Câu 1: Vận chuyển vật chất qua màng tế bào theo hình thức thụ động.
1. Khuếch tán đơn giản (simple diffusion)
• Khuếch tán đơn giản là hình thức khuếch tán trong đó các phân tử vật
chất được vận chuyển từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp và
khơng tiêu tốn năng lượng.
• Sự khác biệt về nồng độ của một chất 2 bên màng bào tương tạo nên
một gradient nồng độ. Sự khác biệt này làm cho các phần tử chất đó đi
từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp cho tới khi đạt tới sự cân
bằng động ở hai bên màng mà khơng địi hỏi phải cung cấp năng lượng.
• Sau khi đã đạt được cân bằng, sự khuếch tán của các phân tử vẫn được
tiếp tục duy trì tuy nhiên nồng độ của chúng ở hai bên màng khơng thay
đổi.
• Hiện tượng này phụ thuộc vào động năng của các phần tử nên sự khuếch
tán sẽ xảy ra nhanh hơn khi
Nhiệt độ tăng
Gradient nồng độ lớn
Vật thể có kích thước nhỏ.
• Các phân tử tan trong lipid như oxygen, dioxide carbon, nitrogen, các
steroid, các vitamin tan trong lipid như A, D, E và K, glycerol, rượu và
amonia có thể dễ dàng đi qua lớp phospholipid kép của màng bào tương
theo cả 2 phía bằng hình thức này. Tốc độ khuếch tán của chúng tỷ lệ
thuận vào khả năng tan trong lipid của các phân tử.
• Các phần tử có kích thước nhỏ khơng tan trong lipid cũng có thể khuếch
tán qua màng theo hình thức này thơng qua các kênh, như các ion natri
(Na+), ion kali (K+), ion calci (Ca2+), ion clo (Cl-), ion bicarbonate
(HCO3-) và urê. Tốc độ khuếch tán của chúng tỷ lệ thuận với kích
thước phân tử, hình dạng và điện tích của các phần tử.
• Nước khơng những dễ dàng đi qua lớp phospholipid kép mà còn khuếch
tán qua các kênh này.
2. Hiện tượng thẩm thấu
• Hiện tượng thẩm thấu là hiện tượng vận chuyển thụ động của các phân
tử nước từ nơi có nồng độ nước cao (có nồng độ chất hịa tan thấp) tới
nơi có nồng độ nước thấp (có nồng độ chất hịa tan cao). Một dung dịch
có nồng độ các chất hịa tan càng cao thì áp lực thẩm thấu càng lớn và
ngược lại.
• Gradient áp lực thẩm thấu được hình thành hai bên màng do sự có mặt
của các chất hoà tan với các nồng độ khác nhau ở mỗi bên.
• Dưới tác động của áp lực thẩm thấu nước sẽ di chuyển từ nơi có áp lực
thẩm thấu thấp đến nơi có áp lực thẩm thấu cao để đạt đến sự cân bằng
áp lực thấm thấu.
• Bình thường áp lực thẩm thấu ở trong tế bào cân bằng với áp lực thẩm
thấu trong dịch ngoại bào nhờ đó thể tích của tế bào duy trì được sự
hằng định một cách tương đối, trong khi đó áp lực thẩm thấu của huyết
tương lại cao hơn so với dịch kẻ bao quanh các thành mao mạch, sự
khác biệt này làm nước sẽ di chuyển từ phía mơ kẻ vào trong lịng mao
mạch. Các tình huống làm giảm áp lực thẩm thấu của huyết tương sẽ
làm ứ trệ nước trong dịch kẻ và dịch ngoại bào.
3. Hiện tượng khuếch tán qua trung gian
• Hiện tượng khuếch tán qua trung gian là hiện tượng khuếch tán của các
chất từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp nhờ vai trị trung
gian của các protein đóng vai trị chất vận chuyển trên màng bào tương.
• Tốc độ của kiểu khuếch tán này phụ thuộc vào sự khác biệt về nồng độ
của chất được vận chuyển ở hai bên màng và số lượng của các chất vận
chuyển đặc hiệu.
• Trong cơ thể các ion, urê, glucose, fructose, galactose và một số vitamin
khơng có khả năng tan trong lipid để đi qua lớp phospholipid kép của
màng sẽ di chuyển qua màng theo hình thức này
Câu 2: Cấu tạo và chức năng hồng cầu.
• Hồng cầu chiếm hơn 99% trong các thành phần hữu hình của máu. Đó là
những tế bào có hình đĩa hai mặt lõm, đường kính 7-8 mm, bề dày phần ngoại
vi 2-2,5 mm và phần trung tâm 1 mm, thể tích trung bình 90-95 mm3. Hình
dạng này có hai lợi điểm như sau:
Tăng diện tích bề mặt tiếp xúc làm tăng khả năng khuếch tán khí thêm 30%
so với hồng cầu cùng thể tích mà có dạng hình cầu.
Làm cho hồng cầu trở nên cực kỳ mềm dẽo, có thể đi qua các mao mạch
hẹp mà không gây tổn thương mao mạch cũng như bản thân hồng cầu.
• Hồng cầu khơng có nhân cũng như các bào quan. Thành phần chính của hồng
cầu là hemoglobin (Hb), chiếm 34% trọng lượng (nồng độ 34 g/dl trong dịch
bào tương). Cấu trúc của hồng cầu đặc biệt thích ứng với chức năng vận
chuyển khí oxy.
Cấu trúc của hemoglobin
Hemoglobin cịn gọi huyết sắc tố, đó là chromoprotein gồm hai thành
phần là nhân heme và globin.
Heme là một sắc tố đỏ. Mỗi heme gồm một vịng porphyrin và một
Fe2+ chính giữa. Một phân tử hemoglobin có bốn nhân heme, chiếm
5%.
Globin là một protein gồm bốn chuỗi polypeptid giống nhau
từng đôi một.
Hemoglobin người bình thường là HbA gồm hai chuỗi a và hai chuỗi b.
Hemoglobin thời kỳ bào thai là HbF gồm hai chuỗi a và hai chuỗi g.
Sự bất thường của các chuỗi globin sẽ làm thay đổi đặc điểm sinh lý của
phân tử Hb.
Nồng độ hemoglobin của người bình thường là: Nam: 13,5-18 g/100 ml
(g%). Nữ: 12-16 g/100 ml (g%). Trẻ em: 14-20 g/100 ml (g%).
• Số lượng
Ở người bình thường, số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi là:
Nam: 5.400.000 ± 300.000 /mm3. Nữ: 4.700.000 ± 300.000/mm3.
Số lượng hồng cầu có thể thay đổi trong một số trường hợp sinh lý.
Ở trẻ sơ sinh, số lượng hồng cầu cao trong vòng một hai tuần đầu, sau đó
có hiện tượng vỡ hồng cầu gây vàng da sinh lý.
Ngồi ra, số lượng hồng cầu có thể tăng ở những người lao động nặng,
sống ở vùng cao.
• Chức năng
Chức năng chủ yếu của hồng cầu là vận chuyển oxy tới các tổ chức. Ngoài
ra hồng cầu cịn có các chức năng sau:
Vận chuyển một phần CO2 (nhờ hemoglobin)
Giúp huyết tương vận chuyển CO2 (nhờ enzym carbonic anhydrase)
Điều hoà cân bằng toan kiềm nhờ tác dụng đệm của hemoglobin.
