Tải bản đầy đủ (.pdf) (127 trang)

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý - Nghề: Dược (Trình độ Cao đẳng): Phần 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (837.78 KB, 127 trang )

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG CĐ KỸ NGHỆ II

GIÁO TRÌNH

GIẢI PHẪU – SINH LÝ
NGHỀ: DƯỢC
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
(Ban hành theo quyết định số /
/QĐ-CĐKNII ngày tháng năm
trưởng Trường Cao Đẳng Kỹ Nghệ II)

của Hiệu

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)

2


Lời nói đầu
Kỹ thuật dược là nghề mới được Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho phép
đưa vào giảng dạy trong hệ thống trường nghề trong vài năm gần đây. Nghề này có
đặc thù liên quan mật thiết mã ngành Sức khoẻ, địi hỏi người học phải có đủ kiến
thức chuyên ngành Dược, một phần kiến thức ngành Y và kỹ năng sử dụng trang thiết
bị trong bào chế, bảo quản thuốc dùng cho chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Khoa Dược là một trong những khoa mới được thành lập trong hệ thống trường
Cao đẳng Nghề Kỹ thuật Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Trong q trình giảng
dạy nghề kỹ thuật dược theo Chương trình khung được Bộ ban hành, khoa đã chủ
động biên soạn bộ giáo trình đáp ứng việc đào tạo nghề dược trình độ cao đẳng nghề,
tạo nguồn cung lao động kỹ thuật ngành dược cho nhu cầu xã hội hiện nay.
Giáo trình GIẢI PHẨU SINH LÝ được biên soạn phù hợp nội dung chương


trình đào tạo nghề kỹ thuật dược trình độ cao đẳng. Giáo trình GIẢI PHẨU SINH LÝ
cung cấp kiến thức cơ sở y dược tạo nền tảng cho người học tiếp thu tốt hơn và hiểu
rõ hơn tác dụng của thuốc trên cơ thể người nhằm nâng cao chất lượng phục vụ cơng
tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng.
Giáo trình GIẢI PHẨU SINH LÝ thật sự cịn nhiều khiếm khuyết, khoa Dược
trên tinh thần cầu thị mong có nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, người học
nhằm hoàn thiện hơn nội dung và cập nhật kiến thức chuyên ngành đáp ứng nhu cầu
người học và sinh viên các chuyên ngành liên quan.
Phụ trách khoa Dược

3


CHƯƠNG 1: ĐAI CƯƠNG GIẢI PHẨU HỌC
GIỚI THIỆU MÔN GIẢI PHẪU HỌC NGƯỜI
Mục tiêu học tập:
Nêu được ý nghĩa giải phẫu học và các phương thức miêu tả giải phẫu.
Trình bầy được vị trí và tầm quan trọng của mơn giải phẫu học trong y học.
Nêu được các quy ước chung về tư thế, mặt phẳng giaỉ phẫu.
Nội dung:
1. Giải phẫu học và các phân môn của giải phẫu học
Giải phẫu học người (human anatomy) là nghành khoa học nghiên cứu cấu
trúc cơ thể người. Tùy thuộc vào phương tiện quan sát, giải phẫu học được chia thành
hai phân môn: giải phẫu đại thể (gross anatomy hay macroscopic anatomy) nghiên
cứu các cấu trúc có thể quan sát bằng mắt thường và giải phẫu vi thể (microscopic
anatomy hayhistology) nghiên cứu các cấu trúc nhỏ chỉ có thể nhìn thấy qua kính
hiển vi.
2. Các phương thức mô tả giải phẫu
Tùy theo mục đích nghiên cứu, có nhiều cách mơ tả khác nhau. Ba cách tiếp
cận chính trong nghiên cứu giải phẫu là giải phẫu hệ thống, giải phẫu vùng và giải

phẫu bề mặt.
Giải phẫu hệ thống (systemic anatomy) là cách mô tả mà ở đó cấu trúc của
từng hệ cơ quan (thực hiện một chức năng nào đó của cơ thể) được trình bày riêng
biệt. Giải phẫu hệ thống thích hợp với mục đích giúp người học hiểu được chức năng
của từng hệ cơ quan. Các hệ cơ quan của cơ thễ có: hệ da, hệ xương, hệ khớp, hệ cơ,
hệ thần kinh, hệ tuần hồn, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu, hệ sinh dục và hệ nội tiết. các
giác quan là một phần của hệ thần kinh.
Giải phẫu vùng (regional anatomy) hay giải phẫu định khu (topographical
anatomy) là nghiên cứu và mô tả giải phẫu của tất cả các cấu trúc (thuộc các hệ cơ
quan khác nhau) trong một vùng, bao gồm cả lien quan của chúng với nhau. Cơ thể
được chia thành những vùng lớn sau đây: ngực, bụng, đáy chậu và chậu hông, chi
dưới, chi trên, lưng, đầu và cổ. mỗi vùng này lại được chia thành những vùng nhỏ
hơn.
Giải phẫu bề mặt (surface anatomy) là mơ tả hình dáng bề mặt cơ thể người.
đặc biệt là những liên quan của bề mặt cơ thể với những cấu trúc sâu hơn như các
xương và các cơ. Mục đích chính cua giải phẫu bề mặt la giúp người học hình dung
ra những cấu trúc nằm dưới da. VD: ở những người bị vết thương do dao đâm, thầy
thuốc phải hình dung ra những cấu trúc bên dưới vết thương có thể bị tổn thương.
3. Vị trí của mơn giải phẫu trong y học:
Trong y học, giải phẫu học đóng một vai trị của một mơn học cơ sở. Kiến thức
giải phẫu học người là kiến thức nền tảng, giúp ta hiểu được hoạt động của cơ thể
người (sinh lí học) Fernel noi rằng “ giải phẫu học cần cho sinh lí học giống như mon
4


địa lí cần cho mơn lịch sử”. Giải phẫu học cũng là nền tảng kiến thức căn bản của tất
cả các chuyên ngành lâm sàng.

5



4. Tư thế giải phẫu
Tất cả các mô tả giải phẫu được trình bày trong mối liên quan với tư thế giải
phẫu để đảm bảo rằng các mơ tả đó được rõ rang và chính xác. Một người ở tư thế
giải phẫu và một người đứng thẳng với: đầu, mắt và các ngón chân hướng ra trước,
cac’ gót chân va các ngón chân áp sát nhau, và hai tay bng thong ở hai bên với các
gan bàn tay hướng ra trước.
5. Các mặt phẳng giải phẫu
Những mô tả giải phẫu đươc bốn loại mặt phẳng giải phẫu cắt qua cơ thể ở tư
thế giải phẫu. Có nhiều mặt phẳng đứng dọc, đứng ngang và nằm ngang nhưng chỉ có
một mặt phẳng đứng dọc giữa. Tác dụng chính của các mặt phẳng giải phẫu là để mô
tả các mặt cắt và hình ảnh của cơ thể.
Mặt phẳng đứng dọc giữa (medial sagital plane) là mặt phẳng thẳng đứng đi
dọc qua trung tâm của cơ thể, chia cơ thể thành các nửa phải và trái.
Các mặt phẳng đứng dọc (sagittal planes) là những mặt phẳng thẳng đứng đi
qua cơ thể song song với mặt phẳng đứng dọc giữa.
Các mặt phẳng đứng ngang (coronal/frontal planes) là những mặt phẳng thẳng
đứng đi qua cơ thể vng góc với mặt phẳng đứng dọc giữa chia cơ thể thành các
phần trước và sau.
Các mặt phẳng nằm nang (horizontal planes) là các mặt phẳng đi qua cơ thể
vng góc với các mặt phẳng đứng dọc giữa và đứng ngang. Một mặt phẳng nằm
ngang chia cơ thể thành các phần trên và dưới.
6. Các từ chỉ mối quan hệ vị trí và so sánh
Có nhiều tính từ được sử dụng để mô tả mối liên hệ về vị trí của các phần cơ
thể ở tư thế giải phẫu bằng cách so sánh vị trí tương đối của hai cấu trúc với nhau,
một cấu trúc đơn lẻ với bề mặt hoặc đường giữa, hay một cấu trúc với các cực co thể.
Dưới đây là những từ thường được sử dụng.
Trên (superior/cranial/cephalic) là nằm gần hơn về phía đầu; ví dụ nói “Tim
nằm trên cơ hồnh” nghĩa là nói Tim nằm gần đầu hơn cơ hồnh, nói cái gì đó đi về
phía đầu tức là nói đi lên phía trên.

