Tải bản đầy đủ (.pdf) (158 trang)

Đánh giá và một số giải pháp đảm bảo tăng trưởng bền vững cuả ngành dệt may việt nam giai đoạn 2007 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.14 MB, 158 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
------------------------------------

BÙI MINH SƠN

BÙI MINH SƠN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
ĐẢM BẢO TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG
CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2007 - 2015

2005-2007
HÀ NỘI – 2007
HÀ NỘI
2007


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
------------------------------------

BÙI MINH SƠN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ


CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
ĐẢM BẢO TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG
CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2007 - 2015

Hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN NGHIẾN

HÀ NỘI – 2007


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU:
CHƯƠNG I: TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG - YÉU TỐ QUYẾT ĐỊNH SỰ PHÁT

Trang
1B

1
4

TRIỂN LÂU DÀI
1.1. Khái niệm và quan điểm về tăng trưởng bền vững

4

1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng

4


1.1.2. Tính bền vững về tăng trưởng của ngành

6

1.1.3. Hệ thống tiêu chí đánh giá tính bền vững của tăng trưởng

7

1.1.3.1. Các tiêu chí đánh giá về số lượng

7

1.1.3.2. Các tiêu chí đánh giá về chất lượng

9

1.2. Ý nghĩa của việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững ngành Dệt May

10

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng bền vững

13

1.3.1. Các nhân tố kinh tế

13

1.3.2. Các nhân tố phi kinh tế


19

1.4. Những lý thuyết tiêu biểu về tăng trưởng

19

1.5. Sự cần thiết phải thúc đẩy tăng trưởng bền vững ngành Dệt May

20

1.6. Kinh nghiệm các nước trong việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững ngành Dệt May

22

1.6.1. Kinh nghiệm của Đài Loan

22

1.6.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

23

1.6.3. Kinh nghiệm của Nhật Bản

24

1.6.4. Kinh nghiệm của Trung Quốc

25


1.6.5. Những bài học kinh nghiệm của các nước trong khu vực rút ra cho ngành Dệt May Việt

26

Nam
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ TĂNG TRƯỞNG CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT

29

NAM GIAI ĐOẠN 2002-2006
2.1. Tình hình tăng trưởng của ngành Dệt May Việt Nam giai đoạn 2002-2006

29

2.2. Phân tích thực trạng tăng trưởng của ngành Dệt May Việt Nam giai đoạn 2002-2006

40

2.3. Phân tích các yếu tố tác động tới tăng trưởng bền vững của ngành Dệt May Việt

62

Nam giai đoạn 2002-2006
2.3.1. Thực trạng chất lượng, số lượng nguồn nhân lực ( lao động) của ngành Dệt May

62


2.3.2. Thực trạng chất lượng nguồn nguyên phụ liệu, vật tư đầu vào cho sản xuất của ngành


66

Dệt May
2.3.3 Thực trạng đầu tư máy móc thiết bị, nhà xưởng,trình độ cơng nghệ của ngành Dệt May

68

2.3.4. Trình độ quản lý

71

2.3.5. Sản phẩm và dịch vụ

73

2.3.6. Khách hàng

75

2.3.7. Thương hiệu

76

2.3.8. Các chính sách của Nhà nước và hoạt động của các cơ quan có liên quan

78

2.3.9. Các yếu tố khác


79

2.3.10. Kết luận đánh giá về hiệu quả đạt được do tăng trưởng bền vững

80

2.4. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế về tăng trưởng của ngành Dệt May Việt

81

Nam giai đoạn 2002-2006.
2.4.1. Những hạn chế về tăng trưởng của ngành Dệt May

81

2.4.2. Nguyên nhân của những hạn chế về tăng trưởng

93

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG CUẢ NGÀNH

95

DỆT MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2015
3.1. Định hướng tăng trưởng ngành Dệt May Việt Nam giai đoạn 2007-2015