Vận chuyển khí O2
Hồng cầu vận chuyển O2 từ phổi đến tổ chức nhờ phản ứng sau:
Hb + O2 = HbO2
Trong đó O2 được gắn lỏng lẻo với Fe2+. Đây là phản ứng thuận
nghịch, chiều phản ứng do phân áp O2 quyết định. Trong phân tử Hb,
O2 khơng bị ion hố mà nó được vận chuyển dưới dạng phân tử O2.
Khi hít phải khơng khí nhiều CO (carbon monoxide), hemoglobin sẽ kết
hợp CO để tạo ra carboxyhemoglobin theo phản ứng:
Hb + CO = HbCO
Ái lực của Hb đối với CO gấp hơn 200 lần đối với O2, vì vậy một khi đã
kết hợp với CO thì Hb khơng cịn khả năng vận chuyển O2 nữa.
Dấu hiệu đầu tiên là da đỏ sáng, bệnh nhân rơi vào trạng thái kích thích,
rồi buồn ngủ, hơn mê và tử vong.
Khí CO thường được sinh ra khi đốt cháy nhiên liệu khơng hồn tồn.
Điều trị bằng cách đưa bệnh nhân ra khỏi môi trường nhiều CO,
đồng thời cho thở O2.
Lượng CO trong khơng khí là chỉ số đo mức độ ô nhiễm môi trường.
Khi máu tiếp xúc với những thuốc hoặc hố chất có tính oxy hoá, Fe2+
trong nhân heme chuyển thành Fe3+ và hemoglobin trở thành
methemoglobin khơng cịn khả năng vận chuyển O2. Methemoglobin
khi hiện diện trong máu nhiều sẽ gây triệu chứng xanh tím. Tình trạng
này xảy ra khi ngộ độc một số dẫn chất của anilin, sulfonamide,
phenacetin, nitroglycerin, nitrate trong thực phẩm ...
Vận chuyển khí CO2
Hồng cầu vận chuyển CO2 từ tổ chức về phổi theo phản ứng sau:
Hb + CO2 = HbCO2 (carbaminohemoglobin)
CO2 được gắn với nhóm NH2 của globin. Đây cũng là phản ứng thuận
nghịch, chiều phản ứng do phân áp CO2 quyết định. Chỉ khoảng 20%
CO2 được vận chuyển dưới hình thức này, cịn lại là do muối kiềm của
huyết tương vận chuyển.
Câu 3: Nhóm máu hệ Rhesus
• Có 6 loại kháng nguyên Rh, chúng được ký hiệu là C, D, E, c, d, e. Một
người có kháng ngun C thì khơng có c và ngược lại, điều này cũng đúng
đối với các cặp D-d và E-e. Do phương thức di truyền của các yếu tố này,
mỗi người chúng ta có 3 kháng nguyên thuộc 3 cặp C-c, D-d, E-e
• Kháng nguyên D là thường gặp nhất và có tính kháng ngun mạnh nhất
nên những người mang kháng nguyên D được gọi Rh dương, những người
không mang kháng nguyên D được gọi là Rh âm.
• Một điều cần lưu ý là trong hệ thống nhóm máu Rh, kháng thể kháng Rh
khơng có sẵn tự nhiên trong máu. Kháng thể chỉ sinh ra trong máu người
Rh âm khi người này được truyền máu Rh dương hoặc trường hợp mẹ Rh
âm mang bào thai Rh dương. Đó là kết quả của q trình đáp ứng miễn
dịch.
• Tai biến do bất đồng nhóm máu hệ R
Trong truyền máu
Người nhóm máu Rh âm được truyền máu Rh dương, lần đầu tiên
hầu như không xảy ra tai biến. Tuy nhiên, cơ thể người này bắt đầu
sản xuất kháng thể kháng Rh. Nồng độ kháng thể đạt tối đa sau 2-4
tháng.
Nếu sau đó người này lại được truyền máu Rh dương thì tai biến có
thể xảy ra do kháng thể kháng Rh có sẵn cùng với kháng thể kháng
Rh được tạo ra do đáp ứng miễn dịch lần hai sẽ gây ngưng kết hồng
cầu Rh dương được truyền vào.
Cần lưu ý rằng, có một số người Rh âm trong lần nhận máu Rh
dương đầu tiên đã sản xuất kháng thể kháng Rh với số lượng có ý
nghĩa sau 2-4 tuần. Như vậy, kháng thể đó có thể gây ngưng kết
những hồng cầu Rh dương cịn lưu thông trong máu. Tuy nhiên,
phản ứng xảy ra muộn này rất nhẹ nhàng.
Trong sản khoa
Xảy ra đối với những người phụ nữ Rh âm lấy chồng Rh dương. Khi
có thai, thai nhi có thể là Rh dương hoặc âm. Trong lần mang thai Rh
dương đầu tiên, một lượng máu Rh dương của thai nhi sẽ vào tuần
hoàn mẹ chủ yếu là lúc sinh và kích thích cơ thể người mẹ sản xuất
kháng thể kháng Rh. Đứa trẻ sinh ra trong lần này khơng bị ảnh
hưởng gì cả. Tuy nhiên, đến lần mang thai tiếp theo, kháng thể kháng
Rh sẽ vào tuần hồn thai nhi. Nếu đó là thai Rh dương thì kháng thể
kháng Rh có thể làm ngưng kết hồng cầu thai nhi và gây các tai biến
sảy thai, thai lưu, hoặc đứa trẻ sinh ra bị hội chứng vàng da tan máu
nặng.
Thật ra, trong thời gian mang thai yếu tố Rh của bào thai đã phóng
thích vào trong dịch bào thai và có thể khuếch tán vào máu mẹ. Tuy
nhiên, trong lần mang thai đầu tiên (lần đầu tiên tiếp xúc kháng
nguyên Rh) lượng kháng thể tạo ra ở cơ thể người mẹ không đủ cao
để gây hại cho thai nhi.
Câu 4: Chu kỳ hoạt động của tim
• Tim đập nhịp nhàng, đều đặn, khoảng 3000 triệu lần cho một đời người. Có
thể chia chuỗi hoạt động này thành từng chu kỳ lập đi lập lại riêng rẽ. Khoảng
thời gian từ đầu của một tiếng tim này đến đầu tiếng tim khác gọi là một chu
kỳ tim.
• Trong mỗi chu kỳ tim, sự thay đổi áp lực trong trong tâm nhĩ, tâm thất, khiến
chúng co và giãn, máu sẽ đi từ vùng áp lực cao đến vùng áp lực thấp. Áp lực
thất phải thấp hơn nhiều áp lực thất trái vì thành thất phải mỏng hơn tuy nhiên
thể tích tống máu là như nhau. Ở một chu kỳ tim bình thường, hai tâm nhĩ co
trong khi hai tâm thất giãn và ngược lại.
• Chu kỳ tim bao gồm giai đoạn co (tâm thu), và giai đoạn giãn (tâm trương)
của tâm nhĩ và của cả tâm thất
• Có thể chia một chu kỳ tim thành 3 giai đoạn chính:
1. Đổ đầy thất
Xảy ra trong giai đoạn tâm trương.
