngứa, phù mạch.
1.3.3.2. Nặng (độ II): có từ 2 biểu hiện ở nhiều cơ quan:
a) Mày đay, phù mạch xuất hiện nhanh.
b) Khó thở nhanh nơng, tức ngực, khàn tiếng, chảy nước mũi.
c) Đau bụng, nôn, ỉa chảy.
d) Huyết áp chưa tụt hoặc tăng, nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp.
1.3.3.3. Nguy kịch (độ III): biểu hiện ở nhiều cơ quan với mức độ nặng hơn
như sau:
a) Đường thở: tiếng rít thanh quản, phù thanh quản.
b) Thở: thở nhanh, khị khè, tím tái, rới loạn nhịp thở.
c) Rới loạn ý thức: vật vã, hôn mê, co giật, rối loạn cơ trịn.
d) Tuần hồn: sớc, mạch nhanh nhỏ, tụt huyết áp.
1.3.3.4. Ngừng tuần hồn (độ IV): Biểu hiện ngừng hơ hấp, ngừng tuần hồn.
1.4. Xử trí cấp cứu phản vệ [3]
1.4.1. Nguyên tắc chung
a. Tất cả trường hợp phản vệ phải được phát hiện sớm, xử trí khẩn cấp, kịp
thời ngay tại chỗ và theo dõi liên tục ít nhất trong vòng 24 giờ.
b. Bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh viên, kỹ thuật viên, nhân viên y tế khác phải
xử trí ban đầu cấp cứu phản vệ.
c. Adrenalin là th́c thiết yếu, quan trọng hàng đầu cứu sống người bệnh bị
phản vệ, phải được tiêm bắp ngay khi chẩn đoán phản vệ từ độ II trở lên.
d. Ngoài hướng dẫn này, đới với một sớ trường hợp đặc biệt cịn phải xử trí
theo hướng dẫn tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư 51/2017/TT-BYT.
8
1.4.2. Xử trí phản vệ nhẹ (độ I): dị ứng nhưng có thể chuyển thành nặng
hoặc nguy kịch.
a. Sử dụng th́c methylprednisolon hoặc diphenhydramin ́ng hoặc tiêm
tùy tình trạng người bệnh.
b. Tiếp tục theo dõi ít nhất 24 giờ để xử trí kịp thời.
1.4.3 . Phác đồ xử trí cấp cứu phản vệ mức nặng và nguy kịch (độ II, III)
Phản vệ độ II có thể nhanh chóng chuyển sang độ III, độ IV. Vì vậy, phải
khẩn trương, xử trí đồng thời theo diễn biến bệnh:
a. Ngừng ngay tiếp xúc với th́c hoặc dị ngun (nếu có).
b. Tiêm hoặc truyền adrenalin (theo mục 1.4.4 dưới đây).
c. Cho người bệnh nằm tại chỗ, đầu thấp, nghiêng trái nếu có nơn.
d. Thở ô xy: người lớn 6-10 L/phút, trẻ em 2- 4 L/phút qua mặt nạ hở.
e. Đánh giá tình trạng hơ hấp, tuần hoàn, ý thức và các biểu hiện ở da, niêm
mạc của người bệnh.
- Ép tim ngoài lồng ngực và bóp bóng (nếu ngừng hơ hấp, tuần hồn).
- Đặt nội khí quản hoặc mở khí quản cấp cứu (nếu khó thở thanh quản).
f. Thiết lập đường truyền adrenalin tĩnh mạch với dây truyền thông thường
nhưng kim tiêm to (cỡ 14 hoặc 16G) hoặc đặt catheter tĩnh mạch và một đường
truyền tĩnh mạch thứ hai để truyền dịch nhanh (theo mục 1.4.4 dưới đây).
g. Hội ý với các đồng nghiệp, tập trung xử lý, báo cáo cấp trên, hội chẩn với
bác sĩ chuyên khoa cấp cứu, hồi sức và/hoặc chuyên khoa dị ứng (nếu có).
1.4.4. Phác đồ sử dụng adrenalin và truyền dịch [3]
Mục tiêu: nâng và duy trì ổn định HA tối đa của người lớn lên > 90mmHg,
trẻ em > 70mmHg và khơng cịn các dấu hiệu về hơ hấp như thở rít, khó thở; dấu
hiệu về tiêu hóa như nơn mửa, ỉa chảy.
1.4.4.1. Thuốc adrenalin 1mg = 1ml = 1 ống, tiêm bắp:
a. Trẻ sơ sinh hoặc trẻ < 10kg: 0,2ml (tương đương 1/5 ống).
b. Trẻ khoảng 10 kg: 0,25ml (tương đương 1/4 ống).
c. Trẻ khoảng 20 kg: 0,3ml (tương đương 1/3 ống).
d. Trẻ > 30kg: 0,5ml (tương đương 1/2 ống).
9
e. Người lớn: 0,5-1 ml (tương đương 1/2-1 ống).
1.4.4.2. Theo dõi huyết áp 3-5 phút/lần.
1.4.4.3. Tiêm nhắc lại adrenalin liều như trên 3-5 phút lần cho đến khi huyết
áp và mạch ổn định.
1.4.4.4. Nếu mạch không bắt được và huyết áp không đo được, các dấu hiệu
hô hấp và tiêu hóa nặng lên sau 2-3 lần tiêm bắp như trên hoặc có nguy cơ ngừng
tuần hồn phải:
a. Nếu chưa có đường truyền tĩnh mạch: Tiêm tĩnh mạch chậm dung dịch
adrenalin 1/10.000 (1 ống adrenalin 1 mg pha với 9ml nước cất = pha loãng 1/10).
