BÀI 2: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHƠNG KÍNH
Phạm Tiến Duật
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Tác giả
- Phạm Tiến Duật (1941-2007), quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú
Thọ.
- Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 1964,
Phạm Tiến Duật gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường
Trường Sơn và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của
thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ cứu nước.
- Phong cách sáng tác:
+ Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ qua các hình tượng người lính và cơ
thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn.
+ Thơ ơng có giọng điệu sơi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch
mà sâu sắc.
Hoàn cảnh
- Bài thơ viết năm 1969, thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ
sáng tác
diễn ra rất ác liệt trên con đường chiến lược Trường Sơn.
- Bài thơ được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ
năm 1969 và được đưa vào tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” của
tác giả.
Thể loại
Thơ tự do
Bố cục : 4
- Phần một : Khổ 1,2 : Hình ảnh những chiếc xe khơng kính và
phần
tư thế hiên ngang của người lính.
- Phần hai : Khổ 3,4 : Tinh thần lạc quan, bất chấp gian khổ, coi
thường hiểm nguy của người lính.
- Phần 3 : Khổ 5,6 : Tình đồng chí, đồng đội cao đẹp của người
lính lái xe.
- Phần 4 : Khổ 7 : Ý chí chiến đấu, tinh thần yêu nước và lí tưởng
cách mạng của người lính.
Ý nghĩa
- Bài thơ có nhan đề khá dài, khá đặc biệt : “Bài thơ về tiểu dội
nhan đề
xe khơng kính”. Nhan đề bài thơ thoạt nghe sẽ thấy như có chỗ
thừa : thừa hai chữ “bài thơ”. Nhưng chính chỗ thừa ấy sẽ tạo sức
hút cho người đọc ở vẻ khác lạ và độc đáo ở sức gợi : gợi chất thơ
của cuộc sống nơi chiến trường.
- Hình ảnh “tiểu đội xe khơng kính” được đưa vào nhan đề bài
thơ :
+ Gợi hiện thực phổ biến, quen thuộc trên tuyến đường Trường
Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
+ Gợi hiện thực của cuộc chiến vô cùng gay go, khốc liệt.
+ Gợi vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn, vẻ đẹp của lịng
dũng cảm, của ý chí nghị lực, của sự kiên cường.
PT biểu
đạt
Chủ đề
Biểu cảm xen lẫn miêu tả và tự sự
Bài thơ ca ngợi những chiến sĩ lái xe Trường Sơn thời đánh Mĩ
dũng cảm ngoan cường, lạc quan yêu đời trong mưa bom bão đạn,
quyết chiến đấu hi sinh vì một lí tưởng cao cả là giải phóng miền
Nam thống nhất Tổ quốc.
Giá trị nội “Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính" của Phạm Tiến Duật đã khắc
dung
hoạ một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe khơng kính. Qua đó, tác
giả khắc hoạ nổi bật hình ảnh những người lính lái xe ở Trường
Sơn trong thời chống Mỹ, với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc
quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu
giải phóng miền Nam.
Giá
trị Tác giả đã đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc
nghệ thuật sống ở chiến trường, ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ tự
nhiên, khoẻ khoắn.
B. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
* Khái quát: Bài thơ được sáng tác năm 1969. Đây là thời điểm cuộc kháng
chiến chống mĩ đang diễn ra vô cùng ác liệt. Bài thơ nằm trong chùm thơ đoạt
giải nhất cuộc thi thơ do báo văn nghệ tổ chức và được in trong tập thơ “ Vầng
trăng quầng lửa” năm 1970.
1. Hình ảnh những chiếc xe không kính:
- Xưa nay, xe cộ rất ít khi đi vào thơ ca, nếu có thì thường được “ thi vị hóa”, “
lãng mạn hóa’. Nhưng những chiếc xe đượ Phạm Tiến Duật đưa vào thơ lại thực
đến trần trụi:
Khơng có kính khơng phải vì xe khơng có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Nghệ thuật
Nội dung
Với giọng điệu thản nhiên pha chút ngang tác giả đã làm hiện lên hình ảnh
tàng , lời thơ mang tính khẩu ngữ, hình ảnh những chiếc xe mang trên mình đầy
độc đáo, điệp ngữ “khơng” kết hợp với nghệ thương tích bởi bom đạn chiến tranh.
thuật liệt kê, động từ mạnh “giật, rung”
=> Hai câu thơ đầu lí giải nguyên nhân những chiếc xe khơng có kính, đồng thời thể
hiện tâm trạng xót xa cho những chiếc xe- người bạn đồng hành thủy chung của
những người lính.
Qua đó, tác giả tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện thực
chiến tranh khốc liệt, về cuộc chiến đấu gian khổ mà người lính phải trải qua.
- Hình ảnh những chiếc xe khơng kính một lần nữa lại được tác giả miêu tả một
cách chân thực, sinh động ở khổ thơ cuối:
Khơng có kính rồi xe khơng có đèn
Khơng có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Nghệ thuật
Nội dung
Nghệ thuật liệt kê “khơng có kính, khơng đã nhấn mạnh những chiếc xe khơng chỉ
có đèn, khơng có mui, thùng xe có xước” khơng kính mà cịn khơng đèn, khơng
kết hợp với điệp ngữ : “khơng có” mang mui… bị biến dạng, tàn phá nặng nề.
ý phủ định
Mặc dù vậy, xe vẫn băng ra chiến trường.
=> Từ trong hiện thực khốc liệt đến trần trụi, những chiếc xe khơng kính bỗng trở nê
thành một hình ảnh độc đáo, “nên thơ”- chất thơ của lịng u nước, tinh thần quả
cảm mà những người lính đã đem lại cho chiếc xe từ chính trái tim nhiệt huyết của
mình- trái tim cầm lái.