95

3.1.1. Những mục tiêu tăng trưởng của ngành Dệt May giai đoạn 2007-2015


95

3.1.2. Quan điểm trong việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững của ngành Dệt May Việt Nam

98

3.1.3. Những cơ hội và thách thức đặt ra cho ngành Dệt May Việt Nam giai đoạn 2007-2015

101

3.2. Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng bền vững của ngành Dệt May Việt Nam (2007-2015)

110

3.2.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

110

3.2.2. Chủ động nguồn nguyên phụ liệu, vật tư đầu vào cho sản xuất

114

3.2.3. Đẩy mạnh đầu tư

115

3. 2.4. Tăng cường đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực công nghệ

119


3.2.5. Tăng cường và nâng cao trình độ cơng tác quản lý

121

3.2.6. Đẩy mạnh các hoạt động Marketing

123

3.3.Kiến nghị

129

KẾT LUẬN

135

TÀI LIỆU THAM KHẢO

136

PHỤ LỤC

137


DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Bảng

Tên bảng


Trang
0B

Bảng 2.1

Giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam

30

Bảng 2.2

Thuế nhập khẩu hàng dệt may vào Mỹ

32

Bảng 2.3

Cơ cấu doanh nghiệp trong công nghiệp dệt may năm 2005

35

Bảng 2.4

Năng lực sản xuất ngành Dệt May Việt Nam

36

Bảng 2.5

Sản lượng một số sản phẩm dệt may chủ yếu


38

Bảng 2.6

Kết quả xuất khẩu sản phẩm may so với xuất khẩu dệt may và xuất

42

khẩu của cả nước
Bảng 2.7

Một số chỉ tiêu hiệu quả của các doanh nghiệp dệt may

46

Bảng 2.8

Số lượng doanh nghiệp dệt may phân theo khu vực

49

Bảng 2.9

Kết cấu giá gia công (bình quân cho các mặt hàng)

54

Bảng 2.10 Bảng tổng hợp điểm kết quả đánh giá


61

Bảng 2.11 Tiền công lao động trong ngành Dệt May của một số nước

63

Bảng 2.12 Số doanh nghiệp dệt may phân theo quy mô lao động

81

Bảng 2.13 Số doanh nghiệp dệt may phân theo quy mô nguồn vốn

82

Bảng 2.14 Số doanh nghiệp dệt may sản xuất kinh doanh có lãi hoặc lỗ

84

bảng 2.15 Lợi thế so sánh giữa các nước ASEAN

89

Bảng 2.16 Số doanh nghiệp dệt may đã đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và

