BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
------------o0o-----------
NGÔ BỬU THIỆU
TỶ LỆ HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH
VỚI ẤU TRÙNG TOXOCARA CANIS
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,
TỈNH BẾN TRE, NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Chuyên ngành: Ký sinh trùng Y học
Mã số: 8720101
ĐẮK LẮK – NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
------------o0o-----------
NGÔ BỬU THIỆU
TỶ LỆ HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH
VỚI ẤU TRÙNG TOXOCARA CANIS
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,
TỈNH BẾN TRE, NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ KÝ SINH TRÙNG Y HỌC
Chuyên ngành: Ký sinh trùng Y học
Mã số: 8720101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. BS. NGÔ HÙNG DŨNG
ĐẮK LẮK – NĂM 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn, không sao chép bất kỳ kết quả
nghiên cứu của luận văn hay luận án nào, chưa được trình bài hay cơng bố
trong bất cứ cơng trình nào nghiên cứu trước đây.
Người hướng dẫn
Tác giả
TS.BS. Ngô Hùng Dũng
Ngô Bửu Thiệu
MỤC LỤ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT..............................................................................i
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH......................................................ii
ĐẶT VẤN ĐỀ.......................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU..................................................................................3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU....................................................................4
1.1. Tổng quan về bệnh nhiễm ấu trùng giun đũa chó.......................................4
1.1.1. Hình thể và chu trình phát triển.............................................................4
1.1.2. Lịch sử bệnh..........................................................................................6
1.1.3. Dịch tễ học............................................................................................6
1.1.4. Triệu chứng lâm sàng, chẩn đốn và điều trị nhiễm ấu trùng giun đũa
chó ở người................................................................................................7
1.2. Một số nghiên cứu vể tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó trên thế giới và
tại Việt Nam.................................................................................................15
1.2.1. Trên thế giới........................................................................................15
1.2.2. Tại Việt Nam.......................................................................................17
1.3. Một số yếu tố nguy cơ nhiễm ấu trùng giun đũa chó................................18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................20
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................20
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.............................................................20
2.3. Thiết kế nghiên cứu...................................................................................22
2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu.........................................................................22
2.5. Phương pháp thu thập số liệu....................................................................23
2.5.1. Nội dung nghiên cứu...........................................................................23
2.5.2. Vật liệu - dụng cụ nghiên cứu.............................................................23
2.5.3. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu...............................................24
2.5.4. Các bước tiến hành nghiên cứu...........................................................26
2.6. Các biến số, chỉ số nghiên cứu..................................................................28
2.7. Xử lý và phân tích số liệu..........................................................................29
2.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu..............................................................30
2.9. Một số hạn chế của nghiên cứu.................................................................31
Chương 3 KẾT QUẢ...........................................................................................32
3.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu..............................................32
3.2. Tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng Toxocara canis, và một số đặc
điểm cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu.............................................37
3.2.1. Tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng Toxocara canis................37
3.2.2. Một số đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân dương tính với ấu trùng
Toxocara canis.........................................................................................39
3.3. Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng
Toxocara canis ở đối tượng nghiên cứu......................................................41
3.3.1. Một số đặc điểm dân số xã hội liên quan đến tỷ lệ huyết thanh dương
tính với Toxocara canis...........................................................................41
3.3.2. Một số đặc điểm hành vi liên quan đến tỷ lệ dương tính với ấu trùng
Toxocara canis.........................................................................................42
Chương 4 BÀN LUẬN.......................................................................................46
4.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu..............................................46
4.2. Tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara canis và một số đặc điểm cận
lâm sàng của bệnh nhân...............................................................................49
4.3. Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng
Toxocara canis của bệnh nhân....................................................................53
KẾT LUẬN.........................................................................................................58
KIẾN NGHỊ.........................................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................iii
PHỤ LỤC.............................................................................................................iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATGĐCM : Ấu trùng giun đũa chó mèo
BCTT
: Bạch cầu toan tính
DTH
: Dịch tễ học
ELISA
: Enzyme Linked Immunosorbent Assay- xét nghiệm hấp thụ miễn
dịch liên kết với enzyme
KST
: Ký sinh trùng
GĐCM
: Giun đũa chó mèo
PCR
: Polymerase Chain Reaction - Phản ứng chuỗi polymerase
SR-KST-CT : Sốt rét – Kí sinh trùng – Cơn trùng
TH
: Tiểu học
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
TP.HCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Đặc điểm giới tính, nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu..................32
Bảng 3.2. Đặc điểm trình độ học vấn, nghề nghiệp chính..................................33
Bảng 3.3. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về nhiễm giun đũa chó.............34
Bảng 3.4. Kiến thức về cách dự phòng nhiễm ấu trùng giun đũa chó.................35
Bảng 3.5. Tỷ lệ ni chó và thói quen bồng bế chó của đối tượng nghiên cứu. .35
Bảng 3.6. Tỷ lệ thường xuyên tiếp xúc đất và thói quen rửa tay của đối tượng
nghiên cứu.................................................................................................36
Bảng 3.7. Một số thói quen ăn uống ở đối tượng nghiên cứu.............................36
Bảng 3.8. Tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng Toxocara canis theo tuổi. 38
Bảng 3.9. Tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara canis theo giới tính .......39
Bảng 3.10. Số lượng bạch cầu ái toan ở bệnh nhân dương tính Toxocara canis 39
Bảng 3.11. Đặc điểm chỉ số sinh hóa (AST, ALT) ở bệnh nhân dương tính với
Toxocara canis..........................................................................................40
Bảng 3.12. Đặc điểm học vấn, nghề nghiệp liên quan đến tỷ lệ huyết thanh
dương tính với ấu trùng Toxocara canis...................................................41
Bảng 3.13. Yếu tố ni chó, mèo liên quan đến tỷ lệ dương tính với ấu trùng
Toxocara canis..........................................................................................42
Bảng 3.14. Hành vi thường xuyên bồng, bế chó liên quan đến tỷ lệ dương tính
với ấu trùng Toxocara canis......................................................................42
Bảng 3.15. Thói quen ăn uống liên quan đến tỷ lệ dương tính Toxocara canis. .43
Bảng 3.16. Thói quen rửa tay liên quan đến tỷ lệ dương tính Toxocara canis....44
Bảng 3.17. Yếu tố thường xuyên tiếp xúc với đất liên quan đến tỷ lệ dương tính
Toxocara canis..........................................................................................45
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Sơ đồ chu trình phát triển của giun đũa chó.........................................5
Hình 1.2. Bản đồ phân bố huyết thanh dương tính giun đũa chó trên thế giới. . .17
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre..........................................................21
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh giun đũa chó thuộc nhóm “Bệnh động vật lây sang người”, phổ biến
là từ chó [4], [10]. Giun đũa chó có tên khoa học là Toxocara canis [37]. Bệnh
do giun đũa chó cịn gọi là bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng ở người gây ra do
sự di chuyển của ấu trùng giun đũa chó [10]. Năm 1952, Beaver và cộng sự đã
chứng minh có sự hiện diện của ấu trùng giun đũa chó ở người và gọi đó là bệnh
“ấu trùng di chuyển nội tạng”. Vì là ký sinh trùng lạc chủ, không trưởng thành
được ở người nên y văn ghi nhận đây là hiện tượng “ngõ cùng ký sinh” hoặc
“bệnh động vật thật khơng hồn chỉnh” [5], [10], [22]. Bệnh do ấu trùng
Toxocara spp. được xem là bệnh KST bị lãng quên mặc dù phổ biến khắp thế
giới [52].
Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó cao thường ở các nước nhiệt đới, cận
nhiệt đới và các cộng đồng nông thôn hơn là các cộng đồng cơng nghiệp hóa,
thành thị, ơn đới [47], [60]. Các nghiên cứu cho thấy, những quần thể người có
tỷ lệ huyết thanh dương tính giun đũa chó/mèo cao thường ở những nơi có nhiều
chó bị nhiễm Toxocara canis, mơi trường bị ô nhiễm trứng nhiều, đặc biệt là môi
trường đất. Phân bố nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo rất rộng, từ cực Nam bán
cầu đến các vùng nhiệt đới với tỷ lệ huyết thanh dương tính khác nhau từ 0,7% ở
New Zealand cho đến 93% ở La Reunion (châu Phi) [48], [66].
Tại Việt Nam, kỹ thuật ELISA đã được áp dụng trong các nghiên cứu tại
Việt Nam để chẩn đoán, khảo sát tỉ lệ nhiễm Toxocara spp. trên người đồng thời
với các nghiên cứu dịch tễ học về sự phân bố, yếu tố nguy cơ v.v… bệnh do ấu
trùng giun đũa chó, ngày càng được quan tâm hơn đối với các nhà Dịch tễ học,
Ký sinh trùng học, kỹ thuật xét nghiệm và cả với người dân. Đã có có một số
nghiên cứu xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với giun đũa chó ở người tại
một số địa phương. Kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm Toxocara spp. ở Việt Nam thay
đổi tùy từng địa phương. như ở miền Bắc là 58,7-74,9% [11], [14]; miền Nam từ
38,4-53,6% [15], [16], [24]; ở miền Trung từ 13-50% [7], [13], [25]. Ở các tỉnh
2
Miền Tây Nam Bộ chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Tại một vài địa
phương có đặc điểm gần tương tự như địa phương trong nghiên cứu này thì tỷ lệ
huyết thanh dương tính với Toxocara sp cũng giao động nhiều như theo tác giả
Hồng Đình Đồng và cs tỉ lệ nhiễm 20% tại quân 2, thành phố Hồ Chí Minh [8];
theo Lê Thành Đồng và cs
khảo sát các tỉnh dọc biên giới Việt Nam –
Campuchia có tỉ lệ nhiễm là 51% [9].
Mặc dù với kỹ thuật ELISA giúp phát hiện bệnh do Toxoacara spp. ngày
càng nhiều hơn nhưng nghiên cứu tỉ lệ nhiễm tại các địa phương chưa nhiều và
chó là các gia súc gần gũi với người Việt nên khả năng bệnh sẽ có chiều hướng
tăng rộng. Huyện Châu Thành, tỉnh Bến tre thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long là một huyện vùng nông thôn, đời sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế xã
hội cho thấy người dân tại địa phương này có nhiều yếu tố nguy cơ nhiễm ấu
trùng Toxocara canis, nhưng hiện nay chưa có báo cáo nào về tỷ lệ nhiễm loại
ấu trùng này trên địa bàn tỉnh Bến Tre nói chung. Với mong muốn tìm hiểu thêm
về tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó Toxocara spp. ở người dân huyện
Châu Thành tỉnh Bến Tre và tìm hiểu một số yếu tố làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh
ấu trùng giun đũa chó, qua đó giúp ích cho các nhà quản lý y tế tại địa phương
và các bác sĩ trong thực hành chẩn đốn và điều trị chúng tơi thực hiện đề tài
“Tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng Toxocara canis và một số yếu tố
liên quan ở người dân tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, năm 2019”
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Xác định tỉ lệ huyết thanh dương tính ấu trùng giun đũa chó Toxocara
canis bằng kỹ thuật ELISA trên người dân có triệu chứng đến khám tại các
cơ sở y tế của huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre năm 2019.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu
trùng Toxocara canis ở người dân có triệu chứng đến khám tại cơ sở y tế
của huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về bệnh nhiễm ấu trùng giun đũa chó
Giun đũa chó Toxocara canis là lồi giun hình ống ký sinh trong ruột non
của chó thuộc bộ (Order) Ascaridia, trên họ (Super-Family) Ascaridiodea, họ
(Family) Toxocaridae. Bệnh do ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis. gây nên ở
người là bệnh động vật ký sinh hay bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng. Người bị
bệnh là một tai nạn, ngẫu nhiên do nuốt phải trứng có ấu trùng của Toxocara spp
[10].