2. Hình ảnh những người lính lái xe.
- Thiếu những phương tiện vật chất tối thiểu lại là hoàn cảnh để người lái xe bộc
lộ những phẩm chất cao đẹp:
a. Tư thế ung dung, hiên ngang, sẵn sàng ra trận.
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái
Nghệ thuật
Nghệ thuật đảo ngữ: đưa từ láy “ung
dung” lên đầu câu kết hợp với đại từ
“ta”
- Với nhịp thơ: 2/2/2(Nhìn đất, nhìn
trời nhìn thẳng)
- Giọng điệu: đùa vui hóm hỉnh, điệp
ngữ “nhìn” kết hợp với nghệ thuật liệt
kê
Nội dung
Đã nhấn mạnh tư thế bình thản, hiên
ngang, tự tin tiến về phía trước của
người lính lái xe.
Đã cho thấy cái nhìn đầy tự chủ, nhìn
thẳng về phía trước như sẵn sàng chấp
nhận mọi khó khăn.
- Qua khung cửa xe, người lái xe tiếp
xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài, với
mọi khó khăn, gian khổ.
+ Điệp ngữ “ nhìn thấy”, nghệ thuật Đã diễn tả sự cảm nhận thế giới bên
nhân hóa “ gió xoa mắt đắng”, từ láy “ ngoài một cách chân thực, sinh động
đột ngột” và nghệ thuật so sánh
của người lính do những chiếc xe
khơng kính đem lại.
+ Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào - Gợi đến tốc độ lao nhanh của chiếc
tim”
xe, khiến cho người cầm lái và con
đường như khơng cịn khoảng cách.
Điều đó cho thấy sự khẩn trương của
người lính đối với sự nghiệp giải phóng
miền Nam.
- Cịn là hình ảnh ẩn dụ về con đường
chiến đấu vì mền Nam độc lập.
+ Hình ảnh “gió, sao trời, cánh chim” thể hện nét lãng mạn trong tâm hồn
là những hình ảnh là hình ảnh của thiên người lính.
nhiên đẹp, gợi cảm
b. Tinh thần lạc quan, bất chấp gian khổ, coi thường hiểm nguy của người
lính.
Xe khơng kính, người lính cịn phải chịu thêm những khắc nghiệt của Trường
Sơn:
Khơng có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Khơng có kính ừ thì ướt áo
Mưa tn mưa xối như ngồi trời
Chưa cần rửa, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng gió lùa khơ mau thơi
Nghệ thuật
Nội dung
Hình ảnh “ mưa, gió, bụi”
tượng trưng cho những gian khổ mà người lính
gặp phải do những chiếc xe khơng kính đem lại.
Điệp cấu trúc “khơng có… ừ Đã cho thấy thái độ bất chấp khó khăn , coi
thì” “chưa cần”
thường gian khổ, hiểm nguy, tinh thần lạc quan,
- BPNT so sánh: như, từ láy “ dũng cảm của người lính.
phì phèo”, “ha ha”.
Sự phối hợp thanh điệu: những
thanh trắc “ bụi, tóc trắng, lấm,
ướt áo, xối”…đặc tả những
khó khăn, gian khổ kết hợp với
những thanh bằng, đặc biệt câu
cuối đoạn gợi những phút yên
ả, ung dung trong buồng lái.
- Ngơn ngữ: mang tính khẩu
ngữ
=> Ngay trong hồn cảnh khắc nghiệt, người lính
vẫn tìm được giây phút thư thái. Đó là bản lĩnh
của những chiến sĩ lái xe.
Đã làm nổi bật lên niềm vui, tiếng cười của người
lính. Tiếng cười bật lên sảng khối, lạc quan khác
- Giọng điệu thơ hóm hỉnh, với tiếng cười “ buốt giá” ngậm ngùi động viên
khẩu khí ngang tàng, lời thơ nhau của người lính thời kí kháng chiến chống
gần với ngơn ngữ đời thường. Pháp g thơ Chính Hữu.
=> Chính sự lạc quan, tinh thần dũng cảm của người lính lái xe ấy đã giúp những
chiếc xe khơng kính vượt qua bao mưa bom bão đạn, giúp cuộc chiến đi gần hơn
đến thắng lợi.
c. Tình đồng chí, đồng đội cao đẹp của người lính lái xe ( khổ 5, 6)
Và trong cuộc chiến tranh đầy gian lao, thử thách ấy, tình cảm đồng chí, đồng
đội lại càng trở nên gắn bó và gần gũi với nhau hơn:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua của kính vỡ rồi
Nghệ thuật
Nội dung
Hình ảnh “ những chiếc xe từ là một hình ảnh tả thực về những chiếc xe vượt
trong bom rơi”
qua bao thử thách khốc liệt của chiến trường trở
về
Cách gọi “ tiểu đội”
là cách nói dí dỏm, giàu hình ảnh, vừa gợi lên
những đồn xe mang trên mình biết bao thương
tích của chiến tranh, vừa gợi lên được cái thân
thương thắm tình đồng đội.
Hình ảnh “ bắt tay …” rất giàu Những chiếc xe không kính lại đem lại sự tiện lợi
sức gợi
để người lính trao cho nhau những cái bắt tay.
Cái bắt tay:
+ Đã cho thấy tinh thần đồn kết, gắn bó với
nhau của các chiến sĩ lái xe.
- Thể hiện được sự đồng cảm sâu sắc trong tâm
hồn của những người lính.
.+ Là lời động viên ngắn ngủi, thầm lặng mà họ
dành cho nhau, là lời hứa quyết tâm…
+ Là sự chia sẻ vội vàng tất cả những vui buồn
kiêu hãnh trên những cung đường đã qua.
