Tải bản đầy đủ (.doc) (51 trang)

Sử dụng truyện kể nhằm phát triển năng lực học sinh, tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả học tập môn Sinh học THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.34 MB, 51 trang )

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN

SỬ DỤNG TRUYỆN KỂ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
HỌC SINH, TẠO HỨNG THÚ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HỌC TẬP MÔN SINH HỌC THPT

BỘ MÔN: SINH HỌC

1


Năm học: 2015 - 2016

TÓM TẮT SÁNG KIẾN
2


1. Hồn cảnh nảy sinh sáng kiến
Giáo dục phổ thơng nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. Để đảm bảo
được điều đó trước hết phải thực hiện thành công việc cải tiến phương pháp dạy
học truyền thống, chuyển từ phương pháp dạy học nặng về kiến thức sang dạy
cách học, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất người HS.
Tuy nhiên, hiện nay đa số các kiến thức bài học được GV chuyển hóa
thành các câu hỏi phát vấn, yêu cầu HS nghiên cứu SGK trả lời câu hỏi. HS thụ
động, lệ thuộc hoàn toàn vào SGK; năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tư duy sáng tạo của người HS cịn hạn chế; hiệu quả giờ học khơng cao.
Từ những trăn trở đó, trong q trình dạy học, tìm tịi, sáng tạo, tơi đề


xuất sáng kiến: “Sử dụng truyện kể nhằm phát triển năng lực HS, tạo hứng
thú và nâng cao hiệu quả học tập môn Sinh học THPT”.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
- Điều kiện áp dụng sáng kiến: Phương tiện dạy học, đồ dùng học tập, tài
liệu tham khảo…
- Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 9 năm 2014.
- Đối tượng áp dụng sáng kiến: học sinh THPT.
3. Nội dung sáng kiến
* Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:
Thứ nhất: Phương pháp dạy học bằng truyện kể không chỉ chú ý tích cực
hóa HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện, phát triển năng lực HS.
Thứ hai: Kích thích HS hứng thú học tập, khắc phục khó khăn, khơng
ngại khó; HS dễ dàng ghi nhớ, khắc sâu kiến thức, không lệ thuộc vào SGK.
Thứ ba: Sử dụng truyện kể trong dạy học Sinh học giúp HS biết vận
dụng kiến thức liên môn trong giải quyết tình huống thực tiễn.
Thứ tư: Phương pháp có ý nghĩa tích cực nhằm phát triển năng lực xã
hội: HS tự tin hơn trong giao tiếp, biết làm chủ ngôn ngữ; Hình thành phẩm
chất đạo đức và nhân cách người HS.

3


Thứ năm: Sáng kiến góp phần đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng
cộng tác. Đây là phương pháp mới với môn Sinh học mà tôi đề xuất áp dụng.
* Khả năng áp dụng, tính khả thi của sáng kiến:
Việc cải tiến các phương pháp dạy học truyền thồng, đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng tích cực, vận dụng linh hoạt các phương pháp là quan
điểm chỉ đạo của ngành giáo dục và của các trường THPT hiện nay.
Cơ sở vật chất trong các nhà trường, nhận thức, trình độ, phương pháp
dạy và học của GV, HS hiện nay đáp ứng yêu cầu của dạy học sử dụng truyện

kể. Đặc điểm tâm lí HS, nội dung chương trình môn học phù hợp để áp dụng
phương pháp. Điều này khẳng định sáng kiến có tính khả thi cao.
Sáng kiến đã trình bày các nguyên tắc, quy trình sử dụng truyện kể trong
dạy học Sinh học và vận dụng truyện kể trong các bước: giới thiệu bài học, dạy
kiến thức mới, củng cố kiến thức.
* Lợi ích thiết thực của sáng kiến:
Sử dụng các truyện kể trong dạy học tạo khơng khí học tập tích cực, sơi
nổi, phù hợp với đặc điểm tâm lí HS; Nâng cao tính thực tiễn của môn học;
Phát triển năng lực vận dụng vào thực tiễn; HS ghi nhớ và khắc sâu kiến thức.
Rèn cho HS từng bước làm chủ ngơn ngữ nói và viết; HS trả lời các câu
hỏi một cách sáng tạo, không lệ thuộc hồn tồn vào SGK; Hình thành và phát
triển một số năng lực cũng như phẩm chất đạo đức của người HS.
Sáng kiến góp phần đổi mới phương pháp dạy học, chuyển trọng tâm từ
hoạt động của thầy sang hoạt động của trò.
4. Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến và khuyến nghị
Qua quá trình thực nghiệm đã chứng tỏ tính khả thi của sáng kiến. Kết
quả về mặt định tính và định lượng cho thấy khi áp dụng truyện kể trong dạy
học Sinh học đã nâng cao hứng thú, kích thích tư duy, phát triển năng lực HS.
Phương pháp này cịn có thể áp dụng cho các môn học khác.
Tác giả khuyến nghị: Cần tăng cường hướng dẫn, chuyển giao nhiệm vụ
cho HS; đa dạng hóa các hình thức và phương pháp học tập; tăng cường bồi
dưỡng GV; thành lập ngân hàng truyện kể Sinh học.
4


MƠ TẢ SÁNG KIẾN
1. HỒN CẢNH NẢY SINH SÁNG KIẾN
1.1. Xuất phát từ định hướng đổi mới giáo dục trung học
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. Để đảm bảo