1.1.1. Hình thể và chu trình phát triển
Hình thể của Toxocara spp. tương tự như hình thể của giun đũa người
Ascaris lumbricoides nhưng kích thước nhỏ hơn. Toxocara spp. trưởng thành có
màu hồng, hình ống trịn. Giun cái có chiều dài 6.5-10cm, đi thẳng; giun đực
có chiều dài 4-6cm, đi cong. Trứng có màu vàng nâu, hình cầu, bề mặt sần sùi
giống như vỏ quả cam, kích thước 75-85 x 65-75 µm, rất khó phân biệt giữa
trứng của hai lồi. Ấu trùng giun đũa chó mèo có kích thước khoảng 290350x18-21µm.
Chu trình phát triển của Toxocara spp. trong chó và mèo tương tự như chu
trình phát triển của giun đũa Ascaris lumbricoides trong cơ thể của người [10].
Trứng của giun đũa chó, mèo lúc mới đẻ và theo phân chó, mèo ra mơi
trường bên ngồi chỉ có phơi bào chưa có ấu trùng. Sau một thời gian khoảng 36 tuần hoặc có khi vài tháng tùy thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, trứng sẽ
phát triển có ấu trùng bên trong và trở thành giai đoạn gây nhiễm. Chu trình phát
triển có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:
5
Hình 1.1. Sơ đồ chu trình phát triển của giun đũa chó
(Nguồn: www.dpd.cdc.gov/dpdx)
Người, chủ yếu là trẻ con khi nuốt phải trứng giun đã có ấu trùng, khi vào
đến ruột non ấu trùng sẽ thoát khỏi trứng và xuyên qua màng ruột theo máu di
chuyển khắp nơi trong cơ thể gây nên bệnh ấu trùng giun đũa chó (Toxocariasis)
hay cịn gọi hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng, bệnh ấu trùng lạc chủ, bệnh
động vật ký sinh. Người không phải là ký chủ vĩnh viễn của Toxocara spp. nên
ấu trùng không thể trưởng thành trong cơ thể người được và ấu trùng giun cũng
không thể truyền tiếp qua người hay động vật nào khác, khi đó người trở thành
ngõ cùng ký sinh (Dead End Host) của Toxocara spp.
6
1.1.2. Lịch sử bệnh
Theo các y văn, các tác giả đều đồng ý rằng năm 1950 Wilder là người đầu
tiên mổ tả bệnh ấu trùng trong u võng mạc ở một đứa bé. Năm 1952, Beaver và
cs đã báo cáo nhiều trường hợp tương tự với có tăng cao bạch cầu toan tính và
thể trạng suy yếu, bệnh kéo dài, bệnh ở nhiều cơ quan. Từ nhóm bệnh nhi này,
Beaver và cs đã dùng từ “Ấu trùng di chuyển nội tạng Visceral Larva Migrans”
mô tả các đặc điểm lâm sàng của hội chứng này và với kết quả sinh thiết mô họ
đã xác nhận nguyên nhân của bệnh là do ấu trùng của Toxocara canis hoặc
Toxocara cati. Từ đó đến nay, bệnh do ấu trùng Toxocara spp. được phát hiện ở
rất nhiều tổn thương từ mắt đến các nơi trong cơ thể. Hiện nay, trên tồn thế
giới, trong đó có Việt Nam, mọi người đều có ý thức về bệnh do ấu trùng
Toxocara spp. gây nên với các biểu hiện lâm sàng, nguy cơ lây nhiễm, đặc biệt
là ở trẻ em.
Tại Việt Nam, bệnh được phát hiện đầu tiên vào năm 1988 trên một cháu
bé nhập viện Nhi Đồng II Tp. HCM có vần đề về gan và bạch cầu toan tính tăng
cao. Huyết thanh của bé được gửi sang Pháp chẩn đốn và kết quả có kháng thể
kháng Toxocara canis trong huyết thanh .Từ sau năm 1990, đã có nhiều cơng
trình nghiên cứu về dịch tễ, bệnh học, các mối liên quan đến bệnh, các phương
pháp chẩn đoán bệnh do Toxocara spp. Năm 1996 đến 2009 Trần Thị Kim Dung
và cs đã ứng dụng kỹ thuật ELISA chẩn đoán phát hiện nhiều trường hợp nhiễm
ấu trùng Toxocara spp. trên những người bệnh. Năm 2001 Trần Thị Hồng đã
nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật ELISA để điều tra tỉ lệ nhiễm Toxocara spp. ở Củ
Chi, Tp. Hồ Chí Minh. Các báo cáo khác đã nêu lên các yếu tố lây nhiễm từ
phân chó, mèo, các yêu tố liên quan đến thói quen vệ sinh cá nhân, tiếp xúc với
chó, mèo v.v… cũng như nghiên cứu sự phát tán của trứng giun đũa chó mèo ở
mơi trường.
1.1.3. Dịch tễ học
Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó cao thường ở các nước nhiệt đới, cận
nhiệt đới và các cộng đồng nông thơn hơn là các cộng đồng cơng nghiệp hóa,
7
thành thị, ôn đới [47], [60]. Các nghiên cứu cho thấy, những quần thể người có
tỷ lệ huyết thanh dương tính giun đũa chó/mèo cao thường ở những nơi có nhiều
chó bị nhiễm Toxocara canis, mơi trường bị ơ nhiễm trứng nhiều, đặc biệt là môi
trường đất. Phân bố nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo rất rộng, từ cực Nam bán
cầu đến các vùng nhiệt đới với tỷ lệ huyết thanh dương tính khác nhau từ 0,7% ở
New Zealand cho đến 93% ở La Reunion (châu Phi) [48], [66].