Cuộc trú quân ngắn ngủi mà thắm tình đồng đội, những bữa cơm nhanh dã chiến,
chung bát chung đũa là sợi dây vơ hình giúp các chiến sĩ xích lại gần nhau hơn:
Bếp Hồng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Nghệ thuật
Nội dung
Câu thơ “ chung…”
là cách định nghĩa “ rất lính”, tếu táo nhưng chân
tình, sâu nặng. Gắn bó với nhau trong chiến đấu,
họ càng gắn bó với nhau trong đời thường.
Từ láy ‘ chông chênh”
Gợi cảm giác bấp bênh, tạm bợ, cho thấy phút
nghỉ ngơi vội vàng của người lính.
Điệp ngữ “lại đi” kết hợp với tạo âm điệu nhịp nhàng cho câu thơ, khẳng định
nhịp thơ 2/2/3
đồn xe khơng ngừng tiến về phá trước. Đó là
nhịp sống, chiến đáu và hành qn của tiểu đội xe
khơng kính mà khơng một sức mạnh tàn bạo nào
ngăn cản được.
Nghệ thuật ẩn dụ “ trời xanh Màu xanh của niềm tin, hi vọng vào ngày mai,
thêm”
gợi sự lạc quan của người lính.
d. Tình yêu tổ quốc thiết tha và ý chí giải phóng miền Nam
Khơng có kính rồi xe khơng có đèn
Khơng có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Một lần nữa, sự tàn khốc của chiến tranh lại được Phạm Tiến Duật nhắc đến
thơng qua hình ảnh những chiếc xe chân thực, sinh động:
Nghệ thuật
Nội dung
Thủ pháp liệt kê “ khơng kính, Gợi lên hình ảnh những chiếc xe bị tàn phá, méo
khơng đèn…”
mó, biến dạng, qua đó phản ánh hiện thực chiến
tranh khốc liệt
Nghệ thuật điệp ngữ “ không Đã nhấn mạnh dù chiếc xe không nguyên vẹn,
có” kết hợp với thủ pháp đối nhưng chỉ cần có “ một trái tim”, những chiếc xe
lập
ấy vẫn băng ra chiến trường giải phóng miền
Nam.
Hình ảnh hốn dụ “ trái tim”
Thể hiện lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc
Mĩ sơi sục, ý chí kiên cường giải phóng miền
Nam.
-> Trái tim yêu thương, trái tim cầm lái đã giúp người lính chiến thắng bom đạn
của kẻ thù. Trái tim ấy đã trở thành nhãn tự của bài thơ và để lại cảm xúc sâu lắng
trong lòng bạn đọc.
* Đánh giá: Với việc:
- Lựa chọn chi tiết độc đáo, hình ảnh chân thực.
- Ngơn ngữ giàu tính khẩu ngữ, nhịp điệu linh hoạt, giọng điệu ngang tàng, trẻ
trung.
- Và một số BPNT
“ Bài thơ về…” đã :
- Khắc họa h/ ả độc đáo: những chiếc xe khơng kính.
- Qua đó làm nổi bật hình ảnh người chiến sĩ lái xe Trường Sơn …
C. LUYỆN ĐỀ:
ĐỀ ĐỌC- HIỂU SỐ 1:
Cho hai khở thơ sau:
Khơng có kính khơng phải vì xe khơng có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái
Câu 1: Hãy cho biết những câu thơ trên trích trong bài thơ nào, do ai sáng tác.
Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.
Câu 2: Có ý kiến cho rằng bài thơ hấp dẫn ngày từ nhan đề độc đáo. Em có đồng
ý với ý kiến trên không? Tại sao?
Câu 3: Tại sao có thể nói hình ảnh những chiếc xe khơng kính là một sáng tạo
độc đáo của Phạm Tiến Duật.
Câu 4: Viết đoạn văn khoảng 5-7 câu theo phương thức diễn dịch để làm rõ hình
ảnh của người lính lái xe trên chiếc xe khơng kính?
Hướng dẫn trả lời:
Câu 1: Những câu thơ trên trích trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính
của Phạm Tiến Duật.
- Bài thơ được sáng tác năm 1969 trong thời kì kháng chiến chống Mỹ đang
diễn ra ác liệt trên tuyến đường chiến lược.
- Bài thơ đạt giải nhất cuộc thi báo Văn nghệ 1969 và được đưa vào tập “Vầng
trăng quầng lửa” của tác giả.
Câu 2:
Bài thơ độc đáo ngay từ nhan đề tác phẩm.
- Nhan đề tưởng dài, tưởng như có chỗ thừa nhưng thu hút người đọc bởi vẻ
độc đáo, lạ lẫm của nó.
Bài thơ làm nổi bật hình ảnh độc đáo: Những chiếc xe khơng kính.
- Hai chữ bài thơ thêm vào cho thấy lăng kính nhìn hiện thực khốc liệt của
chiến tranh, chất thơ của tuổi trẻ, hiên ngang, bất khuất, dũng cảm vượt qua thiếu
thốn, gian khổ nguy hiểm của thời chiến.
Câu 3:
- Hình ảnh những chiếc xe khơng kính là một sáng tạo độc đáo của Phạm Tiến
Duật bởi xưa nay hình ảnh tàu xe đi vào thơ ca đều được lãng mạn hóa, mỹ lệ
hóa nhưng Phạm Tiến Duật lại khơng ngần ngại đưa vào thơ của mình hình ảnh
trần trụi, thực tế “những chiếc xe khơng kính”.
- Hình ảnh những chiếc xe khơng kính là nhân chứng hùng hồn, chân thực cho
hiện thực chiến tranh khốc liệt lúc bấy giờ.
Với tâm hồn lãng mạn, nhạy cảm cùng với nét tinh nghịch, ngang tàng hình
tượng những chiếc xe khơng kính xuất hiện trong thơ như để thử thách con
người, cũng như để khẳng định chất thép, tinh thần dũng cảm, lạc quan coi
thường hiểm nguy của những người lính lái xe Trường Sơn.