được điều đó trước hết phải thực hiện thành cơng việc cải tiến phương pháp
dạy học truyền thống, chuyển từ phương pháp dạy học nặng về kiến thức sang
dạy cách học, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, biết vận
dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề.
Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: “Phương pháp giáo
dục phổ thơng phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS;
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học; khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp
dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và
vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt
một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát
triển năng lực” từ đó giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, phát
huy tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân.
Đây là những cơ sở pháp lí thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp
dạy học theo định hướng phát triển năng lực của HS.
1.2. Xuất phát từ thực tiễn dạy học.
Sinh học là một bộ môn khoa học tự nhiên cung cấp những kiến thức cơ
bản về sinh giới và các quy luật phát triển của tự nhiên. Nắm được các kiến
thức sinh học, HS sẽ hình thành được thế giới quan khoa học và nhân sinh quan
đúng đắn trong cuộc sống. Từ đó phát triển ở HS năng lực nhận thức, thói quen
tư duy, hình thành kĩ năng kĩ xảo; HS biết vận dụng kiến thức vào học tập,
lao động sản xuất, xây dựng lối sống lành mạnh, có văn hóa trong bảo vệ
5


thiên nhiên cũng như trong cuộc đấu tranh giữa duy vật và duy tâm. Sinh học

góp phần hình thành và phát triển nhân cách HS, đáp ứng yêu cầu thực tiễn mà
xã hội đặt ra.
Những kiến thức sinh học thực sự rất cần thiết đối với mỗi HS nhưng
một thực trạng là số HS u thích, say mê mơn Sinh học là rất ít. Trong các giờ
học, một bộ phận không nhỏ HS thụ động học tập do không được làm việc hoặc
không chịu làm việc trong các giờ học. Trong khi đó vì giới hạn thời gian tiết
học nên nhiều GV chỉ làm việc với một số HS để hồn thành bài dạy, số HS
cịn lại im lặng hoặc “thờ ơ” với bài giảng.
Thực tế quá trình dạy học nói chung và dạy học mơn Sinh học nói riêng
hiện nay ở trường THPT cho thấy: Đa số các kiến thức được GV chuyển hóa
thành các câu hỏi phát vấn, yêu cầu HS nghiên cứu SGK trả lời câu hỏi. Chính
điều này làm cho khả năng vận dụng kiến thức của HS rất hạn chế, nhiều HS
đọc “y nguyên” cả đoạn trong SGK để trả lời. HS thụ động, lệ thuộc từng câu
chữ vào SGK. Xét về nhận thức và hành động, nhiều GV khơng thể chuyển hóa
được mục tiêu tích cực hóa hoạt động học tập của HS vào việc thiết kế và thực
hiện bài dạy. Vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học là một việc làm vơ
cùng quan trọng, cần thiết đối với mỗi GV nói chung và GV dạy mơn Sinh học
nói riêng.
1.3. Mối quan hệ giữa truyện kể và Sinh học.
Kho tàng truyện kể liên quan đến Sinh học vô cùng phong phú, đa dạng.
Mỗi câu chuyện là một bài học cho HS về tự nhiên và cuộc sống. Những tình
huống, sự việc cụ thể trong truyện kể có tác động trực tiếp đến tình cảm và
nhận thức người học. Nếu người GV biết cách lựa chọn những câu chuyện phù
hợp với bài học và đối tượng HS khi dạy môn Sinh học, hướng các em vận
dụng kiến thức, chủ động tìm ra hướng giải quyết và lĩnh hội tri thức thì chắc
chắn HS sẽ say mê, hứng thú học tập hơn, hiệu quả giờ học sẽ cao hơn.
Khi người GV khéo léo sử dụng các câu chuyện kể, khơng chỉ có tác
dụng tích cực đến kết quả học tập bộ mơn mà cịn tác động mạnh mẽ đến hành
vi, ý thức đạo đức của HS, góp phần hồn thiện nhân cách HS. Đây là một yêu
6



cầu rất cần thiết đặt ra không chỉ đối với bộ mơn Sinh học mà cịn đối với
ngành giáo dục và xã hội hiện nay.
Qua các năm giảng dạy, bản thân tơi ln tìm tịi, suy nghĩ, vận dụng
những kinh nghiệm từ thực tiễn, những phương pháp, cách thức làm thế nào để
dạy học đạt kết quả cao nhất, gây hứng thú cho HS nhằm giúp các em khắc sâu
kiến thức đã học đồng thời biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
cuộc sống. Tôi nhận thấy rằng sẽ rất hiệu quả nếu GV có thể vận dụng truyện
kể trong việc giảng dạy môn Sinh học.
Từ những lí do nêu trên, tơi đã mạnh dạn nghiên cứu, áp dụng và đề xuất
sáng kiến: “Sử dụng truyện kể nhằm phát triển năng lực HS, tạo hứng thú
và nâng cao hiệu quả học tập môn Sinh học THPT”. Trên cơ sở nội dung
sáng kiến, tôi hi vọng các câu chuyện có thể áp dụng một cách linh hoạt, sáng
tạo, hiệu quả trong dạy học môn Sinh học và các mơn học khác.
2. ĐIỂM MỚI, TÍNH KHẢ THI CỦA SÁNG KIẾN
* Về điểm mới của sáng kiến:
Thứ nhất: Phương pháp dạy học bằng truyện kể khơng chỉ chú ý tích cực
hóa HS về hoạt động trí tuệ mà cịn chú ý rèn luyện, phát triển năng lực HS.
Trong đó phát triển năng lực sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
gắn với những tình huống của quá trình nghiên cứu khoa học và thực tiễn cuộc
sống là mục tiêu quan trọng, qua đó góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát
triển các năng lực khác.
Thứ hai: Thông qua các truyện kể được vận dụng phù hợp, sáng tạo vào
bài học sẽ hình thành ở HS tinh thần say mê nghiên cứu khoa học, khắc phục
khó khăn, khơng ngại khó. HS hào hứng học tập, khơng gây căng thẳng cho
GV và HS. Tiết học có những tiếng cười hữu ích trơi qua nhẹ nhàng, hiệu quả.
Từ các tình tiết có ấn tượng trong câu chuyện giúp HS dễ dàng khắc sâu, nhớ
lâu kiến thức mà không lệ thuộc vào SGK. Điều này không phải cách dạy học
nào cũng làm được.