Liều adrenalin tiêm tĩnh mạch chậm trong cấp cứu phản vệ chỉ bằng 1/10 liều
adrenalin tiêm tĩnh mạch trong cấp cứu ngừng tuần hoàn. Liều dùng:
- Người lớn: 0,5-1 ml (dung dịch pha lỗng l/10.000=50-100 µg) tiêm trong 1
-3 phút, sau 3 phút có thể tiêm tiếp lần 2 hoặc lần 3 nếu mạch và huyết áp chưa lên.
Chuyển ngay sang truyền tĩnh mạch liên tục khi đã thiết lập được đường truyền.
- Trẻ em: Không áp dụng tiêm tĩnh mạch chậm.
b. Nếu đã có đường truyền tĩnh mạch, truyền tĩnh mạch liên tục adrenalin
(pha adrenalin với dung dịch natriclorid 0,9%) cho người bệnh kém đáp ứng với
adrenalin tiêm bắp và đã được truyền đủ dịch. Bắt đầu bằng liều 0,1 µg/kg/phút, cứ
3-5 phút điều chỉnh liều adrenalin tùy theo đáp ứng của người bệnh.
c. Đồng thời với việc dùng adrenalin truyền tĩnh mạch liên tục, truyền nhanh
dung dịch natriclorid 0,9% 1.000ml-2.000ml ở người lớn, 10-20ml/kg trong 10- 20
phút ở trẻ em có thể nhắc lại nếu cần thiết.
1.4.4.5. Khi đã có đường truyền tĩnh mạch adrenalin với liều duy trì huyết áp
ổn định thì có thể theo dõi mạch và huyết áp 1 giờ/lần đến 24 giờ.
10
Bảng 1.1: Bảng tham khảo cách pha loãng adrenalin với dung dịch NaCl
0,9% và tốc độ truyền tĩnh mạch chậm:
01 ống Adrenalin 1mg pha với 250 ml Nacl 0,9% (Như vậy 1ml dung dịch
pha lỗng được 0,4µg Adrenalin)
Cân nặng Người bệnh
(Kg)
Khoảng 80
Khoảng 70
Khoảng 60
Khoảng 50
Khoảng 40
Khoảng 30
Khoảng 20
Khoảng 10
Liều truyền tĩnh mach
Adrenalin khởi đầu
(0,1µ/kg/phút)
2ml
0,75 ml
0,50 ml
0,25 ml
1 ml
0,75 ml
0,50 ml
0,25 ml
Tốc độ giọt/ phút
(với kim tiêm 1ml=20
giọt)
40 giọt
35 giọt
30 giọt
25 giọt
20 giọt
15 giọt
10 giọt
5 giọt
1.4.5 . Xử trí tiếp theo
1.4.5.1. Hỗ trợ hơ hấp, tuần hồn: Tuỳ mức độ suy tuần hồn, hơ hấp có thể
sử dụng một hoặc các biện pháp sau đây:
a) Thở oxy qua mặt nạ: 6-10 lít/phút cho người lớn, 2-4 lít/phút ở trẻ em,
b) Bóp bóng AMBU có oxy,
c) Đặt ớng nội khí quản thơng khí nhân tạo có ơ xy nếu thở rít tăng lên khơng
đáp ứng với adrenalin,
d) Mở khí quản nếu có phù thanh mơn-hạ họng khơng đặt được nội khí quản,
đ) Truyền tĩnh mạch chậm: aminophyllin lmg/kg/giờ hoặc salbutamol 0,1
µg/kg/phút hoặc terbutalin 0,lµg/kg/phút (tớt nhất là qua bơm tiêm điện hoặc máy
truyền dịch),
e) Có thể thay thế aminophyllin bằng salbutamol 5mg khí dung qua mặt nạ
hoặc xịt họng salbutamol l00µg người lớn 2-4 nhát/lần, trẻ em 2 nhát/lần, 4-6 lần
trong ngày.
1.4.5.2. Nếu không nâng được huyết áp theo mục tiêu sau khi đã truyền đủ
dịch và adrenalin, có thể truyền thêm dung dịch keo (huyết tương, albumin hoặc bất
kỳ dung dịch cao phân tử nào sẵn có).
11
1.4.5.3. Thuốc khác
- Methylprednisolon 1-2mg/kg ở người lớn, tối đa 50mg ở trẻ em hoặc
hydrocortison 200mg ở người lớn, tối đa 100mg ở trẻ em, tiêm tĩnh mạch (có thể
tiêm bắp ở tuyến cơ sở).
- Kháng histamin H1 như diphenhydramin tiêm bắp hoặc tĩnh mạch: người
lớn 25-50mg và trẻ em 10-25mg.
- Kháng histamin H2 như ranitidin: ở người lớn 50mg, ở trẻ em 1mg/kg pha
trong 20ml Dextrose 5% tiêm tĩnh mạch trong 5 phút.
- Glucagon: sử dụng trong các trường hợp tụt huyết áp và nhịp chậm không
đáp ứng với adrenalin. Liều dùng: người lớn l-5mg tiêm tĩnh mạch trong 5 phút, trẻ
em 20-30mcg/kg, tới đa lmg, sau đó duy trì truyền tĩnh mạch 5-15mcg/phút tuỳ theo
đáp ứng lâm sàng. Bảo đảm đường thở tớt vì glucagon thường gây nơn.