Tại Việt Nam, kỹ thuật ELISA đã được áp dụng trong các nghiên cứu tại
Việt Nam để chẩn đoán, khảo sát tỉ lệ nhiễm Toxocara spp. trên người đồng thời
với các nghiên cứu dịch tễ học về sự phân bố, yếu tố nguy cơ v.v… Đã có có
một số nghiên cứu xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với giun đũa chó ở
người tại một số địa phương. Kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm Toxocara spp. ở Việt
Nam thay đổi tùy từng địa phương. như ở miền Bắc là 58,7 - 74,9% [11], [14];
miền Nam từ 38,4 - 53,6% [15], [16], [24]; ở miền Trung từ 13 - 50% [7], [13],
[25]. Ở các tỉnh Miền Tây Nam Bộ chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Tại
một vài địa phương có đặc điểm gần tương tự như địa phương trong nghiên cứu
này thì tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara sp. cũng giao động nhiều như
theo tác giả Hồng Đình Đồng và cs tỉ lệ nhiễm 20% tại quân 2, thành phố Hồ
Chí Minh [8]; theo Lê Thành Đồng và cs khảo sát các tỉnh dọc biên giới Việt
Nam – Campuchia có tỉ lệ nhiễm là 51% [9].
1.1.4. Triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán và điều trị nhiễm ấu trùng giun đũa
chó ở người
Triệu chứng lâm sàng
Sau khi ấu trùng Toxocara spp. đi vào cơ thể, chúng sẽ xuyên thành niêm
mạc ruột đến các cơ quan gan, phổi, não, tim, cơ xương, mắt thông qua cơ chế
cơ học và sự tham gia của các enzyme protease. Các ấu trùng di chuyển sẽ bị
ngăn chặn hoặc ảnh hưởng bởi đáp ứng miễn dịch dẫn đến phản ứng viêm tại
chỗ, tăng bạch cầu ái toan, các cytokine và các kháng thể đặc hiệu. Trong thực
hành lâm sàng, một số trường hợp nhiễm ấu trùng Toxocara spp. không biểu
8
hiện triệu chứng, nhưng khi có triệu chứng có thể biểu hiện dưới nhiều hội
chứng và thể bệnh khác nhau [46].
Triệu chứng lâm sàng bệnh nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở người phần lớn
là do sự di chuyển của ấu trùng giai đoạn 3 của Toxocara spp. qua đường máu
đến các tổ chức trong cơ thể bao gồm ở cơ, gan, não và mắt. Sự di chuyển của
ấu trùng có thể dẫn tới nhiều triệu chứng, và các triệu chứng này phụ thuộc vào
cơ quan hoặc tổ chức bị ấu trùng ký sinh, thời gian, số lượng ấu trùng, tuổi và
đáp ứng miễn dịch với ấu trùng từ cơ thể. Nhiều trường hợp không biểu hiện
triệu chứng nếu nhiễm nhẹ, tuy nhiên ở những bệnh nhân khác, ấu trùng có thể
di chuyển đến các tạng gan, phổi, tim, não, mắt và có thể gây ra các vấn đề về
sức khoẻ như: hội chứng tăng bạch cấu ái toan mạn tính, tăng bạch cầu chung,
sốt, gan to, viêm phế quản, giả hen, viêm phổi, viêm cơ tim, động kinh, viêm
võng mạc, viêm kết mạc, viêm màng bồ đào, viêm nhãn cầu [10]. Chính vì triệu
chứng lâm sàng khơng đặc hiệu do dễ nhầm lẫn với các bệnh khác và việc khơng
thể thực hiện được các kỹ thuật chẩn đốn miễn dịch cần thiết tại nhiều cơ sở y
tế tuyến dưới nên các ca bệnh này rất dễ bỏ sót. Tử vong do bệnh ấu trùng giun
đũa chó là hiếm nhưng cũng đã gặp một số trường hợp ấu trùng ký sinh ở gan,
phổi hoặc nào nếu không điều trị kịp thời. Những trường hợp ấu trùng ký sinh ở
mắt có thể gây giảm thị lực và mù vĩnh viễn. Hiện nay tại Mỹ, bệnh nhiễm ấu
trùng giun đũa chó là một trong năm bệnh nhiệt đới bị lãng quên đang được
quan tâm vì theo thống kê mỗi năm có ít nhất 70 người (chủ yếu là trẻ em) bị mù
do bệnh này [65].
Mặc dù triệu chứng lâm sàng của bệnh ấu trùng giun đũa chó khơng rõ ràng
và đặc hiệu nhưng việc chẩn đốn có thể dựa trên những biểu hiện của một số
thể lâm sàng như thể nội tạng, thể ở mắt, thể thần kinh và thể thông thường [46].
* Thể nội tạng: là hội chứng thường gặp nhất ở những người bị nhiễm
bệnh, đặc biệt là trẻ em, với các dấu hiệu lâm sàng như ho, thở khò khè, đau cơ
hoặc biểu hiện da (ví dụ ngứa, phát ban, chàm, viêm túi mật và viêm mạch máu)
[33]. Mặc dù ở hầu hết các trường hợp thể nội tạng, ấu trùng di cư không gây ra
9
các triệu chứng, ngoại trừ một số triệu chứng liên quan đến hạch bạch huyết,
viêm gan siêu vi, viêm gân nách, viêm thận, viêm khớp xảy ra ở một số người
[41]. Ngoài ra, những tác dụng lâu dài, như sự phát triển của bệnh hen và thúc
đẩy xơ phổi, cũng bị nghi là có liên quan đến những trường hợp bị ấu trùng di
chuyển nội tạng.