Thứ ba: Sử dụng truyện kể trong dạy học Sinh học, đặc biệt qua việc HS
tự sưu tầm những câu chuyện gắn với nội dung bài học sẽ giúp HS biết vận
7


dụng kiến thức liên môn (môn Ngữ văn, Giáo dục cơng dân, Lịch sử…) trong
giải quyết tình huống thực tiễn một cách linh hoạt, sáng tạo.
Thứ tư: Sử dụng các truyện kể trong dạy học Sinh học kết hợp với các
phương pháp dạy học tích cực có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực
xã hội. HS tự tin hơn trong giao tiếp, biết làm chủ ngôn ngữ. Đặc biệt qua các
câu chuyện kể sẽ góp phần hình thành các phẩm chất đạo đức cũng như nhân
cách người HS.
Thứ năm: Sáng kiến đã trình bày cách sử dụng truyện kể trong tất cả các
bước của quá trình lên lớp, góp phần đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng
cộng tác. Đây là một phương pháp mới với môn Sinh học mà bản thân tôi đề
xuất và áp dụng.
* Về tính khả thi của sáng kiến:
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, vận dụng linh
hoạt các phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực HS, tạo hứng thú và
nâng cao hiệu quả học tập là yêu cầu quan trọng hàng đầu của ngành giáo dục
hiện nay. Yêu cầu đó đã và đang được thực hiện ở các trường THPT với mỗi
môn học, mỗi GV.
Về phía các trường THPT: Cơ sở vật chất trong các nhà trường cơ bản đã
đáp ứng được yêu cầu của các phương pháp dạy học: máy tính, máy chiếu,
phịng học bộ môn, tài liệu tham khảo khá phong phú… Lãnh đạo nhà trường
ln động viên, khuyến khích GV tìm ra và áp dụng các phương pháp dạy học
phát huy tính tích cực của HS, phối hợp linh hoạt các phương pháp trong q
trình dạy học.
Về chương trình mơn học: Chương trình mơn Sinh học THPT có nhiều
nội dung phù hợp với phương pháp sử dụng các câu chuyện để dẫn dắt, tổ chức

cho HS lĩnh hội và củng cố kiến thức.
Về phía GV: Đơng đảo GV có nhận thức đúng đắn về đổi mới phương
pháp dạy học. Nhiều GV xác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện
đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng phát huy tính tích cực của HS, kết hợp
giáo dục kiến thức và rèn kĩ năng cho HS. Hơn nữa, hiện nay người GV có
8


nguồn tham khảo, tra cứu tài liệu phục vụ quá trình dạy học khá phong phú:
sách tham khảo, báo chí, internet, kiến thức thực tế… Phương pháp sử dụng các
truyện kể trong dạy học Sinh học khá đơn giản, không địi hỏi các kĩ thuật phức
tạp, tốn kém. Vì vậy mọi GV đều có thể xây dựng, thiết kế các câu chuyện phù
hợp với nội dung bài học, mang lại hiệu quả cao.
Về phía HS: Hầu hết HS đều rất thích các giờ học có nhiều hoạt động đa
dạng, các tranh ảnh minh họa, các câu chuyện gắn liền với thực tiễn, dễ hiểu,
dễ ghi nhớ đồng thời tạo ấn tượng sâu sắc. Phương pháp sử dụng truyện kể
trong dạy học Sinh học phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi HS, gây hứng thú
cho người học, kích thích HS tư duy tích cực để giải quyết vấn đề. Mặt khác,
xã hội hiện nay đã tạo điều kiện cho HS có điều kiện tiếp cận nguồn thơng tin
từ nhiều phương tiện khác nhau nên HS có khả năng sưu tầm, sáng tạo các
truyện kể liên quan đến nội dung bài học dưới sự hưỡng dẫn của GV.
Từ những điểm nêu trên, tơi có thể khẳng định phương pháp “Sử dụng
truyện kể nhằm phát triển năng lực HS, tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả học
tập môn Sinh học THPT” có tính khả thi cao.
3. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
3.1. Cơ sở tâm lí học
Bất kỳ phương pháp dạy học nào được hình thành cũng dựa trên cơ sở
tâm lí nhất định. Các phương pháp đều nhằm tạo ra sự mới mẻ, kích thích tư
duy, hứng thú, thúc đẩy ham muốn, khám phá tìm hiểu chân lí tri thức của HS.
Một trong những đặc điểm của HS THPT là sự nhạy cảm với những ấn

tượng mới trong cuộc sống. Qua thực tiễn dạy học cho thấy, những tri thức nào
khơi dậy được ở HS những cảm xúc tích cực mạnh mẽ được các em lĩnh hội
một cách nhanh chóng và vững chắc hơn những tri thức mà các em dửng dưng,
khơng có thái độ đặc biệt với nó. Khi những cảm xúc được khơi dậy, HS sẽ chủ
động tham gia tìm ra hướng giải quyết, chủ động lĩnh hội kiến thức. Ở mức độ
nhận thức của các em, HS đã biết sử dụng các thao tác của tư duy để giải quyết
các vấn đề đặt ra. Vì vậy khi sưu tầm các câu chuyện, GV cần sưu tầm có chọn
lọc để các em liên tưởng tốt, vận dụng tốt hơn, từ đó khắc sâu kiến thức.
9