Dưới ( inferior/caudal) là nằm gần hơn về phía bàn chân ; ví dụ nói “ Dạ dày
nằm dưới tim” nghĩa là nói dạ dày nằm gần bàn chân hơn so với tim.
Trước (anterior) là ở gần mặt trước cơ thể hơn.
Sau (posterior) là nằm gần mặt sau cơ thể hơn.
Bên ( lateral) và giữa (medial). Bên là nằm xa mặt phẳng dọc giữa hơn, giữa
thì ngược lại. Gần (proximal) và xa (distal). Gần nghĩa là nằm gần thân hoặc là điểm
nguyên ủy (điểm gốc) của một mạch máu, thần kinh, chi hoặc cơ quan…hơn; xa có
nghĩa ngược lại. Nơng (superficial) là nằm gần bề mặt hơn và sâu (deep) là nằm xa bề
mặt hơn.
Bên trong ( internal) là ở gần hơn về phía trung tâm của một cơ quan hay
khoang rỗng. Bên ngồi (external) thì ngược lại.
6


BÀI 1: ĐẦU - MẶT - CỔ
Đầu và mặt có các cơ bám vào da và ở quanh các hốc tự nhiên. Cơ được chia
thành các nhóm.
1. Nhóm cơ vùng đầu: Gồm các cơ rất mỏng:
- Cơ chẩm chán: hai đầu là cơ, còn giữa là cân. Cơ bám vào xương chán ở
trước xương chẩm ở sau, tạo thành nếp nhăn ở trán.
- Hai bên thái dương có hai cơ thái dương.
2. Nhóm cơ vùng mặt: Có 4 nhóm cơ quanh các hốc tự nhiên để biểu lộ tình cảm.
2.1. Các cơ quanh hốc mắt:
- Cơ mày: ở trong cùng lơng mày để nhíu mày
- Cơ vịng mi: vịng quanh mi mắt để nhắm mắt
2.2. Các cơ quanh mũi:
- Cơ tháp: ở phần trên sống mũi
- Cơ ngang mũi: vắt ngang mũi.
- Cơ nở mũi làm cánh mũi rạng ra
- Cơ lá làm cánh mũi hẹp lại

2.3. Các cơ quanh miệng:
- Cơ vịng mơi: mím mơi
- Cơ mút: bú, mút, thổi lửa, thổi sáo
- Cơ nanh: thể hiện tính hung dữ
- Cơ tiếp khớp, tiếp nhỏ: thể hiện vui cười.
- Cơ kéo cánh mũi và môi trên ( nông và sâu)
- Cơ cười: cười khầy, nhạo báng
- Cơ vuông cằm làm căng da vùng cằm
- Cơ chòm râu.
2.4. Các cơ quanh tai: Gồm các cơ tai trước tai trên và tai sau. Các cơ này ở động vật
thì cử động tai.
Ngồi 4 nhóm cơ nói trên thì cịn có cơ bám da cổ chạy từ ngực, cổ đến xương
hàm dưới.
2.5. Nhóm cơ nhai:
Để cắn khít hàm răng tức là kéo xương hàm dưới lên và đưa sang 2 bên (
nghiền, nhai)
- Cơ thái dương: từ xương thái dương đến xương hàm dưới
- Cơ cắn: từ mỏm đến xương hàm dưới.
- Cơ chân bướm trong và cơ chân bướm ngoài bám vào mặt trong và mặt ngoài
chân bướm, đến bám vào xương hàm dưới.
2.6. Mạch máu thần kinh:
Nuôi dưỡng vùng đầu mắt là do động mạch cảnh ngoài , thần kinh chi phối là
thần kinh sọ não số VII và V
7


3. Cổ:
Ở phía trước và hai bên, chia làm hai khu là khu tạng ở giữa , khu cơ ở xung
quanh.
3.1. Khu tạng gồm:

- Thực quản ở sát phía trước cột sống, ở sau khí quản.
- Khí quản ở trước thực quản
- Hai bên khí quản là thùy bên tuyến giáp trạng, bộ mạch thần kinh cổ (động
mạch cảnh gốc, tĩnh mạch cảnh trong và dây thần kinh X). Ngoài ra giữa thực quản
và khí quản cịn có nhánh X quặt ngược.
3.2. Khu cơ ở xung quanh: chia làm hai lớp:
- Lớp cơ sâu: gồm các cơ trước cột sống ở giữa và các cơ bậc thang ở trước ,
giữa và sau. ở hai bên là các cơ hô hấp.
- Lớp cơ nông: gồm các cơ bao quanh tạng, chia làm hai khối.
+ Hai bên là cơ ức đòn chũm bám vào xương chũm, là cơ tùy hành của nhóm
thần kinh cổ.
+ Phía trước cổ có các cơ: 2 cơ ức giáp, 2 cơ vai móng, 2 cơ ức địn móng, 2 cơ
giáp móng.
Chú ý: 2 cơ ức địn móng và 2 cơ ức giáp tạo thành hình trám khí quản là nơi
mổ vào khí quản.
Ngồi các cơ này ra ở vùng trên xương móng cịn có các cơ: 2 cơ hám móng và
2 cơ cằm móng ở phía trước, 2 cơ nhị thân và 2 cơ trên móng ở hai bên phía sau.
3.3. Mạch máu, thần kinh:
Ni dưỡng cổ là động mạch dưới địn và động mạch cảnh ngồi, thần kinh
đám rối cổ và dây thần kinh XI, XII.
PHÚC MẠC VÀ PHÂN CHIA Ổ BỤNG
1. Phúc mạc:
Phúc mạc (màng bụng) là một lớp màng mỏng nhẵn, phủ mặt trong của thành
bụng rồi đi đến bao phủ các tạng và từ tạng này sang tạng khác vì vậy ta chia phúc
mạc thành 3 phần là: lá thành, lá tạng, nếp phúc mạc.
1.1. Lá thành:
Là phần phúc mạc mặt trong thành bụng.
1.2. Lá tạng:
Là phần phúc mạc bao phủ ở mặt ngoài của các tạng (thanh mạc)
1.3. Nếp phúc mạc :

Là phần phúc mạc đi từ thành bụng đến các tạng hoặc chạy từ tạng này sang
tạng kia. Trong các nếp phúc mạc có nhiều mạch máu và thần kinh nếp phúc mạc
được chia làm 3 loại là : mạc chằng, mạc treo và mạc nối.
1.3.1 Mạc chằng hay dây chằng:
Là nếp phúc mạc chằng có tạng đặc vào thành bụng.
8


Ví dụ: mạc chằng vành, mạc chằng liềm, dây chằng tử cung, dây chằng hoành
tỳ.
1.3.2 Mạc treo:
Là nếp phúc mạc treo các tạng rỗng vào thành bụng. Mạc treo có nhiều mạch
máu. Ví dụ: mạc treo đại tràng, mạc treo vòi trứng.
1.3.3 Mạc nối:
Là nếp phúc mạc nối tạng này với tạng kia. Có 2 mạc nối quan trọng.
- Mạc nối nhỏ: là hai là phúc mạc bọc gan đến mặt dưới gan từ hai bên chạy
đến gặp nhau và dính lại, từ mặt dưới gan đến bờ cong bé dạ dày lại tách ra bọc dạ
dày. Mạc nối nhỏ có cuống gan và vịng mạch bờ cong nhỏ.
- Mạc nối lớn: Hai lá phúc mạc sau khi bọc mặt trước và mặt sau dạ dày, đến
bờ cong lớn thì chập lại vòng xuống đến khớp mu giống bức rèm che phía trước rỗng
và hồi trang rồi lật ngược lại bám vào mặt trước khối tá tụy rồi dính vào thành bụng
sau.
* HẬU CUNG MẠC NỐI:
Là khoang ảo ở mặt sau dạ dày do các tạng và mạc nối tạo thành. Hậu cung
mạc nối gồm các mặt :
- Phía trước là dạ dày ở trên, mạc nối lớn ở dưới.
- Phía sau là cơ hồnh ở trên, khối tá tụy và thận trái ở dưới.
- Phía trên là cơ hồnh.
- Phía dưới là mạc treo đại tràng ngang.
- Phía trái là tỳ có mạc nối vị tỳ và mạc nối tụy tỳ.