- Có thể phới hợp thêm các th́c vận mạch khác: dopamin, dobutamin,
noradrenalin truyền tĩnh mạch khi người bệnh có sớc nặng đã được truyền đủ dịch
và adrenalin mà huyết áp không lên.
1.4.6. Theo dõi [3]
- Trong giai đoạn cấp: theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, SpCO2 và tri giác
3-5 phút/lần cho đến khi ổn định.
- Trong giai đoạn ổn định: theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO2 và tri
giác mỗi 1-2 giờ trong ít nhất 24 giờ tiếp theo.
- Tất cả các người bệnh phản vệ cần được theo dõi ở cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh đến ít nhất 24 giờ sau khi huyết áp đã ổn định và đề phòng phản vệ pha 2.
- Ngừng cấp cứu: nếu sau khi cấp cứu ngừng tuần hồn tích cực không kết quả.
1.4.7. Hộp thuốc cấp cứu phản vệ và trang thiết bị y tế [3]
(Ban hành kèm theo Thông tư số 51/2017/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm
2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
12
Bảng 1.2: Thành phần hộp thuốc cấp cứu phản vệ
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
Nội dung
Phác đồ, sơ đồ xử trí cấp cứu phản vệ .
Bơm kim tiêm vô khuẩn
- Loại 10ml
- Loại 5ml
- Loại lml
- Kim tiêm 14-16G
Bông tiệt trùng tẩm cồn
Dây garo
Adrenalin lmg/lml
Methylprednisolon 40mg
Diphenhydramin 10mg
Nước cất 10ml
bản
Số
lượng
01
cái
cái
cái
cái
gói/hộp
cái
ớng
Lọ
ớng
ớng
02
02
02
02
01
02
05
02
05
03
Đơn vị
1.4.8. Trang thiết bị y tế và thuốc tối thiểu cấp cứu phản vệ tại cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh.
- Oxy.
- Bóng AMBU và mặt nạ người lớn và trẻ nhỏ.
- Bơm xịt salbutamol.
- Bộ đặt nội khí quản và/hoặc bộ mở khí quản và/hoặc mask thanh quản.
- Nhũ dịch Lipid 20% lọ 100ml (02 lọ) đặt trong tủ thuốc cấp cứu tại nơi sử
dụng thuốc gây tê, gây mê.
- Các thuốc chống dị ứng đường uống.
- Dịch truyền: natriclorid 0,9%.
1.4.9. Chỉ định làm test lẩy da [3]
- Không thử phản ứng (test) cho tất cả các loại th́c trừ những trường hợp
có chỉ định theo quy định tại khoản ngay dưới đây.
- Phải tiến hành test da trước khi sử dụng thuốc hoặc dị nguyên nếu người
bệnh có tiền sử dị ứng với th́c hoặc dị ngun có liên quan (th́c, dị ngun
13
cùng nhóm hoặc có phản ứng chéo) và nếu người bệnh có tiền sử phản vệ với nhiều
dị nguyên khác nhau.
- Khi thử test phải có sẵn các phương tiện cấp cứu phản vệ.
- Việc làm test da theo quy định tại Phụ lục IX ban hành kèm theo Thông tư
51/2017/TT-BYT.
- Nếu người bệnh có tiền sử dị ứng với thuốc hoặc dị nguyên và kết quả test
da (lẩy da hoặc nội bì) dương tính thì khơng được sử dụng th́c hoặc dị ngun đó.
- Nếu người bệnh có tiền sử dị ứng thuốc hoặc dị nguyên và kết quả test lẩy
da âm tính với dị ngun đó thì tiếp tục làm test nội bì.
- Nếu người bệnh có tiền sử dị ứng thuốc và kết quả test lẩy da và nội bì âm
tính với th́c hoặc dị ngun, trong trường hợp cấp cứu phải sử dụng th́c (khơng
có th́c thay thế) cần cân nhắc làm test kích thích và/hoặc giải mẫn cảm nhanh với
thuốc tại chuyên khoa dị ứng hoặc các bác sĩ đã được tập huấn về dị ứng-miễn dịch
lâm sàng tại cơ sở y tế có khả năng cấp cứu phản vệ và phải được sự đồng ý của
người bệnh hoặc đại diện hợp pháp của người bệnh bằng văn bản.
- Sau khi tình trạng dị ứng ổn định được 4-6 tuần, khám lại chuyên khoa dị
ứng-miễn dịch lâm sàng hoặc các chuyên khoa đã được đào tạo về dị ứng-miễn dịch
lâm sàng cơ bản để làm test xác định nguyên nhân phản vệ.
1.4.10. Quy trình làm test lẩy da và test nội bì
1.4.10.1. Test lẩy da
a) Giải thích cho người bệnh hoặc đại diện hợp pháp của người bệnh và ký
xác nhận vào mẫu phiếu đề nghị thử test.
b) Chuẩn bị phương tiện (kim lẩy da, bơm kim tiêm vô trùng, dung dịch
histamin 1mg/ml, thước đo kết quả, hộp cấp cứu phản vệ, thuốc hoặc dị ngun
được chuẩn hóa).
c) Sát trùng vị trí thử test (những vị trí rộng rãi khơng có tổn thương da như
mặt trước trong cẳng tay, lưng), đợi khô.
14
d) Nhỏ các giọt dung dịch cách nhau 3-5cm, đánh dấu tránh nhầm lẫn:
- 1 giọt dung dịch natriclorid 0,9% (chứng âm).
- 1 giọt dung dịch thuốc hoặc dị nguyên nghi ngờ.