Nắm được đặc điểm tâm lí của HS để lựa chọn hình thức và phương
pháp dạy học phù hợp là rất cần thiết nhằm góp phần thực hiện mục tiêu trong
giảng dạy và giáo dục hiện nay. Đây được xem là cơ sở tâm lí học rất quan
trọng và thiết thực.
3.2. Cơ sở thực tiễn
Xuất phát từ chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, từ thực tế các
phương pháp đang được áp dụng trong dạy học môn Sinh học ở trường THPT
hiện nay.
Xuất phát từ thực trạng hiện nay: HS không mấy hứng thú đối với môn
Sinh học – nếu khơng muốn nói là thờ ơ. Đa số các em học theo kiểu đối phó,
nhiều HS tỏ ra khơng có hứng thú, say mê nên kết quả học tập cịn hạn chế.
Xuất phát từ chương trình mơn Sinh học THPT: Chương trình mơn Sinh
học THPT có nhiều nội dung có thể vận dụng các truyện kể trong dạy học một
cách hiệu quả.
Hiện nay, ngành giáo dục đang hướng tới việc đào tạo ra những con
người toàn diện, hiểu biết về nhiều mặt do đó việc khai thác mối liên hệ giữa
các bộ môn càng cần phải được phát huy. Bộ mơn Sinh học có liên quan mật
thiết với các bộ mơn khác như Tốn, Vật lý, Hóa học, Ngữ văn, Giáo dục công
dân... Chúng ta cần khai thác mối liên hệ đó, đảm bảo tính tích hợp trong q

trình dạy học, nâng cao hiệu quả của từng tiết dạy. Những câu chuyện kể
thường chứa đựng nội dung hết sức gần gũi với cuộc sống thường ngày của HS
nên dễ tạo được cảm xúc, hứng thú để học tập.
Từ cơ sở nêu trên, tơi cũng như tất cả GV nói chung GV dạy mơn Sinh
học nói riêng ln mong muốn tạo ra được những giờ học sôi nổi, hiệu quả. Vì
vậy tơi đã xây dựng nên sáng kiến.
4. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Một thực tế hiên nay là hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các
trường THPT tuy đã có những chuyển biến nhưng hiệu quả mang lại chưa cao.
Số GV thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp
dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực,
10


sáng tạo của HS còn chưa nhiều. Việc rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giải
quyết các tình huống thực tiễn cho HS thông qua khả năng vận dụng tri thức
tổng hợp chưa thực sự được quan tâm.
Bên cạnh đó, hứng thú học tập của HS cho một số môn học trong đó có
mơn Sinh học chưa cao. HS chưa có sự say mê, tìm tịi khám phá. HS học tập
thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức. Các em rất nhanh quên các
kiến thức đã học được. Khi gặp các tình huống mới trong học tập hay thực tiễn,
đa số HS không biết cách tư duy, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để
giải quyết. Một số HS học chỉ để có “đủ điểm, đủ môn, đủ điều kiện” lên lớp.
Trước thực trạng trên, dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS,
nâng cao hiệu quả và hứng thú học tập cho HS là vấn đề cần thiết.
5. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
5.1. Những nguyên tắc khi sử dụng truyện kể trong dạy học Sinh học
Để thiết kế được những câu chuyện dạy học phù hợp, hấp dẫn, có sức
thuyết phục, có giá trị đối với HS, theo tơi người GV cần lựa chọn, xây dựng
câu chuyện dựa trên các nguyên tắc sau:

Thứ nhất: Các câu chuyện phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học,
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS và phải mang tính giáo dục sâu sắc.
Thứ hai: Các câu chuyện phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
Thứ ba: Các câu chuyện phải có nguồn trích dẫn rõ ràng.
Thứ tư: Các câu chuyện phải được triển khai theo những hướng khác
nhau tùy thuộc vào nội dung của từng bài học.
Thứ năm: GV không được quá lạm dụng truyện kể vào giảng dạy vì quá
lạm dụng sẽ ảnh hưởng đến thời gian dành cho các nội dung khác của bài học
đồng thời gây nên sự nhàm chán. Do vậy cần có sự kết hợp các phương pháp
giảng dạy khác nhau để nâng cao hiệu quả giảng dạy mơn Sinh học.
Trong q trình kể chuyện, tơi nhận thấy ngôn ngữ, cử chỉ của người kể
chuyện (GV hoặc HS) có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của câu chuyện. Một
giọng kể truyền cảm có sức thu hút HS, HS sẽ sơi nổi hào hứng hơn trong q
trình khai thác các kiến thức qua câu chuyện.
11


5.2. Quy trình sử dụng truyện kể trong dạy học Sinh học.
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Bước 2: Phân tích nội dung bài học để xác định các đơn vị kiến thức có
thể sử dụng truyện kể vào dạy học.
Bước 3: GV chuẩn bị các câu chuyện phù hợp với nội dung bài học, sau
đó GV tóm tắt ý chính, dễ hiểu để đưa vào bài học (GV có thể hướng dẫn HS
sưu tầm các câu chuyện liên quan đến bài học).
Bước 4: HS lắng nghe câu chuyện, thảo luận trả lời.
Bước 5: GV theo dõi, lắng nghe, phân tích tổng hợp ý kiến của HS, nhận
xét và rút ra kết luận.
5.3. Một số loại truyện kể và hình thức sử dụng truyện kể
* Một số loại truyện kể:
Trong q trình dạy học Sinh học, tơi đã sử dụng các loại truyện kể sau:

Truyện kể về các nhà bác học sinh học: Những câu chuyện này không
những giúp HS hiểu về cuộc đời cũng như quá trình nghiên cứu của các nhà
bác học sinh học mà từ đó cịn nhóm lên trong các em ngọn lửa say mê tìm tịi,
khám phá thế giới tri thức.
Truyện về người thực, việc thực trong đời sống: Những câu chuyện này
phản ảnh về sự việc, con người trong thực tế nên gần gũi với HS, có sức lơi
cuốn và tính thuyết phục cao.
Truyện cười: Sử dụng những mẩu chuyện vui, chứa đựng tình huống sinh
học. Truyện cười vừa giúp HS khai thác kiến thức vừa giúp các em bớt đi căng
thẳng, mệt mỏi sau mỗi tiết học.
Truyện ngụ ngôn: thường chứa đựng các bài học hàm ý sâu sắc.
* Các hình thức sử dụng truyện kể:
Hình thức thứ nhất: GV kể chuyện, dẫn dắt HS tìm hiểu khai thác kiến
thức, vận dụng kiến thức đã học giải thích các nội dung trong câu chuyện.
Hình thức thứ hai: GV hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho HS sưu tầm, kể
các câu chuyện phù hợp với nội dung bài học. Qua đó HS khắc sâu kiến thức
12