- Phía phải là khe thơng từ hậu cung mạc nối với ngoài. Khe tạo bởi tĩnh mạch
chủ dưới ở sau trước là bờ phải của mạc nối nhỏ trong đó có cuống gan. Trên là thùy
Spiegen (spiegel) của gan. Khe đó có tên là Uyn-slơ (Winslow).
Ta có thể đặt ngón trỏ vào khe này để thăm khám cuống gan, ống mật chủ.
Trong ngoại khoa thường vào hậu cung mạc nối để thăm mặt sau dạ dầy, và
nối thông vị tràng qua mạc treo đại tràng ngang.
2. Phân chia ổ bụng:
Lấy phúc mạc làm ranh giới, những tạng được phúc mạc bao bọc gần hết hoặc
bao bọc hết gọi là tạng nằm trong ổ phúc mạc. Tạng được phúc mạc đi qua một mặt
gọi là tạng ngoài phúc mạc. Dù tạng nằm trong phúc mạc hoặc ngoài phúc mạc đều
gọi là trong ổ bụng.
- Những tạng nằm ngoài phúc mạc (ngoài màng bụng).
Lại chia làm 2 phần : sau phúc mạc, dưới phúc mạc.
+ Tạng nằm sau phúc mạc: Hai thận, niệu quản tuyến thượng thận, động mạch
chủ bụng, tĩnh mạch chủ dưới.
+Tạng nằm dưới phúc mạc: Gồm bàng quang, các tạng sinh dục và trực tràng.
- Những tạng nằm trong phúc mạc:
+ Tầng trên đại tràng ngang gồm: Gan, dạ dày tỳ và hầu hết khối tá tụy. Tầng
này được mạc chằng liềm chia thành ơ dưới hồnh phải và ơ dưới hồnh trái.
9


+ Tầng dưới đại tràng ngang: Gồm hỗng tràng hồi tràng và một phần rất ít của
khối tá tụy. Tầng này có rễ mạc treo tiểu tràng ngăn cách thành ô dưới bên phải đến
manh tràng (hố chậu phải) và ổ dưới bên trái đến tận túi cùng Dougla.

10


BÀI 2: HỆ XƯƠNG


Mục tiêu học tập:
Trình bày được cầu tạo xự hình thành và phát triển của xương.
Mơ tả được những đặc điểm hình thể chính của xương.
Gọi đúng được cơ các chi tiết trên phương diện thực hành giải phẫu.
Nội dung:
ĐẠI CƯƠNG
1. Thành phần của bộ xương:
Bộ xương người có 206 xương chia thành:
- Các xương trục: Xương sọ và xương mặt, cột sống, xương xườn và xương ức.
- Các xương phụ: xương chi trên, xương chi dưới.
Ngoài ra cịn có xương vừng trong các gân cơ, và những xương bất thường
khác.
2. Chức năng:
Xương có 4 chức năng chính:
- Nâng đỡ: Bộ xương tạo cho cơ thể một hình dáng và vị thế nhất định.
- Bảo vệ: Các xương tạo thành hộp sọ che chở cho não, lồng ngục bảo vệ tim
phổi, các mạc nối lớn, khung chậu chứa đựng bang quang, tử cung.
- Vận động: Xương là nơi các cơ đến bám nên khi co sẽ tạo cử động quanh các
khớp như là một đòn bẩy.
- Tạo máu và trao đổi các chất: Tủy xương tạo ra các hồng cầu, bạch cầu hạt và
tiểu cầu. Đồng thời nó cũng là nơi dự trữ mỡ, canxi, phot-pho…
3. Phân loại:
Có thể sắp xếp loại xương theo hình thể và theo nguồn gốc cấu trúc của nó.
3.1 Theo hình thể:
Có các loại sau:
- Xương dài như xương cánh tay, xương đùi.
- Xương ngắn như xương cổ tay, cổ chân…
- Xương bất định hình, như xương thái dương, xương hàm trên…
- Xương vừng như xương bánh chè

3.2 Theo nguồn gốc , cấu trúc xương:
- Xương màng như xương hộp sọ và một số xương sọ mặt.
- Xương sụn như xương chi, cột sống , xương ức , xương sườn , xương chậu…
4. Mơ tả
4.1. Hình thể lồi người:
Mỗi xương có một hình thể ngồi riêng biệt và có những chỗ lồi lõm được chia
làm 2 loại:
11


- Loại tiếp khớp (diện khớp).Loại tiếp khớp lõm được gọi là ổ chảo hay ổ cối .
Loại lồi gọi là lồi cầu, chỏm, hay rịng rọc.
- Loại khơng tiếp khớp : Chỗ lồi được gọi là lồi củ , củ , mỏm ,ụ ,gai , mào…
nơi lõm gọi là hố , rãnh , khe , ống khuyết…
Riêng ở một số xương sọ mặt có các hốc xương gọi là xoang hay hang.
4.2. Cấu tạo của xương dài:
Gồm có 1 thân xương hình ống và 2 đầu phình to gọi là đầu xương.
- Thân xương: cấu tạo bởi chất xương đặc được bao bọc trong màng xương , ở
giữa than xương co một hốc xương gọi là buồng tủy.
- Đầu xương: phần ngòi mỏng, cấu tạo bởi chất xương cốt mạc, trừ ở diện khớp
được thay bằng sụn khớp, phần trong xương dày là chất xương xốp
4.3. Cấu tạo xương ngắn: Tương tự như cấu trúc xương dài.
4.4 Cấu tạo xương dẹt và xương bất định hình:
Các xương vịm sọ cấu tạo bởi một lớp xương xốp ở giữa 2 bản xương đặc. Màng
xương chỉ phủ một mặt ngoài của bản ngồi.
4.5 Mạch máu và thần kinh:
Chui qua lỗ ni xương, để dinh dưỡng và cảm giác cho xương.
5. Sự tăng trưởng của hệ xương:
5.1 Sự cốt hóa
Cốt hóa là một q trình biến đổi mơ lien kết thường thành mơ lien kết rắn, đặc ngấm

đầy muối canxi, mơ xương.
Có 2 hình thức cốt hóa:
- Cốt hóa trực tiếp ( gọi là cốt hóa màng). Chất căn bản của mơ lien kết ngấm canxi
và biến thành xương được hình thành bằng cách này gọi là xương màng.
- Cốt hóa sụn: Các cơ bản của mô lien kết ngấm Cartiragen thành sụn, sau đó sụn này
biến thành xương.
5.2. Sự tăng trưởng:
Tăng trưởng theo chiều dài: Nhờ sụn đầu xương nối giữa đầu và than xương làm
xương tiếp tục tăng trưởng cho đến khoảng 25 tuổi thì ngừng.
Tăng trưởng theo chiều dày: Là do sự phát triển của cốt mạc.
5.3. Sự tái tạo xương:
Khi xương gãy, giữa nơi gãy sẽ hình thành tổ chức liên kết. Tổ chức liên kết này sẽ
ngấm canxi và biến thành xương và làm lành xương. Khi các đoạn gãy xa nhau thì xương
chậm liền hoặc tạo khớp giả. Vì vậy cần bất động với nơi gãy.