- 1 giọt dung dịch histamin 1mg/ml (chứng dương).
e) Kim lẩy da cắm vào giữa giọt dung dịch trên mặt da tạo một góc 45o rồi
lẩy nhẹ (khơng chảy máu), nếu là loại kim nhựa 1 đầu có hãm, chỉ cần ấn thẳng kim
qua giọt dung dịch vng góc với mặt da, dùng giấy hoặc bông thấm giọt dung dịch
sau khi thực hiện kỹ thuật.
f) Đọc kết quả sau 20 phút, kết quả dương tính khi xuất hiện sẩn ở vị trí dị
nguyên lớn hơn 3mm hoặc trên 75% so với chứng âm.
1.4.10.2. Test nội bì [3]
a) Giải thích cho bệnh nhân hoặc đại diện hợp pháp của bệnh nhân và ký xác
nhận vào mẫu phiếu đề nghị thử test.
b) Chuẩn bị dụng cụ (dung dịch natriclorid 0,9%, bơm kim tiêm vô trùng
loại 1ml, thước đo kết quả, hộp cấp cứu phản vệ, thuốc hoặc dị nguyên được chuẩn hóa).
c) Sát trùng vị trí thử test (những vị trí rộng rãi khơng có tổn thương da như
mặt trước trong cẳng tay, lưng,..), đợi khô.
d) Dùng bơm tiêm 1ml tiêm trong da các điểm cách nhau 3-5cm, mỗi điểm
0,02-0,05ml tạo một nớt phồng đường kính 3mm theo thứ tự:
- Điểm 1: dung dịch natriclorid 0,9% (chứng âm).
- Điểm 2: dung dịch th́c hoặc dị ngun đã chuẩn hóa.
e) Đọc kết quả sau 20 phút, kết quả dương tính khi xuất hiện sẩn ở vị trí dị
nguyên ≥ 3mm hoặc trên 75% so với chứng âm.
1.5. Nguyên tắc dự phòng phản vệ [3]
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bác sĩ, nhân viên y tế phải bảo đảm các nguyên
tắc dự phòng phản vệ sau đây:
15
- Chỉ định đường dùng thuốc phù hợp nhất, chỉ tiêm khi không sử dụng được
đường dùng khác.
- Không phải thử phản ứng cho tất cả thuốc trừ trường hợp có chỉ định của
bác sĩ theo quy định tại Phụ lục VIII ban hành kèm theo Thông tư này.
- Không được kê đơn thuốc, chỉ định dùng thuốc hoặc dị nguyên đã biết rõ
gây phản vệ cho người bệnh.
Trường hợp khơng có th́c thay thế phù hợp mà cần dùng thuốc hoặc dị
nguyên đã gây phản vệ cho người bệnh phải hội chẩn chuyên khoa dị ứng-miễn
dịch lâm sàng hoặc do bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đốn và xử trí phản
vệ để thớng nhất chỉ định và phải được sự đồng ý bằng văn bản của người bệnh
hoặc đại diện hợp pháp của người bệnh.
Việc thử phản ứng trên người bệnh với thuốc hoặc dị nguyên đã từng gây dị
ứng cho người bệnh phải được tiến hành tại chuyên khoa dị ứng-miễn dịch lâm sàng
hoặc do các bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đốn và xử trí phản vệ thực hiện.
- Tất cả trường hợp phản vệ phải được báo cáo về Trung tâm Quốc gia về
Thông tin Thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của th́c hoặc Trung tâm Khu vực
Thành phớ Hồ Chí Minh về Thơng tin Th́c và Theo dõi phản ứng có hại của th́c
theo mẫu báo cáo phản ứng có hại của th́c hiện hành theo quy định tại Phụ lục V
ban hành kèm theo Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011 của Bộ
trưởng Bộ Y tế về quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện.
- Bác sĩ, người kê đơn th́c hoặc nhân viên y tế khác có thẩm quyền phải
khai thác kỹ tiền sử dị ứng thuốc, dị nguyên của người bệnh trước khi kê đơn thuốc
hoặc chỉ định sử dụng thuốc theo quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Thông
tư này. Tất cả thông tin liên quan đến dị ứng, dị nguyên phải được ghi vào sổ khám
bệnh, bệnh án, giấy ra viện, giấy chuyển viện.
- Khi đã xác định được thuốc hoặc dị nguyên gây phản vệ, bác sĩ, nhân viên
y tế phải cấp cho người bệnh thẻ theo dõi dị ứng ghi rõ tên thuốc hoặc dị nguyên
gây dị ứng theo hướng dẫn tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Thông tư này, giải
thích kỹ và nhắc người bệnh cung cấp thơng tin này cho bác sĩ, nhân viên y tế mỗi
khi khám bệnh, chữa bệnh.
16
1.6. Chăm sóc bệnh nhân sốc phản vệ [2]
1.6.1. Vai trị của việc theo dõi và chăm sóc bệnh nhân sốc phản vệ
SPV là tai biến dị ứng nghiêm trọng nhất dễ gây tử vong được biểu hiện trên
lâm sàng băng tình trạng tụt HA và giảm tưới máu cho tổ chức gây rới loạn chuyển
hố tế bào. Do đó, cần phải có một đội ngũ các bác sĩ và điều dưỡng chuyên nghiệp
cùng với các trang thiết bị máy móc hiện đại để có thể xử lý các tình h́ng một
cách kịp thời tránh các trường hợp xấu có thể xảy ra [2].
