Tải bản đầy đủ (.pdf) (52 trang)

Giáo trình Quản lý và tồn trữ thuốc - Nghề: Dược (Trình độ Trung cấp nghề/Cao đẳng nghề)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.51 MB, 52 trang )

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG CĐ KỸ NGHỆ II

GIÁO TRÌNH
QUẢN LÝ TỒN TRỮ THUỐC
NGHỀ: DƯỢC
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP NGHỀ/CAO ĐẲNG NGHỀ

1


Lời nói đầu
Mỗi ngày làm việc, học tập, nghiên cứu tại phịng thí nghiệm chúng ta đều có
cơ hội tiếp cận những điều chưa biết, tìm tịi và khám phá chúng. Mỗi thí nghiệm nắm
giữ nhiều bí mật. Khi tập trung và đi sâu vào vấn đề, ta có thể thấy được bản chất. Khi
làm việc chăm chỉ, ta có thể giải quyết những khó khăn và kiểm sốt chúng. Từ khoa
học (science) có nguồn gốc từ tiếng La tinh scientia nghĩa là “để biết”. Mục đích của
khoa học là tri thức. Các nhà khoa học bỏ cả đời để theo đuổi kiến thức.
Giáo dục ngày nay cho các bạn học sinh, sinh viên có cơ hội làm những việc
mà các nhà khoa học vẫn làm. Cách đặt vấn đề, tiếp cận và tìm cách giải quyết. Các
bạn được trao cơ hội tìm hiểu những điều bạn và nhiều người khác chưa biết. Đó là
điều tuyệt vời. Đừng lãng phí cơ hội bằng cách lười biếng hay bất cẩn. Hãy làm việc
chăm chỉ. Các nhà khoa học ln có được kỹ năng quan sát và thực hành tốt, đây sẽ là
những cơng cụ hữu ích để giải quyết các vấn đề trong khoa học và cuộc sống.
Sự cần thiết của an tồn
Hóa học là ngành khoa học thực nghiệm. Từ những thí nghiệm cụ thể, người ta
đưa ra những giả thuyết, lý thuyết làm nền tảng cho hóa học hiện đại. Thực nghiệm sẽ
mang lại những kinh nghiệm trong quá trình làm việc trong phịng thí nghiệm, bạn sẽ
xử lý nhiều hóa chất, dụng cụ, thiết bị, máy móc chuyên dụng. Nhiều hóa chất sẽ gây
hại nếu khơng được làm việc đúng cách, một số thiết bị sẽ gây ra chấn thương nghiêm
trọng nếu chưa được đào tạo qua cách sử dụng. Mục đích của mơn học nhằm giúp


chúng ta thực hành thí nghiệm an tồn trong phịng thí nghiệm và trong tương lai

2


CHƯƠNG TRÌNH MƠN HỌC QUẢN LÝ TỒN TRỮ

Mã số của môn học: MH 14
Thời gian của môn học: 45 giờ

( Lý thuyết: 30giờ; Thực hành: 15 giờ)

I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT MƠN HỌC:
- Vị trí:
+Học kỳ 2 năm thứ hai, học sau mơn vật lý đại cương, hóa học I trước các
mơn học An tồn lao động , Đảm bảo chất lượng thuốc.
- Tính chất mơn học:
+ Là mơn học cơ sở, thuộc các môn học đào tạo nghề bắt buộc.
II. MỤC TIÊU MƠN HỌC:
- Trình bày được các kiến thức chung về tồn trữ thuốc, các nguyên tắc quản lý
trong kho Dược và nguyên tắc bảo quản tốt thuốc;
- Trình bày được nguyên tắc và kĩ thuật bảo quản từng dạng thuốc, hoá chất và
dược liệu;
- Vận dụng được những kiến thức và kỹ năng về tồn trữ và bảo quản thuốc,
dụng cụ y tế trong thực tiễn;
- Rèn luyện tác phong thận trọng, tỉ mỉ, nghiêm túc, chính xác trong thực hành,
học tập.

3



BÀI 1: CHẤT LƯỢNG THUỐC VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHẤT LƯỢNG THUỐC
1.1.

Chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi làm việc
Để có được những kinh nghiệm và kiến thức tốt nhất trong phịng thí nghiệm,

nhất thiết phải chuẩn bị tốt cho mỗi thí nghiệm. Điều này nghĩa là phải đọc kỹ hướng
dẫn và nội quy trước khi vào phịng thí nghiệm. Đầu tiên phải biết được đâu là lối ra
vào, lối thốt hiểm, nơi ngắt điện, nước khi có sự cố, vị trí đặt chng báo động, bình
chữa cháy…
Hãy chắc chắn rằng bạn đã có một ý tưởng rõ ràng cho việc sắp làm. Hiểu rõ
từng bước và có kế hoạch làm việc cụ thể. Đến phịng thí nghiệm để kiểm chứng lý
thuyết, thu thập số liệu thực nghiệm, để nắm rõ hơn các thao tác. Đừng đến phịng thí
nghiệm với tâm lý của một học sinh đến lớp để bắt đầu học những bài học mới. Nếu
không chắc chắn về bất cứ phần nào hoặc tính an tồn của thí nghiệm, phải trao đổi
hoặc đề nghị giúp đỡ từ giáo viên hoặc người phụ trách phịng thí nghiệm

Chuẩn bị là rất quan trọng, không chỉ để hiểu biết mà cịn để an tồn cho bản
thân và người xung quanh. Nếu bạn chuẩn bị tốt sẽ có rất ít khả năng xảy ra tai nạn.
Trong phịng thí nghiệm, chúng ta có trách nhiệm giữ an tồn cho bản thân và người
xung quanh. Nếu tai nạn xảy ra do bạn thiếu sự chuẩn bị, nó sẽ gây ảnh hưởng đến
người khác và ngược lại. Đây là lí do để dành thời gian và nỗ lực chuẩn bị cho thí
nghiệm

4


Hãy chắc chắn các lưu ý, cảnh báo an toàn được liệt kê trong mỗi thí nghiệm.

Ngồi ra phải thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa chung theo nội quy.
Cuối cùng, hãy nhớ lời khuyên an toàn quan trọng nhất:
“Ln đeo kính bảo hộ trong phịng thí nghiệm hóa học”.
1.2.

Các mối nguy hại trong phịng thí nghiệm
Cần phải nhận thức mối nguy hiểm có thể có và nắm rõ các biện pháp phịng

ngừa, xử lý thích hợp. Bằng cách này có thể giảm thiểu rủi ro khi làm việc. Phần an
toàn này được thiết kế để chúng ta làm quen với các mối nguy hiểm có thể xảy ra và
làm thế nào để tránh được chúng. Ngoài ra cần cung cấp thơng tin phải làm gì khi có
sự cố.
Khi làm việc với hóa chất, cần tra cứu các thơng tin như: độc tính, trạng thái,
nhiệt độ sơi, tỉ trọng, CAS No., …

1.3.

Trang bị bảo hộ
Đeo kính bảo hộ khi làm việc trong phịng thí nghiệm dù khơng thực sự thực

hành như khi viết nhật ký thí nghiệm, đọc tài liệu, làm bài chuẩn bị. Khơng đeo kính
sát trịng, dù đã dùng kính bảo hộ vì những tai nạn xảy ra khi hóa chất ở dưới kính sát
trịng gây tổn thương nặng hơn.
Đi giày kín mũi và quần dài để hạn chế tổn thương ở phần chân, không đi xăng đan
hay mặc quần sooc. Lưu ý: vải jean dễ bị mục khi tiếp xúc với hơi hóa chất và dung
mơi
Tóc dài cần cột gọn lại, nhất là khi dùng lửa trực tiếp như đèn cồn, khi uốn dẻo
thủy tinh

5



1.4.

Hoạt động

 Nghiêm cấm đùa giỡn trong phịng thí nghiệm
 Nghiêm cấm ăn, uống trong phịng thí nghiệm. Khơng dùng chai nước suối, ly,
tách để đựng hóa chất, khơng dùng các vật dụng này cho phịng thí nghiệm
 Thao tác với chất độc, chất dễ bay hơi, dung môi, pha acid phải thực hiện trong
tủ hút
 Cặp, túi, giỏ xách phải để ở nơi dành riêng
 Không được nếm bất cứ chất gì, khơng ngửi trực tiếp khí hay chất có mùi.
 Rửa khi thật kỹ bằng xà phịng trước khi ra khỏi phịng thí nghiệm

6


 Tìm ngay thiết bị ứng cứu sự cố khi bước vào phòng, bao gồm: nơi ngắt điện,
nước; thiết bị chữa cháy, vịi nước rửa mắt, bồn nước, hóa chất cấp cứu…

7


1.5.