12


XƯƠNG ĐẦU MẶT
Các xương đầu mặt chia làm 2 phần:
- Khối xương sọ có 8 xương tạo thành hộp sọ não.
- Khối xương mặt gồm 15 xương tạo thành sọ mặt.
1. Khối sọ mặt:
1.1. Xương trán:
Nằm trước hộp sọ, gồm trái trán, phần mũi và phần ổ mắt. Mặt ngoài trái trán
ở bên đường giữa có ụ trán, cung mày và bờ trên ổ mặt. Bên trong xương ở bề trong
cung mày có 2 xoang trán ngăn cách nhau bởi một vết xương mỏng.
1.2. Xương sàng:
Ở phần trước nền sọ gồm có mảnh sàn nằm ngang, mảnh thẳng đứng thẳng góc
với mảnh sàn để tạo thành một vật của vách mũi và 2 mê đạo sàn treo phía dưới hai

bên mảnh sàn. Mỗi mê đạo sàn có các xoang sàn ở bên trong và 2 xương xoang trên
và giữa ở mặt trong, tạo với mặt này các ngách mũi trên và giữa.
1.3. Xương bướm:
Hình con bướm nằm giữa nền sọ. Phía trước tiếp khớp với xương trán, xương
sàn. Phía sau tiếp khớp với xương chẩm. Hai bên với xương thái dương. Xương
bướm gồm một thân bướm hai đôi cánh bướm lớn và nhỏ và mỏm chân bướm. Mặt
trên thân bướm là hố yên có tuyến yên nằm trong. Giữa 3 lỗ: Lỗ tròn, lỗ bầu dục và lỗ
gai. Bên trong thân xương bướm là xoang bướm.
1.4. Xương chẩm:
Ở sau dưới hộp sọ, gồm có 2 chẩm, phần nền và 2 phần bên. Bốn phần này bao
quanh lỗ lớn xương chẩm. Qua lỗ này hộp sọ thông với ống sống. Ở 2 bên lỗ lớn có 2
lồi cầu xương chẩm tiếp khớp với đôt sống cổ thứ nhất. Ở trước lồi cầu có ống thần
kinh hạ thiệt đi qua. Ở giữa mặt ngoài trái chẩm là ổ chẩm ngoài.
1.5. Xương đỉnh:
Là xương đơi, hai bên đỉnh sọ, hình hơi vng. Mặt ngoài xương cong thành
bướu gọi là ụ đỉnh.
1.6 Xương thái dương:
Cũng là xương đôi gồm 3 phần: Phần trai, phần đá, phàn nhĩ. Phần trai là một
phần thành bên của hộp sọ có mỏm gị má tiếp khớp với xương gị má. Phần đá có 3
mặt, nền khớp với vành tai và phần nhĩ tạo nên vách ngoài của sọ não và chỏm chũm.
Mặt sau này có lỗ ống tai trong để thần kinh mặt và thần kinh tiền đình ốc tai đi ra.
Phần nhĩ là mảnh xương cong nằm dưới trai và trước mỏm chũm, tạo thành
phần lớn ống tai ngoài.
2. Khối xương mặt:
Khối xương mặt gồm 15 xương, trong đó có 6 xương chẵn, là các xương: hàm
trên, gò má, mũi, lệ khẩu cái và xương xoăn mũi dưới. Cịn có 3 xương lẻ là các
xương: hàm dưới, lá mía và xương móng.
2.1. Xương hàm trên:
13



Là xương chính ở mặt, tiếp khớp với các xương khác để tạo thành ổ mắt, ổ mũi
và vòm miệng. Xương gồm một than, chứa xoang hàm trên ở trong và bốn mỏm là :
mỏm trán mỏm gò má, mỏm khẩu cái và mỏm huyệt răng. Các răng được trồng vào
những huyệt răng của mỏm này.
2.2. Xương khẩu cái:
Có 2 mảnh: Mảnh thẳng và mảnh ngang. Mảnh ngang của 2 xương khẩu cái
hợp thành phần sau nền miệng và nền mũi. Mảnh thẳng có mặt trong là phần sau của
thành ngồi lỗ mũi.
2.3. Xương gị má:
Có hình 4 cạnh khơng đều tạo nên 1 cung nối mặt với sọ gọi là cung gị má.
Mặt ngồi có vài cơ bám. Mặt thái dương liên quan với hố thái dương. Còn mặt ổ mắt
là phần trước thành ngoài ổ mắt.
2.4. Xương mũi:
Là mảnh xương hình chữ nhật tạo nên sống mũi.
2.5. Xương lệ:
Là xương nhỏ và mảnh dẻ nhất của khối xương mặt, nằm ở trước, thành trong
ổ mắt. Có mào lệ sau và rãnh lệ tạo nên một phần của ống lệ mũi.
2.6. Xương xoăn mũi dưới:
Là lá xương mỏng được treo lơ lửng ở thành mũi ngoài. Giữa xương với thành
này là ngách mũi dưới.
2.7. Xương lá mía:
Là một xương dẹt mỏng, có hình tứ giác khơng đều tạo nên phần sau và dưới
của vách mũi.
2.8. Xương hàm dưới:
Là xương lớn nhất, khỏe nhất, và cử động độc nhất của khối xương mặt.
Xương gồm một thân nằm ngang, hình móng ngựa, ở mỗi đầu có ngành hàm đi lên
trên. Mặt trước than xương có lối cầu ở giữa (lối cằm), hai bên có hai đường chéo,
trên đường chéo có lỗ cằm để thần kinh và mạch máu cằm đi qua. Mặt sau thân có gai
cằm và đường hàm móng. Bờ trên thân có nhiều huyệt răng. Ngành hàm có mặt ở

ngồi nhiều gờ để cơ cắn bám. Mặt trong có lỗ hàm dưới để mạch và thần kinh răng
dưới đi qua. Bờ trên ngành hàm có khuyết hàm dưới ở giữa. Phía trước khuyết hàm là
mỏm vẹt để cho cơ thái dương bám, phía sau là mỏm lồi cầu tiếp khớp với xương thái
dương.
2.9. Xương móng:
Hình chữ U, nằm ở hần trước cổ, giữa xương hàm dưới và thanh quản. xương
có một thân và 2 cặp sừng lớn và nhỏ, có nhiều cơ vùng cổ bám vào xương.
3. Các khớp đầu mặt:
Các xương đầu mặt nối với nhau bằng các khớp bất động. Chỉ trừ khớp thái
dương – hàm dưới là khớp động duy nhất để ta há miệng, ngậm miệng và nhai. Trên
trẻ sơ sinh còn thấy ở các góc của 2 xương đỉnh những khoang mà xương chưa tiếp
nối liền với nhau, gọi là thóp. Có thóp trước hình thoi ở nơi xương trán tiếp nối với 2
14


xương đỉnh. Thóp sau hình tam giác, là chỗ tiếp khớp giữa 2 xuong chẩm. Hai thóp
này là mốc để chuẩn đoán và tiên lượng một số cuộc đẻ.
CỘT SỐNG
Cột sống là một cột xương dài, uốn éo từ mặt dưới xương chẩm đến xương cụt.
Cột sống có từ 33-35 đốt sống, được chia làm 5 phần: phần cổ gồn 7 đốt, phần ngực
có 12 đốt, phần thắt lưng 5 đốt, phần cùng 5 đốt, và phần cụt có 4-6 đốt. Các đốt sống
cùng và cụt dính lại thành xương cùng và xương cụt.
1. Cấu tạo chung của các đốt sống:
Một đốt sống nói chung gồm các thành phần sau:
1.1. Thân đốt sống:
Hình trụ, có 2 mặt: trên và dưới, hơi lõm ở giữa và có một vành xương đặc ở
xung quanh.
1.2. Cung đốt sống:
Mọc ra từ phần sau trên của thân đốt sống, gồm có 2 cuống cung ở trước và 2
mảnh xương ở sau. Hai bờ trên và dưới của mỗi cuống có khuyết sống trên và khuyết

sống dưới. Khi 2 đốt sống khớp nhau thì các khuyết này tạo thành lỗ gian đốt sống để
dây thần kinh gai đốt sống chui ra. Từ cung đốt sống chồi ra 7 mỏm gồm: 1 mỏm gai,
2 mỏm ngang và 4 mỏm khớp ( 2 mỏm khớp trên và 2 mỏm khớp dưới). Cung đốt
sống cùng với thân đối sống tạo thành lỗ đốt sống. Khi các đốt sống ghép lại thành
cột sống thì các lỗ đốt sống tạo thành ống sống để bao bọc tủy gai ở trong.
2. Đặc điểm của từng loại đốt sống:
Các đốt sống của 3 đoạn cổ, ngực và thắt lưng có những đặc điểm riêng đối với
các mỏm, lỗ đốt sống… nhưng đặc điểm cơ bản để phân biệt chúng là: các đốt sống
cổ có lỗ ở mỏm ngang, gọi là lỗ ngang, các đốt sống ngực có hố sườn ở mặt bên thân
đốt sống để khớp với các đầu xương sườn , các đốt sống thắt lưng khơng có cả 2 đặc
điểm (lỗ ngang và hố sườn). Riêng đốt sống cổ I không có thân đốt sống và tiếp khớp
với xương chẩm nên gọi là đốt đội. Đốt sống cổ II có mỏm răng ( đốt trục), đốt sống
cổ VI có mỏm ngang lồi to ra thành củ cảnh, đốt sống cổ VII có mỏm gai dài thẳng ra
sờ thấy ngay dưới da (đốt sống lồi).
Xương cùng do 5 đốt sống cùng dính lại mà thành. Xương có hình tháp dẹt
trước sau nên có 2 mặt, một nền quay lên trên, một đỉnh quay xuống dưới tiếp khớp
với xương cụt và 2 phần bên. Mặt chậu hơng quay ra trước có 4 đơi lỗ cùng chậu
hông, lõm. Mặt lưng lồi và gồ ghề, có 4 cặp lỗ cùng lưng và các mào cùng: giữa,
trung gian và bên. Các lỗ cùng để cho các dây thần kinh gai sống chui qua. Bên trong
xương cùng có ống cùng lien tiếp ở phía trên với ống sống và trước các nhánh của
đuôi ngựa. Phần bên xương cùng có diện hình tai để khớp với xương chậu. Phía sau
diện này là lồi củ cùng, có các dây chằng bám vào. Chỗ xương cùng khớp với đốt
sống thắt lưng V tạo thành một góc lồi ra trước gọi là ụ nhơ. Đó là điểm mốc để đo
các dường kính trước, sau của eo trên khung chậu. Từ ụ nhô này chạy ngang qua 2
15