Câu 4:
* Yêu cầu chung:
- Nội dung: Học sinh nhận diện được dạng đề nghị luận văn học, biết kết hợp
kiến thức và kỹ năng để tạo lập văn bản. Học sinh có thể triển khai bài viết theo
nhiều cách xong cần bám sát ngữ liệu, kết hợp các thao tác lập luận.
- Hình thức: Bài viết cần có bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc,
không mắc lỗi ngữ pháp, chính tả.
* Yêu cầu cụ thể:
Đoạn văn tham khảo:
- Tư thế hiên ngang, bất khuất: ung dung, nhìn thẳng ⇒ coi thường khó khăn,
nguy hiểm.
- Thái độ, tinh thần lạc quan, bơng đùa với những khó khăn: Bụi phun vào tóc,
vào mặt là một trị gây cười, mưa ướt áo cứ đi tiếp vì gió lùa áo khơ nhanh thơi,
xe khơng kính cũng có cái hay đó là tầm nhìn rộng hơn, thấy được con đường
“chạy thẳng vào tim”, thấy sao trời gần hơn “ùa vào buồng lái”.
- Thái độ lạc quan, yêu đời, tự tin có chút bướng bỉnh, ngang ngạnh; hình ảnh
người lính lái xe hiện lên vừa đáng yêu vừa đáng nể.
(1) Trong bom đạn chiến tranh hình ảnh những chiếc xe khơng kính làm nổi
bật hình ảnh những chiến sĩ lái xe Trường Sơn.
(2) Thiếu đi những phương tiện vật chất tối thiểu khơng làm khuất phục được ý
chí chiến đấu lại khiến người lính lái xe bộc lộ được những phẩm chất cao đẹp,
sức mạnh tinh tế lớn lao của họ đặc biệt là lịng dũng cảm, vượt qua mọi khó
khăn.
(3) Họ chính là chủ nhân của những chiếc xe khơng kính nên khi miêu tả, tác giả
đã khắc họa những ấn tượng sinh động khi đang ngồi trên những chiếc xe khơng
kính trong tư thế “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” qua khung cửa xe đã bị bom
đạn làm mất kính.
(4) Những câu thơ tả thực tới từng điểm diễn tả cảm giác về tốc độ của những
chiếc xe đang lao nhanh ra đường:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái
(5) Những hình ảnh thực như gió, con đường, sao trời, cánh chim vừa thực vừa
thơ, lại cái thi vị nảy sinh trên những con đường bom rơi đạn nổ.
(6) Dù trải qua hiện thực chiến tranh khốc liệt những người lính vẫn hướng về
phía trước, xem thường mọi hiểm nguy với tinh thần thể hiện cái hiên ngang, trẻ
trung của tuổi trẻ.
ĐỀ ĐỌC- HIỂU SỐ 2:
Cho câu thơ:
“Những chiếc xe từ trong bom rơi”
Câu 1: Chép tiếp 7 câu thơ tiếp theo để hoàn thiện hai khổ thơ tiếp theo.
Câu 2: Cho biết từ “trái tim” dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển. Nêu ý
nghĩa của hình ảnh ấy trong việc thể hiện vẻ đẹp người lính lái xe?
Câu 3: Em hiểu thế nào về hình ảnh trong hai câu thơ:
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Câu 4: Viết đoạn văn khoảng 12 câu theo phương thức quy nạp nêu cảm nhận về
khổ thơ cuối bài "Bài thơ về tiểu Hướng
đội xe khơng
kính".
dẫn trả
lời
Câu 1:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Bếp Hồng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi lại đi trời xanh thêm.
Câu 2:
- Từ “trái tim” được dùng theo nghĩa chuyển.
- Trái tim thay thế cho tất cả những thiếu thốn trên xe “khơng kính, khơng đèn,
khơng mui”, hợp nhất với tinh thần, ý chí của người lính lái xe khơng gì có thể
ngăn cản, tàn phá được.
- Xe được chạy bằng chính trái tim, xương máu của chiến sĩ, trái tim ấy là niềm
tin, niềm lạc quan và sức mạnh chiến thắng. Những chiếc xe càng thêm độc đáo
vì đó là những chiếc xe do ý chí, niềm tin sắt đá cầm lái.
Hình ảnh trái tim được hiểu theo nghĩa ẩn dụ và hoán dụ: trái tim tượng trưng
cho tâm hồn và phẩm chất của người chiến sĩ lái xe. Trái tim nồng cháy một lẽ
cao đẹp thiêng liêng: tất cả vì miền Nam thân yêu, trái tim chứa đựng bản lĩnh,
chất ngang tàng, lòng dũng cảm cùng tinh thần lạc quan vào ngày thống nhất.
- Trái tim trở thành nhãn tự toàn bài thơ, hội tụ tất cả vẻ đẹp của tinh thần, ý
chí của người lính lái xe cũng như để lại cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc.
Câu 3:
- Bếp Hoàng Cầm ra đời trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là bếp dã chiến,
có cơng dụng làm tan lỗng khói bếp tỏa ra, khi nấu ăn tránh máy bay phát hiện.
- Hình ảnh bếp Hồng Cầm trong thơ Phạm Tiến Duật gợi lên tình cảm thắm
thiết như ruột thịt của những người lính.
- Tác giả đưa ra cách định nghĩa thật thú vị về gia đình, vừa hài hước, tếu táo lại
tình cảm sâu lắng, thiêng liêng giúp con người xích lại gần nhau hơn trong
những cái chung: chung bát, chung đũa, chung nắm cơm, bếp lửa, chung hồn
cảnh, chung con đường với vơ vàn thách thức nguy hiểm.
Câu 4:
* Yêu cầu chung:
- Nội dung: Học sinh nhận diện được dạng đề nghị luận văn học, biết kết hợp
kiến thức và kỹ năng để tạo lập văn bản. Học sinh có thể triển khai bài viết theo
nhiều cách xong cần bám sát ngữ liệu, kết hợp các thao tác lập luận.