đồng thời phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu, năng lực sáng tạo, năng lực
sử dụng ngôn ngữ…
Trong quá trình kể chuyện, GV và HS nên sử dụng các tranh ảnh, các
phương tiện nghe nhìn để tăng tính hấp dẫn của câu chuyện. Các phương tiện
nghe nhìn sẽ tác động đến người học trên cả hai kênh thị giác và thính giác, vì
vậy kích thích HS tìm tịi, khám phá trong quá trình học tập.
5.4. Sử dụng truyện kể trong dạy học Sinh học
5.4.1. Sử dụng truyện kể để dẫn nhập
Để dẫn nhập (đặt vấn đề, giới thiệu bài) GV thường dùng những câu như:
“Bài trước chúng ta đã tìm hiểu về … trong tiết học này chúng ta sẽ tìm hiểu về
…”. Cách dẫn nhập này ngắn gọn nhưng thường không gây được sự tập trung,

hứng thú với HS.
Thay thế cách giới thiệu bài thông thường, GV có thể sử dụng truyện kể
để khơi dậy hứng thú, kích thích tư duy cho HS ngay từ khi bắt đầu bài học.
Yêu cầu đối với câu chuyện để dẫn nhập:
- Làm nổi bật trọng tâm của bài dạy.
- Làm nổi bật tính quan hệ giữa các phần, giữa nội dung bài học.
- Làm nổi bật tính khái quát tập trung.
- Kích thích sự tị mị, say mê khám phá ở HS.
Sau đây là một số ví dụ :
* Ví dụ 1: Để dẫn nhập vào bài 13 “Khái quát về năng lượng và
chuyển hóa vật chất” - Sinh học 10, GV kể truyện ngụ ngôn “Chân, tay, tai,
mắt, miệng”.
Nội dung câu chuyện :
Ngày xửa ngày xưa, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai và lão Miệng
sống bên nhau rất hịa thuận, thân thiết. Một hơm cơ Mắt, cậu Chân, cậu Tay
và bác Tai đều nghĩ rằng họ phải làm việc vất vả cả ngày còn lão Miệng chỉ
ngồi ăn không. Thế rồi họ quyết định từ nay không làm gì nữa xem lão Miệng
có chết đói khơng.
13


Một ngày rồi hai ngày trôi qua, Chân, Tay, Tai, Mắt chẳng làm gì cả.
Nhưng lạ thay, họ khơng thấy vui tươi, nhàn nhã mà lại thấy mệt mỏi, rã rời.
Cậu Chân, cậu Tay chẳng cất nổi mình để chạy nhảy, nơ đùa như trước nữa.
Cơ Mắt thì suốt ngày lờ đờ, hai mí nặng trĩu như buồn ngủ mà khơng tài nào
ngủ được. Bác Tai mọi ngày nghe gì cũng rõ, nay lúc nào cũng cảm thấy như
có cái cối xay lúa quay ù ù ở bên trong. Họ cứ sống trong tình trạng như thế
cho tới ngày thứ bảy thì khơng thể chịu đựng được nữa, đành họp nhau lại để
bàn và nhận ra rằng: Lão Miệng tuy khơng làm nhưng lão có cơng việc là
nhai. Lão Miệng có cái ăn thì chúng mới khoẻ khoắn lên được.

Cậu Chân, cậu Tay, cô Mắt cố gượng dậy theo bác Tai đến nhà lão
Miệng. Khốn khổ cho lão, lão cũng sống dở chết dở. Mơi thì nhợt nhạt, hai
hàm khơ cứng, không buồn nhếch mép. Bốn người kia thành thật xin lỗi lão về
sự hiểu lầm vừa qua và vội vã kiếm thức ăn cho lão Miệng. Lão Miệng ăn
xong, dần dần tỉnh lại. Lạ thay! Bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay cũng thấy
đỡ mệt và tinh thần sảng khối hẳn ra. Họ nhận thấy là mình đã nghĩ sai cho
lão Miệng. Từ đấy, năm người lại chung sống thuận hồ, thân thiết như xưa.
(Tóm tắt theo Ngữ văn 6 – Nxb Giáo dục)

14


Sau khi kể xong câu chuyện, GV hỏi: Xét về ý nghĩa sinh học câu
chuyện trên muốn nói tới điều gì? Em hãy giải thích tại sao khi lão Miệng
khơng ăn thì các cơ quan khác trong cơ thể cũng không hoạt động được.
HS trả lời.
GV: Các cơ quan trong cơ thể hoạt động bình thường khi được cung cấp
đầy đủ năng lượng. Nguồn năng lượng đó chúng ta lấy từ thức ăn. Vậy năng
lượng là gì? Có các dạng năng lượng nào trong tế bào và quá trình chuyển hóa
năng lượng trong tế bào ra sao? Cơ và các em sẽ cùng nhau tìm hiểu bài 13:
“Khái quát về năng lượng và chuyển hóa vật chất”.
* Ví dụ 2: Sử dụng câu chuyện về thí nghiệm “Cân đất và cân cây” của
Hen–mông (Jean Baptiste van Helmont) để dẫn nhập vào bài 1 “Sự hấp thụ
nước và muối khoáng ở rễ” – Sinh học 11.
Nội dung câu chuyện “Cân đất và cân cây”
Từ thời cổ Hi Lạp, người ta đã nghĩ rằng cây “ăn đất” để lớn lên.
Nhưng sau đó có người đã khơng nghĩ như vậy. Năm 1630, khi đã 51 tuổi,
Hen-mơng (người Hà Lan) làm một thí nghiệm mà ngày nay đã trở thành kinh
điển. Ông đổ 90 kg đất vào một chậu gỗ và trồng lên đó một cây liễu con nặng
hơn 2 kg. Hàng ngày, Hen–mông lấy nước mưa tưới cho cây. Sau 5 năm, ông