Lưu ý khi sử dụng hóa chất
Cần tuân thủ nghiêm các quy định sử dụng hóa chất, chú ý các kí hiệu ghi trên

chai,


lọ

đựng

hóa

Các chất dễ cháy, dễ bay hơi không đặt gần ngọn lửa, không dùng ngọn lửa trần
Các chất, dung môi độc khi pha chế phải tiến hành trong tủ hút và phải cẩn
thận.
VD: không cho nước vào acid đậm đặc, Na kim loại không để gần nước…

8


Các dung mơi đã sử dụng phải gom vào bình thu hồi để xử lý riêng, không
được xả trực tiếp vào nguồn nước thải
Chai, lọ đựng hóa chất bắt buộc phải có ghi tên hóa chất, ngày bắt đầu sử dụng,
tên người sử dụng, đặt đúng nơi quy định. Người dùng phải có trách nhiệm cất giữ,
bảo quản hóa chất của mình.
Sau khi kết thúc quá trình làm việc, nghiên cứu hoặc thực hành, mỗi cá nhân tự
thu gom, ghi tên nhãn hóa chất mình đã dùng và phân loại để xử lý

9


Những sai sót trong việc khơng ghi tên nhãn, hoặc ghi sai sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm
trọng trong quá trình làm việc
1.6.


Ký hiệu của NFPA-704
Gồm 1 hình thoi lớn được chia thành 4 hình thoi nhỏ với màu sắc khác nhau

gồm đỏ, xanh dương, vàng và trắng. Được đánh số từ 0 đến 4 với mức nguy hại tăng
dần ( 0: không nguy hại, 4: nguy hại nhất)
Màu đỏ: chỉ khả năng bắt lửa (0: không cháy, 4: dễ bắt
lửa khi để ngồi khơng khí)
Màu xanh: Chỉ mức độ ảnh hướng đến sức khỏe
Màu vàng: Chỉ độ hoạt động như khả năng nổ, ăn mịn
Màu trắng: Thơng tin đặc biệt về độ nguy hại
VD: ký hiệu W: chỉ các chất phản ứng mạnh với nước
như: H2SO4, Na, Ce (Xesi)
Ký hiệu OX: chỉ các chất oxy hóa mạnh như KMnO4,
10


NH4NO3, H2O2
1.7.

Lưu ý khi sử dụng dụng cụ thủy tinh
Khi cho ống thủy tinh qua nút cao su phải cẩn thận, rất dễ gãy
Khơng cho nước nóng, nước sơi vào dụng cụ thủy tinh đang lạnh
Nếu bị đứt tay do thủy tinh, cho chảy máu vài giây để chất bẩn ra hết rồi dùng

cồn 900 rửa và băng lại
Dụng cụ thủy tinh vỡ cần thu gom riêng với các loại rác thải khác
Cẩn thận khi sử dụng nhiệt kế thủy ngân, nếu đã bị vỡ phải thông báo ngay cho
giáo viên hoặc phụ trách phịng thí nghiệm để xử trí. Thủy ngân thốt ra ngồi sẽ
thăng hoa gây ảnh hưởng sức khỏe nghiêm trọng.


Cách xử trí thủy ngân khi vỡ nhiệt kế: đeo bao tay, gom các giọt thủy ngân lại,
dùng lưu huỳnh dạng bột (màu vàng) rắc lên giọt thủy ngân để ngăn bay hơi, sau đó
chuyển hỗn hợp này vào 1 bình tối màu có chứa dung mơi hữu cơ (hoặc cũng có thể
dùng nước). Đậy kín và ghi nhãn có chứa thủy ngân bên trong. Nếu khơng có lưu
huỳnh, vẫn phải thực hiện bước tiếp theo là gom các giọt thủy ngân và đưa vào bình
chứa có sẵn dung môi

11


BÀI 2: NHÂN SỰ
I. Một số sự cố xảy ra trong phịng thí nghiệm
1. Chưng cất benzene trong 1 hệ chưng cất hồn lưu. Hệ thống có sự cố, hơi
benzene thốt ra ngồi, tràn đầy trong tủ hút và phát nổ có thể do tiếp xúc với
nguồn tia lửa điện. PTN chứa nhiều dung môi nên lan rất nhanh.
Thiệt hại: 100% ptn
Trách nhiệm: đây là thí nghiệm đơn giản, được thực hiện nhiều lần.
 Người thực hiện do lơ là, khơng theo dõi trong q trình thực hiện.
 PTN vi phạm nguyên tắc chứa đồng thời nhiều chất dễ cháy trong ptn
 PTN khơng có hệ thống chữa cháy chủ động trong tủ hút
Ngun nhân:
 Hệ thống khơng kín
 Khả năng hồn lưu kém dẫn đến khơng ngưng tụ được hơi dung môi