- Hình thức: Bài viết cần có bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc,
khơng mắc lỗi ngữ pháp, chính tả.
* u cầu cụ thể:
- Ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
+ Bài thơ khép lại bằng hình ảnh thể hiện ý chí kiên cường vì Tổ quốc, đó là sức
mạnh sâu sắc, phi thường của người lính để vượt lên tất cả, bất chấp mọi nguy
nan, mọi sự hủy diệt, tàn phá.
+ Biện pháp liệt kê, điệp ngữ được sử dụng nhằm nhấn mạnh sự ác liệt của chiến
tranh ngày càng tăng, và sự thiếu thốn, mất mát ngày càng lớn.
+ Điều kì diệu và đặc biệt là khơng gì có thể cản trở, tàn phá được chuyển động
của chiếc xe vì “xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”.
+ Mọi thứ trên xe khơng cịn ngun vẹn nhưng vẫn nguyên vẹn trái tim, ý chí
của người lính. Đó chính là sự ngoan cường, dũng cảm, vượt lên trên mọi gian
khổ ác liệt mà còn là sức mạnh của tinh thần yêu nước.
+ Đối lập với những cái “khơng có” ở trên là một cái “có”, sức mạnh từ trái tim
có thể chiến thắng bom đạn kẻ thù. Những chiếc xe chạy bằng sức mạnh của trái
tim.
+ Trái tim là hình ảnh ẩn dụ, hốn dụ, kết tinh cho vẻ đẹp về tâm hồn và phẩm
chất của người lính lái xe. Trái tim nồng cháy một lẽ sống cao đẹp: vì miền Nam,
vì sự thống nhất đất nước.
- Hình ảnh những người lính chiến đấu với lý tưởng độc lập tự do gắn với chủ
nghĩa xã hội, họ ý thức về trách nhiệm của thế hệ mình. Hình ảnh của họ đã thể
hiện thế hệ anh hùng, mạnh mẽ, hiên ngang.
ĐỀ ĐỌC- HIỂU SỐ 3:
Kết thúc bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính”, Phạm Tiến Duật viết:
… Khơng có kính, rồi xe khơng có đèn
Khơng có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
(Trích Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục)
Câu 1: Theo em vì sao tác giả lại nhắc lại hình ảnh của những chiếc xe khơng
kính ở cuối bài thơ?
Câu 2: Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu đầu của khổ thơ
trên và nêu tác dụng?
Câu 3: Trong chương trình Ngữ văn THCS, mối quan hệ giữa cái “khơng” và
cái “có” đã được một nhà thơ khác sử dụng rất thành công để biểu đạt dụng ý
nghệ thuật. Em hãy nêu tên tác phẩm và ghi rõ tên tác giả.
Câu 4: Hình ảnh “trái tim” có ý nghĩa như thế nào? Qua đó ca ngợi phẩm chất gì
của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ?
Câu 5: Dựa vào nội dung của đoạn thơ trên, em hãy viết một văn bản ngắn trình
bày suy nghĩ của em về một tình Hướng
cảm đẹpdẫn
củatrả
người
lời lính lái xe ấy.
Câu 1: Tác giả nhắc lại hình ảnh những chiếc xe khơng kính, khơng đèn, không
mui, thùng xe xây xước nhằm khẳng định sự gian khổ, ác liệt nơi chiến trường
ngày càng tăng.
Câu 2:
- Các biện pháp điệp ngữ và liệt kê (chỉ rõ)
- Tác dụng:
+ Tái hiện chân thực hình ảnh những chiếc xe trên tuyến đường TS
+ Tô đậm những thiếu thốn, khó khăn, gian khổ của người lính, sự khốc liệt của
chiến trường và bản lĩnh của những người lính lái xe
Câu 3:
- Kể tên văn bản: Bạn đến chơi nhà
- Tác giả: Nguyễn Khuyến
Câu 4:
- Trái tim của những người chiến sĩ lái xe một lòng hướng về miền Nam ruột thịt.
- Phẩm chất: yêu nước, ý chí quyết tâm chiến đấu vì miền Nam, vì Tổ quốc.
Câu 5:
a-Yêu cầu về kỹ năng:
- Đúng phương pháp kiểu bài nghị luận xã hội.
- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
- Biết vận dụng và phối hợp nhiều thao tác nghị luận ( giải thích, chứng
minh, bình luận…)
- Văn trơi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục. Không mắc lỗi
diễn đạt ; khơng sai lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; trình bày rõ ràng.
- Dựng đoạn có sự liên kết tốt.
b- Yêu cầu về kiến thức:
- Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận: Học sinh có thể chọn tình đồng đội
hoặc lịng u nước.
- Giải thích theo đúng yêu cầu đã chọn.
- Nêu biểu hiện và dẫn chứng để làm sáng rõ vấn đề.
- Phê phán lối sống không đúng đắn.
- Nêu phương hướng hành động của bản thân.
Bài văn nghị luận:
BÀI 2: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH
(Phạm Tiến Ḍt)
Đề bài lụn tập:
Đề 1: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính của Phạm Tiến Duật.
Đề 2: Phân tích và so sánh hình ảnh người lính trong hai bài thơ Đồng Chí của
Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính của Phạm Tiến Duật.
Đề 1: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.
1. Mở bài
Những năm tháng chống Mỹ hào hùng của dân tộc đã để lại biết
bao hồi ức và những dấu ấn khó phai mờ. Hình ảnh những những
cơ gái thanh niên xung phong, anh bộ đội cụ Hồ là một trong
những hình ảnh đẹp nhất, lãng mạn và anh hùng nhất trong kháng
chiến. “Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính” chính là một trong
những minh chứng tiêu biểu cho nét tinh nghịch cũng như tinh
thần bất khuất, hiên ngang hào hùng của người chiến sĩ.