đánh cây lên, rửa sạch đất cát và cân lại. Cây đã nặng thành 258 kg. Ông lại
cân lượng đất trong chậu gỗ. Chắc là đất trong chậu phải nhẹ đi nhiều vì cây

15


lấy đi. Nhưng thật kỳ lạ, khối lượng đất trong chậu gỗ vẫn như cũ (là 90 kg),
không suy chuyển tí nào. Vậy thì cây lớn lên nhờ cái gì?
(Tóm tắt theo Truyện kể về các nhà bác học sinh học - Nxb Giáo dục)
HS trả lời.
GV: Hen-mông suy nghĩ và rút ra kết luận: cây không phải nhờ “ăn đất”
mà nhờ “uống nước” để lớn lên.
Vậy cụ thể cây “uống nước” như thế nào? Con đường vận chuyển của
nước ra sao? Nước có vai trị gì trong việc “lớn lên” của cây? Bài học hôm nay
sẽ giúp các em trả lời cho câu hỏi đó.
* Ví dụ 3: Để dẫn nhập vào bài 25 “Học thuyết Đacuyn” – Sinh học
12, tôi đã sử dụng truyện về tiểu sử Đacuyn.
Vào ngày 12 – 12 – 1809, tại 1 thành phố nhỏ ở Anh, có 1 cậu bé ra đời.
Cha mẹ cậu đặt tên cho cậu là Sác – lơ Đacuyn (Charles Darwin).

Đacuyn lúc 7 tuổi
Ngay từ thuở ấu thơ, cậu bé Đacuyn đã say mê với cỏ, cây, hoa, lá. Cậu
có thể đứng hàng giờ liền theo dõi đàn bọ ngựa con xinh xắn chui ra từ cái bọc
trứng xấu xí bám trên cành cây, để rồi ngay sau đó lẩn vào đám lá cây, nhanh
đến nỗi cậu loay hoay mãi mà vẫn khơng tìm thấy chúng.

16


Mười sáu tuổi, Đacuyn ghi tên theo học khoa Y của trường Đại học

Tổng hợp Ê–đin-buôc (Edimbourg). Nhưng việc học để trở thành một bác sĩ
thật khó khăn đối với cậu học trị 16 tuổi này, bởi vì cậu chỉ say sưa với thiên
nhiên, với thế giới động vật và thực vật, mà khơng chun tâm vào việc chuẩn
đốn và chữa bệnh cho mọi người.
Đacuyn bỏ dở trường Y để thi vào khoa Thần học của trường đại học
Cam-bơ-rit (Crambridge), vốn là trường nổi tiếng nhất thời ấy ở Anh.

Đại học Crambridge
Nhưng tránh vỏ dưa, lại gặp vỏ dừa. Sau 3 năm dùi mài kinh sử, Đacuyn
bị BGH nhà trường nhã nhặn mời ra khỏi trường, với lời giải thích ngắn gọn:
“Người thanh niên này khơng có khả năng học tập”. Mọi người chê bai cậu là
chỉ ham chơi bời lêu lổng mà không biết lo xa. Bố Đacuyn đã từng mắng:
“Con chỉ ham đi săn, gia đình thật khổ vì con”. Nhưng chính những buổi cưỡi
ngựa đi chơi, đi săn trong rừng, vốn bị mọi người coi là vô vị đó, lại là bước
khởi đầu cho sự nghiệp của Đacuyn sau này. Đacuyn say mê với từng gốc cây,
ngọn cỏ, từng con cào cào, châu chấu, chuồn chuồn hay bọ xít. Đacuyn từng
nói: “Tơi có mong muốn mãnh liệt nhất, là hiểu và giải thích được bất cứ cái
gì tôi quan sát thấy”.

17


Năm 22 tuổi trên con tàu Bi-gơn (Beagle), Đacuyn được bộ tư lệnh hải
quân Anh phân công 1 nhiệm vụ đặc biệt là nghiên cứu động vật, thực vật, địa
chất trong chuyến đi..

Hành trình “thay đổi cả thế giới”
Chính chuyến đi đầy gian nan, vất vả này đã giúp Đacuyn phát hiện ra
q trình tiến hóa thật sự hoạt động ra sao. Học thuyết tiến hóa của Đacuyn
được Ăngghen đánh giá là “một trong ba phát kiến lớn lao nhất của TK 19”.

(Tóm tắt theo Truyện kể về các nhà bác học sinh học – Nxb Giáo dục)
GV: Vậy nội dung học thuyết tiến hóa của Đacuyn là gì? Thầy (cô) và
các em sẽ cùng nhau khám phá nhé!
Như vậy bằng những truyện kể mang nhiều ý nghĩa GV không những
khéo léo đặt vấn đề, dẫn dắt vào bài học mới mà cịn gây hứng thú, kích thích
HS tìm hiểu những kiến thức mới sắp được học. Những câu trả lời xuất sắc,
những câu chuyện mà HS chuẩn bị tốt GV nên tuyên dương, khen thưởng, động
viên HS kịp thời. Một lời khen đúng lúc có sức ảnh hưởng lớn tới tinh thần học
tập của HS. Tôi cảm thấy rất rõ HS yêu những giờ Sinh học hơn, hứng thú hơn.
Theo gương các nhà khoa học các em biết đoàn kết, giúp đỡ nhau, biết cố gắng
nỗ lực vươn lên trong học tập.