1.6.2. Quy trình điều dưỡng chăm sóc người bệnh sốc phản vệ
1.6.2.1. Nhận định tình trạng người bệnh
- Đánh giá tình trạng hơ hấp:
+ Tần sớ, biện độ, kiểu thở
+ Dấu hiệu suy hơ hấp: tím tái, co kéo cơ hô hấp, vật vã, hốt hoảng…
- Đánh giá tình trạng tuần hồn máu
+ HA, mạch, nhịp tim
+ Dấu hiệu giảm tưới máu tạng (cơ quan):
+ Da lạnh, ẩm, xanh tái, nổi vân tím
+ Đái ít, vơ niệu
+ Vật vã, kích thích, lờ đờ, chậm chạp, hơn mê, lú lẫn…
- Nhận định các biểu hiện triệu chứng của nguyên nhân gây ra sốc
+ Đau ngực, vã mồ hôi
+ Nôn ra máu, đại tiện phân đen hoặc phân lỏng nhiều nước
+ Tồn thân có biểu hiện tình tạng nhiễm trùng, nhiễm độc…
- Tiền sử bệnh: nhanh chóng hỏi tiền sử, bệnh sử (qua người bệnh, người
nhà…) để tìm nguyên nhân. Cụ thể là tiền sử tiếp xúc dị nguyên và tiền sử dị ứng
th́c [5].
1.6.2.2. Chẩn đốn điều dưỡng
- Nguy cơ suy tuần hoàn cấp liên quan đến giãn mạch ngoại vi
- Nguy cơ suy hô hấp liên quan đến co thắt phế quản và thiếu oxy.
- Người bệnh lo sợ, hoảng hốt liên quan đến các phản ứng của dị nguyên gây ra.
- Nguy cơ suy thận liên quan đến tụt HA làm giảm tưới máu thận
17
- Rối loạn chức năng hoạt động của não liên quan đến thiếu oxy não
- Các chăm sóc cơ bản: ăn uống, vệ sinh, theo dõi… [5]
1.6.2.3. Lập kế hoạch chăm sóc [1]
Qua nhận định, điều dưỡng cần phân tích, tổng hợp các dữ liệu để xác định
nhu cầu cẩn thiết của bệnh nhân, từ đó lập ra những kế hoạch chăm sóc cụ thể đề
xuất những vấn đề ưu tiên, thứ tự thực hiện các vấn đề cho từng trường hợp cụ thể.
- Tăng cường tuần hoàn tới các cơ quan
+ Cầm máu (nếu chảy máu)
+ Nằm đầu thấp để đảm bảo tuần hồn não
+ Hồi phục khới lượng tuần hoàn: truyền dịch, truyền máu, chuẩn bị và phụ
giúp bác sĩ đặt catheter tĩnh mạch trung tâm để bù nước, điện giải và đánh giá tiến
triển của sốc.
+ Theo dõi đáp ứng với dịch truyền và đề phòng quá tải tuần hồn.
- Làm thơng thống đường hơ hấp
+ Hút đờm dãi, đặt canuyn đề phòng tụt lưỡi.
+ Cho thở oxy theo y lệnh
+ Phụ giúp bác sĩ đặt nội khí quản, thở máy trong các trường hợp sớc nặng.
+ Theo dõi màu sắc da niêm mạc, tần số thở, kiểu thở
+ Ghi nhận và trình các kết quả xét nghiệm khí máu động mạch
- Thực hiện y lệnh
+ Th́c và các xét nghiệm đầy đủ và chính xác
+ Đặt sonde tiểu để theo dõi lưu lượng nước tiểu, tiên lượng sốc
+ Đặt sonde dạ dày trong trường hợp nghi ngờ mất máu do chảy máu dạ dày
để theo dõi, điều trị và nuôi dưỡng.
- Theo dõi liên tục các thông số sau
+ Theo dõi HA 15 phút/lần cho đến khi HA đạt 90/60 mmHg. Sau đó theo
dõi 3 giờ/lần cho đến khi mạch và HA trở về bình thường và ổn định.
+ Áp lực tĩnh mạch trung tâm 15 phút/lần khi làm xét nghiệm và 1 – 3
giờ/lần trong q trình điều trị
+ Theo dõi đề phịng trụy mạch
18
+ Nhịp thở: để phát hiện và xử lý suy hô hấp kịp thời
+ Đo thân nhiệt 2 – 3 giờ/lần
+ Theo dõi nước tiểu từng giờ. Nếu có nước tiểu và nước tiểu tăng dần là tớt.
- Chăm sóc tồn thân, ni dưỡng và giáo dục sức khỏe
+ Chăm sóc về tinh thần: nhẹ nhàng, ân cần để BN yên tâm
+ Vệ sinh thân thể cho BN tại giường
+ Hướng dẫn BN và người nhà những chăm sóc khi về gia đình
- Giảm lo lắng và sợ hãi
+ Để BN nằm nơi yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đơng
+ ĐD ln có mặt để theo dõi, động viên BN
+ Giải thích và trấn an BN
+ Giữ ấm hoặc hạ nhiệt cho BN.
1.6.2.4. Thực hiện kế hoạch chăm sóc [1]
Cần ghi rõ giờ thực hiện các hoạt động chăm sóc. Các hoạt động chăm sóc
cần được tiến hành theo thứ tự ưu tiên trong kế hoạch chăm sóc, các hoạt động theo
dõi cần được thực hiện đúng khoảng cách thời gian trong kế hoạch, các thông sớ
cần được ghi chép đầy đủ, chính xác và báo cáo kịp thời .
a. Đảm bảo tuần hoàn
- Tư thế: người bệnh nằm đầu thấp, chân cao
- Adrenalin: là thuốc quyết định thành công điều trị (liều lượng, đường tiêm
theo y lệnh của bác sĩ). Trong khi chờ y lệnh của bác sĩ, ĐD tiêm ngay Adrenalin
theo phác đồ.