* Thể ở mắt: phổ biến và thường gặp ở trẻ em từ 3 đến 16 tuổi [56]. Ấu
trùng có thể gây giảm thị lực thường ở một bên mắt, ngoại lệ cũng có ảnh hưởng
hai bên mắt. Soi đáy mắt thấy dạng viêm hạt ở võng mạc, viêm kết mạc, u hạt
trong mắt, viêm nội nhãn do ấu trùng di chuyển còn sống, hoặc đã chết gây tái
hoạt miễn dịch. Mù có thể xảy ra do tình trạng viêm mống mắt, phù mơ và bong
võng mạc không điều trị kịp thời [35].
* Thể thần kinh: rất hiếm và xảy ra chủ yếu ở những người trung niên [32].
Hội chứng này liên quan đến sự di chuyển ấu trùng ở hệ thần kinh trung ương và
tiếp theo là viêm màng não, viêm não, viêm mạch máu não, hoặc viêm tủy,
thường liên quan đến các triệu chứng lâm sàng tương đối không đặc hiệu, sốt và
nhức đầu.
* Thể khơng điển hình hoặc thể thơng thường: gồm các triệu chứng lâm
sàng như sốt, chán ăn, nhức đầu, thở khị khè, buồn nơn, đau bụng, nơn mửa, lơ
mơ, buồn ngủ và rối loạn hành vi, phổi, viêm phế quản, viêm phế quản, các triệu
chứng, đau chân tay, viêm đại tràng và gan lớn xảy ra ở trẻ em, trong khi đó suy
nhược, ngứa, phát ban, rối loạn chức năng phổi, suy giảm phổi và đau bụng có
thể thấy chủ yếu ở người lớn. Cũng có những mối liên hệ giữa bệnh ấu trùng
giun đũa chó và hen suyễn. Những đặc điểm lâm sàng này thường kết hợp với
các mức độ kháng thể huyết thanh kháng Toxocara từ trung bình đến cao [64].
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thị Hồng (2001) tại Tp. Hồ Chí Minh
cũng phân loại tỷ lệ trường hợp bệnh ấu trùng giun đũa chó theo các thể lâm
sàng cho thấy thể thần kinh - cơ (56%), thể ngồi da (15%), thể tiêu hóa (11%),
thể hô hấp (4%), thể không đặc hiệu (13%) [15].
10
Có một số báo cáo trường hợp bệnh về thể nội tạng và thể ở mắt tại các cơ
sở y tế như nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương về 2 ca bệnh ấu trùng giun đũa
chó thể di chuyển nội tạng chủ yếu về hô hấp (ho, đau ngực, tràn dịch màng
phổi), về thần kinh (đau đầu, co giật, liệt tay trái) [5]. Vũ Thị Lâm Bình báo cáo
ca bệnh thể ở mắt: bệnh nhân nữ 34 tuổi có biểu hiện nhìn mờ 2 mắt được chẩn
đốn ban đầu là viêm màng bồ đào, điều trị thuốc kháng vi rút nhưng thị lực cải
thiện chậm, sau đó thị lực giảm đột ngột còn 2/10, đau và đỏ mắt. Xét nghiệm
huyết thanh dương tính, các xét nghiệm khác cũng được tiến hành để loại trừ các
nguyên nhân khác. Điều trị bằng albendazole phối hợp với medrol trong 15
ngày, kết quả thị lực đã tăng lên 8/10, hiệu giá kháng thể kháng giun đũa chó
giảm rõ rệt. Từ trường hợp lâm sàng trên cho thấy bệnh ấu trùng giun đũa chó
thể mắt dễ nhầm với các bệnh khác [2].
Một số nghiên cứu khác tổng hợp theo tần suất của triệu chứng lâm sàng
như nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương (2014), các triệu chứng chiếm tỷ lệ
cao như ngứa, nổi mẩn (69%), đau đầu (63,9%), đau bụng (45,6%), nhức chân
tay (38,8%), mệt mỏi (35%), tê bì (31,6%), khác như tức ngực, đau thượng vị,
sốt …(10,5%) [6]. Nghiên cứu của Lương Trường Sơn tại Viện Sốt rét – KST –
CT TP Hồ Chí Minh và của Lê Thị Cẩm Ly tại Bệnh viện nhiệt đới TP Hồ Chí
Minh cho thấy các triệu chứng chiếm tỷ lệ cao như ngứa, nổi mề đay từ 83,194,2%, đau đầu từ 25,2-38,9%, rối loạn tiêu hóa từ 30-32%; nghiên cứu của Lê
Đình Vĩnh Phúc (2015) tại Trung tâm Y khoa Medic, TP Hồ Chí Minh: ngứa
chiếm 78,5%, mề đay 50,2%, nhức đầu 30,6%, ăn kém 13,9%, đau bụng 7,7%,
rối loạn tiêu hóa 9,1% [18], [21], [23].
Chẩn đốn
Chẩn đốn xác định dựa trên sự phát hiện ấu trùng Toxocara spp. Trong
mẫu mô xét nghiệm, tuy nhiên sinh thiết lấy mẫu mơ chứa ấu trùng có thể gặp
khó khăn và phức tạp, thậm chí có biến chứng. Vì vậy việc chẩn đoán thường
dựa vào đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm huyết thanh, tuy nhiên chẩn đốn lâm
sàng thường khơng chắc chắn bởi lẽ các triệu chứng của bệnh do Toxocara canis
11
khơng điển hình, với những dấu chứng trên lâm sàng khơng đặc hiệu nên dẫn
đến việc chẩn đốn khơng chính xác hoặc thiếu cơ sở [40]. Các kỹ thuật chẩn
đoán hình ảnh có thể trợ giúp chẩn đốn lâm sàng cho các thể ấu trùng di chuyển
ở mắt hay nội tạng. Siêu âm, CT (Computed tomography) và MRI
(Magneticresonance imaging) giúp kiểm tra các trường hợp liên quan đến ấu
trùng di chuyển nội tạng. Chụp cắt lớp ở mắt, chụp mạch có chất màu
fluorescein, chụp CT và siêu âm mắt có thể có ích trong chẩn đốn thể mắt [46].