Lúc này cơ thất hoàn toàn giãn, áp lực trong thất giảm xuống, áp lực
tâm nhĩ vượt quá áp lực tâm thất do máu từ tĩnh mạch liên tục đổ về nhĩ.
Sự chênh lệch áp suất này khiến cho van nhĩ - thất mở ra và máu từ nhĩ
xuống thất, gọi là giai đoạn đầy thất nhanh (80% lượng máu trong nhĩ
đổ xuống thất). Cuối thời kỳ này, tâm nhĩ co (khử cực nhĩ: sóng P trên
điện tâm đồ) và tống nốt 20% lượng máu còn lại, để khởi đầu cho sự co
của thất.
Sự co của tâm nhĩ không tuyệt đối cần thiết cho lưu lượng máu đầy đủ ở
một tần số tim bình thường.
Cuối kỳ tâm thất trương, có khoảng 130ml máu ở mỗi tâm thất, được
gọi là thể tích cuối tâm trương, chỉ số này quan trọng để đánh giá chức
năng tim.
Trong giai đoạn đổ đầy thất, có một sự chênh lệch áp lực qua van bán
nguyệt, áp lực động mạch chủ lớn hơn áp lực thất trái, tác động lên van,
khiến chúng vẫn đóng trong suốt thời kỳ này. Điều này ngăn máu chảy
ngược trở lại từ động mạch về tim.
2. Tâm thất co
Tiếp theo ngay sau khi tâm nhĩ co, xung động từ nút xoang ngang qua
nút nhĩ - thất và đến khử cực tâm thất, biểu hiện phức bộ QRS trên điện
tâm đồ.
Tâm thất bắt đầu co, kết quả làm tăng áp lực trong thất. Khi áp lực tâm
thất lớn hơn áp lực tâm nhĩ, van nhĩ- thất đóng lại. Trong khoảng 0.05s,
buồng thất là buồng đóng kín vì van nhĩ thất và van tổ chim đều đóng,
chiều dài cơ tim khơng thay đổi, thể tích tâm thất khơng tăng, nên cịn
được gọi là sự co đẳng tích
Khi tâm thất tiếp tục co, áp suất trong buồng tim tăng rất nhanh, vượt
quá áp suất trong động mạch. Lúc này, van động mạch mở ra, và máu
được tống vào động mạch, thể tích máu được tống mỗi lần tim bóp
khoảng 70ml, gọi là giai đoạn tống máu tâm thất, kéo dài 0.25s, cho đến
khi tâm thất bắt đầu giãn.
Thể tích máu còn lại trong thất trái sau tâm thất thu 60ml, gọi là thể tích
cuối tâm thu
3. Tâm thất giãn
Khi tâm thất bắt đầu giãn, 4 buồng tim đều ở thời kỳ tâm trương. Sự tái
cực của cơ thất thể hiện sóng T trên điện tâm đồ. Lúc này áp lực tâm
thất giảm xuống sau khi xuất hiện sóng T, và dần thấp hơn áp lực động
mạch chủ, van động mạch đóng lại, máu có xu hướng dồn lại về van bán
nguyệt. Sự va của máu vào các lá van đã đóng lại, tạo nên một sóng nhơ
lên trên đường cong áp lực động mạch chủ. Sự đóng van động mạch tạo
một khoảng ngắn, trong đó thể tích tâm thất khơng thay đổi vì cả 4 van
đều đóng. Giai đoạn này gọi là giãn đẵng tích.
Tâm thất tiếp tục giãn, và áp suất bên trong giảm, nhanh chóng, dẫn đến
thấp hơn áp lực tâm nhĩ, van nhĩ thất mở ra và giai đoạn đổ đầy thất bắt
đầu.
4. Liên quan giữa tâm động đồ, điện tâm đồ, thể tích thất trái và tâm thanh đồ.
Sự phối hợp giữa tâm thu và tâm trương
Với nhịp tim 75l/ph, mỗi chu kỳ tim kéo dài 0.8s:
Trong 0.4s đầu tiên của chu kỳ tim, là giai đoạn tim giãn, cả 4 buồng tim
đều ở kỳ tâm trương. Đầu tiên, tất cả các van đều đóng, tiếp đó van nhĩthất mở và máu bắt đầu rót xuống thất.
Ở 0.1s tiếp, tâm nhĩ co và van nhĩ-thất mở, nhưng tâm thất vẫn giãn, van
bán nguyệt đang đóng.
Đến 0.3s cịn lại, tâm nhĩ giãn và tâm thất co. Đầu tiên, tất cả các van
đều đóng (co đẳng tích), tiếp đó van bán nguyệt mở, đó là giai đoạn
tống máu tâm thất.
Khi nhịp tim nhanh, thời kỳ tâm trương ngắn lại rất nhiều so với tâm
thu.
Câu 5: Điều hòa tần số tim
Sự thay đổi nhịp tim quan trọng trong điều hòa cấp thời lưu lượng tim và áp
lực máu. Yếu tố đóng vai trị nổi bậc nhất điều hòa tần số tim là hệ thần kinh
thực vật và hormon tủy thượng thận.
1. Hệ thần kinh thực vật
• Trung tâm tim mạch ở hành não nhận các luồng xung động truyền về từ
các thụ cảm cảm giác ở ngoại vi và từ trung tâm cao hơn như hệ limbic,
vỏ não. Từ đây, xung động đáp ứng truyền ra theo các dây giao cảm và
phó giao cảm của hệ thần kinh thực vật chi phối tim.
• Các chất thụ cảm gồm:
Chất thụ cảm bản thể kiểm sốt các cử động.
Chất thụ cảm hóa học tiếp nhận những thay đổi hóa học trong máu
Chất thụ cảm áp suất tiếp nhận những thay đổi về áp lực ở các động
mạch và tĩnh mạch lớn, vị trí quan trọng thường ở quai động mạch
chủ và xoang động mạch cảnh. Các phản xạ này quan trọng trong
điều hòa áp lực máu cũng như tần số tim.
• Các sợi giao cảm đi từ hành não đi đến cốt sống, từ tủy sống ngực, các
sợi giao cảm tim chi phối nút xoang, nút nhĩ thất và phần lớn cơ tim.
Norepinephrin, hóa chất trung gian của hệ giao cảm được giải phóng kết
hợp với b1 receptor trên sợi cơ tim, làm tăng tốc độ khử cực tự phát của
tế bào nút xoang nhĩ, vì vậy ngưỡng điện thế đến nhanh hơn gây tăng
nhịp tim đồng thời còn gây tăng sức co của tim do tăng Ca2+ vào tế bào
qua kênh canxi chậm.
• Thần kinh phó giao cảm đến tim theo dây X phải và trái, chi phối nút
xoang nhĩ, nút nhĩ thất và cơ nhĩ, acetycholin được giải phóng làm giảm
tốc độ khử cực tự phát tăng sự phân cực của tế bào nút xoang nhĩ, khiến
time đạt đến ngưỡng chậm hơn và làm giảm nhịp tim.
• Trong trạng thái nghỉ, cả giao cảm lẫn phó giao cảm đều hoạt động lên
tim, nếu tim bị mất sự chi phối của thần kinh như do phẫu thuật hoặc do
thuốc thì nhịp tim sẽ tăng đến 100 lần/phút, cịn bình thường tim đập
khoảng 70 lần/ph, chứng tỏ hệ phó giao cảm nổi bậc trong sự điều hịa
hoạt động nút xoang.