- Thực hiện y lệnh thuốc: thuốc chống dị ứng và các thuốc khác
- Đặt đường truyền tĩnh mạch, truyền dịch theo y lệnh
- Đo áp lực tĩnh mạch trung tâm, chuẩn bị dụng cụ và hỗ trợ bác sĩ làm thủ thuật.
b. Đảm bảo hô hấp
- Tư thế nằm nghiêng an tồn nếu người bệnh nơn, hơn mê
- Hút đờm dãi, đặt canuyl miệng nếu người bệnh tụt lưỡi
- Bóp bóng Ambu nếu người bệnh ngừng thở hoặc thở yếu
- Cho thở oxy mũi 4 lít/phút
19
- Hỗ trợ đặt nộ khí quản và thở máy nếu suy hô hấp hoặc sốc nặng: chuẩn bị
dụng cụ đạt nội khí quản, chuẩn bị máy thở.
b. Loại bỏ, cách ly nguyên nhân
- Khi người bệnh có dấu hiệu bồn chồn, lo lắng, hoảng hốt, điều dưỡng phải
lập tức cho ngừng ngay các chất tiếp xúc như thức ăn, quả và thức uống hoặc thuốc
tiêm truyền…
- Nếu nguyên nhân qua đường tiêu hóa: rửa dạ dày, dùng than hoạt hoặc
sorbitol.
c. Xét nghiệm cận lâm sàng
Xét nghiệm cơ bản: điện tim, công thức máu, điện giải đồ, ure, creatinine,
đường máu, khí máu động mạch.
d. Lập bảng theo dõi
Tùy theo tình trạng cụ thể của người bệnh
- Mạch, HA và các dấu hiệu tưới máu ngoại biên: 15 phút/lần đến khi HA lên
90/60 mmHg, sau đó 3 giờ/lần đến khi HA ổn định.
- Nhịp thở, SpO2: 15 – 30 phút/lần khi đang suy hô hấp
- Cân bằng nước vào ra và theo dõi cân nặng: hàng ngày
- Sự bài tiết: đặt ống thông tiểu để lưu ống thông và theo dõi lượng nước tiểu
1 giờ/lần, đến khi HA ổn định, nếu nước tiểu ít, vơ niệu trong 6 giờ là tiên lượng
xấu, phải thông báo ngay cho bác sĩ.
- Đặt ống thơng dạ dày: để theo dõi xuất huyết tiêu hóa (nếu có) và ni
dưỡng người bệnh nếu người bệnh khơng ăn được đường miệng.
- Theo dõi tình trạng ý thức của người bệnh
e. Phòng bệnh và giáo dục sức khỏe
- Thông báo cho người bệnh và người thân biết: người bệnh bị sốc phản vệ,
và chất gây sốc phản vệ.
- Cung cấp cho người bệnh và người nhà biết nguyên nhân, các biểu hiện
cũng như diễn biến của sốc phản vệ.
- Dặn dò người bệnh và người nhà phải báo cáo tiền sử dị ứng nhất là tiền sử
dị ứng thuốc.
20
- Hướng dẫn người bệnh loại bỏ tất cả những nguyên nhân gây dị ứng và sốc,
tránh tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng, nếu SPV do thuốc phải thông báo cho
bác sĩ biết mỗi khi khám bệnh.
- Khơng tự ý dùng th́c khi chưa có chỉ định của bác sĩ.
- Tuyệt đối không sử dụng, tiếp xúc với các loại thuốc đã gây SPV trong tiền sử.
- Đối với nhân viên y tế:
+ Phải cảnh giác với tất cả những người bệnh có nguy cơ sớc: trước tiên tiêm
truyền kháng sinh và làm test cho người bệnh phải hỏi kỹ tiền sử dị ứng thuốc.
+ Khi tiêm truyền cho người bệnh ln phải có hộp th́c phịng chớng sớc
bên cạnh.
1.6.2.4. Đánh giá
Người bệnh SPV được chăm sóc tớt khi tình trạng lâm sàng của người bệnh
được cải thiện, kiểm soát .
- Phát hiện sớm các dị nguyên, cách ly hiệu quả các dị nguyên
- Người bệnh được theo dõi chặt chẽ không để xảy ra các biến chứng
- Người bệnh và gia đình yên tâm hợp tác điều trị.
1.7. Một số nghiên cứu phản vệ trên thế giới và trong nước
1.7.1. Trên thế giới
Theo những dữ liệu công bố gần đây, tỷ lệ sốc phản vệ ngày càng gia tăng
trong những năm gần đây. Ước tính, khoảng 1- 2% dân sớ tồn thế giới có ít nhất
một lần sốc phản vệ trong đời, riêng Châu Âu là 4-5 trường hợp SPV/10.000 dân
mỗi năm, ở Mỹ những năm gần đây là 58,9 trường hợp/100.000 dân hàng năm. Tỷ
lệ tử vong của sớc phản vệ ước tính là 1% [7]. Nguyên nhân phổ biến nhất gây ra
sốc phản vệ là thức ăn, nọc côn trùng và thuốc.