Các xét nghiệm huyết thanh miễn dịch như ELISA (Enzyme-Linked
Immuno Sorbent Assay) và Immunoblot thường được áp dụng trên người. Các
xét nghiệm ngưng kết Ouchterlony precipitation và phản ứng khuếch đại chuỗi
DNA như PCR đã phát triển nhưng hiện chưa được sử dụng tại các quốc gia một
cách phổ biến. Test huyết thanh miễn dịch ELISA phát hiện kháng thể IgG rất có
ích trong hỗ trợ chẩn đốn nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo. Sử dụng ELISA
đặc hiệu với kháng nguyên giai đoạn ấu trùng (kháng nguyên tiết – TES) sẽ có
độ đặc hiệu và độ nhạy hơn các test chẩn đoán khác nếu huyết thanh được hấp
phụ lần đầu tiên với kháng nguyên trong huyết thanh giun đũa để loại bỏ những
kháng thể gây ra phản ứng chéo. Trong thập kỷ qua, thử nghiệm immunoblot đã
được phát triển bằng cách sử dụng các protein ES tái tổ hợp, sử dụng kháng thể
đơn dòng cho các protein ES Toxocara giúp khả năng phân biệt nhiễm trùng
hiện tại [50], [66].
Tuy nhiên, sử dụng bộ kít xét nghiệm chỉ cho kết quả huyết thanh dương
tính hay âm tính với giun đũa chó, vì có nhiều trường hợp dương tính nhưng
khơng có triệu chứng lâm sàng. Do đó việc chẩn đốn xác định bệnh ấu trùng
giun đũa chó cần phải kết hợp thêm các triệu chứng lâm sàng. Nghiên cứu của
Nguyễn Văn Chương tại Bình Định và Đăk Lăk xác định bệnh ấu trùng giun đũa
chó với 2 tiêu chí là huyết thanh dương tính kết hợp với ít nhất 1 triệu chứng
lâm sàng, kết quả cho thấy tỷ lệ có triệu chứng lâm sàng trên số ca huyết thanh
dương tính giun đũa chó là 52% (142/273) [6].
12
Ngồi ra, nhiễm ấu trùng giun đũa chó là một trong những nguyên nhân
gây tăng bạch cầu ái toan (BCAT) trong máu ngoại vi và kích thích sự thâm
nhiễm BCAT trong các cơ quan nội tạng. Nghiên cứu của Kwon N.H (2006)
đánh giá sự phổ biến của nhiễm ATGĐCM trong chứng tăng BCAT khơng rõ và
để phân tích hiệu quả của xét nghiệm huyết thanh miễn dịch ELISA. Bệnh nhân
có tăng BCAT máu trong máu ngoại vi (> 500 tế bào/µl hoặc ≥ 10% tổng số
bạch cầu). Trong 103 bệnh nhân có tăng bạch cầu ái toan, có 70 bệnh nhân
(68,0%) huyết thanh dương tính giun đũa chó. Điều này cho thấy tỷ lệ mắc bệnh
này là cao ở những bệnh nhân có tình trạng tăng BCAT và xét nghiệm ELISA
tìm kháng thể kháng giun đũa chó là cần thiết để xác định nguyên nhân [42].
Một số nghiên cứu đánh giá tỷ lệ tăng BCAT trên số ca huyết thanh dương
tính giun đũa chó cho thấy tỷ lệ cũng khác nhau như nghiên cứu của Nguyễn
Văn Chương (2014) tại Bình Định và Đăk Lăk, tỷ lệ BCAT trên 8% là 27,1%;
của Bùi Văn Tuấn (2012) tại Bình Định và Gia Lai là 30,8% hay của Trần Thị
Hồng (2000) tại Củ Chi là 52% [7], [15], [25].
Tuy nhiên, tỷ lệ mắc các loại giun sán gây tăng BCAT có thể khác nhau tùy
từng quần thể và phụ thuộc vào nguồn gốc địa lý, tiền sử phơi nhiễm và các hoạt
động của quần thể đó liên quan đến phơi nhiễm. Mặc dù tăng BCAT khi được
chẩn đoán xét nghiệm là một dấu ấn hữu ích giúp hướng tới một bệnh ký sinh
trùng nhưng cũng có rất nhiều bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng khơng có hiện
tượng tăng BCAT khi xét nghiệm. Nghiên cứu của Lê Thị Cẩm Ly (2015) thu
thập 383 bệnh nhân nghi nhiễm ấu trùng giun đũa chó tại Bệnh viện Nhiệt đới
Tp. Hồ Chí Minh. Số ca có huyết thanh dương tính giun đũa chó là 190 (49,7%),
tuy nhiên khi so sánh số lượng BCAT trung bình cho thấy ở nhóm có huyết
thanh dương tính là 824,6 tế bào/ml và nhóm huyết thanh âm tính là 807,5 tế
bào/ml, sự khác biệt giữa 2 nhóm khơng có ý nghĩa thống kê [18].
* Định nghĩa trường hợp bệnh ATGĐCM Theo tài liệu “Định nghĩa trường
hợp bệnh truyền nhiễm”, ban hành kèmtheo Quyết định số 4283/QĐ-BYT ngày
8/8/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế:
13
- Trường hợp bệnh nghi ngờ:Là trường hợp có các triệu chứng sau:
+ Ngứa, nổi mẩn;
+ Đau đầu, đau bụng, khó tiêu;
+ Đau nhức mỏi, tê bì;
+ Sốt, thở khị khè;
+ Có thể kèm theo một hoặc các triệu chứng sau: gan to, viêm phổi, đau
bụng mãn tính, rối loạn thần kinh khu trú, tổn thương ở mắt, giảm thị lực, viêm
mắt, tổn thương võng mạc
- Trường hợp bệnh có thể: Không áp dụng
- Trường hợp bệnh xác định: Là trường hợp bệnh nghi ngờ và tìm thấy ấu
trùng giun đũa chó, mèo hoặc xác định được kháng thể kháng ấu trùng giun đũa
chó, mèo bằng xét nghiệm ELISA hoặc phát hiện đoạn gen đặc hiệu của ấu trùng
giun đũa chó, mèo bằng kỹ thuật sinh học phân tử [3].