2. Thân bài
* Khái quát: Bài thơ được sáng tác năm 1969. Đây là thời điểm cuộc kháng
chiến chống mĩ đang diễn ra vô cùng ác liệt. Bài thơ nằm trong chùm thơ đoạt
giải nhất cuộc thi thơ do báo văn nghệ tổ chức và được in trong tập thơ “ Vầng
trăng quầng lửa” năm 1970.
a) Hình ảnh chiếc xe khơng kính
- Những người lính lái xe giải thích, giới thiệu một cách tự nhiên,
chân thực về người bạn đường thủy chung, gắn bó của họ:
Khơng có kính khơng phải vì xe khơng có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.
Tác giả lý giải những chiếc xe "Khơng có kính" bởi "bom giật,
bom rung", bởi sự tàn phá, hủy diệt của chiến tranh. Hai câu thơ
rất gần với câu văn xi,lại có giọng điệu thản nhiên càng gây sự
chú ý về vẻ khác lạ của những chiếc xe khơng kính.
- Chiến tranh ngày càng khốc liệt, những chiếc xe khơng có kính
sau bao chặng đường lăn lộn khó nhọc đã bị bom Mỹ tàn phá, hủy
diệt trở nên méo mó, biến dạng:
Khơng có kính, rồi sẽ khơng cịn đèn,
Khơng có mui xe, thùng xe có xước.
Điệp ngữ"khơng có"kết hợp với biện pháp liệt kê đã nhấn mạnh
chiếc xe khơng chỉ khơng có kính mà cịn khơng có đèn, khơng có
mui xe, thùng xe găm đầy những vết đạn xước…Hàng loạt các từ
phủ định "không" đã diễn tả một cách độc đáo, chân thực đến Trần
trụi những chiếc xe trên đường ra trận. Mặc dù bị biến dạng, thiếu
nhiều điều kiện để bảo vệ người lái nhưng những chiếc xe vẫn
băng ra chiến trường. Đó là minh chứng cho sự tàn phá khốc liệt
của bom đạn chiến tranh đồng thời là cách khám phá ra chất thơ
độc đáo trong hình ảnh những chiếc xe khơng kính, chất thơ từ
hiện thực chiến trường - chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam, để tôn
vinh những chiến sĩ lái xe anh hùng.
b) Hình ảnh những người lính lái xe
Thiếu đi những phương tiện vật chất tối thiểu lại là hoàn cảnh để
người lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần
lớn lao của họ.
* Tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, coi thường
hiểm nguy:
- Xe khơng có kính khơng ảnh hưởng gì đến tư thế, tầm nhìn:
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Từ "ung dung" được dùng đảo trật tự đưa lên đầu câu thơ nhấn
mạnh tư thế người lái xe. Mặc dù gian khổ, thiếu thốn, những
người lính vẫn lên xe với tư thế" ung dung" đường hoàng, hiên
ngang đầy bản lĩnh.
- Qua khung cửa xe khơng cịn kính chắn gió, người lái xe tiếp
xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài, với mọi khó khăn, gian khổ:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.
+ Điệp ngữ "nhìn thấy", tính từ "đột ngột" (cảm giác bất ngờ),
hình ảnh cánh chim như sa như ùa vào buồng lái đã diễn tả sinh
động cảm nhận thế giới bên ngồi ùa vào buồng lái với tốc độ
chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Người lính
phải lái xe với một tốc độ rất nhanh trên con đường đầy bom đạn,
phải vượt qua núi cao, đèo sâu, vực thẳm và phải lái suốt đêm để
kịp ra mặt trận phục vụ chiến đấu.
+ Hình ảnh: gió, sao trời, cánh chim,...là những hình ảnh thiên
nhiên đẹp và gợi cảm thể hiện nét lãng mạn trong tâm hồn người
lính.
+ "Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim" là ẩn dụ về con
đường chiến đấu vì miền Nam độc lập, hành trình của chiếc xe
khơng kính là hành trình của tình u đất nước.
- Xe khơng có kính,mỗi lúc người lính cịn phải chịu thêm sự khắc
nghiệt của thời tiết Trường Sơn:
Khơng có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Khơng có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tn mưa xối như ngoài trời.
+ Cấu trúc lặp lại: "ừ thì"...,"chưa cần"và những chi tiết"phì phèo
châm điếu thuốc - Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha","lái trăm cây số
nữa"... tạo ra giọng điệu ngang tàng, bất chấp gian khổ của người
lính.
+ Đối lập giữa hồn cảnh gian khổ và tư thế của người lính: khơng
có kính, bụi phun…, phì phèo châm điếu thuốc,... cười ha ha;
khơng có kính, mưa tn, mưa xối…, chưa cần thay lái trăm cây
số nữa...vừa diễn tả nỗi gian khổ vừa thể hiện niềm lạc quan ,coi
thường gian khổ của người lính. Cái lấm, bụi, ướt đã trở thành cái
cớ để họ đùa vui.
+ Sự phối hợp thanh điệu: nhưng thanh trắc: có kính, ướt áo, xối,
lái... gợi tả cái nghiệt ngã của hoàn cảnh; những thanh bằng dùng
trong cả đoạn thơ và đặc biệt là câu cuối:"Mưa ngừng gió lùa khơ
mau thơi" mở ra những phút yên à, ung dung trong tâm hồn người
lái xe. Ngay trong hồn cảnh khắc nghiệt, người lính vẫn tìm được
giây phút thư thái. Đó là niềm lạc quan, bản lĩnh thép của con
người Việt Nam ra trận.