Trong một nghiên cứu lớn gần đây, trong 601 bệnh nhân bị sốc phản vệ ở Mỹ
có tới 22% nguyên nhân do thức ăn, 11% do thuốc. Penicilin và nọc côn trùng vẫn
là những nguyên nhân phổ biến nhất [7]. Thuốc là nguyên nhân gây SPV hay gặp
nhất. Trong đó, các th́c hay gặp phải kể đến kháng sinh, thuốc cản quang chứa
Iode, NSAIDs, radiocontrats, những thuốc sử dụng trong giai đoạn hậu phẫu là hay
gặp nhất [7]. Nghiên cứu của Liew WK và cộng sự năm 2009 cho thấy tại Úc, thuốc
21
là nguyên nhân hay gặp nhất gây tử vong do SPV. Trong 105 trường hợp SPV
khơng do thức ăn thì có tới 64 trường hợp là do th́c. Nhóm tuổi tử vong cao nhất
là từ 55 tuổi trở lên, với số lượng tương tự ở cả nam và nữ. Penicilline là nguyên
nhân gây tử vong chủ yếu ở các nhóm tuổi từ 60-74 tuổi, tử vong do cephalosporin
hay gặp ở nhóm từ 35 đến 74 tuổi [6]. Tỷ lệ SPV do nọc côn trùng ở mỗi vùng địa
lý khác nhau tùy thuộc vào khí hậu của từng vùng. Ở Châu Âu tỷ lệ những phản
ứng hệ thống do nọc côn trùng vào khoảng từ 0,5 - 7,5% tùy từng vùng. Tỷ lệ sốc
phản vệ được ghi nhận khoảng 0,6 – 42% các trường hợp và thường thấp ở trẻ em
[4]. Trong những nghiên cứu dựa trên dân số mới nhất của sốc phản vệ do bất kỳ
nguyên nhân nào, SPV do nọc côn trùng chiếm khoảng 7,3 - 59% tổng số trường
hợp được báo cáo.
1.7.2. Tại Việt Nam
Cho đến nay, trong lĩnh vực y tế, việc dự báo sớm nhằm ngăn ngừa các phản
ứng dị ứng th́c nói chung và phản vệ nói riêng trong thực tế cịn gặp rất nhiều khó
khăn. Trong những năm gần đây, sớ lượng các trường hợp tử vong do sốc phản vệ
ngày càng tăng lên và được nhiều người quan tâm. Theo Gs Nguyễn Năng An, dị
ứng thuốc chiếm tỷ lệ cao (hơn 8,5% dân sớ) tại nhiều địa phương, Trong đó, sớc
phản vệ chiếm khoảng 10% các ca dị ứng th́c, có khoảng 10% tử vong do sốc
phản vệ. Nguyên nhân chủ yếu do nhân viên y tế đặc biệt là điều dưỡng và kỹ thuật
viên phát hiện muộn, xử lý chậm [5].
Năm 1960, Võ Văn Vinh thông báo trường hợp phản vệ do penicilin đầu tiên.
Nghiên cứu về dị ứng thuốc ở Hà Nội của Nguyễn Năng An (1970- 1973) đã chỉ ra
rằng tai biến dị ứng thuốc ngày càng tăng với nhiều loại thuốc nhưng chủ yếu là
kháng sinh [5].
Theo khảo sát 137 điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng của Nguyễn
Thanh Vân tại Bệnh viện Bắc Thăng Long cho kết quả: 10,2% số điều dưỡng cho
rằng máu và sản phẩm của máu không là nguyên nhân SPV, chỉ có 52,6% hiểu đúng
SPV có thể xảy ra ngay ở lần dùng đầu tiên hoặc những lần sau, 14,6% số điều
dưỡng được khảo sát chưa biết cách xử trí tại chỗ khi bệnh nhân bị SPV. Đặc biệt,
có đến 78,1% điều dưỡng chưa biết nồng độ dung dịch kháng sinh thử test. Nghiên
22
cứu cũng chỉ ra rằng các điều dưỡng cao đẳng và đại học có kiến thức đúng cao hơn
về ý nghĩa thống kê so với điều dưỡng trung cấp về: thời điểm xuất hiện sớc, cách
xử trí tại chỗ và khoảng cách tiêm Adrenalin,.. [10].
Một nghiên cứu tại Bệnh viện K của Tạ Thị Anh Thơ (2016) cho thấy: trong
140 điều dưỡng tham gia nghiên cứu, số điều dưỡng trả lời sai về nguyên nhân gây
SPV chiếm tỷ lệ không nhỏ (do đường dùng th́c là 75%, do hóa chất là 23,6%, do
thực phẩm là 57%, do nọc sinh vật và côn trùng là 35%, do lạnh là 66,4% và đặc
biệt vẫn cịn 17,1% khơng nhận thức đúng vai trị của máu và chế phẩm của máu
trong nguyên nhân sốc phản vệ) [9].
Nghiên cứu của Hoàng Văn Sáng tại Bệnh viện 354 năm 2012 cho kết quả:
68% trong tổng số 125 điều dưỡng được khảo sát chưa nắm được đường tiêm
Adrenaline để cấp cứu người bệnh, số điều dưỡng cho rằng SPV khơng do ngun
nhân hóa chất và thức ăn chiếm 46,4%. Chỉ có 78,4% điều dưỡng ý thức được rằng
cần tiêm Adrenaline để cấp cứu kịp thời người bệnh khi bác sỹ khơng có mặt.
Nghiêm trọng hơn, vẫn cịn 67,2% điều dưỡng hiểu sai nồng độ dung dịch kháng
sinh khi thử test và thời gian đọc kết quả [8]. Điều dưỡng - kỹ thuật viên là những
người trực tiếp tiếp xúc và sử dụng th́c cho người bệnh. Chính vì thế, việc phát
hiện sớm những biểu hiện triệu chứng của SPV trên người bệnh cùng với thái độ
khẩn trương cấp cứu, xử trí người bệnh SPV sẽ làm giảm đáng kể tỷ lệ tai biến cũng
như tỷ lệ tử vong trên người bệnh SPV.