• Mặc dù tăng nhịp tim là yếu tố khiến lưu lượng tim tăng nhưng giới hạn
cao nhất do sự dẫn truyền xung động qua nút xoang với nhịp tim khoảng
250 l/ph, khi nhịp tim nhanh trên 170 l/ph thì lưu lượng tim bắt đầu
giảm, do time đổ đầy thất trong kì tâm trương ngắn lại. Điều này có
nghĩa lượng máu về thất giảm thì thể tích tống máu tâm thu cũng giảm.
2. Sự điều hịa hóa học
• Một số yếu tố hóa học ảnh hưởng lên sinh lý cơ tim và tầm số tim.
Trong thiếu oxy máu, nhiễm toan, nhiễm kiềm đều làm giảm hoạt đọng
của tim. Tuy nhiên 2 yếu tố sau có tác động lớn lên tim:
• Hormon
Epinephrin và Norepinephrin từ tủy thượng thận tăng sức bơm của tim,
cùng tác dụng lên tim như norepinephrin của TK giao cảm, làm tăng tốc
độ tim lẫn sức co của tim. Hormon tuyến giáp cũng gây tăng nhịp tim.
• Ion
Nồng độ 3 cation K+, Na+ ,Ca2+ có tác động lớn lên chức năng tim. Sự
tăng K+ hoặc giảm Ca2+ máu làm giảm nhịp tim và sức co của tim.
3. Các phản xạ điều hịa nhịp tim
• Phản xạ giảm áp
Khi áp suất tăng ở quai động mạch chủ và xoang động cảnh, được tiếp
nhận bới các baroreceoptor, thì xung động truyền theo dây Cyon Lywig
và dây Hering về hành não, giảm kích thích giao cảm, tănng kích thích
dây X làm cho tim đập chậm và huyết áp giảm.
• Phản xạ tim tim
Khi máu về tim nhiều, gốc tĩnh mạch chủ đổ vào nhĩ phải bị căng làm
tăng áp suất ở đây, các baroreceptor sé truyền xung động theo sợi cảm
giác đi trong dây X về trung tâm tim mạch ở hành não, xung động
truyền ra theo dây giao cảm làm tăng nhịp tim và sức co rút, giái quyết
tình trạng ứ máu ở tâm nhĩ phải.
• Phản xạ mắt tim
Ấn mạnh lên 2 nhãn cầu làm kích thích mút dây V, xung động về hành
não kích thích dây X làm tim đập chậm.
• Phản xạ Goltz
Nếu đánh mạnh vào vùng thượng vị có thể gây ngừng tim. Phản xạ này
từ đám rối dương theo dây tạng lên hành não kích thích dây X mạnh. Do
vậy trong phẫu thuật, sự co kéo mạnh các tạng ở bụng có thể gây ngừng
tim.
• Sự kích thích đột ngột vùng mũi họng, như bóp cổ, treo cổ, gây mê bằng
ete cũng có thể gây ngừng tim
4. Những yếu tố khác
• Tuổi, giới, tình trạng thể lực va thân nhiệt cũng ảnh hưởng đến nhịp tim.
Trẻ càng nhỏ, nhịp tim càng nhanh và chậm dần lại cho đến bằng tần số
bình thường ở người trưởng thành.
• Ở người tập luyện, có nhịp tim chậm dưới 60 l/ph, điều này thuận lợi
trong việc cung cấp đủ năng lượng khi tập luyện kéo dài.
• Sự tăng thân nhiệt như sốt, vận cơ làm tăng nhịp tim. Ngược lại, sự
giảm thân nhiệt làm giảm nhịp tim và sức co rút.
• Hiện nay, để phẫu thuật tim người ta sử dụng phương pháp hạ nhiệt,
bằng cách này thân nhiệt giảm, giảm tốc độ chuyển hóa và giảm nhu cầu
oxy của mô, thuận lợi cho cuộc mổ.
Câu 6: Các yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp động mạch
1. Lưu lượng tim
• Q = Qs x f
Qs là khối lượng máu mỗi lần tim bóp tống ra (bình thường khoảng 70ml).
f (tần số tim): số lần tim bóp trong 1 phút (bình thường khoảng 70 lần/phút).
Vậy Q = Qs x f = 70ml x 70 lần = 4900ml/phút.
• Khi tim co bóp mạnh, máu được đẩy vào động mạch nhiều hơn, thể tích tâm
thu tăng do đó huyết áp cao hơn và ngược lại.
• Khi tim đập chậm, trong một số bệnh lý, thể tích tâm thu không tăng nên lưư
lượng giảm và huyết áp giảm. Khi tim nhanh, thể tích tâm thu có giảm chút ít
nhưng lưu lượng tăng nên huyết áp tăng. Nhưng có khi tim đập chậm mà huyết
áp không giảm, gặp ở người tập luyện thể thao.
• Khi tim đập nhanh (>140lần/phút), thời kỳ tâm trương quá ngắn, không đủ cho
máu trở về tim, do đó thể tích tâm thu giảm và lưu lượng tim giảm, huyết áp
giảm.
2. Yếu tố máu
• Khối lượng máu (V) cũng quyết định HA, khi mất máu (V giảm) thì huyết áp
sẽ giảm vì Q giảm.
• Độ qnh của máu cũng là yếu tố quan trọng quyết định HA, đồng thời nó
cũng tỉ lệ với sức cản R.
Nếu độ quánh giảm, sức cản giảm, huyết áp hạ, đó là trường hợp của
người bị bệnh thiếu máu, do thiếu protein trong huyết tương và thiếu cả
hồng cầu, do đó độ quánh giảm.
Trường hợp mất máu, do bị chảy máu nặng, làm cho V giảm, cơ thể sẽ
rút nước gian bào để bù V hoặc do chuyền dịch để bù V, độ quánh bị
giảm nên huyết áp giảm.
Khi độ quánh tăng, gặp trong tiêu chảy nhẹ, tăng hồng cầu bất thường
hoặc bỏng nặng, làm cho sức cản tăng và vì vậy huyết áp tăng. Có
trường hợp độ quánh tăng, nhưng huyết áp vẫn giảm, gặp trong mất
nước như nôn mửa nhiều, tiêu chảy nặng làm cho V giảm, lúc này máu
bị cô đặc làm cho độ quánh tăng, nhưng V giảm, vì vậy huyết áp giảm.
3. Yếu tố mạch
• Khi đường kính mach máu nhỏ, tăng sức cản, do đó huyết áp tăng. Ngược lại,
khi mạch giãn, huyết áp thấp. Ở người cao tuổi, mạch máu kém đàn hồi, sức
cản tăng, khiến cho huyết áp cao.
4. Những yếu tố khác làm thay đổi huyết áp
• Theo tuổi:
•
•
•
•
•
Huyết áp tỷ lệ thuận với tuổi đời, càng về già huyết áp càng cao theo mức độ
xơ hóa động mạch.