91

kinh phí cơng đồn cho người lao động
Bảng 3.1

Các chỉ tiêu phát triển ngành Dệt May Việt Nam đến 2010


96

Bảng 3.2

So sánh quy mô ngành Dệt May Việt Nam với các nước trong khu vực

106

Bảng 3.3

Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may các nước

108


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ tắt
CNH-HĐH

Nội dung
Cơng nghiệp hố - Hiện đại hố

CSCN

Chính sách cơng nghiệp

DNCN

Doanh nghiệp cơng nghiệp


DN

Doanh nghiệp

NICs

Các nước cơng nghiệp mới

FOB

Hình thức mua ngun liệu xuất khẩu sản phẩm

MFN

Quy chế tối huệ quốc

ITCB

Hiệp hội Quốc tế các nước xuất khẩu hàng dệt may

TCT

Tổng công ty

VITAS

Hiệp hội Dệt - May Việt Nam



1

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Cơng nghiệp dệt may Việt Nam thời gian qua đã đạt được tốc độ tăng
trưởng cao và liên tục. Ngành Dệt May đã thực sự đóng vai trị đầu tầu trong
nền kinh tế, với tỷ trọng đóng góp trong GDP, tốc độ tăng trưởng và xuất
khẩu cao. Tuy đã đạt được nhiều sự vượt trội như vậy, nhưng xét về tăng
trưởng ngành Dệt May cũng vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập như: Tỷ trọng
gia công chiếm 70 - 80%, kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng lượng ngoại tệ
ngành Dệt May mang lại không nhiều ( chỉ 30% tổng giá trị xuất khẩu), tăng
trưởng của giá trị gia tăng luôn thấp hơn tốc độ tăng của giá trị sản xuất, các
ngành phụ liệu và nguồn nguyên liệu cho ngành Dệt May phải phụ thuộc vào
nhập ngoại, phát triển chưa ổn định và thiếu vững chắc, tốc độ đổi mới công
nghệ chậm, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp. Do vậy việc duy trì tăng
trưởng đang là vấn đề cấp bách đặt ra cần quan tâm giải quyết nhằm đảm bảo
sự phát triển bền vững của ngành Dệt May và cả nền kinh tế.
Có thể nói vấn đề tăng trưởng bền vững , ý nghĩa của việc duy trì tăng
trưởng bền vững, các yếu tố tác động đến tăng trưởng bền vững và giải pháp
để thúc đẩy tăng trưởng bền vững của ngành Dệt May nói riêng và các ngành
cơng nghiệp nói chung đã và đang được bàn luận khá nhiều trong thời gian
gần đây, nhưng chưa có một cơng trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này một
cách đầy đủ và toàn diện về vấn đề tăng trưởng bền vững của ngành, đặc biệt
là trong ngành Dệt May. Vì vậy tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài " Đánh
giá và một số giải pháp đảm bảo tăng trưởng bền vững của ngành Dệt May
Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015". Đây là đề tài thực sự xuất phát từ yêu cầu
thực tiễn của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề tài này nhằm đạt những
mục tiêu cơ bản sau:



2

 Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng bền vững và các
nhân tố tác động đến tăng trưởng bền vững của ngành.
 Phân tích thực trạng tăng trưởng của ngành Dệt May Việt Nam giai
đoạn 2002 - 2006. Phân tích thực trạng các nhân tố tác động đến tăng trưởng
của ngành Dệt May hiện nay, đánh giá những hạn chế và nguyên nhân của các
hạn chế về tăng trưởng hiện nay của ngành Dệt May Việt Nam.
Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để đề xuất một số giải pháp nhằm
thúc đẩy tăng trưởng bền vững của ngành Dệt May Việt Nam trong giai đoạn
2007 - 2015.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Vấn đề tăng trưởng bền vững mới được bàn luận đến trong mấy năm
gần đây, đồng thời là vấn đề mới và phức tạp. Do vậy đề tài này chủ yếu tập
trung vào nghiên cứu tăng trưởng của một ngành kinh doanh là ngành Dệt
May và đi sâu vào các nhân tố tác động đến tăng trưởng bền vững của ngành
Dệt May giai đoạn 2002 - 2006.
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến tăng trưởng
của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, các doanh nghiệp dệt may Việt nam
rất đa dạng về qui mô và loại hình sở hữu doanh nghiệp, hơn nữa số liệu
thống kê về tất cả các cơ sở tham gia vào dệt may thường không đầy đủ do
vậy đề tài sẽ trọng tâm vào các doanh nghiệp dệt may của Nhà nước và các
doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng hệ thống phương pháp phân tích thống kê, phương pháp so
sánh đối chiếu để phân tích, xin ý kiến của các chuyên gia, tổng hợp và đánh
giá trong quá trình thực hiện đề tài.



3

5. Ứng dụng kết quả nghiên cứu.
Cơng trình này là cơ sở tài liệu đóng góp cho việc hoạch định chiến
lược và chính sách phát triển ngành Dệt May trong giai đoạn 2007-2015. Kết
quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chiến lược và chính
sách phát triển của các ngành công nghiệp, công nghiệp địa phương và của
Tập đoàn Dệt May Việt Nam.
6. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luật, đề tài được chia thành ba chương với
kết cấu như sau:
Chương I: TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG - YÉU TỐ QUYẾT ĐỊNH SỰ
PHÁT TRIỂN LÂU DÀI.