Điều trị
Các nhà nghiên cứu lâm sàng đều thống nhất là khơng cần điều trị cho
những trường hợp chỉ có huyết thanh dương tính giun đũa chó mà khơng có triệu
chứng lâm sàng. Điều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó chỉ được tiến hành khi có
kết quả xét nghiệm huyết thanh dương tính kết hợp với triệu chứng lâm sàng ở
các thể thông thường, thể nội tạng và thể ở mắt [6], [23]. Mặc dù kháng thể
kháng IgG có thể tồn tại trong cơ thể người từ 6 tháng đến 1 năm, thậm chí có
trường hợp kéo dài đến 2 năm, nhưng theo một số tác giả cho rằng khi ấu trùng
giun đũa chó lưu hành trong máu nếu khơng ký sinh ở tổ chức thì sẽ chết và bị
đào thải, kháng thể sẽ giảm dần từ 6 tháng đến 1 năm (trong trường hợp không
tái nhiễm) và những trường hợp ấu trùng giun đũa chó ký sinh ở tổ chức (có gây
triệu chứng lâmsàng), khi điều trị bằng albendazol liều 15 mg/kg cân nặng trong
21 ngày, tỷ lệ kháng thể giảm sau 6 tháng là 78,6% và 88% [6], [23].
Các thuốc chống giun sán có thể sử dụng điều trị hội chứng ấu trùng di
chuyển nội tạng. Điều trị bằng các loại thuốc này có thể dẫn đến các phản ứng
14
quá mẫn nghiêm trọng gây ra bởi ấu trùng chết, do đó các thuốc chống viêm
nhưcorticosteroids được chỉ định đồng thời trong các trường hợp bệnh đặc biệt.
Điều trị bệnh lý ở mắt có thể can thiệp phẫu thuật, áp lạnh laser hoặc thuốc giảm
tổn thương mắt [59].
Hiện tại có rất nhiều loại thuốc trên thị trường có hiệu quả với bệnh ấu
trùng giun đũa chó này, song mỗi loại thuốc có cơ chế tác dụng riêng và có
những tác dụng ngoại ý nhất định, phần lớn liệu trình điều trị thuốc nào cũng dài
ngày.
Dưới đây là một số thuốc có hiệu quả và đã được nghiên cứu:
Thiabendazol dùng liều 25mg/kg cân nặng/ngày [49] và 50mg/kg cân
nặng/ngày trong 3 đến 7 ngày, hiệu quả cải thiện về lâm sàng 50% và 53%
tương ứng. Tác dụng phụ gồm chóng mặt, buồn nơn và ói mửa chiếm 50% và
60%.
Mebendazol liều 20-25mg/kg cân nặng/ngày trong 3 tuần, hiệu quả đạt
70%cải thiện lâm sàng. Tác dụng ngoại ý gồm chóng mặt, buồn nơn, đau bụng
chiếm17% [49].
Sử dụng albendazol điều trị liều dài ngày cũng đã được đề nghị như nghiên
cứu của Hombu. A (2017) tại Nhật, điều trị 246 ca với liều albendazol 1015mg/kg cân nặng trong 4 tuần cho hiệu quả khỏi bệnh là 78%, tác dụng phụ là
15% nhưng mức độ nhẹ khơng cần phải can thiệp [39]. Vì vậy albendazole hiện
nay đang là thuốc được lựa chọn ưu tiên để điều trị do tác dụng ngoại ý rất thấp
và thuốc sẵn có tại khắp nơi trên thế giới.
Tại Việt Nam, theo “Cẩm nang phòng chống bệnh truyền nhiễm” của Bộ
Ytế (2009), có hướng dẫn điều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo bằng
albendazol với liệu trình 3 đến 4 tuần. Một số nghiên cứu về điều trị như của
Lương Trường Sơn tại Phòng khám Viện Sốt rét – KST – CT thành phố Hồ Chí
Minh với phác đồ albendazol liệu trình 21 ngày cũng cho kết quả khả quan,
15
với73% bệnh nhân hết ngứa, 92% hết mề đay và 88% xét nghiệm lại ELISA âm
tính [23].
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương tại khu vực miền Trung với
albendazole liều 15mg/kg cân nặng liệu trình 14 ngày đối với cộng đồng và
21ngày với bệnh nhân tại cơ sở điều trị cho thấy sau 6 tháng, tỷ lệ khỏi tại cộng
đồng là 71,7%, tại cơ sở điều trị là 86,3%. Tác dụng ngoại ý của thuốc điều trị
tại cộng đồng và cơ sở điều trị đều thấp. Một số triệu chứng do tác dụng ngoại ý
của thuốc như buồn nôn 3,1-3,5%; chán ăn 2,7-5,3%; đau đầu 4,4-5,3%; dị ứng
da 2,7-3,8%; tức ngực 0,9-3,1%; đau bụng 2,7-3,1%. Tác dụng ngoại ý của
thuốc thường diễn ra sau 2 đến 3 ngày đầu điều trị, sau đó thì giảm dần, thơng
thường sau một tuần sẽ hết [6].
1.2. Một số nghiên cứu vể tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó trên thế giới và
tại Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo (ATGĐCM) xuất hiện khắp nơi trên thế
giới. Các nghiên cứu tại một số châu lục cho thấy những nước vùng nhiệt đới có
tỷ lệ nhiễm cao hơn. Nhiễm ấu trùng giun đũa chó phân bố rộng, từ cực Nam
bán cầu cho đến Nam Mỹ, vùng Caribê, Châu Phi, Trung Đông, Nam Á và Đông
Nam Á [28].