12


2. Chưng cất dietyl eter trong bình cầu. Hệ thống cháy nổ
Ngun nhân: eter có chứa peroxide
Trách nhiệm: khơng kiểm tra hàm lượng peroxide trước khi chưng cất

Không theo dõi thí nghiệm, dẫn đến bình chưng cất gần cạn, nồng độ peroxide tăng
dần gây nổ
Biện pháp phòng ngừa:
 Eter mua đủ dùng, khơng trữ eter dài hạn
 Để chỗ thống mát, tránh bốc hơi tạo áp suất
 Kiểm tra peroxide nếu có nhiều thì loại bỏ
 Khơng bao giờ chưng cất eter đến cạn (chừa lại 10-15%)
3. Kỹ thuật viên làm đổ dd HF 70% lên đùi, mặc dù đã rửa rất nhiều nước trước
khi được đưa đi cấp cứu nhưng vẫn tử vong
Phòng ngừa:
13


 HF gây bỏng rất nặng, ăn sâu vào thịt, cần phải hết sức thận trong khi thao tác
với HF
 Phải có quần áo bảo hộ che kín người, mặt, chân tay và cần phải có Calcium
gluconate (C12H22CaO14) để sơ cứu
 Cần lưu ý với dung dịch HF lỗng vì lúc đầu không thấy bỏng, nhưng dần dần
sẽ bỏng nhiều nên khi bị dính phải HF phải chữa trị ngay. Ngoài ra TFA
(Trifloro acid acetic) là chất dễ bị thủy phân trong khơng khí ẩm sinh ra HF

Phỏng do Hydrofluoric Acid
II. Xử lý các tai nạn thông thường
1. Bỏng:
 Khi bị bỏng nhiệt: nếu bị bỏng nhẹ, bôi ngay dung dịch KMnO4 loãng hoặc
rượu EtOH vào chỗ bị bỏng sau đó bơi glycerine, vaselin.
 Khi bị bỏng do acid: rửa chỗ bỏng nhiều lần bằng nước rồi rửa bằng NaHCO3
2%, đưa đến bệnh viện hoặc trạm xá
 Khi bị bỏng kiềm: rửa chỗ bỏng nhiều lần bằng nước sau đó rửa bằng acid
acetic 1% hoặc acid citric (chanh), acid boric với nồng độ tương tự

 Khi bị bỏng brôm: rửa chỗ bị bỏng nhiều lần bằng rượu EtOH rồi rửa bằng
dung dịch Na2S2O3 10% sau đó bơi vaselin vào chỗ bỏng

14


 Khi bị bỏng Phosphor trắng: dùng bông tẩm dung dịch CuSO4 2% để đắp lên
vết thương
 Khi bị bỏng do phenol: rửa chỗ bị bỏng nhiều lần bằng glycerin cho tới khi màu
da trở lại bình thường rồi rửa bằng nước, sau đó băng vết thương bằng bơng
tẩm glycerin
2. Ngộ độc:
 Khi hít phải khí Clo hay Br: ngửi bằng dung dịch NH3 lỗng rồi đưa ra chỗ
thống
 Khi hóa chất bắn vào mắt: dùng bình tia xịt thẳng nước sạch vào mắt trong 10
phút, nếu là acid thì rửa tiếp bằng dung dịch NaHCO3 2%. Nếu là kiềm thì phải
rửa bằng dung dịch NaCl đẳng trương (nước muối sinh lý NaCl 0.9%)
 Ngộ độc do ăn phải hợp chất thủy ngân (Hg): trước hết phải làm cho nôn ra và
cho uống sữa có pha lịng trắng trứng, sau đó cho uống than hoạt tính
 Ngộ độc vì ăn phải phosphor (P) trắng: làm cho nạn nhân nôn ra rồi uống dung
dịch CuSO4 2%. Khơng được uống sữa, lịng trắng trứng và dầu mỡ vì các chất
này hịa tan phosphor
 Ngộ độc vì hợp chất của chì (Pb): cho uống Na2SO4 10% hoặc MgSO4 10%
trong nước ấm vì các chất này tạo kết tủa với chì sau đó uống sữa có lịng trắng
trứng và uống than hoạt tính
 Ngộ độc benzene: gây nôn, làm hô hấp nhân tạo, cho uống café
3. Tai nạn khác:
 Khi bị thương bởi mảnh thủy tinh: gắp hết mảnh thủy tinh ra khỏi vết thương,
bôi cồn iod 3% rồi băng vết thương lại. Nếu chảy máu nhiều thì cột garrot rồi
đưa đi bệnh xá