* Tình đồng chí đồng đội cao đẹp, gắn bó keo sơn:
- Tình đồng đội của những chiến sĩ lái xe được hình thành từ trong
thử thách đạn nổ bom rơi khi cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý
tưởng:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
- Họ chào nhau bằng cử chỉ thật đặc biệt khi gặp nhau:"bắt tay qua
cửa kính vỡ rồi". Xe khơng kính trở thành cái "tiện" để các anh
xích lại gần nhau, để bày tỏ tình cảm cảm và mối giao hịa tuyệt
diệu, truyền cho nhau sức mạnh, tình đồng chí, đồng đội, lịng yêu
nước và quyết tâm đánh giặc.
- Trong phút giây sinh hoạt ngắn ngủi: họ cùng nhau nấu cơm khi
đến bữa, họ chung bát đũa khi gặp bữa và trở thành gia đình đầm
ấm. Tình cảm đồng chí đã hóa thành tình cảm ruột thịt gia đình để
họ sống chết có nhau.
- Cùng tiếp tục cuộc hành trình chiến đấu: " Lại đi, lại đi trời xanh
thêm ","trời xanh thêm"vì lịng người phơi phới say mê trước
những chặng đường đã đi và đang đến, vì có niềm vui về ngày mai
chiến thắng. Tình đồng đội đã góp phần củng cố thêm tình u đất
nước và ý chí chiến đấu.
* Tình u tổ quốc thiết tha và ý chí chiến đấu vì miền Nam ruột
thịt:
- Tác giả phát hiện tất cả mọi khía cạnh của cái"khơng"; khơng có
kính, khơng có đèn, khơng có mui... thêm một lần nữa nhấn mạnh
những thử thách khắc nghiệt đối với người lính lái xe. Điệp
ngữ"khơng có"nhắc lại ba lần như nhân lên những gian khổ khốc
liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc "Khơng có kính/rồi xe khơng
có đèn/Khơng có mui xe/thùng xe có xước" như bốn chặng gập
ghềnh, khúc khuỷu, đầy chơng gai, hố bom.
- Từ đó khẳng định một cái "có" : "Chỉ cần trong xe có một trái
tim". Những chiếc xe mình đầy thương tích vẫn bất chấp tất
cả,thẳng tới chiến trường không sức mạnh nào của kẻ thù khiến nó
phải dừng chân:
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Trói người và tỏa sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình ảnh nằm ở câu
thơ cuối. Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng
của mỗi người cầm lái kết đọng ở "trái tim". Cách nói hốn dụ
"trái tim" thể hiện lịng u nước thiết tha, căm thù giặc Mỹ sơi
sục, ý chí chiến đấu kiên cường vì miền Nam sẽ làm nên sức
mạnh chiến thắng. Con đường Trường Sơn không bao giờ bị đứt
mạch, những chiếc xe vận tải chẳng bao giờ ngừng lăn bánh khi
có bao trái tim cùng chung nhịp đập hướng về miền Nam thân
yêu. Ẩn sau hình ảnh thơ là chân lý của thời đại chúng ta: sức
mạnh chiến thắng khơng phải là vũ khí mà là con người giàu ý
chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng.
Có sự đối lập giữa hồn cảnh và ý chí con người, khó khăn mất
mát thì dồn dập nhưng con người vẫn vượt lên bom đạn ,hăm hở
hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng vì miền Nam, vì
cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Tình cảm lớn
này đã hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ lái
xe Trường Sơn.
* Đánh giá:
( Tài liệu: Nguyễn Nga- nhóm ngữ văn THCS)
"Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính" là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong
cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ:
Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,...Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ
bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà
chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của
hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tơn vính vẻ đẹp
phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng
sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945
– 1975.
3. Kết bài
- Với lời thơ mộc mạc gần với ngôn ngữ đời thường, giọng điệu
ngang tàn, trẻ trung; cách khai thác chất liệu của chiến tranh,...nhà
thơ Phạm Tiến Duật đã sáng tạo nên một bài thơ với những hình
tượng độc đáo.
- Từ hình ảnh những chiếc xe khơng kính, bài thơ đã khắc họa bức
tượng đài nghệ thuật về người lính lái xe Trường Sơn. Đó là
những con người sơi nổi, trẻ trung có tư thế hiên ngang, tinh thần
dũng cảm, lạc quan phơi phới. Họ đã vượt lên sự ác liệt của chiến
tranh để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với khí thế tuổi
xuân phơi phới" Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".
Đề 2: phân tích và so sánh hình ảnh người lính trong hai bài
thơ Đồng Chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính
của Phạm Tiến Duật.
1. Mở bài
- Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
trường kì, anh bộ đội Cụ Hồ đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp
Việt Nam tập trung những phẩm chất cao quý nhất của con người
thời đại.
- Hai bài thơ Đồng chí (Chính Hữu) và Bài Thơ về tiểu đội xe
Khơng kính (Phạm Tiến Duật) giúp ta hiểu sâu sắc hơn về chân
dung con người Việt Nam đẹp nhất ấy, những con người đã không
tiếc máu xương chiến đấu để gìn giữ nền độc lập cho dân tộc.
2. Thân bài
* Khái quát:
- Về đề tài: Dân tộc ta đứng lên tiến hành hai cuộc chiến tranh cách mạng oanh
liệt chống Pháp và chống Mỹ. Lẽ tất nhiên, ở đất nước hơn ba mươi năm chưa
dời tay súng. Hình ảnh anh Bộ đội cụ Hồ là hình ảnh con người đẹp nhất đáng
yêu nhất trong văn thơ và là niềm tự hào lớn của dân tộc.
- Về hai tác phẩm: Cùng với nhiều bài thơ khác, bài thơ Đồng chí sáng tác vào
đầu năm 1948 khi tác giả Chính Hữu chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc, bài
thơ Tiểu đội xe khơng kính sáng tác năm 1969 khi tác giả Phạm Tiến Duật tham
gia họat động ở tuyến đường Trường Sơn đã khắc họa thành cơng về đề tài người
lính.