Chương II: THỰC TRẠNG VỀ TĂNG TRƯỞNG CỦA NGÀNH DỆT
MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-2006.

Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO TĂNG TRƯỞNG BỀN
VỮNG CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2015.

Để thực hiện đề tài này, một số mặt kế thừa những kết quả nghiên cứu
của nhóm nghiên cứu qua các năm trước đây, và số liệu từ điều tra doanh
nghiệp 2002 - 2006 của Tổng cục Thống kê và Tập đoàn Dệt May Việt Nam,
Hiệp hội dệt may, đề tài đã chú trọng thu nhập và phân tích số liệu ở một số
doanh nghiệp dệt may, Tập đoàn Dệt May.
Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hợp tác của các thầy cô giáo, các nhà
quản lý, các cơ quan và doanh nghiệp đã giúp đỡ thực hiện đề tài này.
Do sự hạn chế về nhiều mặt, kết quả đề tài không tránh khỏi những
thiếu sót, tơi mong muốn nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo, của đồng
nghiệp để nâng cao hơn chất lượng của đề tài.

Trân trọng!


4

CHƯƠNG I
TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG
YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH SỰ PHÁT TRIỂN LÂU DÀI.
1.1 . Khái niệm và quan điểm về tăng trưởng bền vững.
1.1.1. Khái niệm tăng trưởng.
Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự gia tăng thực tế về
qui mơ giá trị tổng sản phẩm hàng hố và dịch vụ của nền kinh tế trong một
thời kỳ nhất định ( thường là một năm). Qua đó có thể thấy Sự tăng trưởng
của một ngành công nghiệp sẽ được biểu hiện ở sự tăng thêm về sản lượng
và doanh thu hàng năm do ngành cơng nghiệp đó tạo ra. Đó là kết quả của sự
gia tăng tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của một ngành công nghiệp.
Do vậy để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế của một ngành, người ta dùng mức
tăng thêm của tổng sản lượng ngành, giá trị sản xuất công nghiệp của thời kỳ
sau so với kỳ trước. Như vậy tăng trưởng của một ngành được xem xét trên
hai mặt biểu hiện: đó là mức tăng tuyệt đối hoặc tỷ lệ % hàng năm và mức
tăng bình quân trong từng gian đoạn của ngành đó. Tăng trưởng cịn được
đánh giá qua tốc độ tăng trưởng. Đó là sự tăng thêm sản lượng nhanh hay
chậm so với thời điểm gốc. Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm
liên tục trong một giai đoạn nhất định.
Mục tiêu của các ngành công nghiệp đều hướng tới sự tăng trưởng và
phát triển. Tăng trưởng là sự cần thiết. Nếu phải lựa chọn giữa tăng trưởng và
khơng tăng trưởng, thì tất cả các nước, các ngành sản xuất và doanh nghiệp
đều muốn có sự tăng trưởng. Một điều nghịch lý là những năm gần đây, ở
một số nước, ngành và thậm chí doanh nghiệp lại nẩy sinh vấn đề là phải tìm
cách làm chậm lại sự tăng trưởng, phải tìm cách kìm lại tốc độ tăng trưởng