Khi có đám cháy: tắt hết điện hay bếp điện trần, phủ ngọn lửa bằng cát, nếu cần
thì dùng bình khí CO2

15


 Nếu có người bị điện giật: lập tức tắt cầu dao, tách người bị nạn khỏi nguồn
điện và làm hô hấp nhân tạo nếu bị ngất
III. Các thao tác sơ cứu
1. Phương pháp cầm máu
Cầm máu mao mạch:
 Nhanh chóng đè ép trực tiếp lên vết thương bằng tay hoặc dùng tay ép 2 mép
vết thương lại (thời gian ép 3 – 5 phút).
 Có thể dùng băng cuộn băng chặt lại.
Cầm máu tĩnh mạch:
 Nếu ở tứ chi đè ép phía dưới vết thương (dưới đường đi của mạch máu).
 Có thể dùng con chèn (bằng băng cuộn hay chai nhỏ) chận phía dưới vết
thương băng chặt lại.
 Đứt mao mạch và tĩnh mạch sau khi cầm máu cho nạn nhân nằm tư thế thoải
mái, nâng cao vùng tổn thương (nếu được).
 Nếu nạn nhân tỉnh : trấn an, cho uống nước.
 Chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất tùy tình trạng vết thương.
Cầm máu động mạch:
Ấn một điểm trên đường đi của động mạch :
 Dùng cho đứt những động mạch lớn mà chúng ta không thể băng ép lên vết
thương, phương pháp này chỉ áp dụng một thờn gian ngắn, tạm thời.
Ví dụ : động mạch cảnh, động mạch nách, động mạch cánh tay cẳng tay,…



Lưu ý :

o Nếu vết thương chảy máu có dị vật như mãnh gỗ, kim loại hoặc bất kỳ vật gì
đâm vào mà vẫn cịn cấm ở vết thương thì khơng được rút ra khỏi vết thương.
o Trường hợp này ta đệm xung quanh dị vật bằng vải hay khăn sau đó dùng băng
ép lại rồi chuyển nạn nhân đến bệnh viện.
16


o Nếu băng ép áp lực trực tiếp lên vết thương mà khơng cầm máu được, máu chảy
ra nhiều thì phải dùng các biện pháp khác để cầm máu.

2. Làm garô
Nguyên tắc làm garô:
 Garô chỉ áp dụng khi đứt động mạch tứ chi.
 Garô phải bản rộng.
 Không đặt garô trực tiếp lên da nạn nhân.
 Vết thương nhỏ đặt garơ phía trên vết thương 2cm. Vết thương lớn đặt garô trên
vết thương 5cm không lỏng hoặc chặt quá.
 Phải luôn luôn theo dõi chi đặt garô không để chi trong tình trạng thiếu máu
ni dưỡng.
 Tổng số giờ đặt garô tối đa không quá 6 giờ.
 Tối đa không quá 1 giờ nới garô một lần, mỗi lần nới khơng q 1 phút.
 Phải có phiếu garơ ghi rõ ràng bằng màu đỏ đặt nơi dễ thấy.
 Vận chuyển ưu tiên số 1.
Garô cao su:
17



o
-

Dụng cụ:
1 băng cao su to bản.

. Chi trên dài ít nhất 1m rộng 4cm
. Chi dưới dài ít nhất 1,5m rộng 6cm.
-

1 mảnh vải hay gạc

. Chi trên 30cm rộng 5cm
. Chi dưới 50cm rộng 7cm.
o
-

Băng cuộn. gạc miếng, phiếu garô.

Kỹ thuật tiến hành:
Đặt garô cách vết thương 2cm hay 5cm tùy vết thương (đã quấn vải lót)
. Vịng 1: vừa phải.
. Vòng 2: chặt hơn vòng thứ nhất.
. Vịng 3: chặt nhất (quyết định sự cầm máu).
-

Đặt ngón tay cái vào vòng cao su quấn tiếp vòng thứ tư.

-


Nâng ngón tay cái lên, nhét cuộn garơ cịn lại vào vị trí đó.

-

Xử trí vết thương: sát khuẩn xung quanh, đặt gạc, băng lại.

-

Viết phiếu garô đặt nơi dễ thấy.

-

Nới garơ:
. Luồn 2 ngón tay vào vịng cuối cùng nâng lên, rút cuộn garơ vừa cuộn

lại vừa
nới hết vịng thứ 3 từ từ.
. Quan sát vùng dưới vết thương thấy hồng, ấm lại thì tiếp tục garơ trở lại.
Ghi lần nới garô vào phiếu garô.
Garô ứng chế:
Trong thực tế khơng phải lúc nào ta cũng có đầy đủ dụng cụ như trên. Mà phải
theo điều kiện cụ thể nơi xảy ra tai nạn để chuẩn bị những dụng cụ có sẵn tại đó.
o

Dụng cụ:
18


-


Khăn mùi xoa 2 – 3 chiếc, mảnh vải, băng cuộn để làm dây garô.