18


5.4.2. Sử dụng truyện kể trong dạy kiến thức mới
Phương pháp dạy học của GV hiện nay đã và đang có những chuyển biến
tích cực. Tuy nhiên phương pháp chủ yếu vẫn là phát vấn các câu hỏi, HS
nghiên cứu nội dung SGK trả lời. Việc GV không phối hợp đa đạng các phương
pháp trong một tiết dạy, kiến thức bám sát SGK, ít liên hệ thực tiễn gây nên sự
nhàm chán, dễ qn kiến thức; HS ít có khả năng vận dụng và sáng tạo. Bằng
phương pháp sử dụng các câu chuyện kể trong một số tiết học sẽ góp phần thay
đổi những vấn đề trên.
* Ví dụ 1: Khi dạy phần I “Khái niệm vi sinh vật”, bài 22 “Dinh
dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật” – Sinh học 10, đa
số GV sẽ nêu câu hỏi “Em hãy cho biết vi sinh vật là gì?”; HS trả lời khái niệm
theo đã có trong SGK mà chưa hiểu rõ bản chất của khái niệm.
Tôi đã vận dụng câu chuyện “Sự ra đời của kính hiển vi” để HS phát
hiện khái niệm vi sinh vật:
Từ xa xưa, con người đã biết: khi một giọt nước đọng trên mặt lá hoặc

trên một vảy cá có thể giúp ta nhìn những vật nằm ở dưới nó to hẳn lên và rõ
hơn. Trên các bình cổ của Trung Quốc trước Cơng Ngun, đã có hình người
đang dùng những “thấu kính thủy tinh” để quan sát đồ vật. Người Hi Lạp và
La Mã cổ cũng đã biết nhìn đồ vật qua những bình cầu thủy tinh đựng đầy
nước, để cho to và rõ hơn.
Khi còn nhỏ, Lơ-ven-húc (Antonie Van Leeuwenhoek - người Hà Lan)
luôn bận rộn với công việc phụ bán bia giúp bố. Vào những ngày hè nóng bức,
cậu bé hay bị khách hàng quở phạt vì để các sâu bọ bé tí sà vào cốc bia.
Lơ-ven-húc: nếu có một phép lạ để biến hóa cho chúng to lên, thì cậu mới có
thể tha hồ nhìn chúng khơng có khó khăn gì.
Lớn lên, Lơ-ven-húc đã kiên nhẫn mài, dũa, đánh bóng tới 419 thấu
kính, kết hợp đa dạng để tăng khả năng phóng đại của chúng. Ơng cịn đặt
thêm các que đẩy có ren để thay đổi độ gần xa của vật cần nhìn và ghép thêm

19


cả kính phản chiếu hoặc hội tụ ánh sáng, để tăng độ chiếu sáng cho vật quan
sát. Lơ-ven-húc đã lần lượt chế tạo và cải tiến như vậy tới 247 “kính hiển vi”.

Lơ-ven-húc (Antonie Van Leeuwenhoek)
Nhờ chúng, Lơ-ven-húc quan sát được trong giọt nước ao hồ mà ta
tưởng là trong veo đó thì cơ man nào là những động vật nhỏ tí xíu, nhỏ bằng
một phần trăm, một phần nghìn của hạt cát.
Đặc biệt, khi Lơ-ven-húc soi bựa răng của mình thì ơng đã thấy biết bao
là “dã thú” (“dã thú” là tên các vi sinh vật có trong bựa răng mà Lơ-ven-húc
tự đặt cho chúng). Chúng nhiều tới mức khiến ơng phải khẳng định rằng số
lượng của chúng cịn đông gấp nhiều lần tổng dân số của vương quốc Hà Lan,
q hương ơng!
(Tóm tắt theo Truyện kể về các nhà bác học sinh học – Nxb Giáo dục)

GV hỏi: Qua câu chuyện trên em có những hiểu biết gì về vi sinh vật?
Từ nội dung trong câu chuyện HS tìm ra được: Vi sinh vật là những cơ
thể nhỏ bé, chỉ nhìn rõ chúng dưới kính hiển vi. Câu chuyện về sự ra đời của
kính hiển vi sẽ giúp HS ghi nhớ lâu hơn khái niệm vi sinh vật.

* Ví dụ 2. Bài 45 “Sinh sản hữu tính ở động vật” – Sinh học 11
20


Tôi đã sử dụng câu chuyện “Ếch đực mặc quần đùi”:
Tại sao ếch lại sinh ra ếch, tại sao người lại sinh ra người …? Từ thế kỷ
17 trở về trước điều này là cả một bí mật. Có người cho rằng trong mỗi cơ thể
người mẹ, đã có sẵn những “người tí hon” nằm chờ trong trứng. Người khác
lại cho rằng trong tinh trùng đã có “người thu nhỏ’ ngồi xổm trong đó.
Năm 1777, Span-lan-gia-ni (người I-ta-li-a) theo dõi sự sinh sản của
ếch. Ông cho rằng trong mỗi trứng của ếch cái chẳng có chú ếch tí hon nào cả,
mà chỉ thấy một chấm đen.

Đám trứng ếch
Vào mùa sinh sản, ếch đực vang lên tiếng kêu … ộp … oạp … “gọi
bạn”. Người ta thấy rằng ếch

đực bao giờ cũng bám trên lưng ếch cái.

Ếch đực kêu “gọi bạn”

Ếch cái đẻ trứng

21



Khi ếch cái đẻ trứng vào nước, ếch đực liền tiết ra một chất dịch, tưới
lên đám trứng ếch vừa được đẻ ra. Ít lâu sau, đám trứng ếch nở thành nòng
nọc rồi biến đổi thành ếch con.

Sự phát triển của nịng nọc thành ếch
Span-lan-gia-ni làm thí nghiệm cho ếch đực mặc quần đùi. Ếch đực vẫn
ôm lưng ếch cái nhưng chất dịch bị giữ lại trong quần.