để đảm bảo tồn tại và phát triển bền vững trong tương lai. Nhất là khi tốc độ


5

tăng trưởng nhanh, song chất lượng tăng trưởng chưa cao, chưa vững chắc,
chưa đủ cơ sở để đảm cho sự phát triển ổn định và bền vững trong tương lai.
Tăng trưởng không được coi đồng nghĩa với sự phát triển. Vì tăng
trưởng mới chỉ là điều kiện đủ cho sự phát triển của một ngành hay doanh
nghiệp. Một khi tăng trưởng bền vững khơng được đảm bảo thì sự tăng
trưởng trong hiện tại không đủ cơ sở cho sự tăng trưởng của những giai đoạn
tiếp theo, và càng không thể đảm bảo cho một ngành, một doanh nghiệp phát
triển ổn định lâu dài.
Quan điểm phổ biến hiện nay của các ngành là nhấn mạnh tập trung
vào tăng trưởng nhanh. Thực tế cho thấy nhiều ngành và nền kinh tế đã đạt
được tốc độ tăng trưởng cao, không ngừng mở rộng qui mô sản xuất và tăng
doanh thu đã đạt được nhiều thành tích và tạo thuận lợi cho việc đổi mới cơng
nghệ, song cũng cịn có những hạn chế nhất định, Có thể thấy rằng sự tăng
trưởng quá mức, qui mơ mở rộng q nhanh vì những động cơ có lợi ích cục
bộ trước mắt đã đưa đến sự khai thác bừa bãi, khiến cho tài nguyên bị kiệt
quệ và môi trường sinh thái bị huỷ hoại nặng nề, hơn nữa nó cịn đẩy một
ngành rơi vào tình trạng cung vượt quá cầu, cạnh tranh ép giá nhau xuống quá
thấp làm cho ngành rơi vào suy thoái hoặc bế tắc. Sự tăng trưởng quá mức và
quá nhanh của một ngành thường dẫn đến những mất cân đối trong nội bộ
ngành và nền kinh tế, từ đó sẽ có những tác động cả tích cực và tiêu cực tới
ngành sản xuất đó và tác động đến các ngành khác.
Chính vì vậy mà những năm gần đây người ta thường bàn luận nhiều
đến tốc độ tăng trưởng và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế và của một
ngành.
Tính bền vững của tăng trưởng là đảm bảo sự tăng trưởng về qui mô

của ngành công nghiệp đáp ứng nhu cầu của thị trường và nền kinh tế ngày
càng cao, đảm bảo cho ngành sản xuất phát triển ổn định và lâu dài. Tăng


6

trưởng bền vững phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố, nguồn lực đầu vào
trong sản xuất kinh doanh. Tăng trưởng bền vững đảm bảo sự tăng thêm về
sản lượng và giá trị tăng ngày càng cao, tạo sự phát triển ổn định của ngành,
đảm bảo sự phát triển lâu dài. Tăng trưởng bền vững của ngành đảm bảo sự
cân bằng về cấu trúc ngành, giữ cho ngành phát triển ổn định và hạn chế rơi
vào suy thoái, hay thậm chí bị triệt tiêu.
1.1.2. Tính bền vững về tăng trưởng của ngành.
Chất lượng của ngành phải phù hợp với yêu cầu đặt ra của từng giai
đoạn phát triển của ngành đó. Trong nhiều giai đoạn phát triển của ngành thì
tăng trưởng kinh tế về số lượng là rất quan trọng, nhưng duy trì tăng trưởng
bền vững cịn quan trọng hơn nhiều. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy,
để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong dài hạn không chỉ phụ thuộc và tốc độ
tăng trưởng cao trong ngắn hạn, mà phụ thuộc phần lớn vào sự bền vững của
sự tăng trưởng. Tính bền vững của sự tăng trưởng của một ngành cơng nghiệp
phụ thuộc vào chất lượng và trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của ngành
đó, vào sự đầu tư và kết hợp hợp lý giữa các yếu tố đầu vào để đảm bảo sự
tăng trưởng ổn định và cân đối, trình độ quản lý ngành và hiệu quả kinh
doanh của các ngành sản xuất đó.
Tăng trưởng bền vững không những đảm bảo đáp ứng nhu cầu gia tăng
của thị trường mà còn thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu thị trường bằng
những sản phẩm và dịch vụ đa dạng phong phú và có chất lượng cao, ổn định.
Tăng trưởng bền vững của một ngành được thể hiện thông qua chất
lượng và tỷ trọng mức đóng góp vào tăng trưởng của ba yếu tố, mức tăng của
giá trị gia tăng so với tốc độ tăng sản lượng và giá trị sản xuất công nghiệp,

hiệu quả của đầu tư trong ngành, cơ cấu sản phẩm, mức đa dạng hoá sản
phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường ngành và các yếu tố năng suất nhân tố
tổng hợp của ngành.