- Về luận đề: hình tượng anh bộ đội được ghi lại trong hai bài thơ đã lưu giữ
trong văn chương Việt Nam hai gương mặt đẹp, đáng yêu của người lính trong
hai thời kỳ lịch sử.
a) Cảm nhận về người lính trong từng bài thơ:
* Người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu: vẻ đẹp chân
dung anh bộ đội Cụ Hồ buổi đầu kháng chiến chống Pháp.
- Đó là những anh bộ đội xuất thân từ nông dân giàu lịng u
nước. Họ sẵn sàng bỏ lại những gì q giá, thân thiết của cuộc
sống nơi làng quê để ra đi vì nghĩa lớn: " Ruộng nương anh... lung
lay".
- Trong gian khổ, thiếu thốn buổi đầu cách mạng (áo rách, quần
vá, chân không giày; những cơn sốt run người…), họ vẫn sáng
người tinh thần lạc quan, dũng cảm, vượt khó.
- Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, thắm thiết:
+ Tình đồng chí, đồng đội bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về
cảnh ngộ xuất thân nghèo khó:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tơi nghèo đất cày lên sỏi đá.
+ Tình đồng chí được nảy sinh bởi họ cùng chung mục đích,
chung lý tưởng: từ đôi người xa lạ, theo tiếng gọi thiêng liêng của
Tổ quốc, họ đã nhanh chóng tập hợp trong đội quân cách mạng và
quen nhau, rồi cùng chung nhiệm vụ, chung chiến hào, đồng lịng
đánh giặc.
+ Tình đồng chí nảy nở ở và ngày càng bền chặt khi họ cùng chia
sẻ ngọt bùi, đồng cam cộng khổ: " Đêm rét chung chăn thành đôi
tri kỉ". Trong gian khổ thiếu thốn buổi đầu cách mạng, họ tìm đến
bên nhau, chia nhau từng hơi ấm yêu thương từ tấm chăn mỏng,
thấu hiểu, đồng cảm, kết thành đôi tri kỉ rồi trở thành Đồng chí.
+ Là đồng chí, họ ln đồn kết, sát cánh bên nhau nơi chiến hào
đánh giặc:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Ba câu thơ kết là bức họa tuyệt đẹp về hình ảnh hai người lính
canh gác bên nhau trong cái hoang vu bát ngát của núi rừng Việt
Bắc. Mặc cho cái lạnh thấm vào da thịt, họ vẫn kề vai, sát cánh
bên nhau chung một chiến hào.
Tình đồng đội là sức mạnh tinh thần kỳ diệu nhất để các anh
vững vàng tay súng bảo vệ cuộc sống bình n cho nhân dân.
* Hình ảnh người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính:
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vơ cùng ác liệt, người lính đã
người lên phẩm chất cao đẹp:
- Tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, coi thường
hiểm nguy.
- Tình đồng chí đồng đội cao đẹp, gắn bó keo sơn.
- Tình u Tổ quốc thiết tha và ý chí chiến đấu vì miền Nam ruột
thịt.
b) Điểm giống và khác nhau về hình ảnh người lính trong hai bài thơ:
* Điểm giống nhau:
- Người lính trong hai bài thơ đều có những phẩm chất cao quý
của anh bộ đội Cụ Hồ:
+ Lòng yêu nước thiết tha, sự dũng cảm, can trường.
+ Tinh thần lạc quan, lãng mạn, yêu đời.
+ Tình đồng chí đồng đội thiêng liêng cao đẹp.
- Bút pháp tả thực kết hợp lãng mạn, tìm ra chất thơ ngay trong
những chi tiết đời thường đã tạo ra chân dung người lính chân
thực nhưng cũng rất lãng mạn.
* Điểm khác nhau:
- Hoàn cảnh của hai cuộc kháng chiến khác nhau. Cuộc kháng
chiến chống Pháp buổi đầu, người lính gặp muôn vàn gian khổ,
thiếu thốn. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, họ phải chịu sự khốc liệt
của bom đạn chiến tranh, Sự tàn bạo dã man của kẻ thù.
- Tiếp nối vẻ đẹp của người lính thời chống Pháp, người lính thời
chống Mỹ đã nâng tình cảm đồng chí lên thành tình cảm gia đình
ruột thịt để họ có thêm sức mạnh quyết tâm tiêu diệt kẻ thù.
- Ngôn ngữ thơ trong bài Đồng chí giản dị, mộc mạc như lời ăn
tiếng nói hằng ngày của những người lính nơng dân, cảm xúc dồn
nén, hình ảnh cơ đọng, hàm súc. Cịn Bài thơ về tiểu đội xe khơng
kính, người lính trong thời chống Mỹ lại hiện lên sinh động qua
ngòi bút trẻ trung, ngơn ngữ hóm hỉnh, ngang tàng, đậm chất khẩu
ngữ…
* Đánh giá:
- Hình tượng người lính dù ở thời kỳ kháng chiến chống Pháp hay kháng chiến
chống Mỹ đều mang phẩm chất cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ thời đại đã cung
cấp cho các nhà thơ những nguyên mẫu đẹp đẽ, họ tạo nên những hình tượng
làm xúc động lịng người.
- Viết về những người lính, các nhà thơ nói về chính mình và những người đồng
đội của mình. Vì thế, hình tượng người chân thật và sinh động...
3. Kết bài
- Khẳng định: lòng yêu nước và sự quyết tâm chống giặc ngoại
xâm đó là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam xưa nay.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, vẻ đẹp đó
được tỏa sáng và phát huy trong hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ.
- Liên hệ bài học: thế hệ cháu con tiếp nối cha ơng, gìn giữ đất
nước tươi đẹp , sống có trách nhiệm xây dựng đất nước ta ngày
càng mạnh giàu.