Tại Châu Âu, nghiên cứu của Stensvold (2009) xét nghiệm huyết thanh với
3.247 người dân tại Đan Mạch, cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính là 2,4%
[63]. Nghiên cứu của Dogan (2007) bằng cách chọn ngẫu nhiên 430 trẻ em vùng
nông thôn và 141 trẻ em vùng thành thị vùng đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả cho
thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính chung cả hai nhóm là 12,9%, trong đó vùng
nơng thơn là 16,9% và vùng thành thị là 0,7% (có sự khác biệt giữa hai nhóm
với p < 0,01) [34]. Tại Ba Lan, tổng hợp các nghiên cứu từ năm 1994 đến 2005,
xét nghiệm huyết thanh 18.367 người nghi ngờ bị nhiễm ấu trùng giun đũa chó,
kết quả cho thấy 16,6-75,6% dương tính với giun đũa chó. Thống kê từ
năm1978 đến năm 2009, có tất cả 1.022 trường hợp bệnh [29].
16
Tại Mỹ, tỷ lệ huyết thanh dương tính theo tổng hợp của Woodhall (2014)
cho thấy cũng rất cao (13,9%) và ước tính có khoảng 1,3-2,8 triệu người bị
nhiễm. Tác giả cũng chỉ ra rằng thậm chí đối với quốc gia giàu nhất trên thế giới
vẫn có thể bị nhiễm cao. Bệnh ATGĐCM cùng với các bệnh giun sán khác như
giun lươn, giun đũa, ấu trùng sán dây lợn được công nhận là bệnh nhiệt đới bị
lãng quên nhưng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người [65].
Tác giả Lee phân tích tổng hợp 18 bài báo về thực trạng nhiễm Toxocara
spp. tại khu vực Bắc Mỹ, ước tính mức độ nhiễm dao động từ 0,6% ở cộng đồng
người Inuit Canada đến 30,8% ở trẻ em bị hen suyễn ở Mexico Các yếu tố nguy
cơ gồm: chủng tộc người Mỹ gốc Phi, nghèo đói, giới tính nam và sở hữu vật
nuôi hoặc ô nhiễm môi trường bởi phân động vật. Tại Mexico, một số nghiên
cứu cho thấy sự gia tăng tỷ lệ nhiễm Toxocara spp. có liên quan đến một số
nhóm nguy cơ cao bao gồm người thu gom rác, trẻ em mắc bệnh hen và bệnh
nhân tâm thần. Tác giả cho rằng gánh nặng bệnh tật là rất lớn nhưng cần những
nghiên cứu sâu hơn để xác định gánh nặng thực sự của bệnh ở Bắc Mỹ [44].
Tại Nam Mỹ, nghiên cứu của Rondan (2010) tại thành phố Amazonian của
Peru từ tháng 3 đến tháng 8/2008, sử dụng Toxocara ELISA-IgG test khảo sát
300 mẫu, kết quả cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính là 35,6%. Có đến 95,3%
số huyết thanh dương tính có các triệu chứng lâm sàng như đau đầu (66,3%),
đau bụng (54,2%), ngứa (40,29%), có triệu chứng ở mắt (36,5%) [57]. Một
nghiên cứu tại thành phố Sorocala, bang Sao Paulo, Brazil, xét nghiệm 180 em
học sinh cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính chung là 38,3%, trong đó số trẻ
em ở ngoại ơ nhiễm 47,4%, số trẻ em ở trung tâm thành phố nhiễm 11,1% [31].
Ở Châu Phi, điều kiện khí hậu nhiệt đới nên thuận lợi cho sự phát triển của
mầm bệnh ở ngoại cảnh nên nhiễm bệnh ấu trùng giun đũa chó có thể cao hơn
các vùng khác. Nghiên cứu của Liao (2010) tại Swaziland trên 92 trẻ em từ 3
đến 12 tuổi ở một vùng nông thôn cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính là
44,6%, khơng có sự khác biệt nhiễm giữa nam (46,9%) và nữ (41,8%) [45].
Trong một nghiên cứu tại vùng miền Trung của Ghana với 566 trẻ em từ 1 đến
17
15 tuổi, tỷ lệ huyết thanh dương tính là 53,5%. Nghiên cứu này cho thấy trẻ có
tiền sử tiếp xúc đất, nghịch đất, bồng bế chó mèo cưng, khơng rửa tay trước khi
ăn có tỷ lệ huyết thanh dương tính cao hơn những trẻ khơng có thói quen này, sự
khác biệt có ý nghĩathơng kê (p<0,05) [43].
Tại khu vực Châu Á, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính
cũng khác nhau tùy theo từng vùng.
Hình 1.2. Bản đồ phân bố huyết thanh dương tính giun đũa chó/mèo trên thế
giới. Nguồn: />1.2.2. Tại Việt Nam
Từ năm 2000 đến nay đã có một số nghiên cứu về tỷ lệ huyết thanh dương
tính giun đũa chó/mèo ở cộng đồng cho thấy tỷ lệ này cũng rất khác nhau theo
từng vùng. Ở phía Bắc, theo điều tra của Phạm Thị Thu Hoài, năm 2014 trên trẻ
em học sinh tiểu học tại xã Yên Lạc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, tỷ lệ
huyết thanh dương tính rất cao (74,9%) [14]. Điều tra của Đỗ Trung Dũng
(2016) tiến hành tại 2 xã của huyện Tả Thanh Oai, thành phố Hà Nội và 2 xã của
huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên năm 2014-2015 bằng sử dụng kỹ thuật ELISA
phát hiện kháng thể kháng ấu trùng giun đũa chó trong huyết thanh đã cho kết