bên liên tiếp với mặt chậu hông của xương cùng là phần sau của đường tận cùng chậu
(hình).
Xương cụt do 4-6 đốt sống cụt tạo thành, là di tích của các lồi vật. Đỉnh

xương cụt quay xng dưới và là một mốc để đo các đường kính trước sau của eo
dưới khung chậu. Nền xương cụt quay lên trên để khớp với đỉnh xương cùng. Khớp
cùng cụt là một khớp bán động nên có thể cho phép xương cụt uốn cong ra sau khi
sinh nở.

XƯƠNG NGỰC
Ngực được tạo bởi khgung xương sụn gồm 12 đốt sống ngực, xương ức, các
xương sườn và sụn sườn.khung này hình nón cụt nên có 2 lỗ trên và dưới. lỗ dưới
được cơ hồnh bít lại ngăn cách ổ bụng ở dưới và lông ngực ở trên .
1 Xương ức:
Xương ức là một xương dẹt nằm ở thành trước của ngực và gồm 3 phần: cán
ức, thân ức và mỏm mũi kiếm. cán ức nối với thân ức bằng một góc lồi ra trước. bờ
trên có cán ức có khuyết tĩnh mạch ở giữa và hai khuyết đòn hai bên để khjowps với
đầu ức của xương địn . mỗi bờ trên có 7 khuyết sườn để khớp với 7 sụn sườn .
2. Xương sườn:
Có 12 đôi xương sườn , là những xương dài, dẹt, cong ở hai bên lồng ngực.
giwuax hai xương sườn kế tiếp nhau là khoang gian sườn.
2.1 Cấu tạo chung của các xương sườn:
Mỗi xương sườn có một đầu , một cổ và một thân.
- Đầu sườn có hai diện khớp ngăn cách nhau bởi một mào gọi là mào đầu sườn
để tiếp khớp với hố sườn ở mặt bên của thân hai đốt sống ngực kề nhau.
- Cổ sườn là phần thắt lại nối đầu sườn đến củ sườn , củ sườn nằm ở phần sau
chỗ nối giữa cổ và thân. Phía dưới trong của củ sườn có một diện khớp lồi để tiếp
khớp với hố sườn ngang của mỏm ngang đốt sống ngực.
- Thân dài, dẹt, rất cong doc theo bờ ở mặt trong có rãnh sườn để chứa mạch
và thần kinh gian sườn.
2.2. Điểm vài xương sườn đặc biệt:
- Xương sườn I: rộng và ngắn nhất. Có hai mặt trên và đưới. Mặt trên có tĩnh
mạch dưới địn ở phía trước và rãnh động mạch dưới địn ở sau. giữa hai rãnh là củ cơ
bật thang trước . mặt dưới khơng có rãnh sườn.

- Xương sườn II: có hai mặt chếch trên ngoài và dưới trong , ở phần giữa mặt
trên ngồi có lồi củ cơ răng trước
- Xương sườn XI và XII: đầu sườn chỉ có một mặt khớp , khơng có cổ sườn ,
củ sườn lẫn góc sườn . xương sườn XII khơng có rãnh sườn và ngắn hơn xương sườn
XI
16


- Sụn sườn : sụn sườn nối thân sườn với xương ức ở các khuyết sườn. bảy sụn
trên bám trực tiếp vào xương ức , có 3 sụn sườn VIII, IX và X thì bám vào xương ức
gián tiếp qua sụn sườn VII, hai xương sườn XI và XII không có sụn mà lơ lửng nên
gọi là sườn cụt. Nhờ các sụn sườn mà thành ngực có tính đàn hồi hơn , thích hợp với
các cử động hơ hấp.
XƯƠNG CHI TRÊN
Ở người có 4 chi gồm 2 chi trên và 2 chi dưới:
- Các xương bả vai: có 2 xương là xương đòn và xương vai gọi chung là đai
vai.
- Xương ở cánh tay: có một xương là xương cánh tay
- Các xương ở cẳng tay: có 2 xương là xương trụ và xương quay, khi cẳng tay
ngửa hai xương nằm song song, xương trụ ở trong, xương quay ở ngồi.
- Các xương cổ tay : có 8 xương nhỏ xếp thành 2 hàng , mỗi hàng có 4 xương.
- Các xương ở bàn tay: có 5 xương đốt bàn tay và 14 xương đốt ngón tay. Mỗi
ngón có 3 xương, ngón cái có hai xương
Các xương chi trên liên kết với nhau bởi khớp động.
1. Xương đòn:
Xương đòn là một xương dài, cong hình chữ s, nằm ngay dưới da ngang qua
phí trước nền cổ. Xương có một thân và hai đầu. đầu trong tiếp khớp với xương ức,
đầu ngoài tiếp khớp với xương vai.
1.1. Định hướng:
Đặt xương nằm ngang, đầu dẹt ra ngoài, bờ lõm đầu dẹt ra trước. mặt có rãnh

xuống dưới.
1.2. Mơ tả:
Xương địn có một thân, hai đầu. Thân xương có 2 mặt, hai bờ. mặt trên sờ
thấy ngay dưới da, mặt dưới có rãnh dưới đòn để cơ dưới đòn bám bờ trước lõm ở
phần ngoài, lồi ở phần trong. Bờ sau theo chiều ngược lại . Hai đầu xương là:
- Đầu ức ở trong tiếp khớp với xương ức
- Đầu cùng vai ở ngoài tiếp khớp với mỏm cùng vai của xương vai.
2. Xương vai:
Là một xương dẹt hình tam giác nằm áp phía sau trên của lồng ngực. Xương
vai khớp với xương địn và xương cánh tay phía ngồi , cịn ở phía trong được nối với
cột sống chỉ bằng các cơ.
2.1. Định hướng:
Đặt xương đứng ngang, góc có diện khớp hình xoan lên trên và ra ngồi, mặt
có gai nằm ngang ra sau.
2.2. Mơ tả:
Xương có 3 mặt, 3 bờ, 3 góc.mặt sườn lõm thành hố nhìn ra trước gọi là hố
dưới vai. Mặt lưng có gai vai chia mặt này thành hố trên gai và hố dưới gai, phần
17


ngoài của gai vai là mỏm cùng vai tiếp khớp với xương địn. Ba bờ là bờ trên có
khuyết vai va mỏm quạ, bờ ngồi và bờ trong. Ba góc là góc trên , góc dưới và góc
ngồi . Góc ngồi có một hõm khớp hình xoan gọi là để khớp với xương cánh tay
3. Xương cánh tay:
Là xương dài nhất và lớn nhất của chi trên, chạy từ khớp vai đến khớp khuỷu.
3.1. Định hướng:
Đặt xương đứng thẳng, đầu tròn lên trên và hướng vào trong, rãnh ở đầu này ra
trước.
3.2. Mơ tả:
Xương có một thân và hai đầu. đầu trên có một chỏm hình 1/3 trái cầu tiếp