Theo giới huyết áp giữa nam và nữ chênh nhau khơng nhiều
Thay đổi theo trọng lực
Ở vị trí đứng thẳng, huyết áp trung bình của động mạch ngang tim là 100
mmHg, do ảnh hưởng của trọng lực, động mạch ở cao hơn tim 1cm thì huyết
áp giảm 0,77 mmHg, thấp hơn tim 1cm thì huyết áp tăng 0,77 mmHg.
Thay đổi theo chế độ ăn:
Ăn nhiều đạm, ăn mặn thì huyết áp tăng.
Thay đổi theo nhịp sinh học:
HA thay đổi theo ngày đêm như hình sin. huyết áp thường hạ vào sáng sớm
tăng dần đến trưa rồi chiều giảm.
Vận động:
Khi vận động, huyết áp tăng do sự đáp ứng của cơ thể đối với hoạt động thể
lực lúc đầu, sau đó huyết áp giảm dần nhưng vẫn cao hơn bình thường. Trường
hợp huyết áp giảm trong vận động nặng, thường do khả năng bơm máu của
tim không đủ hiệu lực.
Ở những người rèn luyện thân thể đều đặn, huyết áp có xu hướng thấp hơn trị
số bình thường, đây là dấu hiệu của sức khỏe tốt.
Câu 7: Quá trình trao đổi và vận chuyển O2
Phân áp oxy trong máu động mạch là 95 mmHg, thể tích oxy được vận chuyển
là 19,8 O2/dl máu ở dưới hai dạng: dạng hoà tan và dạng kết hợp với
hemoglobin. Trong đó dạng kết hợp với Hb là 19,5 ml chiếm 97% thể tích oxy
chở được.
1. Dạng hịa tan
• Bình thường PO2 máu động mạch 95 mmHg thì có khoảng 0,3 ml oxy tan
trong 100ml máu trong đó có 0,17 ml nhường cho mô, so với 5 ml do Hb
đem đến cho mơ thì q ít. Lượng oxy hồ tan tỉ lệ thuận với áp suất riêng
phần oxy phế nang.
2. Dạng kết hợp với hemoglobin
• Đây là dạng vận chuyển chủ yếu của O2 ở trong máu. Hemoglobin vận
chuyển O2 bằng cách gắn O2 vào nguyên tử Fe2+ của nhân Hem tạo nên
Oxyhemoglobin (HbO2). Phản ứng gắn này rất lỏng lẻo nên O2 có thể gắn
vào hoặc tách ra dễ dàng:
Hb + O2 = HbO2
1 gam Hb có thể vận chuyển 1,34 ml O2.
• Trong 100 ml máu có khoảng 15 gam Hb nên 100 ml máu có thể vận
chuyển tối đa 20 ml O2, nhưng thực tế chỉ có khoảng 97% Hb kết hợp với
O2, tức là có khoảng 19,5 ml O2 được Hb vận chuyển trong máu động
mạch.
• Ở phổi PO2 cao, oxy kết hợp thành HbO2, đến mơ PO2 thấp, oxy lại tách
khỏi hemoglobin.
• Trong khoảng phân áp O2 thấp (20 - 40 mm Hg), tốc độ kết hợp tăng lên
rất nhanh, hay có thể nói ngược lại khi phân áp O2 giảm từ 40 mm Hg
xuống 20 mm Hg tốc độ phân ly tăng lên rất nhanh.
Điều này có ý nghĩa sinh lý hết sức quan trọng: ở tổ chức có phân áp O2 rất
thấp (< 40 mm Hg), điều này sẽ có tác dụng tăng cường phản ứng phân ly
HbO2 do máu động mạch mang đến để cung cấp O2 cho tổ chức.
Trong khoảng phân áp O2 cao (80 - 100 mm Hg). tốc độ kết hợp tăng lên
khơng bao nhiêu, hay có thể nói khi phân áp O2 giảm từ 100 mmHg xuống
80 mm Hg, phần trăm bão hòa O2 của Hb giảm rất ít. Vì vậy, mặc dù phân
áp khí trời và phế nang có thể dao động nhiều nhưng tỷ lệ HbO2 ở trong
máu dao động rất ít.
• Như vậy, ngồi chức năng vận chuyển oxy, hemoglobin cịn có chức năng
đệm oxy giúp PO2 trong máu không bị biến động, mặc dù PO2 phế nang
thay đổi lớn.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự kết hợp và phân ly HbO2
• Phân áp CO2 (PCO2)
Khi PCO2 thấp, tăng phản ứng kết hợp. Khi PCO2 cao, tăng phản ứng phân
ly. Hiện tượng này gọi là hiệu ứng Bohr : Máu ở mơ có nhiều CO2 thì
khiến nhường oxy thêm cho mô, khi lên phổi CO2 thải đi, CO2 thấp lại gây
lấy thêm oxy cho máu.
• Nhiệt độ tăng làm tăng phân ly HbO2/
• pH giảm làm tăng phân ly, như vậy khi vận cơ, tạo nhiều ion H+, độ toan
máu tăng thì hemoglobin tự động nhường thêm oxy cho mơ.
• Chất 2,3 diphosphoglycerat có nhiều trong hồng cầu, khi tăng làm tăng
phân ly vì chất này cũng gắn vào hemoglobin. 2,3 diphosphoglycerat hồng
cầu tăng khi lên vùng cao, khi vận cơ và giảm khi máu bị trữ lại trong ngân
hàng máu.
4. Máu lấy O2 ở phổi
Khi máu tĩnh mạch đến phổi, do chênh lệch phân áp O2 giữa phế nang và
máu (100 mm Hg/ 40 mm Hg), gây khuếch tán O2 sang mao mạch phổi, sẽ
tiếp tục khuếch tán vào hồng cầu và kết hợp với Hb tạo thành
Oxyhemoglobin, tổng lượng O2 của máu tăng lên, máu chứa khoảng 19,8
ml O2 trong 100 ml máu, trở thành máu động mạch, rời phổi để đi đến tổ
chức.
5. Máu mao mạch nhường oxy cho tổ chức
• Khi máu động mạch đến tổ chức, do chênh lệch PO2 giữa máu và tổ chức
(95 mm Hg/<40 mm Hg), O2 khuếch tán nhanh qua tổ chức làm PO2 trong
huyết tương giảm xuống chỉ cịn 40 mm Hg, khi đó HbO2 ở trong hồng cầu
sẽ phân ly và O2 đi ra huyết tương rồi đi vào tổ chức. Dung tích O2 của
máu giảm xuống, chỉ còn chứa 15 ml O2 trong 100 ml máu, trở thành máu
tĩnh mạch rời tổ chức đi đến phổi .
• Như vậy, cứ 100 ml máu sau khi đi qua tổ chức đã trao cho tổ chức một
lượng O2 là: 19,8 ml - 15 ml = 4,8 ml .
• Hiệu suất sử dụng O2 của tổ chức là:
(4,8 x 100%) / 19,8 = 24%
• Hiệu suất sử dụng O2 phụ thuộc vào tình trạng hoạt động của các cơ quan.
Khi hoạt động mạnh, hiệu suất sử dụng O2 tăng lên có thể đến 75%.
Câu 8: Điều hịa hơ hấp theo cơ chế thể dịch
• Yếu tố tham gia điều hịa hơ hấp bằng thể dịch quan trọng nhất là CO2, kế
đến là ion H+, cịn oxy khơng có tác động trực tiếp lên trung tâm hô hấp mà
gián tiếp qua các cảm thụ hố ở ngoại vi.