7

Có thể nói vấn đề tăng trưởng bền vững, tiêu chí đánh giá sự bền vững
của tăng trưởng và giải pháp để duy trì tăng trưởng bền vững của ngành may
mặc nói riêng và các ngành cơng nghiệp nói chung đã và đang được bàn luận
khá nhiều trong thời gian gần đây và còn nhiều điểm đang tranh cãi. Để giúp
cho việc đưa ra các giải pháp duy trì tăng trưởng bền vững chúng ta xem xét
các yếu tố tác động đến sự bền vững của tăng trưởng.
1.1.3. Hệ thống tiêu chí đánh giá tính bền vững của tăng trưởng.
Để đánh giá tính bền vững tăng trưởng của một ngành kinh tế - kỹ
thuật, đặc biệt là ngành Dệt May, có thể xem xét một số tiêu chí định tính và
định lượng, cả nhóm tiêu chí phản ánh sự thay đổi về số lượng và nhóm tiêu
chí đánh giá về chất lượng.
1.1.3.1. Các tiêu chí đánh giá về số lượng.
Tăng trưởng bền vững của một số ngành được đánh giá qua các chỉ tiêu
về tốc độ gia tăng quy mô sản xuất, năng lực sản xuất, khả năng đáp ứng nhu
cầu thị trường, sự gia tăng số lượng sản phẩm, chủng loại mặt hàng, tổng sản
lượng ngành, giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu và khả năng
sử dụng lao động, qui mô hợp tác quốc tế.
Đánh giá sự tăng trưởng kinh tế của một ngành, người ta dùng mức
tăng thêm của tổng sản lượng ngành, giá trị sản xuất công nghiệp của thời kỳ
sau so với kỳ trước và so sánh qua các thời kỳ. Như vậy tăng trưởng của một
ngành được xem xét trên hai mặt biểu hiện: Đó là mức tăng tuyệt đối hoặc tỷ
lệ % hàng năm và mức tăng bình quân trong từng giai đoạn của ngành đó.
Tăng trưởng cịn được đánh giá qua tốc độ tăng trưởng. Đó là sự tăng

thêm sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Sự tăng trưởng được so
sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhất định. Tuy nhiên để
đánh giá sự tăng trưởng bền vững người ta còn dùng các chỉ tiêu so sánh tốc
độ tăng trưởng liên tục và ổn định trong một giai đoạn phát triển của ngành.


8

Tính liên tục và ổn định của tốc độ tăng trưởng thể hiện chất lượng của sự
tăng trưởng và tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững, mức độ đóng góp của
giá trị cơng nghiệp trong Tổng giá trị sản phẩm quốc nội.
Tăng trưởng được đánh giá số lượng sản phẩm tăng thêm qua từng thời
kỳ và so sánh với các thời kỳ trước. Để đánh giá tăng trưởng bền vững thường
dùng các tiêu chí đánh giá tốc độ tăng sản lượng sản phẩm các loại và mức
độ đa dạng hoá chủng loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đánh
giá tính bền vững của tăng trưởng qua tính ổn định và sự gia tăng của tốc độ
tăng sản phẩm và cơ cấu các mặt hàng sản phẩm của một ngành kinh tế kỹ
thuật.
Tính bền vững của tăng trưởng còn được đánh giá qua hệ thống tiêu chí
đánh giá chất lượng sản phẩm của ngành đó. Một ngành có tốc độ tăng
trưởng nhanh, qui mơ mở rộng nhưng chất lượng sản phẩm sản xuất ra hoặc
dịch vụ cung cấp ngày phải càng được hoàn thiện, được đổi mới và đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường thì mới đánh giá là ngành đó tăng
trưởng có tính bền vững cao . Nếu một ngành có tốc độ và qui mô tăng nhanh,
nhưng không đảm bảo chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường thì
sự tăng trưởng đó khơng theo lâu dài được và càng khơng đảm bảo phát triển
bền vững.
Tính bền vững của tăng trưởng cịn đựơc đánh giá ở tính cấn đối và cơ
cấu của sự tăng trưởng về qui mô và phạm vi hoạt động. Một ngành có sự
phát triển trên phạm vi rộng và nhiều loại qui mô doanh nghiệp trong ngành,