-

Một que nhỏ dài khoảng 15 – 20cm (đủa, bút chì, thước kẻ,…)

-

1 – 2 mảnh vải nhỏ.

o

Kỹ thuật tiến hành:

-

Buột hơi lỏng trên vị trí định đặt garơ.

-

Đặt 1 cuộn băng hoặc một vật trịn để lên đường đi của động mạch.

-

Một tay luồn que vào vòng dây, một tay đỡ phần dưới của chi kéo căng da.

-

Tay cầm que bắt đầu xoắn cho dây chặt dần.


-

Quan sát vết thương thấy ngừng chảy máu là được.

-

Dùng mảnh vải buộc que vào chi.

-

Đặt gạc lên vết thương rồi băng lại.

-

Viết phiếu garô đặt nơi dễ thấy (trên ngực).
3. Phương pháp hà hơi thổi ngạt
 Đưa nạn nhân ra khỏi nơi tai nạn.
 Đặt nạn nhân nằm nơi thống khí, kê gối hay mền dưới vai để cổ ngửa ra phía
sau.
 Làm thơng đường thở:
 Cho nạn nhân nằm nghiêng, dùng ngón tay quấn gạc (hoặc vải sạch) lấy hết dị
vật trong miệng (nếu có: răng giả, đàm nhớt, bùn đất,…).
 Nới rộng áo lót, cà vạt, thắt lưng.
 Dùng một nút gạc chèn giữa 2 hàm răng phía trong má để miệng nạn nhân mở
ra.
 Cấp cứu viên (CCV) quỳ một bên ngang đầu nạn nhân (nếu nạn nhân nằm dưới
đất).
 CCV đứng (nếu nạn nhân nằm trên giường).

19



 Dùng 2 ngón tay đặt dưới càm, đẩy cằm ra phía trước để cằm hướng lên trên.
Tay kia đặt lên trán nạn nhân, ngón cái và ngón trỏ bóp mũi nạn nhân khi thổi
vào.
 CCV hít thật sâu, rồi áp miệng mình vào miệng nạn nhân thổi mạnh đồng thời
mắt hướng về phía lồng ngực quan sát lồng ngực nạn nhân có phồng lên xẹp
xuống theo nhịp thở khơng.


Lúc bắt đầu thổi liên tiếp 3 – 5 lần để phổi nạn nhân có nhiềi oxy.



Nếu khơng thấy lồng ngực hoạt động, phải kiểm tra tư thế đầu cằm có ngửa ra
sau tối đa khơng và đường hơ hấp có thông không ?

 Tiếp tục thổi:


15 – 20 lần/phút cho người lớn.



20 – 25 lần/phút cho trẻ em.



30 – 40 lần/phút cho trẻ sơ sinh.


 Thổi cho đến khi nạn nhân tự thở lại được.
 Lấy gối dưới vai.
 Theo dõi nhịp thở, mạch.
4. Phương pháp ép tim ngoài lồng ngực
 Đặt nạn nhân nằm ngửa trên mặt phẳng cứng.
 CCV quỳ bên cạnh nạn nhân (ngang tim). CCV đứng nếu nạn nhân nằm trên
giường.
 Dùng nắm đấm bàn tay đấm mạnh 1 – 2 lần vào 1/3 dưới xương ức (hơi chếch
sang bên trái) với độ cao tay đấm 50cm.
 Đặt gót của lịng bàn tay trái lên 1/3 dưới xương ức, bàn tay phải úp lên bàn tay
trái (đan các ngón với nhau) hai tay duỗi thẳng hai vai hướng thẳng vào hai tay.
 Dồn sức nặng của toàn thân ép xuống lồng ngực của nạn nhạn nhịp nhàng 60 –
80 lần/phút.

