Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

Thực trạng tín dụng đối với làng nghề tại chi nhánh NHCT Hà Tây

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (404.31 KB, 25 trang )

Thực trạng tín dụng đối với làng nghề tại chi nhánh
NHCT Hà Tây
I. Tổng quan về chi nhánh NHCT Hà Tây.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh NHCT Hà Tây.
Ngân hàng Công thơng Việt Nam đợc thành lập theo Quyết định số 402/CT
ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng bộ trởng (nay là Thủ tớng Chính phủ) và
đợc Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc ký Quyết định số 285/QĐ-NH5 ngày
21/9/1996 thành lập lại theo mô hình Tổng công ty Nhà nớc quy định tại Quyết
định số 90/TTg ngày 07/3/1994 theo uỷ quyền của Thủ tớng Chính phủ nhằm tăng
cờng tích tụ, tập trung, phân công, chuyên môn hoá và hợp tác kinh doanh để thực
hiện nhiệm vụ Nhà nớc giao; nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các
đơn vị thành viên và toàn Ngân hàng Công thơng; đáp ứng nhu cầu của nền kinh
tế.
Chi nhỏnh Ngân hàng công thơng tỉnh Hà Tây là một trong các chi nhánh
của Ngân hàng Công thơng Việt Nam, có trụ sở tại thị xã Hà Đông - tỉnh Hà Tây.
Chi nhỏnh NHCT Hà Tây là một trong bốn chi nhánh NHTM quốc doanh lớn
nhất hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tây.
Trong năm 2006, chi nhỏnh NHCT Hà Tây tiếp tục mở rộng và hoàn
thiện mạng lới hoạt động nhằm nâng cao vị thế, đáp ứng tốt các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng cho các bạn hàng. Từ tháng 7/2006 thực hiện quyết định số
888/2005/QĐ-NHCT ngày 16/6/2005 của Ngân hàng nhà nớc Việt nam. Hay
đồng quản trị NHCT Việt nam đã nâng cấp 3 chi nhánh cấp II lên chi nhánh cấp
I phụ thuộc NHCT Việt nam . Do phải bàn giao số liệu trả về các chi nhánh mới
tách do đó đến thời điểm 31/12/2006 nguồn vốn huy động và các khoản đầu t và
cho vay giảm.
Tổ chức bộ máy của chi nhỏnh NHCT Hà Tây sau khi tách các chi nhánh cấp
II gồm 8 phòng chức năng đặt tại trụ sở chính và một phòng giao dịch.Chi nhỏnh
NHCT Hà Tây áp dụng theo phơng thức quản lý trực tuyến. Ban giám đốc quản lý
tất cả các phòng ban tại trụ sở Chi nhánh, và phòng giao dịch. Các phòng nghiệp
vụ tại trụ sở Chi nhánh quản lý về mặt nghiệp vụ đối với bộ phận ,phòng giao dịch
và quỹ tiết kiệm. Nhờ cách quản lý này mà ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn,


ít gặp rủi ro, bám sát đợc tình hình thực tế thị trờng và gần gũi đợc với khách
hàng.
Trong thời kỳ đầu hoạt động, chi nhỏnh NHCT Hà Tây không tránh khỏi
những bỡ ngỡ trong việc tìm giải pháp kinh doanh có hiệu quả, khách hàng cha
thực sự tin tởng vào ngân hàng, số lợng khách hàng mở tài khoản và đặt quan hệ
tín dụng với ngân hàng cha nhiều, khả năng thu hút vốn nhàn rỗi trong dân c và
các tổ chức kinh tế cha cao, chất lợng tín dụng và hiệu quả hoạt động kinh doanh
còn thấp.
Cơ chế thị trờng từng ngày từng giờ đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự thích
nghi, tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trờng. Nhận thức rõ điều đó,
Ban giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên Chi nhánh đã không ngừng tìm
tòi, học hỏi, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, khai thác các lợi thế về vốn, khoa
học kỹ thuật....của toàn hệ thống để ổn định hoạt động kinh doanh và bớc đi phát
triển vững chắc.
2. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhỏnh NHCT Hà Tây
Quá trình đổi mới và phát triển của chi nhỏnh NHCT Hà Tây gắn liền với sự
đổi mới của hệ thống Ngân hàng Việt nam, là kết quả của quá trình đổi mới và
phát triển kinh tế do Đảng và Nhà nớc ta khởi xớng, chỉ đạo thực hiện.
Chuyển từ một chi nhánh ngân hàng nhà nớc thành một chi nhánh NHTM,
chi nhỏnh NHCT Hà Tây đã hoà nhịp kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị
trờng. Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, Chi nhánh đã chú trọng đổi mới trong
mọi lĩnh vực hoạt động nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đạt đợc trong một số năm gần đây
nh sau:
2.1. Hoạt động huy động vốn.
Ngân hàng thơng mại chỉ có thể đạt kết quả kinh doanh cao khi tổ chức tốt
công tác huy động vốn. Trong những năm qua chi nhỏnh Ngân hàng Công thơng
Hà Tây đã nỗ lực trong công tác huy động vốn bằng việc mở thêm các phòng
giao dịch, mở rộng màng lới các quỹ tiết kiệm cho phù hợp với địa bàn dân c thị
xã Hà Đông và các khu vực giáp ranh với Hà nội, tuyên truyền mở tài khoản cá