1.8. Khái quát chung về Trung tâm Y tế huyện Phú Lương
Trung tâm Y tế huyện Phú Lương là trung tâm y tế hạng III, được thành lập
tại Quyết định số 1707/QĐ-UBND ngày 21/6/2018 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái
Nguyên về việc tổ chức lại Trung tâm Y tế huyện Phú Lương trên cơ sở sáp nhập
Trung tâm Y tế huyện Phú Lương và Bệnh viện đa khoa Phú Lương trực thuộc Sở Y
tế tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay Trung tâm có 02 cơ sở: cơ sở 1 làm công tác khám,
điều trị và chăm sóc người bệnh, cơ sở 2 làm cơng tác dự phịng. Trung tâm y tế
huyện Phú Lương có 05 phịng chức năng và 09 khoa trong đó: 03 khoa dự phịng,
01 khoa dược, 01 khoa xét nghiệm – chẩn đốn hình ảnh và 04 khoa lâm sàng khám
bệnh và điều trị cho bệnh nhân nội trú. Tại 04 khoa lâm sàng là: Khám bệnh, Ngoại
23
– Chăm sóc sức khỏe sinh sản – Liên chuyên khoa, Nội – Nhi – Truyền nhiễm – Hồi
sức cấp cứu và Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng có tổng sớ 36 điều dưỡng, hộ
sinh, kỹ thuật viên làm cơng tác chăm sóc người bệnh.
- Từ năm 2018 Trung tâm Y tế huyện Phú Lương tổ chức tập huấn lại cho
tồn bộ NVYT về thơng tư sớ 51/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế về
việc hướng dẫn phịng, chẩn đốn và xử trí phản vệ, sau tổ chức tập huấn đã củng
cố lại một số vấn đề về cấp cứu phản vệ như thay đổi danh mục, kỹ thuật làm test
lẩy da, bổ sung thêm một số trang thiết bị cấp cứu. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có
nghiên cứu nào về vấn đề này.
24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Điều dưỡng viên, hộ sinh viên (sau đây gọi chung là điều dưỡng viên) đang
làm việc tại 04 khoa lâm sàng Trung tâm Y tế huyện Phú Lương.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Là điều dưỡng viên công tác tại 04 khoa lâm sàng của Trung tâm Y tế
huyện Phú Lương trong thời gian nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Không đưa vào nghiên cứu những trường hợp:
+ Điều dưỡng viên: đi học, nghỉ thai sản…
+ Các đối tượng khơng khơng phải nhân viên chính thức của Trung tâm Y tế
huyện Phú Lương: học việc, học sinh/sinh viên thực tập.
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1. Thời gian
- Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2021
2.2.2. Địa điểm
- Tại 04 khoa lâm sàng của Trung tâm Y tế huyện Phú Lương.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp
Mô tả cắt ngang
2.3.2. Cách thức tiến hành
- Các ĐDV được thông báo trước thời gian từ 2 - 5 ngày. Buổi phỏng vấn
trực tiếp sẽ được tiến hành tại các khoa ở phòng riêng dựa trên mẫu phiếu đánh giá
thiết kế sẵn.
- Mỗi một tháng sẽ phỏng vấn điều dưỡng viên tại một khoa.
- Thu thập số liệu qua kết quả phiếu đánh giá (phụ lục)
2.4. Phương pháp chọn mẫu
- Phương pháp chọn mẫu: toàn bộ điều dưỡng viên tại 04 khoa lâm sàng.
2.5. Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu đánh giá (phụ lục).
25
- Bộ câu hỏi được thiết kế gồm các phần như sau:
+ Phần 1: thủ tục hành chính (như tên tuổi, trình độ, sớ năm cơng tác, giới
tính, khoa)
+ Phần 2: Nguyên nhân gây phản vệ
+ Phần 3: Triệu chứng từng phân độ phản vệ
+ Phần 4: Nguyên tắc xử trí phản vệ.
+ Phần 5: Các bước xử trí phản vệ
+ Phần 6: Liều tiêm Adrenalin tiêm bắp đối với trẻ em và người lớn
+ Phần 7: Liều Adrenalin tiêm TM và truyền TM trong xử trí phản vệ
+ Phần 8: Nguyên tắc dự phòng phản vệ.
+ Phần 9. Thành phần hộp cấp cứu phản vệ.
2.6. Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Tuổi, giới, khoa, thâm niên cơng tác
- Trình độ chuyên môn
- Nguyên nhân gây phản vệ.
- Triệu chứng phản vệ từ độ I đến độ IV
- Nguyên tắc xử trí phản vệ.
- Cách xử trí của ĐD khi phản vệ xảy ra
- Cách phòng phản vệ
- Liều tiêm Adrenalin tiêm bắp và các pha Adrenalin tiêm và truyền tĩnh mạch
- Danh mục hộp cấp cứu phản vệ
- Xếp loại lượng giá kiến thức
+ Xếp loại đạt: trả lời đúng ≥ 50% số điểm.
+ Xếp loại không đạt: trả lời đúng từ <50 % số điểm.
2.7. Xử lý số liệu trong nghiên cứu
- Các số liệu thu thập được nhập vào máy tính và xử lý bằng excel.
- Thơng tin thu được từ phiếu đánh giá được phân tích theo từng nội dung và
tổng hợp trích dẫn.