khớp với ổ chảo xương vai. Xung quanh chỏm cầu xương hơi thắt lại gọi là cổ giải
phẫu. Phía dưới ngồi chỏm và cổ giải phẫu có hai củ : củ bé ở trong và củ lớn ở
ngoài. Giữa hai củ là rãnh gian củ. Ở ngay dưới hai củ này , đầu trên nối với thân
xương bởi một chỗ hẹp gọi là cổ giải phẫu thường gãy xương ở đây., thân xương có 3
mặt, 2 bờ: bờ trong bờ ngồi.Mặt trước ngồi có một vùng gồ ghề hình chữ V gọi là
lồi củ Delta.Mặt sau có rãnh để thần kinh quay và động mạch cánh tay sâu đi qua
nên thần kinh quay đi qua rất rễ tổn thương khi gãy 1/3 giữa cánh tay, mặt trước
trong phẳng. chỏm con ở phía ngồi và rịng rọc ở trong. Phía trên chỏm có hố quay
và phía trên rịng rọc là hố vet. Ở trên ngoài chỏm con là mỏm trên lồi cầu ngồi và ở
trên trong dịng rọc là mỏm trên lồi cầu trong . Mặt sau ở trên rịng rọc có hố mỏm
khuỷu.
4. Xương trụ:
Là một xương dài nằm ở phía trong cẳng tay, tiếp khớp phía ngồi với xương
quay, phía trên với xương cánh tay và phía dưới với đĩa khớp cổ tay.
4.1. Định hướng:
Đặt xương đứng thẳng , đầu lớn lên trên, mặt khớp lõm của đầu này ra trước ,
cạnh sắc của thân xương ra ngồi.
4.2. Mơ tả:
Xương trụ có một thân, 2 đầu , đầu trên rất to có mỏm khuỷu ở trên và mỏm
vẹt ở dưới . Giữa hai mỏm này là khuyết ròng rọc để khớp với rịng rọc xương cánh
tay. Ở mặt ngồi mỏm vẹt là khuyết quay, để khớp với vành xương quay, khi gấp
khuỷu , mỏm vẹt áp vào hố vẹt, còn khi duỗi khuỷu thì mỏm khuỷu nằm trong hố
mỏm khuỷu của đầu xương cánh tay.Thân xương thon dần từ trên xuống dưới và có
3 mặt 3 bờ: bờ trước, bờ sau và bờ gian cốt, mảnh và sắc, ba mặt là mặt trước, mặt
trong và mặt sau. Đầu dưới nhỏ hơn đầu trên, phía ngồi có diện khớp vịng để khớp
với xương quay, phía trong có mỏm châm trụ.
5. Xương quay:
Nằm phía ngồi xương trụ, xương quay khớp vói xương cánh tay ở trên, các
xương cổ tay ở dưới và xương trụ ở trong.
5.1: Định hướng:

18


Đặt xương đứng thẳng, đầu lớn ở dưới, mấu nhòn của đầu này ra ngồi và mặt
có nhiều rãnh ở đầu này ra sau.
5.2. Mơ tả:
Xương có một thân và hai đầu, đầu trên có chỏm xương quay hình trụ tiếp
khớp với chỏm con xương cánh tay ở phía trên và với xương trụ ở phía trong. Phía
dưới chỏm là cổ xương quay. Phía dưới và trong của cổ là lồi củ quay để cơ nhị đầu
cánh tay bám. Thân xương có 3 mặt trước, ngồi và sau và 3 bờ là bờ trước, bờ sau
và bờ gian cốt, sắc hướng vào trong và ở đoạn dưới thì bờ này tách ra làm 2 gờ trước
và sau giới hạn nên khuyết trụ, đầu dưới lớn hơn đầu trên và có 4 mặt: mặt dưới có
diện khớp cổ tay để nối với xương cổ tay, mặt trong có khuyết trụ để nối với xương
trụ , mặt ngoài thảng liên tục xuống dưới thành mỏm trâm quay, xuống thấp hơn
mỏm trâm trụ. Mặt sau có nhiều rãnh để gân các cơ duỗi đi xuống bàn tay.
6. Các xương cổ tay:
Có 8 xương cổ tay xếp thành 2 hàng, mỗi hàng có 4 xương xếp theo thứ tự vào
trong:
Hàng trên: xương thuyền, xương nguyệt, xương tháp, xương đậu.
Hàng dưới: xương thang, xương thê , xương cả , xương móc
Ở mặt gan tay, các xương cổ tay tạo thành rãnh cổ tay, có mạc giữ gân gấp
căng ngang phía trước biến rãnh cổ tay thành ống cổ tay để các cơ gấp, mạch thần
kinh đi qua.
7. Các xương đốt bàn tay:
Có 5 xương đốt bàn tay được đánh số thứ tự từ ngoài vào trong là I đến V. mỗi
xương có một nền để khớp với xương cổ tay và xương đốt bàn tay bên cạnh (trừ
xương đốt bàn tay một), một thân hơi cong ra trước và một chỏm để khớp với nền đốt
gần của các xương ngón tay.
8. Các xương ngón tay:
Mỗi ngón tay có 3 đốt theo thứ tụ từ trên xuống: đốt gần, đốt giữa và đốt xa,

riêng ngón cái chỉ có 2 đốt, mỗi đốt cũng có một nền, một thân và một chỏm. nền để
tiếp khớp với xương ở trên và chỏm để khớp với xương ở dưới, trừ các đầu dưới của
các đốt ngón xa (chỏm) khơng tiếp khớp mà có hình móng ngựa.
XƯƠNG CHI DƯỚI
Chi dưới giống như chi trên, được nối vào thân mình bởi một đai, gọi là đai chi
dưới và có 3 phần: Đùi, cẳng chân và bàn chân. Đai chi dưới do xương chậu khớp với
nhau ở phía trước và với xương cùng ở phía sau tạo thành. Đùi gồm xương đùi và
xương bánh chè. Cẳng chân có xương chày và xương mác, bàn chân có các xương cổ
chân, các xương đốt bàn chân và các xương đốt ngón chân.
Các xương chi dưới được nối với nhau bằng cá khớp động giống như xương
chi trên.
1. Xương chậu:
19


Xương chậu là xương chẵn, hình chong chóng hai cánh và do 3 xương hợp
thành: xương cánh chậu, xương mu và xương ngồi.
1.1.Định hướng:
Đặt xương đứng thẳng, khuyết của viền chén xuống dưới, mặt có lõm hình
chén ra ngồi, bờ có khuyết lớn ra sau.
1.2. Mơ tả:
Về mặt giải phẩu, chúng ta mô tả xương chậu với hai mặt bốn bờ.
- Mặt ngồi:
Ở giữa có một chỗ hõm gọi là ổ cối, có hai phần: phần tiếp khớp với xương đùi
có hình chư C mở xuống dưới gọi là diện nguyệt. Phần không tiếp khớp nằm ở đáy ổ
cối là hố ổ cối. Ổ cối bị khuyết ở dưới gọi là khuyết ổ cối. Trên ổ cối là mặt ngoài của
xương cánh chậu, có 3 đường mơng: Sau, trước va dưới có các cơ mơng bám vào.
Dưới ổ cối gọi là ổ bịt do xương ngồi và xương mu tạo nên. Lỗ bịt được giới hạn ở
trên bởi rãnh bịt. Qua rãnh có mạch và thần kinh bịt từ vùng chậu chạy ra đùi.
- Mặt trong:

Ở giữa là đường cung, chạy chéo từ sau ra trước xuống dưới. Phía trên đường
cung là hố chậu. Phía sau có một diện khớp hinh vành tai gọi là diện tai để khớp với
xương cùng.
- Các bờ:
+ Bờ trên: Thường được gọi là mào chậu, bắt đầu từ gai chậu trước trên đến
gai chậu sau trên. Gai chậu trước trên và gai chậu sau trên là các điểm mốc để xác
định vùng tiêm bắp an tồn ở mơng.
+ Bờ dưới: Được tạo bởi ngành dưới xương mu và ngành xương ngồi.
+ Bờ trước: Từ trên xuống dưới có gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới, gị
chậu mu (gị chậu lược), một diện hình tam giác gọi là diện lược giới hạn bởi phía sau
bởi mào lược, sau cùng là củ mu.
+ Bờ sau: Có nhiều chỗ lồi lõm, từ trên xuống dưới có: Gai chậu sau trên, gai
chậu sau dưới, khuyết ngồi lớn có hình lê đi qua, gai ngồi nhơ vào khoang chậu bé
nên người ta lấy gai ngồi làm mốc để xác định đường kính ngang của gai chậu bé
(đường kính ngang của eo giữa) và độ lọt của ngôi thai trong tiến trình chuyển dạ
sanh, khuyết ngồi nhỏ, ụ ngồi là nơi nối thân với ngành xương đùi ngồi.
1.3. Các đường kính của khung chậu:
Khung chậu được tạo bởi 4 xương: Hai xương chậu ở phía ngồi và phía tước,
xương cùng và xương cụt ở phía sau. Khung chậu được chia làm chậu lớn và chậu bé
bởi một mặt chếch xuống dưới và ra trước, băng qua ụ nhô của xương cùng, đường
cung của xương chậu, mào lược xương mu và bờ trên của khớp mu. Chu vi của mặt
phẳng này gọi là đường tận cùng hay eo chậu trên. Chậu lớn liên quan với các tạng
nằm ở phần dưới ổ bụng, còn chậu bé chứa đụng bàng quang, trực tràng và cơ quan
sinh dục trong… Ở nữ giới, chậu bé còn là một đường ống để thai nhi chui và sổ ra
ngồi sau khi sinh. Ống này có hai lỗ: lỗ trên là eo chậu trên, lỗ dưới là eo chậu, được
20


giới hạn bởi bờ dưới khớp mu ở phía trước, hai ụ ngồi hai bên, xương cùng và xương
cụt ở phía sau.

Trong sản khoa, người ta đo các đường kính của khung chậu. Có thể kể các
đường kính đó là:
1.3.1. Các đường kính ngồi của chậu lớn:
- Đường kính lưỡng gai: là khoảng cách giữa hai gai chậu trước trên.
- Đường kính lưỡng mấu: là khoảng cách giữa hai mấu chuyển lớn xương đùi.
- Đường kính lưỡng mào: là khoảng cách giữa hai điểm xa nhất của mào chậu.
- Đường kính trước sau (Baudeloque): là khoảng cách giữa bờ trên khớp mu
đến chỗ hõm giữa đốt sống thắt lưng V và xương cùng.
1.3.2. Các đường kính trong của chậu bé:
Các đường kính của eo trên:
- Các đường kính trước sau: đường nhô – thượng vệ, nhô – hạ vệ, nhô – hậu vệ
là các khoảng cách từ ụ nhô lần lượt đến bờ trên, bờ dưới và mặt sau khớp mu –
Đường kính chéo: là khoảng cách từ khớp cùng chậu bên này đến gị chậu mu đối
bên.
- Đường kính ngang: là khoảng cách từ phần giữa của đường cung xương chậu
bên này đến đường kính cung bên kia.
Các đường kính của eo dưới:
- Đường kính trước sau: là khoảng cách từ bờ dưới khớp mu đến đỉnh xương
cụt.
- Đường kính ngang: là khoảng cách giữa hai bờ trong của hai ụ ngồi.
2. Xương đùi:
Xương đùi là một xương chẵn dài và nặng nhất của cơ thể nối hông và cẳng
chân.
2.1. Định hướng:
Đặt xương đứng thẳng, đầu có chõm trịn lên trên, vào trong bờ dày của thân
sương hướng ra sau.
2.2. Mơ tả:
Xương đùi có một thân và hai đầu: trên và dưới.
Đầu trên: Gồm 4 phần: chỏm đùi, cổ đùi và hai mấu chuyển (lớn, bé).
- Trục của cổ nghiêng lên trên và vào trong hợp với trục của thân một góc

0
130 .
- Ở phía trước hai mấu chuyển nối nhau bởi đường gian mấu và ở phía sau bởi
mào gian mấu.
Thân xương: có 3 mặt và 3 bờ.
- Bờ trong và bờ ngồi khơng rõ lắm. Bờ sau lồi gọi là đường ráp.
- Đường ráp có hai mép: mép trong và ngồi. Ở phía dưới, mép tách đơi ra giới
hạn nên một cùng hình tam giác gọi là diện kheo.
- Xương có ba mặt: Trước, ngồi và trong được phủ các cơ nên không sờ thấy
được dưới da.
21


Đầu dưới của xương đùi:
Tiếp khớp với xương chày bởi hai lồi cầu: lồi cầu tong và lồi cầu ngoài. Ở phía
trước, hai lồi cầu nối với nha bởi diện bánh chè. Ở phía sau, hai lồi cầu được phân
cách nhau bởi hố gian lồi cầu. Mặt ngoài lồi cầu ngồi có mõm trên lồi cầu ngồi,
mặt trong lồi cầu trong có mõm trên lồi cầu trong. Phần trên của mõm trên lồi cầu
trong là củ cơ khép, có cơ khép lớn bám vào.
3. Xương bánh chè:
Là một xương hình tam giác dẹt nằm phía trước đầu dưới xương đùi và được
bọc trong gân cơ tứ đầu đùi. Xương có hai mặt trước và su, ba bờ: Trên, trong và
ngoài và một đỉnh quay xuống dưới. Xương bánh chè bảo vệ khớp gối ở phía trước
và góp phần quan trọng động tác duỗi gối.
4. Xương chày:
Là một xương dài, chẵn, nằm phía trong cẳng chân, xương chịu phần lớn sức
nặng của thân và đùi dồn xuống bàn chân.
4.1. Định hướng:
Đặt xương đứng thẳng, đầu nhỏ xuống dưới, mấu của đầu này vào trong, bờ
sắc ra trước.

4.2. Mơ tả:
Xương chày có một thân và hai đầu, đầu trên loa rộng ra thành hai lồi cầu:
Trong và ngoài. Mặt trên hai lồi cầu này có diện khớp với xương đùi. Ở phía trước có
lồi củ chày. Thân xương có 3 mặt, 3 bờ. Bờ trước nằm ngay dưới da. Bờ trong không
rõ lắm. Ba mặt là mặt trong, mặt ngoài và mặt sau. Phần trên của mặt sau có đường
cơ dép chạy chếch vào trong và xuống dưới. Đầu dưới nhỏ hơn đầu trên, phía trong
có một mấu xương gọi là mắt cá trong. Mặt dưới có diện khớp với xương sên.
5. Xương mác:
Là xương dài, chẵn, nằm phía ngồi cẳng chân song song với xương chày.
5.1. Định hướng:
Đặt xương đứng thẳng, dầu nhọn, dẹp xuống dưới. Mõm nhọn của đầu này ra
ngồi. Hố của đầu này hướng ra sau.
5.2. Mơ tả:
Xương mác có một thân 2 đầu. Đầu trên gọi là chõm mác có một diện khớp với
xương chày ở phía trước – trong. Đỉnh của chỏm mác nằm phía sau ngồi, ngay dưới
da. Thân xương có ba mặt ngồi, trong, sau tương ứng với ba bờ là bờ trước, bờ
ngoài và bờ gian cốt hướng vào trong. Mặt trong mắt cá ngồi có diện khớp với
xương sên. Các diện khớp ở đầu dưới xương chày và xương mác tạo thành một gọng
kìm giữ các xương cổ chân.
6. Các xương bàn chân:
Xương bàn chân gồm các xương cổ chân, các xương bàn chân, các xương đốt
bàn chân và các xương ngón chân. Các xương bàn chân liên tiếp nhau tạo thành hình
vịm để thích ứng với chức năng chịu đựng khi đi đứng.
22


Các xương cổ chân: Gồm 7 xương xếp thành hai hàng. Hàng sau có xương gót
tạo thành gót chân và xương sên tiếp khớp với hai xương cẳng chân. Hàng trước có 5
xương: xương ghe, xương hộp và 3 xương chêm: trong, giữa và ngoài.
Các xương đốt bàn chân: Gồm có 5 xương được đánh số từ một đến năm (I-V)

kể từ trong ra. Mỗi xương có một nền, một thân và một chỏm.
Các xương đốt ngón chân: Mỗi ngón có 3 đốt: Gần, giữa và xa. Riêng ngón cái
có 2 đốt. Mỗi đốt cũng có một nên, một thân và một chỏm