nhân, áp dụng nhiều biện pháp gửi tiền vừa linh hoạt vừa hiệu quả, đơn giản hoá
thủ tục gửi tiền... Nguồn vốn ngày càng tăng trởng mạnh, trong đó số d tiền gửi
không kỳ hạn của tổ chức kinh tế chiếm tỷ lệ tơng đối lớn làm thay đổi đáng kể
lãi suất bình quân huy động vốn, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh của toàn chi
nhánh, kết quả huy động vốn đợc thể hiện trong bảng sau:
Bảng I: Tình hình huy động vốn 2005 - 2007 của chi nhỏnh Ngân hàng Công
thơng Hà Tây.
Thời điểm
Khoản mục
31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007
So sánh
2006/2005
Sosánh
2007/2006
+/- % +/- %
Tổng 837.563 885.931 942.903 48.368 105,77% 56.972 106,43%
1.Tiền gửi các
TCKT
225.468 299.315 296.928 73.847 132,75% -2.387 99,20%
+ Việt Nam đồng 169.064 246.358 234.477 77.294 145,72% -11.881 95,18%
+ Ngoại tệ quy
USD
56.404 52.957 62.451 -3.447 93,89% 9.494 117,93%
2.Tiền gửi tiết
kệm
453.643 562.581 610.085 108.938 124,01% 47.504 108,44%
+ Việt Nam đồng 207.619 350.975 353.231 143.356 169,05% 2.256 100,64%
+ Ngoại tệ quy
USD
246.024 211.606 256.854 -34.418 86,01% 45.248 121,38%

3.Kỳ phiếu, trái
phiếu
112.653 24.035 35.890 -88.618 21,34% 11.855 149,32%
+ Việt Nam đồng 112.653 24.035 35.890 -88.618 21,34% 11.855 149,32%
+ Ngoại tệ quy
USD
0 0 0 0 0
4.Nguồn huy
động khác
45.799 0 0 -45.799 0
+ VND 29.214 -29.214 0
+ USD 16.585 -16.585 0
Từ bảng trên ta thấy mức độ tăng trởng của nguồn vốn của Chi nhánh
năm sau cao hơn năm trớc, cụ thể là năm 2007 tăng 56.972 triệu đồng so với năm
2005, tỷ lệ tăng 6,43% ; năm 2006 tăng 48.368 triệu đồng, tỷ lệ tăng 5,77% so
với năm 2005 . Đạt đợc kết quả trên là một sự cố gắng lớn của chi nhỏnh Ngân
hàng Công thơng Hà Tây bởi trên địa bàn thị xã Hà Đông có nhiều chi nhánh
thuộc các Ngân hàng khác nhau cạnh tranh gay gắt trong công tác huy động vốn
Bảng 1 còn cho thấy cơ cấu nguồn vốn cũng có sự thay đổi, nguồn vốn
huy động từ tiền gửi dân c tăng trởng khá đều. Năm 2006 đạt 562.581 triệu đồng,
tỷ lệ tăng 24,01% so với năm 2005, mức tăng tuyệt đối là 109.938 triệu đồng;
đến năm 2007 mức tăng là 8,44% so với 2006 số tuyệt đối là 47.504 triệu đồng.
Tỷ trọng nguồn vốn từ tiền gửi dân c chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn vốn huy
động, năm 2005 là 51,9 %/ tổng nguồn vốn huy động; năm 2006 là 63,5%/Tổng
nguồn vốn huy động và năm 2007 là 64,8%. Nh vậy nguồn vốn huy động từ tiền
gửi dân c có lãi suất cao tăng lên về số tuyệt đối nhng tỷ trọng trong tổng nguồn
vốn giảm xuống. Điều đó chứng tỏ chi nhỏnh Ngân hàng Công thơng Hà Tây đã
có đợc một kênh huy động vốn khá hiệu quả và an toàn ổn định .
Nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế trong 2 năm gần đây tăng trởng khá
cao và tơng đối ổn định. Năm 2006 tăng 32,7 % so với năm 2005 và năm 2007