• Receptor hóa học ở hành não
Nằm ở phần bụng của hành não, cạnh trung tâm hơ hấp, có vai trị
kích thích các nơ ron hít vào làm tăng thơng khí khi nồng độ H+
trong dịch não tủy hoặc dịch kẽ của não tăng lên.
• Receptor hóa học ở ngoại vi
Nằm ở xoang động mạch cảnh và quai động mạch chủ, từ đây có các
nhánh hướng tâm theo dây thần kinh IX và X lên hành não. Khi nồng
độ O2 máu giảm, nồng độ H+ hoặc CO2 máu tăng sẽ kích thích vào
các receptor này và từ đây sẽ có những luồng xung động theo nhánh
hướng tâm đi lên hành não kích thích trung tâm hơ hấp làm tăng
thơng khí.
1. Điều hồ hơ hấp do nồng độ CO2 máu
• Nồng độ CO2 máu đóng vai trò rất quan trọng. Khi nồng độ CO 2 máu tăng
sẽ tác dụng kích thích hơ hấp theo 2 cơ chế:
CO2 kích thích trực tiếp lên các receptor hóa học ở ngoại vi, từ đây có
luồng xung động đi lên kích thích vùng hít vào làm tăng hơ hấp.
CO2 thích thích gián tiếp lên receptor hố học ở hành não thông qua
H+: CO2 đi qua hàng rào máu não vào trong dịch kẽ. Ở đó, CO 2 hợp
với nước tạo thành H2CO3, H2CO3 sẽ phân ly và H+ sẽ kích thích lên
trung tâm nhận cảm hóa học nằm ở hành não, từ đây có luồng xung
động đi đến kích thích vùng hít vào làm tăng thơng khí. Vì CO2 đi qua
hàng rào máu não rất dễ dàng nên cơ chế gián tiếp này đóng vai trị quan
trọng
• Nồng độ CO2 bình thường ở trong máu có tác dụng duy trì hoạt động của
trung tâm hơ hấp. Khi nồng độ CO2 giảm dưới mất trung bình thường sẽ
ức chế vùng hít vào gây giảm chức năng thơng khí v à có thể ngừng thở.
• Thơng qua tác dụng điều hịa hơ hấp của CO2, bộ máy hơ hấp cũng tham
gia vào cơ chế điều hòa thăng bằng toan kiềm cho cơ thể:
Khi nhiễm toan, nồng độ CO2 máu tăng sẽ kích thích gây tăng cường
hơ hấp, mục đích để tăng thải CO2.
Khi nhiễm kiềm, nồng độ CO2 máu giảm sẽ ức chế làm giảm hơ hấp,
mục đích để giữ lại CO2.
2. Điều hịa hơ hấp do nồng độ H+ máu
• Khi H+ tăng lên sẽ kích thích làm tăng hơ hấp theo hai cơ chế:
Kích thích trực tiếp lên các receptor hóa học ở ngoại vi.
Kích thích trực tiếp lên receptor hóa học ở hành não, tuy nhiên, tác
+
+
dụng này của H yếu hơn so với CO2 vì H khó đi qua hàng rào
máu dịch não tủy.
• Tác dụng của H+ cũng giúp cho bộ máy hô hấp có chức năng điều hịa
thăng bằng toan kiềm cho cơ thể.
3. Điều hịa hơ hấp do nồng độ O2 máu.
• Bình thường nồng độ O2 máu khơng có tác dụng điều hịa hơ hấp, nó chỉ
tác đến hơ hấp khi phân áp trong máu giảm rất thấp (<60mmHg trong máu
động mạch) trong một số điều kiện bệnh lý hoặc vận cơ mạnh, khi đó nó sẽ
tác động vào các receptor hóa học ở ngoại vi làm tăng thơng khí.
4. Sự tương tác của 3 yếu tố hóa học O2, CO2 và pH.
• Tác dụng của mỗi yếu tố trên đều liên quan mật thiết với nhau:
PO2 thấp sẽ làm tăng thơng khí phế nang thơng qua sự tăng hiệu lực của
CO2 pH giảm cũng làm tăng hiệu quả của CO2.
Câu 9: Cơ chế điều nhiệt
Nhiệt độ cơ thể được điều hoà bởi cơ chế feedback thần kinh.
1. Khái niệm về điểm chuẩn
• Điều hồ thân nhiệt là q trình cơ thể điều chỉnh, cân đối cường độ sinh nhiệt
và thải nhiệt sao cho nhiệt độ trung tâm duy trì gần điểm chuẩn 37 độ C. Khi
nhiệt độ cơ thể tăng cao hơn mức này, tốc độ thải nhiệt cao hơn sinh nhiệt để
đưa thân nhiệt trở về 37oC. Ngược lại, khi thân nhiệt giảm dưới điểm chuẩn,
tốc độ sinh nhiệt sẽ cao hơn thải nhiệt.
• Vùng trước chéo thị giác-dưới đồi trước có nhiều nơ-ron nhạy cảm nóng và
một ít nơ-ron nhạy cảm lạnh. Những nơ-ron này có chức năng như những cảm
biến nhiệt để kiểm soát thân nhiệt.
Khi vùng này bị kích thích nóng sẽ gây tăng tiết mồ hơi và giãn mạch da giúp
chống nóng, đồng thời các quá trình sinh nhiệt cũng bị ức chế. Vì vậy, nó cũng
được xem là một trung tâm điều nhiệt.
• Các receptor nhiệt ở da bao gồm receptor nhận cảm lạnh và nóng, trong đó
receptor nhận cảm lạnh nhiều hơn gấp 10 lần.
Các receptor nhiệt cịn tìm thấy ở các tổ chức bên trong cơ thể như tuỷ sống,
khoang bụng và quanh tĩnh mạch lớn. Nó cũng phát hiện lạnh là chủ yếu. Tuy
nhiên khác với receptor ở da, nó tiếp xúc với nhiệt độ trung tâm hơn là nhiệt
độ ngoại vi.
• Các tín hiệu nhận cảm nhiệt ngoại biên tham gia điều nhiệt chủ yếu là thông
qua vùng dưới đồi. Vùng mà các tín hiệu này kích thích nằm ở hai bên rìa của
vùng dưới đồi sau. Các tín hiệu nhiệt trung ương từ vùng trước chéo thị giác dưới đồi trước cũng được truyền về vùng dưới đồi sau. Tại đây, tất cả các tín
hiệu nhận cảm nhiệt được tổng hợp lại để kiểm sốt q trình sinh nhiệt và giữ
nhiệt của cơ thể giúp điều hoà thân nhiệt.
2. Các cơ chế đáp ứng
Khi các trung tâm điều nhiệt của vùng dưới đồi phát hiện được thân nhiệt quá
nóng hoặc quá lạnh, nó sẽ điều khiển các quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt sao
cho thích hợp.
• Cơ chế chống nóng
Giãn mạch da
Có thể xảy ra ở nhiều vùng của cơ thể làm da đỏ ửng.
Giãn mạch xảy ra do sự ức chế trung tâm giao cảm (gây co mạch) ở
vùng dưới đồi sau.