Thí nghiệm cho ếch đực mặc quần đùi
22


Kết quả thật bất ngờ. Cả đám trứng do ếch cái đẻ ra không được tưới
dịch đã bị hỏng, chẳng nở ra một chú nòng nọc nào. Và thế là khơng có chú
ếch con nào được sinh ra.
Để kết quả đúng hơn, ơng lại làm thí nghiệm ngược lại, nghĩa là lấy chất
dịch do ếch đực tiết ra bôi lên trứng ếch. Kết quả là trứng lại nở thành nòng
nọc và nịng nọc lại biến đổi thành ếch con.
(Tóm tắt theo Truyện kể về các nhà bác học sinh học – Nxb giáo dục)
Từ việc khai thác nội dung câu chuyện trên, qua thảo luận HS sẽ khai
thác được các kiến thức một cách nhanh chóng, dễ hiểu, dễ ghi nhớ:
- Khái niệm sinh sản hữu tính: Sinh sản hữu tính ở động vật là kiểu sinh
sản có sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo ra hợp tử, hợp tử phát triển thành
phơi và hình thành cá thể mới.
- Q trình sinh sản hữu tính gồm 3 giai đoạn: giai đoạn hình thành tinh
trùng và trứng; giai đoạn thụ tinh; giai đoạn phát triển phơi hình thành cá thể
mới.
- Khái niệm thụ tinh: sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo ra hợp tử.
- Thụ tinh ở ếch là hình thức thụ tinh ngồi.

* Ví dụ 3: Bài 21 “Di truyền phân tử” – Sinh học 12.
Khi dạy phần III. Bệnh ung thư - để tìm hiểu các phương pháp điều trị
ung thư hiện nay, tôi đã sử dụng câu chuyện “Người truyền khát vọng sống đến
hàng triệu trái tim”
Tháng 7 năm 2014, PGS.TS. Văn Như Cương phát hiện ra mình mắc
bệnh ung thư gan khi đã ở giai đoạn nguy hiểm. Bác sĩ cho biết nếu không
chữa chạy kịp thời, các khối u sẽ di căn, không thể sống quá 3 tháng.
Các bác sĩ tại bệnh viện Việt Đức đưa ra 3 phương án điều trị: Thắt nút
5 tĩnh mạch nuôi dưỡng khối u, thay gan hoặc mổ cắt bỏ khối u. Sau khi xem
xét và cân nhắc sức chịu đựng của bản thân, thầy Cương quyết định chọn cách
trị bệnh đầu tiên. Phương pháp của thầy Cương là Đông – Nam y kết hợp, vừa

23


chữa ở bệnh viện, vừa uống thuốc lá cây, uống nước nấu từ nấm Lim xanh, củ
tam thất, ngoài ra còn ngồi thiền nữa...
Trong thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư gan, PGS.TS. Văn Như
Cương hàng ngày vẫn đến trường làm việc, đọc sách, báo, theo sát hoạt động
của Trường THPT Dân lập Lương Thế Vinh. Tháng 9/2014, khi vì vừa mổ nội
soi thắt nút tĩnh mạch được vài ngày ơng vẫn có mặt tại lễ khai giảng của
trường Lương Thế Vinh.

PGS. TS. Văn Như Cương nhớ lại quãng thời gian chiến đấu chống chọi
với bệnh ung thư gan của mình.
Sự xuất hiện của ơng tại lễ khai giảng trong trạng thái khỏe mạnh cùng
một bài diễn văn hùng hồn về tình yêu quê hương, đất nước đã lay động hàng
triệu trái tim học trò. PGS còn quyết định dùng hơn 200 triệu đồng tiền tiết
kiệm để may tặng tất cả HS, GV trong trường chiếc áo phông in hình cờ đỏ,
sao vàng. Tuy mắc bệnh trọng như vậy nhưng thầy Cương ln có tinh thần vui

vẻ, lạc quan, chiến đấu đến cùng khơng bỏ cuộc. Ơng từng làm thơ:
“Mắc bệnh ung thư quả thật rồi,
Nên đành vĩnh biệt rượu bia thơi!
Khi nào nhạt miệng, tìm chai nước
Pha chút men say của đất trời”.
24


Nhiều HS đã nói rằng: "Việc một người thầy đã gần sang tuổi bát thập
như thầy Cương vẫn bền bỉ chống lại căn bệnh hiểm nghèo là nguồn động lực
lớn cho các em cố gắng sống và học tập tốt hơn”. Bảy tháng sau đi khám lại,
các bác sĩ và thầy lang đều chúc mừng vì bệnh tình thầy Cương thuyên giảm
một cách đáng ngạc nhiên. Bây giờ có thể xem như khơng có bệnh.
Theo thầy Văn Như Cương và các bác sĩ: để chiến thắng căn bệnh ung
thư thì tinh thần lạc quan, tin tưởng vào thầy thuốc của người bệnh, sự quan
tâm, động viện, giúp đỡ của người thân và bạn bè là điều vơ cùng quan trọng,
đóng góp tới 50% kết quả…
(Theo nguồn Internet)
GV hỏi: Hiện nay đã có thuốc đặc trị ung thư chưa? Qua câu chuyện
trên, theo em chúng ta cần làm gì để chiến thắng căn bệnh ung thư?
HS trả lời.
GV nhận xét, kết luận: bệnh ung thư chưa có thuốc đặc trị nhưng nếu
người bệnh phát hiện kịp thời, có nghị lực, tinh thần lạc quan, tin tưởng vào
phương pháp chữa trị… thì bệnh có khả năng thun giảm, thậm chí khỏi
hồn tồn.
Qua câu chuyện trên HS không những khai thác được kiến thức mà cịn
có thêm nghị lực vượt qua khó khăn trong cuộc sống cũng như trong học tập;
biết yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ với bạn bè và người thân nếu khơng may họ
mắc bệnh.
Để việc tìm hiểu kiến thức mới hiệu quả, GV cần lựa chọn những câu

chuyện gần gũi với thực tế, dễ hiểu thay thế cho những nội dung không gần gũi
với các em. GV cần tạo cho HS những cơ hội để liên hệ, vận dụng phối hợp
những kiến thức, kĩ năng từ các lĩnh vực khác nhau như Ngữ văn, Lịch sử, Giáo
dục công dân… vào phát hiện và giải quyết những vấn đề. Từ đó HS sẽ chiếm
lĩnh được kiến thức mới, biết vận dụng kiến thức vào thực tế. HS sẽ hăng say
tìm hiểu, khám phá tri thức. Người GV cần hỗ trợ đúng lúc, đúng mức trong
việc giúp HS khai thác kiến thức qua từng câu chuyện.
25


×