tăng 31,7% so với năm 2005. Tỷ trọng tiền gửi của các tổ chức kinh tế trong tổng
nguồn vốn huy động tăng lên theo hớng tích cực có lợi cho hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Năm 2006, tỷ trọng tiền gửi TCKT là 33,7%/ Tổng nguồn vốn;
năm 2007 tỷ trọng này là 31,5%. Đạt đợc kết quả này là do chi nhỏnh Ngân hàng
Công thơng Hà Tây đã tăng cờng trang thiết bị công nghệ, thực hiện việc đơn
giản hoá thủ tục gửi tiền, hoàn thiện công tác thanh toán theo hớng an toàn, hiệu
quả tạo niềm tin cho các tổ chức kinh tế gửi tiền.
Riêng kỳ phiếu, trái phiếu và nguồn huy động khác là hình thức huy động
vốn của Ngân hàng khi có nhu cầu đột xuất về vốn, chỉ mang tính thời điểm nên
mức tăng giảm không ổn định là điều tất nhiên.
Tóm lại: Hoạt động huy động vốn của Chi nhánh có nhiều bớc chuyển
biến tích cực, đáp ứng đợc nhu cầu hoạt động của Chi nhánh. Tổng nguồn vốn
huy động tăng trởng nhanh về cả số tuyệt đối và số tơng đối; cơ cấu nguồn vốn
thay đổi có lợi cho hoạt động ngân hàng.
2.2. Hoạt động sử dụng vốn.
Cấp tín dụng là hoạt động chính của Ngân hàng, nó đem lại thu nhập lớn
nhất cho Ngân hàng nhng đi kèm với nó là rủi ro cao do môi trờng pháp lý cha ổn
định, tính chất khách hàng phức tạp, môi trờng kinh tế nhiều biến động. Với lợi
thế về vị trí, chi nhánh thu hút đợc khá nhiều khách hàng ở địa bàn trong và ngoài
tỉnh, trong đó có nhiều khách hàng thuộc các Tổng công ty 90, 91 nh Tổng công
ty xây dựng Sông Đà và các đơn vị thành viên, các đơn vị Tổng công ty xây dựng
giao thông 8, Công ty Máy kéo và máy nông nghiệp... Do đó, trong thời gian qua
chi nhánh Ngân hàng Công thơng Hà Tây đã sử dụng vốn có hiệu quả, thể hiện
trong bảng sau:
Bảng 2 : Tình hình sử dụng vốn tại chi nhỏnh NHCT Hà Tây qua các
năm
Đơn vị tính: Triệu đồng