Bay hơi mồ hôi
Khi nhiệt độ cơ thể cao hơn 37oC, tốc độ thải nhiệt do bay hơi mồ
hôi sẽ tăng nhanh. Sự bài tiết mồ hôi được điều khiển bởi thần kinh
giao cảm.
Giảm sinh nhiệt
Ức chế sự run cơ và sự sinh nhiệt hố học.
• Cơ chế chống lạnh
Co mạch da
Do trung tâm giao cảm ở vùng dưới đồi sau bị kích thích. Co mạch có tác
dụng giảm mức mang nhiệt từ trung tâm cơ thể ra da nên giảm thải nhiệt.
Phản xạ dựng lơng
Kích thích giao cảm gây nên phản xạ dựng lơng có giá trị chống lạnh ở
lồi thú.
Con người khơng thể dựng lơng nhưng khi lạnh sẽ có hiện tượng sởn da
gà. Hiện tượng này khơng có giá trị chống lạnh, nó là vết tích của phản xạ
dựng lơng.
• Tăng sinh nhiệt:
Run cơ
Được điều khiển bởi trung tâm run cơ nằm ở phần sau vùng dưới đồi.
Bình thường nó bị ức chế bởi các tín hiệu từ vùng trước chéo thị
giác-dưới đồi trước nhưng trở nên hoạt động khi nhận tín hiệu lạnh
từ da và tuỷ sống.
Sinh nhiệt hoá học do tác dụng giao cảm
Sự kích thích giao cảm hoặc norepinephrine và epinephrine trong
máu có thể làm tăng ngay lập tức tốc độ chuyển hố tế bào.
Đó là sự sinh nhiệt hoá học, xảy ra do tác dụng khử song hành q
trình phosphoryl hố-oxy hố, kết quả là chỉ tạo nhiệt mà khơng hình
thành ATP.
Sự sinh nhiệt hố học còn liên quan chặt chẽ với một loại mỡ nâu
chịu sự chi phối của thần kinh giao cảm.
Sinh nhiệt hoá học do tăng tiết thyroxine
Thyroxine làm tăng sinh nhiệt hoá học do tăng chuyển hoá tế bào. Trong
thực nghiệm, người ta nhận thấy sự tăng chuyển hố này khơng xảy ra
ngay mà phải cần vài tuần để tuyến giáp phì đại và tiết nồng độ thyroxine
thích ứng. Sự đáp ứng của tuyến giáp đối với lạnh ở người vẫn chưa được
biết rõ. Tuy nhiên, những người vùng địa cực có chuyển hố cơ bản cao
bất thường.
Câu 10: Hấp thu glucid, protid, lipid ở ruột non.
• Q trình hấp thu ở ruột non đóng vai trị rất quan trọng. Hầu hết các chất cần
thiết cho cơ thể đều được đưa từ lịng ống tiêu hóa vào máu qua ruột non. Sở
dĩ như vậy là nhờ ruột non có những đặc điểm cấu tạo rất thuận lợi cho sự hấp
thu:
Ruột non rất dài, khoảng 3 m.
Niêm mạc có nhiều nếp gấp, nhiều nhung mao và vi nhung mao tạo nên
diềm bàn chải có diện tích tiếp xúc rất lớn, khoảng 300 m2.
Bên trong nhung mao có hệ thống mạch máu, bạch huyết và thần kinh rất
thuận lợi cho sự hấp thu
Tế bào niêm mạc ruột non chứa nhiều yếu tố cần thiết cho sự hấp thu vật
chất qua màng như: enzym, chất tải, năng lượng
Tất cả thức ăn khi xuống đến ruột non đều được phân giải thành những sản
phẩm có thể hấp thu được
1. Hấp thu protid
• Protid được hấp thu ở ruột non có nguồn gốc từ thức ăn (50%), dịch tiêu hóa
(25%) và các tế bào niêm mạc ruột (25%). Tá tràng là nơi hấp thu mạnh nhất,
kế đến là hỗng tràng và thấp nhất ở hồi tràng.
• Acid amin và các di-tripeptid được hấp thu theo hình thức vận chuyển chủ
động.
• Ngồi ra, ở trẻ bú mẹ, ruột non có khả năng hấp thu một số protein chưa phân
giải theo hình thức ẩm bào. Nhờ khả năng này, trẻ em có thể hấp thu các loại
kháng thể (globulin) chứa trong sữa mẹ để giúp trẻ chống nhiễm trùng.
2. Hấp thu glucid
• Được hấp thu nhiều nhất ở hỗng tràng chủ yếu dưới dạng monosaccarid theo 3
hình thức:
Khuếch tán đơn giản: ribose, mannose.
Khuếch tán qua trung gian: fructose.
Vận chuyển chủ động: glucose, galactose.
• Trong đó, glucose là monosaccarid quan trọng nhất. Sự hấp thu của glucose
(cũng như galactose) tăng lên rất mạnh khi có mặt của Na+ theo hình thức vận
chuyển chủ động thứ phát như sau:
Na+ và glucose có cùng một chất tải, chất tải vận chuyển Na+ và
glucose vào trong tế bào niêm mạc ruột. Ở đây, Na+ sẽ được vận chuyển
chủ động vào dịch kẽ nên Na+ trong tế bào ln có nồng độ thấp hơn
lòng ruột tạo động lực cho chất tải tiếp tục vận chuyển Na+ và glucose
đi vào tế bào.
Sau khi đi vào tế bào, glucose sẽ đi vào dịch kẽ theo hình thức khuếch
tán đơn giản hoặc khuếch tán qua trung gian.
• Ngồi monosaccarid, một lượng nhỏ disaccarid cũng được hấp thu.
3. Hấp thu lipid
• Lipid được hấp thu chủ yếu dưới dạng acid béo, monoglycerid, cholesterol
và glycerol. Glycerol được hấp thu như một đường đơn theo cơ chế khuếch
tán đơn giản. Ngược lại, acid béo, monoglycerid và cholesterol muốn được
hấp thu cần phải có muối mật theo cơ chế như sau:
Muối mật tương tác với acid béo, monoglycerid và cholesterol tạo ra
các micelle có hình cầu, mặt ngồi của hình cầu này có tính ưa nước
cho nên các micelle tan được trong nước và dễ dàng đến tiếp xúc với
diềm bàn chải. Tại đây, acid béo, monoglycerid và cholesterol
khuếch tán đơn giản vào trong tế bào còn muối mật quay lại lòng
ruột để tiếp tục tạo ra các micelle mới.
• Ở trong tế bào niêm mạc, các acid béo mạch ngắn (10 carbon) đi thẳng vào
dịch kẽ rồi vào mạch máu còn các acid béo mạch dài (> 10 carbon) sẽ được
tổng hợp lại thành triglycerid và cùng với cholesterol đi vào bạch huyết.
• Khi thiếu muối mật, hấp thu lipid giảm rõ rệt, trong phân có nhiều acid béo
và monoglycerid (phân mỡ).