23


BÀI 6: HỆ KHỚP
Mục tiêu học tập:
Trình bày được sự khác biệt về cấu tạo và khả năng cử độn của khớp sợi, sụn,
hoạt dịch
Mô tả được một số khớp hoạt dịch lớn( khớp thái dương hàm, khớp vai, khớp
khuỷu, khớp hông, khớp gối.
Nội dung:
ĐẠI CƯƠNG
Khớp là nới mà các đầu xương hoặc các bờ xương của những xương khác nhau
tiếp xúc với nhau . Lúc cịn phơi thai , ở giữa các xương có mơ liên kết , mơ liên kết
này tiến triển khác nhau tùy theo loại khớp. tùy theo sự phatd triển, cấu rúc và chức
năng của, có thể chia các khớp thành 2 nhóm lớn, khớp bất động và khớp động.giữa
hai dạng trên cịn có dạng chuyển tiếp gọi là khớp bán động.
1. Khớp bất động:
Không có ổ khớp, các xương được nối với nhau bằng mô liên kết sợi (gọi là
khớp bất động sợi), bằng sụn (khớp bất động sụn), hoặc bằng chính mơ xương (khớp
bất động xương). Các khớp này bất động hoặc ít động về mặt chức năng tùy theo thời
gian của tổ chức sụn tồn tại, khớp bất động sụn còn chia làm 2 loại:
- Loại tạm thời: tổ chức chỉ tồn tại đến một lứa tuổi nhất định, sau đó sẽ thay
bằng tổ chức xương, như các khớp ở nền sọ, khớp cùng chậu.
- Loại vĩnh viễn: tổ chức sụn tồn tại đến suốt đời , nhừ khớp đá bướm, khớp đá
chẩm.
2. Khớp bán động:

Có khe khớp và bao khớp sợi nhưng khơng có bao hoạt dịch. tùy theo tính chất
sụn xen giữa khe khớp là sụn sơ hay sụn trong mà người ta phân biệt khớp sụn sơ
như khớp mu và khớp sụn trong, như khớp giữa cán ức và thân xương ức.
3. Khớp động:
Là những khớp có cử động nhiều giữa hai xương có ổ khớp, bao khớp sợi, bao
hoạt dịch và các mặt khớp.
4. Mặt khớp :
Có hình dáng khác nhau: chỏm, lồi cầu, ròng rọc, ổ chảo,.....và thường thích
ứng với nhau, mặt này lồi thì mặt kia lõm....bề mặt khớp được phủ một lớp sụn mỏng
gọi là sụn khớp.
5. Bao khớp:
Gồm hai màng: màng sời và màng hoạt dịch. Màng sợi, hay bao sợi bám chung
quanh mặt khớp nối liền hai đầu xương vào nhau và liên tục với màng xương. Màng
hoạt dịch hay bao hoạt dich lót bên trong bao khớp , và dính quanh viền sụn khớp , ở
hai đầu xương tạo thành một ổ khớp. Màng hoạt dịch sinh ra chất hoạt dịch để làm
trơn và giảm ma sát ở khớp.
24


6. Ổ khớp:
Là một khoang kín được giới hạn bởi mặt khớp và bao hoạt dịch, ổ khớp chứa
chất hoạt dịch và áp lực âm nên luôn bị tác động của áp lực khí quyển làm cho các
mặt khớp sát vào nhau. Hầu hết các khớp chi trên và chi dưới là những khớp động. Ví
dụ: khớp vai, khớp khuỷu, khớp hông, khớp gối....chúng tôi sẽ lấy khớp vai để mô tả
một khớp động.
KHỚP VAI
Khớp vai là một khớp chỏm nối ổ chảo xương vai và chỏm xương cánh tay.
Khớp vai nấp dưới vòm đòn cùng vai.
1. Mặt khớp:
Gồm chỏm xương cánh tay và ổ chảo xương vai. cả hai diện khớp này đều

được bao bọc bởi một lớp sụn khớp. Vì ổ chảo nhỏ hơn xương cánh tay nên xung
quanh ổ chảo có một vành sụn bám gọi là sụn viền, để làm sâu và rộng hơn ổ chảo.
2. Phương tiện nối khớp :
2.1. bao khớp :
Ở trên bọc chung quanh ổ chảo, ở dưới bọc quanh đầu trên xương cánh tay,
nửa trên ở cổ giải phẫu, nửa dưới ở cổ phẫu thuật, cách sụn khớp độ 1 cm.
2.2. Dây chằng
- Dây chằng quạ cánh tay: dày và chắc, bám từ mỏm quạ tới củ lớn xương
cánh tay.
- Các dây chằng ổ chảo - cánh tay: thật ra là những chô dày lên của bao khớp
ở mặt trên và trước. có 3 dây chằng :
+ Dây chằng ổ chảo - cánh tay trên: từ đỉnh ổ chảo đến đầu trên củ nhỏ.
+ Dây chằng ổ chảo - cánh tay giữa:từ vành trên ổ chảo đến nền củ nhỏ.
+ Dây chằng ổ chảo - cánh tay dưới: từ vành trước ổ chảo đến cổ giải phẫu.
Ở giữa dây chằng giữa và dây chằng dưới là chỗ yếu nhất của bao khớp nên
khi bị trật khớp vai ( kiểu trước trong) chỏm xương cánh tay thương hay bị trật ở chỗ
này.
3. Bao hoạt dịch
Là một bao áp vào mặt trong bao khớp . bao có 3 điểm:
- Bọc vịng quanh gân dài của cơ nhị đầu cánh tay, do đó khi gân này ở trong
bao khớp nhưng ngoài bao hoạt dịch.
- Qua lỗ hổng của bao khớp, bao hoạt dich liên quan trực tiếp với mặt sau dưới
vai.
- Bao hoạt dich thông với túi thanh mạc của cơ dưới vai, cơ nhị đầu và cơ
delta.
Động tác: khớp vai là một khớp chỏm nên biên độ rất rộng:
Đưa ra trước 900 ra sau 400.
Xoay ngoài 600 xoay trong 900.
25



Khép 300 dạng 900
Và khi phối hợp với động tác quay vịng.

Mục tiêu học tập:
Mơ tả và phân loại được các loại thượng mô.
Mô tả được cấu tạo và chức năng của các loại mơ liên kết.
Vẽ và chú thích được sơ đồ mơ liên kết chính thức.
Nội dung:
Các cơ quan trong cơ thể cấu tạo bởi nhiều loại mô. Mô là một hệ thống những
tế bào và chất gian bào có cấu tạo và sắp xếp đặc biệt để đảm nhận những chức năng
chuyên biệt. Dựa vào cấu tạo và chức năng, ta có nhiều loại mơ khác nhau: thượng
mô, mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh, mô máu.
1. Thượng mô:
Thượng mô là một loại mô được cấu tạo bởi các tế bào sắp xếp sát vào nhau
nên khoảng gian bào và chất gian bào không đáng kể. Dựa vào chức năng ta có hai
loại thượng mơ: thượng mô phủ và thượng mô tuyến.
1.1. Thượng mô phủ:
Phủ các khoang tự nhiên như ổ mũi, ổ miệng ruột… tùy theo cách sắp xếp và
hình dáng tế bào ta có nhiều loại thượng mô phủ.
1.1.1. Thượng mô đơn:
Cấu tạo bởi một lớp tế bào. Tùy hình dáng tế bào ta có :
- Thượng mơ lát đơn: tế bào hình đa giác dẹt lót màng bụng, màng phổi.
- Thượng mơ vng đơn: các tế bào hình vng như thượng mơ lót ống thận.
- Thượng mơ trụ đơn: các tế bào hình trụ như thượng mơ lót mặt trong dạ dày,
ruột.
Bề mặt các tế bào này có chất nhầy bảo vệ và lồi lõm để tăng diện tích trao đổi.
1.1.2. Thượng mơ tầng :
Cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào xếp chồng lên nhau. Tùy hình dáng tế bào ta có:
- Thượng mơ lát tầng: thượng mơ âm đạo, thượng bì da, thượng mô đường tiết

niệu.
- Thượng mô vuông tầng: thượng mô thành ống bài xuất mồ hôi và các tuyến
ngoại tiết.
- Thượng mô trụ tầng: thượng mô đường hô hấp, bề mặt thượng mơ này có
lơng rung chuyển, chuyển động đẩy bụi ra ngồi.
1.2. Thượng mơ tuyến:
Là một tập hợp tế bào chức năng sản xuất và bài tiết những chất tiết. Dựa vào
cách bài tiết của tuyến ta có hai loại tuyến : tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết.
1.2.1. Tuyến ngoại tiết :
26


×