Thời gian Năm2005 Năm2006 Năm2007
So sánh 2008/2006 So sánh 2006/2007

Khoản mục
+/- % +/- %
1. Tổng d nợ 949.650 1.176.221 1.279.673 226.571 124 103.452 108,80
1.1. D nợ theo thành phần kinh tế
Quốc doanh 771.021 954.920 1.092.403 183.899 123,85 137.483 114,40
Ngoài quốc doanh 178.629 221.301 187.270 42.672 123,89 -34.031 84,62
1.2. D nợ phân theo thời gian
Ngắn hạn 434.151 507.981 646.149 73.830 117,01 138.168 127,20
Trung và dài hạn 494.775 668.240 633.524 173.465 135,06 -34.716 94,80
2.Đầu t khác 2.153 -2.153
3. Nợ quá hạn 2.719 1.385 -1.334 50,94 -1.385
Quốc doanh 2.451 1.342 -1.109 54,75 -1.342
Ngoài quốc doanh 268 43 -225 16,04 -43
Qua Bảng 2 chúng ta thấy tình hình d nợ của Ngân hàng liên tục tăng
trong những năm qua với mức tăng cao và tơng đối ổn định. Nhờ tích cực áp
dụng các biện pháp nh tiếp thị, phục vụ nhanh chóng, uyển chuyển, thái độ niềm
nở,... nên năm 2006 d nợ cho vay là 1.176.221 triệu đồng, tăng 226.571 triệu
đồng, tỷ lệ tăng 124% so với năm 2005; sang năm 2007 d nợ tín dụng là
1.279.673 triệu đồng tăng 108,80% so với năm 2006 và là năm có tốc độ tăng tr-
ởng tín dụng cao nhất từ trớc tới nay. Chính việc tăng nhanh tốc độ d nợ tín dụng
của chi nhỏnh Ngân hàng Công thơng Hà Tây đã giúp cho Ngân hàng trong năm
2006 đạt lợi nhuận là 23.573 tỷ bằng 213% so với năm 2006, nhờ thành tích này
mà năm 2007 chi nhánh Ngân hàng Công thơng Hà Tây là một trong những chi
nhánh đợc Ngân hàng Công thơng Việt Nam khen thởng.
Những năm qua, các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, thơng mại, sản xuất
nông- lâm nghiệp ở Hà Tây phát triển, hàng hoá phong phú đa dạng, mua bán
thuận lợi đã tạo điều kiện cho khu vực ngoài quốc doanh phát triển. Ngân hàng
cũng đã nâng dần chất lợng phục vụ với khu vực này nên d nợ tăng: 31/12/2005
d nợ là 178.629 triệu đồng đến 31/12/2006 là 211.301 triệu đồng, tỷ lệ tăng
23,89%.

D nợ cho vay trung dài hạn cao: Tại thời điểm 31/12/2006, d nợ cho vay
trung dài hạn là 668.240 triệu đồng, chiếm 56,8%/ tổng d nợ. Nguyên nhân chủ
yếu là do các doanh nghiệp đa ra các dự án vay vốn có tính khả thi, đáp ứng đợc
đầy đủ các điều kiện tín dụng mà Ngân hàng đa ra.
Tỷ trọng nợ quá hạn của kinh tế Quốc doanh trên tổng số nợ quá hạn năm
2004 là 90,1%. Trong khi đó nợ quá hạn của kinh tế ngoài quốc doanh chỉ chiếm
tỷ trọng thấp, đến năm 2007 Chi nhánh NHCT Hà Tây đã không phát sinh nợ quá
hạn. Điều này phản ánh chất lợng và hiệu quả tín dụng đang đợc nâng cao. Đạt
đợc kết quả này là do Ngân hàng tập trung giải quyết thu nợ quá hạn, xử lý
những tồn đọng nợ cũ đồng thời hạn chế phát sinh nợ quá hạn mới, tuyệt đối
không để phát sinh nợ quá hạn khó đòi.
Tóm lại: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng đã có nhiều thành tựu nh:
Cơ cấu vốn đầu t đợc điều chỉnh đúng định hớng kinh doanh; tập trung lợng vốn
lớn để đầu t phát triển kinh tế tỉnh nhà - đặc biệt là các DNNN của tỉnh, các làng
nghề truyền thống, đồng thời thu hút đợc nhiều khách hàng mới, trong đó có một
số đơn vị thuộc tổng công ty 90,91 và các đơn vị thành viên. Điều này phản ánh
sự năng động của ngân hàng trong việc nâng cao sức cạnh tranh của các sản
phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng trong thời gian qua; chất lợng
vốn đầu t đợc giữ vững và nâng cao: tỷ lệ nợ quá hạn chỉ chiếm 0,29%/ tổng d
nợ, tiếp tục giải quyết khá hiệu qủa các tồn đọng cũ đồng thời không để phát
sinh nợ quá hạn khó đòi mới. Trong năm tuy ngân hàng có quan tâm đầu t vào
làng nghề nhng cha thực sự đợc chú trọng, mở rộng nhiều. Để hiểu rõ hơn về vấn
đề này, chúng ta sẽ đi sâu phân tích thực trạng tín dụng đối với làng nghề tại chi
nhánh NHCT Hà Tây.
2.3. Các hoạt động khác.
- Đầu t khác: chủ yếu là đầu t vào chứng khoán Chính phủ.
- Kinh doanh ngoại tệ: Hoạt động này đợc thực hiện tại phòng kinh
doanh ngoại tệ ở hội sở. Những hoạt động nhờ thu, mở L/C xuất nhập, chuyển
tiền, chi trả kiều hối... đem lại nguồn thu cho ngân hàng thông qua những
khoản chi phí. Mua bán ngoại tệ đem lại cho ngân hàng những khoản tiền thông