Câu 11: Thành phần và tác dụng của dịch tụy
Dịch tụy là dịch lỏng trong suốt, khơng màu, có pH kiềm nhất trong các dịch
tiêu hóa (khoảng 7,8-8,5). Gồm các thành phần sau:
1. Nhóm enzym tiêu hóa protid
• Chymotrypsin
Được bài tiết dưới dạng chưa hoạt động là chymotrypsinogen (tiền
enzym). Dưới tác dụng của trypsin, nó sẽ chuyển thành chymotrypsin
hoạt động, có tác dụng phân giải các liên kết peptid mà phần (-CO-)
thuộc về các acid amin có nhân thơm
• Carboxypeptidase
Được bài tiết dưới dạng chưa hoạt động là procarboxypeptidase. Dưới
tác dụng của trypsin nó sẽ chuyển thành carboxypeptidase hoạt động, có
tác dụng cắt rời các acid amin đứng ở đầu C của mỗi chuỗi polypeptid
thành từng acid amin riêng lẻ.
• Trypsin
Có 2 tác dụng:
Phân giải những liên kết peptid mà phần (-CO-) thuộc về các acid
amin kiềm (lysin, arginin)
Hoạt hóa chymotrypsinogen và procarboxypeptidase thành dạng hoạt
động. Ngồi ra trypsin cịn hoạt hóa ngay chính tiền enzym của nó.
Lúc đầu trypsin được bài tiết dưới dạng chưa hoạt động là trypsinogen
và chuyển thành trypsin hoạt động dưới tác dụng của 3 cơ chế:
Do enteropeptidase của dịch ruột hoạt hóa, đây là cơ chế đầu tiên
khởi động q trình hoạt hóa các enzym tiêu hố protid của dịch
tụy ở trong ruột.
Do trypsin vừa mới hình thành hoạt hóa
Do cơ chế tự động hoạt hóa: trypsinogen có thể tự động chuyển
thành trypsin hoạt động khi có sự ứ đọng dịch tụy ở trong tụy.
Đây là 1 trong những nguyên nhân gây nên bệnh cảnh viêm tụy
cấp.
2. Nhóm enzym tiêu hóa lipid
• Lipase dịch tụy
Có tác dụng phân giải các tryglycerid đã được nhũ tương hóa thành acid
béo và monoglycerid
Tác dụng này được sự hỗ trợ quan trọng của muối mật
• Phospholipase
Cắt rời các acid béo ra khỏi phân tử phospholipid
3. Nhóm enzym tiêu hóa glucid
• Amylase dịch tụy
Có tác dụng phân giải tinh bột chín lẫn sống thành đường đôi maltose.
Một lượng nhỏ amylase tụy được hấp thu vào máu, khi viêm tụy cấp
amylase máu tăng lên, vì vậy định lượng amylase máu có giá trị để chẩn
đốn viêm tụy cấp.
• Maltase
Phân giải đường đơi maltose thành đường glucose.
4. HCO3Khơng phải là enzym tiêu hóa nhứng đóng vai trị rất quan trọng:
Tạo mơi trường thuận lơi cho các enzym hoạt động
Trung hòa acid chlohydric của dịch vị để bảo vệ niêm mạc ruột
Góp phần vào cơ chế đóng mở mơn vị
+
Câu 12: Tái hấp thu Na , glucose, protein và acid amin ở ống lượn gần.
• Cấu tạo tế bào ống lượn gần có những đặc điểm sau:
Chứa nhiều ty lạp thể
Trên màng tế bào có nhiều protein mang.
Màng tế bào phía lịng ống có bờ bàn chải làm tăng diện tích tiếp xúc
với dịch trong ống thận lên khoảng 20 lần.
Vì vậy, khả năng tái hấp thu của tế bào ống lượn gần rất mạnh.
1. Tái hấp thu Na+
Na+ được hấp thu khoảng 65% ở ống lượn gần theo cơ chế như sau:
• Ở bờ bên và bờ đáy của tế bào, Na+ được vận chuyển theo cơ chế
tích cực nguyên phát vào dịch kẽ nhờ Na+ - K+ - ATPase, điều này
dẫn đến 2 hiện tượng:
Nồng độ Na+ trong tế bào giảm xuống so với dịch trong lòng
ống thận.
Do nồng độ Na+ trong tế bào giảm xuống nên điện thế trong tế
bào cũng giảm xuống thấp hơn điện thế dịch trong lịng ống.
• Như vậy, giữa tế bào biểu mô và dịch ống thận xuất hiện một bậc
thang điện hóa. Nhờ đó, ở phía bờ bàn chải, Na+ được vận chuyển từ
lịng ống thận vào trong tế bào xuôi chiều bậc thang điện hóa theo cơ
chế khuếch tán dễ dàng với sự hỗ trợ của protein mang nằm trên bờ
bàn chải.
2. Tái hấp thu Glucose
Glucose được tái hấp thu hoàn toàn ở phần đầu của ống lượn gần theo cơ
chế vận chuyển tích cực thứ cấp cùng protein mang với Na+ như sau:
Khi Na+ được vận chuyển theo cơ chế khuếch tán dễ dàng xi
chiều bậc thang điện hóa từ lịng ống thận vào trong tế bào, protein
mang gắn với Na+ nhưng đồng thời nó cũng gắn với glucose và vận
chuyển đồng thời cả 2 chất đi qua bờ bàn chải vào bên trong tế bào.
Năng lượng vận chuyển glucose sinh ra từ cơ chế vận chuyển xuôi
theo chiều bậc thang nồng độ của Na+. Nhờ đó, glucose được vận
chuyển ngược bậc thang nồng độ vào trong tế bào. Ở đó, glucose sẽ
đi vào dịch kẽ theo 2 cách: khuếch tán đơn thuần hoặc khuếch tán dễ
dàng.
Khi nồng độ glucose thấp hơn 180 mg/100 ml huyết tương (180 mg
%), ống lượn gần sẽ tái hấp thu hết glucose trong dịch lọc. Vì vậy,
glucose khơng xuất hiện trong nước tiểu. Nhưng khi nồng độ glucose
tăng cao hơn 180 mg%, ống lượn gần không thể hấp thu hết glucose
và glucose bắt đầu xuất hiện trong nước tiểu. Vì vậy, nồng độ
glucose 180 mg% được gọi là ngưỡng đường của thận.
Tuy nhiên, khi nồng độ glucose trong huyết tương tăng cao hơn
ngưỡng đường của thận, ống lượn gần vẫn có khả năng tái hấp thu
thêm một lượng glucose nữa nhưng khả năng này cũng chỉ giới hạn ở
một mức nào đó. Nếu trên mức độ đó, tế bào biểu mơ ống lượn gần
khơng có khả năng tái hấp thu thêm nữa. Lượng glucose được tái hấp
thu ở giới hạn đó được gọi là mức vận chuyển glucose tối đa
(Transport Maximum of Glucose: TmG).
Bình thường TmG = 320 mg/phút
3. Tái hấp thu protein và acid amin
• Acid amin được tái hấp thu theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ cấp cùng
với Na+ tương tự như tái hấp thu glucose.
• Riêng protein được hấp thu theo cơ chế ẩm bào như sau:
Protein trong dịch lọc tiếp xúc với tế bào biểu mô tại bờ bàn chải, màng tế
bào lõm vào và đưa phân tử protein vào bên trong tế bào. Tại đó, protein
được phân giải thành các acid amin rồi đi vào dịch kẽ qua màng đáy theo
cơ chế khuếch tán dễ dàng. Quá trình vận chuyển này cũng cần năng
lượng nên đây cũng là một hình thức vận chuyển tích cực.