20


 Kiên trì ép cho đến khi tim đập trở lại. Khi cần thiết có thể thay người khác
nhưng phải đảm bảo liên tục.
 Trong khi cấp cứu phải theo dõi sắc mặt, mạch, đồng tử của nạn nhân. Sau 60
phút tim khơng đập, đồng tử giãn thì thơi.
 Khi tim đập trở lại, ổn định cho nạn nhân nằm thoải mái, đấp ấm và theo dõi
tiếp tục mạch, nhịp thở nạn nhân.
IV. Các biện pháp phòng ngừa
 Phải tuân thủ nghiêm ngặt nội quy PTN
 Hạn chế số lượng hóa chất lưu giữ trong PTN
 Biết phân loại lưu trữ hóa chất
 Bảo đảm an tồn hế thống điện
 An tồn phịng cháy khi sử dụng khí gas
 An tồn phịng cháy nổ khi sử dụng các bình khí nén

 Kiểm tra hệ thống ống dẫn khí
 Chất lỏng dễ bay hơi, dễ cháy: để nơi mát
 Chất dễ phân hủy: tránh bụi bẩn, ẩm, ánh sáng (H2O2, Na2O2)
 Cấm nghiền chất oxi hóa mạnh (KClO3, KNO3, NaNO3…)

21


BÀI 3: THIẾT BỊ VỆ SINH VÀ AN TOÀN LAO ĐỘNG
Phương tiện chữa cháy thơng dụng (Nguồn trích dẫn: www.pccchochiminh.com)
I. Bình chữa cháy bằng CO2
Bình khí CO2 chữa cháy có rất nhiều loại khác nhau về dung tích và hình dáng
(do nhiều nước khác nhau chế tạo sản xuất nhưng đều có đặc tính cấu trúc tác dụng
bảo

quản

giống

nhau.

Khí CO2 gồm 1 nguyên tử cabon và 2 nguyên tử oxy tạo thành gọi là oxytcacbon.CO2
là loại khí trơ khơng mùi, khơng màu, khơng dẫn điện nặng hơn khơng khí 15 lần.
1. Cấu tạo bình CO2: có 3 bộ phận chính.
 Vỏ bình: làm bằng kim loại chịu áp lực cao 250kg/cm.
 Hệ thống van nạp khí xả (cấu tạo tay vặn hoặc mỏ vịt), van an tồn.
 Vịi loa phun: làm bằng vật liệu chịu nhiệt cách điện
2. Đặc tính kỹ thuật:
 CO2 nén vào bình với áp lực tối đa 180kg/cm và hóa lỏng ở trong bình.
 Khi phun ra khỏi bình ở trạng thái khí ( như sương , tuyết lạnh.)

3. Tác dụng chữa cháy của CO2:
 Làm giảm hàm lượng oxy tới điểm không hỗ trợ cho sự cháy.
 Làm lỗng hỗn hợp cháy.
 Làm lạnh
4. Bình CO2 chữa được các đám cháy:
 Chất cháy lỏng hay cháy rắn hóa lỏng được (đám cháy loại B)
 Chất cháy khí ( đám cháy loại C)
 Cháy thiết bị điện
 Cháy chất rắn có gốc hữu cơ.
( cháy trong điều kiện kín dùng CO2 chữa cháy có hiệu quả cao)
5. Bình khí CO2 khơng thích hợp chữa các đám cháy:

22


 Hóa chất chứa nguồn cung cấp ơxy (như xenlulơ, nitơrat)
 Kim loại có hoạt tính hóa học và hydroxyt của chúng
 Than cốc và chất nổ đen.
6. Thao tác:
 Khi xảy ra cháy mang bình CO2 tiếp cận đám cháy
 Rút chất an tồn hoặc bỏ kẹp chì.
 Một tay cầm loa phun vào đám cháy cho tới khi đám cháy tắt.
 Khi phun đứng ở đầu chiều gió, khơng cầm tay vào các vị trí nối liên kết với
loa phun, khơng phun vào nguời vì có thể gây bỏng lạnh hoặc CO2 đậm đặc quá
gây ngạt
7. Bảo quản bình CO2:
 Để nơi khơ ráo thống mát dễ thấy dễ lấy.
 Đặt ở nơi nhiệt độ không quá 55oC.
 Không để nơi ẩm ướt và không được bôi dầu mỡ để bảo quản.
II. Bình chữa cháy bằng bột

Hiện nước ta đang sử dụng 3 loại bình bột chữa cháy của Trung Quốc: bình hệ MF, hệ
MFZ và bình chữa cháy tự động ZYW.
Hệ MF bên trong có bình chứa khí đẩy CO2 .Riêng khơng có đồng hồ.
Hệ MFZ khí đẩy nạp trực tiếp vào bình chứa bột có đồng hồ, khí đẩy N2.
Bình chữa cháy tự động cấu tạo có móc treo, ống bao gồm đầu phun, bình hình cầu.
1. Cấu tạo bình bột chữa cháy
 Có nhiều kiểu dáng khác nhau nhưng đều có 3 bộ phận chính.
 Bình chứa bột và khí đẩy bằng kim loại chịu áp lực cao
 Hệ thống van
 Vòi phun và loa phun
2. Đặc tính kỹ thuật:

23


 Bột chữa cháy trong bình là hỗn hợp hóa chất màu trắng, bột mịn, có ký hiệu
loại nào thì chỉ định dập tắt đám cháy loại đó có hịêu quả cao ( bột ABC, BC,
AB)
 Trọng lượng bột tùy theo dung tích chứa của bình.
 Khí đẩy CO2, N2 chứa lẫn trong bình chứa bột hoặc chứa trong bình thép, nằm
bên trong trong bình chứa bột.
 Áp lực đẩy từ 14 – 16 kg/cm2
 Bột khí đẩy trơ, khơng cháy, không dẫn điện với điện áp dưới 50 V
 Chỉ sử dụng được 1 lần.
3. Tác dụng chữa cháy
 Làm giảm nồng độ hợp chất cháy và oxy trong vùng cháy
 Làm ngạt và làm lạnh đám cháy
4. Các loại cháy có thể chữa bằng bình bột
 Chữa các đám cháy mới phát sinh rất có hiệu quả
 Chữa các đám cháy chất rắn, lỏng, khí, hóa chất, chữa cháy điện có hiệu điện

thế dưới 50V
 Trên bình ghi ký hiệu gì thì chữa loại cháy đó sẽ hiệu quả
5. Thao tác
 Khi có cháy xách bình bột tiếp cận đám cháy.
 Rút chốt an tịan, dốc ngược bình lắc 1 vài lần.
 Một tay cầm loa phun hướng vào gốc lửa, cách gốc lửa khoảng 1,5m còn tay
kia bóp mỏ vịt, bột được phun vào dập tắt đám cháy.
 Khi phun đứng đầu chiều gió.
6. Bảo quản bình bột
 Để nơi khô ráo dễ thấy, dễ lấy
 Đặt ở nơi có nhiệt độ thấp hơn 55oC

24


 Khơng để nơi ẩm ướt có nhiều dầu mỡ
III. Chăn chữa cháy
 Chăn dùng trong chữa cháy thường là loại làm bằng sợi cotton, dễ thấm nước,
có kích thước thông thường là 2 x 1,6m.
 Khi phát hiện ra cháy cần nhúng chăn vào nước để nước thấm đều lên mặt chăn
rồi chụp lên đám cháy để ngăn cách đám cháy với mơi trường bên ngồi (tác
dụng làm ngạt), không cho ôxy của môi trường vào vùng cháy. Sở dĩ phải
nhúng chăn vào nước trước khi chữa cháy là để sợi bơng nở ra làm tăng độ kín
trên bề mặt chăn, hơn nữa khi chăn được thấm nước sẽ có tác dụng làm giảm
nhiệt độ của đám cháy dẫn đến đám cháy bị dập tắt.
 Khi dập lửa, hai tay cầm chắc hai góc tấm chăn, giơ cao lên phía trước che mặt
rồi nhanh chóng phủ kín đám cháy, đám cháy sẽ được dập tắt.
IV. Cát (thùng đựng cát, xẻng)
 Cát có nhiệt độ nóng chảy từ 1.710oC đến 1.725oC, nhiệt độ sơi là 2.590oC nên
có khả năng thu nhiệt lớn. Khi đưa cát vào đám cháy, một mặt cát hấp thụ

nhiệt, làm hạ nhiệt độ của đám cháy, mặt khác cát phủ lên đám cháy tạo ra một
màng ngăn cách ôxy với đám cháy làm cho lửa tắt (tác dụng làm ngạt). Cát là
chất chữa cháy dễ kiếm, rẻ tiền và sử dụng chữa cháy rất đơn giản.
 Cát thường được dùng để chữa các đám cháy chất lỏng rất có hiệu quả. Cát cịn
có tác dụng bao vây, ngăn cách chất lỏng cháy không cho tràn ra xung quanh,
gây cháy lan. Tại các cơ sở xăng dầu, các phịng thí nghiệm, các kho hố chất...
người ta thường dự trữ cát để chữa cháy.
 Để phục vụ cho việc chữa cháy có hiệu quả, cát thường được bố trí trong các
thùng, phuy, bể hoặc chứa trong các hố sâu trên mặt đất gần đối tượng cần bảo
vệ. Để dập cháy, đưa cát vào đám cháy, tại nơi chứa cát cịn phải bố trí xẻng

25


×