qua sự chênh lệch tỷ giá hối đoái. Ngày nay, cùng với sự mở rộng các hoạt động
kinh tế đối ngoại, hoạt động kinh doanh ngoại tệ ngày càng trở nên sôi động và
đóng góp một phần đáng kể trong tổng doanh thu của ngân hàng.
- Cung cấp các dịch vụ ngân hàng nh: Thanh toán giữa các khách hàng, t
vấn về kinh doanh tiền tệ, bảo quản giấy tờ có giá,...
II.Thực trạng tín dụng đối với làng nghề tại chi nhánh NHCT Hà
Tây.
1. Vài nét về các làng nghề có quan hệ tín dụng với chi nhánh NHCT
Hà Tây.
Với mục tiêu là kinh doanh nhằm thu đợc lợi nhuận hợp lý và qua hoạt
động của mình góp phần ổn định- phát triển kinh tế tỉnh Hà Tây, khách hàng mà
chi nhánh NHCT Hà Tây phục vụ rất đa dạng, không phân biệt thành phần kinh
tế, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động. Bất kỳ khách hàng nào có nhu cầu về các dịch
vụ ngân hàng, nếu đủ điều kiện sẽ trở thành khách hàng của chi nhánh NHCT Hà
Tây.
Về quan hệ tín dụng: Hiện nay, nhóm khách hàng mang tính truyền thống
của chi nhánh NHCT Hà Tây là khu vực kinh tế quốc doanh bao gồm: Các tổng
công ty 90-91; các DNNN do Bộ, tỉnh, thành phố quản lý; các công ty, xí nghiệp
có sự tham gia của Nhà nớc và một số doanh nghiệp thơng mại khác có nhu cầu
vay tơng đối lớn, hoạt động hiệu quả. Ví dụ: Tổng công ty xây dựng Sông Đà và
các đơn vị thành viên, các đơn vị thuộc tổng công ty xây dựng giao thông số 8,
công ty máy kéo nông nghiệp, công ty dợc phẩm Hà Tây,...
Trong thời gian qua, hoạt động tín dụng của ngân hàng tập trung chủ yếu
vào khu vực kinh tế quốc doanh. D nợ cho vay đối tợng này chiếm từ 69,8%-
81,2% tổng d nợ tín dụng của ngân hàng. Có thể nói, điều này đã làm cho ngân
hàng có sự phụ thuộc khá lớn vào hoạt động của các doanh nghiệp quốc doanh.
Chính vì vậy, để hạn chế những rủi ro tín dụng có thể xảy ra, ngân hàng phải thực
hiện đa dạng hoá khách hàng cho vay.
Một nhóm khách hàng hiện nay đang đợc ngân hàng quan tâm, đó là nhóm
khách hàng ở các làng nghề. Mở rộng đợc quan hệ tín dụng đối với nhóm khách

hàng này sẽ giúp ngân hàng hạn chế đợc việc qúa lệ thuộc vào một đối tợng
khách hàng nhất định, đồng thời đem lại cho ngân hàng những khoản thu mới,
giúp ngân hàng thực hiện chiến lợc: Phát triển- An toàn- Hiệu quả.
Vậy để mở rộng tín dụng đối với làng nghề thì cần hiểu rõ hơn nữa về các
làng nghề của tỉnh. Do đó, việc tìm hiểu rõ xu hớng phát triển, vốn sản xuất kinh
doanh, cơ sở hạ tầng,... của làng nghề ở tỉnh Hà Tây là điều cần thiết.
* Đặc điểm của làng nghề Hà Tây.
Từ xa xa, Hà Tây đã đợc coi là" mảnh đất trăm nghề" với bài ca câu hát
trăm nghề. Sự phát sinh, phát triển của các làng nghề Hà Tây rất phong phú đa
dạng, có làng chỉ chuyên về một nghề nh làng La Cả (chuyên dệt the), Lụa ở Vạn
Phúc, Đa Sỹ (chuyên làm rèn), làng Phú Vinh (chuyên đan lát),... cũng có những
làng có nhiều nghề nh Hữu Bằng (nghề mộc và may), La Phù (dệt len, chế biến
nông sản),... Hoạt động sản xuất kinh doanh CN- TTCN diễn ra sôi động, nhộn
nhịp ở khắp các làng, xã trong tỉnh.
Qua nghiên cứu các tài liệu và đi thực tế đến một số làng nghề tiêu biểu tôi
thấy, quá trình phát triển của các làng nghề ở Hà Tây có một số đặc điểm nổi bật
sau:
* Số lợng, phân loại làng nghề và xu hớng phát triển
Về số lợng: Theo tài liệu của Sở Công nghiệp Hà Tây thì toàn tỉnh Hà Tây
hiện có 1680 làng, trong đó có 1247 làng có nghề sản xuất CN- TTCN, chiếm
74,2% tổng số làng trong tỉnh. Số làng nghề đạt tiêu chí làng nghề là 325 làng, có
274 làng đã đợc công nhận danh hiệu "Làng nghề sản xuất CN- TTCN".
Các làng nghề phân bố ở tất cả các huyện và thị xã, trong đó ở huyện Thờng
Tín tập trung đông nhất (36 làng nghề). Năm 2007 giá trị sản xuất của 120 làng
nghề đã đạt tới gần 350 tỷ đồng, trong đó sản xuất CN- TTCN chiếm 62,45%, kinh
doanh dịch vụ chiếm 13,4%, sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 24%; các nghề thủ
công mỹ nghệ, mây tre đan, dệt may và chế biến lơng thực thực phẩm phục hồi và
phát triển mạnh mẽ.
Trong quá trình CNH-HĐH nông thôn, các làng nghề này đang chia thành 4
nhóm với xu thế biến đổi theo hớng:

- Nhóm các làng nghề dần bị mai một
- Nhóm các làng nghề phát triển
- Nhóm các làng nghề truyền thống cần đợc bảo tồn
- Nhóm các làng nghề mới
Trong số bốn nhóm trên, thì nhóm làng nghề thứ hai là nhóm làng nghề có
nhiều khả năng mở rộng tín dụng với ngân hàng nhất, cũng là nhóm đợc ngân
hàng chú trọng nhất. Nhóm thứ nhất, thứ ba và thứ t thờng đòi hỏi phải có những u
đãi nhất định về lãi suất và điều kiện tín dụng.
Các loại hộ và cơ sở
Trong các làng nghề ở Hà Tây loại hình kinh tế hộ là chủ yếu (gần 50 ngàn
hộ sản xuất CN- TTCN), hoạt động gọn nhẹ và phân tán. Hộ sản xuất bao gồm hộ
kiêm (tham gia lao động thủ công nghiệp nhng vẫn lấy nông nghiệp là nguồn thu
nhập chủ yếu) và hộ chuyên (chuyển hẳn sang hoạt động thủ công nghiệp là chính,
làm nông chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ hoặc bỏ hẳn).
Những năm vừa qua phát triển các loại hình khác: DNTN, công ty TNHH,
HTX, tổ sản xuất, gọi chung là cơ sở (375 cơ sở). Loại hình này đã, đang và sẽ là
nhân tố và động lực thúc đẩy các làng nghề phát triển, thu hút nhiều lao động và
tăng thu nhập của các thành viên trong làng nghề. Đây cũng là đối tợng có quan hệ
tín dụng ngày càng rộng mở với ngân hàng.
Vốn sản xuất kinh doanh
Vốn sản xuất ở các làng nghề tại Hà Tây hình thành từ các nguồn sau: Vốn
tự có và vốn vay. Vốn vay bao gồm vốn vay của bạn bè, ngời thân; vốn vay từ ngân
hàng, từ các chơng trình hỗ trợ của nhà nớc và tổ chức. Trong đó, nguồn vốn tự có
là chủ yếu (chiếm 80%) nhng quy mô nhỏ bé nên làng nghề gặp rất nhiều khó
khăn để phát triển. Những làng nghề này cần có sự hỗ trợ để tăng tỷ trọng vốn tín
dụng trong cơ cấu vốn vay.
Hiện nay, nhu cầu về vốn mở rộng sản xuất kinh doanh ở các làng nghề rất
lớn (đầu t đổi mới công nghệ, thiết bị mới, nâng cao chất lợng sản phẩm, mua
nguyên vật liệu,...) nhng vốn đi vay và đợc vay vẫn rất thấp trong cơ cấu vốn.
Trong thời gian tới để các làng nghề phát triển đợc thì cần phải tăng lợng vốn cung

ứng từ ngân hàng và các chơng trình, nâng cao tỷ trọng hộ và cơ sở đợc vay trong
số các hộ và cơ sở đi vay.
Nguyên liệu
Nguyên liệu chủ yếu đợc khai thác tại địa phơng và trong nớc, hầu hết là lấy
trực tiếp từ thiên nhiên nhng việc tổ chức khai thác, cung ứng một số nguyên liệu
cho sản xuất cha tốt (Nh gỗ, song mây) nên các hộ, cơ sở ngành nghề phải mua lại
từ nhiều nguồn, chủ yếu là nguồn cung ứng gián tiếp, thậm chí từ nguồn cung ứng
bất hợp pháp nên phải mua với giá cao làm tăng chí phí sản xuất và giá thành sản
phẩm.
Thị trờng tiêu thụ
Có hơn 65% sản phẩm của làng nghề tiêu thụ ở địa phơng và trong nớc,
tham gia xuất khẩu chủ yếu là hàng thủ công mỹ nghệ, hàng dệt may...
Các làng nghề chỉ có thể phát triển nếu khâu tiêu thụ đợc giải quyết tốt.
Tình trạng hàng hoá ứ đọng kìm hãm sản xuất, làm sản xuất bị đình đốn diễn ra ở
nhiều làng nghề. Điều này cản trở việc các ngân hàng tiếp tục cung ứng vốn để
duy trì và mở rộng sản xuất cho các làng nghề này.
Về nhà xởng, trang thiết bị và công nghệ
Về nhà xởng, có khoảng 40% số cơ sở có nhà xởng kiên cố. Tình trạng phổ
biến của các hộ làm nghề là sử dụng ngay diện tích ở làm nơi sản xuất. Khi quy
mô sản xuất tăng lên hoặc sử dụng thiết bị, hoá chất đã làm cho môi trờng sống bị
ô nhiễm nặng nề, nhất là ở các làng nghề chế biến thực phẩm, sản xuất đồ nhựa,
sản xuất vật liệu xây dựng. Ví dụ: xã Dơng Liễu, Dơng Nội, La Phù , xã Trờng
Yên chơng Mỹ... Vì thế, nhu cầu mở rộng nhà xởng để sản xuất đang đặt ra khá
bức thiết.
Về trang thiết bị và công nghệ, đa số làng nghề sử dụng các loại công cụ
truyền thống hoặc có cải tiến một phần. Một số cơ sở mới xây dựng có công nghệ
tiên tiến. Trong những năm gần đây, xu hớng đầu t cho máy móc công nghệ ở làng
nghề ngày càng tăng.
Về lao động và sử dụng lao động:
Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các làng nghề là: 700.000 ngời .

Những làng nghề phát triển còn thu hút thêm lao động ở các địa phơng khác.
Nhiều làng nghề ở Hà Tây có truyền thống lâu đời nên hiện có nhiều nghệ nhân,
thợ cả, thợ tay nghề cao và nhiều kinh nghiệm, có khả năng làm ra những sản
phẩm tinh xảo, đặc sắc. Đội ngũ lao động này sẽ góp phần tạo nên nét độc đáo và
tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm làng nghề.
Về cơ sở hạ tầng:
Hà Tây là tỉnh có sự thuận lợi về giao thông, cả về đờng bộ và đờng
thuỷ. Có ba đờng quốc lộ và đờng sắt Bắc - Nam chạy qua, 6 con sông lớn;
100% xã có làng nghề có đờng giao thông, đờng ô tô về tận trung tâm xã, tạo
điều kiện cho phát triển làng nghề; 100% xã có làng nghề đã đợc dùng lới điện
quốc gia. Đa số xã có làng nghề đã lập trạm bu điện, có điều kiện để thu thập
các thông tin từ bên ngoài. Tuy nhiên, hiện nay nhiều đờng xá cũng đang trong
tình trạng xuống cấp, cần phải đợc đầu t nâng cấp và tu bổ lại.
Tóm lại: Các làng nghề ở Hà Tây có số lợng, quy mô tơng đối lớn và đang
có xu hớng phát triển nhanh. Tuy nhiên đa số làng nghề gặp khó khăn lớn về vốn

×