nhưng cơ cấu các loại doanh nghiệp theo qui mô về lao động, về vốn không
đảm bảo cân đối và cơ cấu hợp lý với sự liên kết chặt chẽ thì sự tăng trưởng
trong những giai đoạn tiếp theo sẽ tất yếu phát sinh những bất cập và không
thể tăng trưởng ổn định và bền vững.


9

1.1.3.2. Các tiêu chí đánh giá về chất lượng.
Bao gồm cả các chỉ tiêu định tính và định lượng. Sự đánh giá về tăng
trưởng bền vững thường được phân tích trên cơ sở tính tốn hiệu quả kinh
doanh như mức gia tăng và mức đóng góp về lợi nhuận, chỉ tiêu năng suất lao
động và mức gia tăng của năng suất lao động, mức tăng thu nhập của người
lao động, mức gia tăng của phần nộp cho ngân sách Nhà nước…Ngồi ra
tăng trưởng bền vững cịn được thể hiện ở sự hợp tác trong nội bộ ngành và
liên ngành.
Người ta thường sử dụng những tiêu chí sau để đánh giá tính bền vững
của tăng trưởng về mặt kinh tế: Sự gia tăng và gia tăng liên tục số lượng các
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả trong một ngành. Hiệu quả kinh doanh
của ngành, thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận, lợi nhuận trên vốn đầu tư, lợi
nhuận trên một lao động, mức đóng góp của lợi nhuận, sự gia tăng liên tục
của giá trị gia tăng của một ngành trong một giai đoạn phát triển nhất định.
Tăng trưởng bền vững về mặt xã hội được đánh giá qua mức độ tham
gia và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong ngành cụ thể qua các
chỉ tiêu sau: Số doanh nghiệp tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
nộp ngân sách Nhà nước, số doanh nghiệp tham gia và có biện pháp giải
quyết và chống gây ô nhiễm môi trường. Một ngành có tỷ lệ tăng trưởng cao
không thể để xẩy ra quá nhiều vụ tranh chấp, kiện cáo, đình cơng và biểu tình
gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp đó và cộng
đồng địa phương.

Đảm bảo tăng trưởng bền vững của ngành cao và ổn định đòi hỏi các
doanh nghiệp trong ngành phải đáp ứng được tốt cả những vấn đề đời sống,
việc làm cho người lao động, trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng địa
phương và Nhà nước.


10

1.2. Ý nghĩa của việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững ngành Dệt
May.
Ngành Dệt May đóng một vai trị quan trọng trong nền kinh tế. Nó là
một trong những ngành truyền thống của nhân dân ta. Từ những công việc
trồng dâu nuôi tằm, xe sợi, dệt vải chủ yếu bằng những cơng cụ thơ sơ, đến
nay chúng ta đã có hẳn một ngành công nghiệp Dệt May. Trải qua bao thăng
trầm của lịch sử, ngành Dệt May Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí then
chốt của mình trong nền kinh tế. Nó đóng vai trị trong giải quyết việc làm,
góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp đang lan tràn hiện nay; thu hút
nguồn vốn lớn, đầu tư phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
đất nước, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đem lại nguồn
thu lớn cho ngân sách Nhà nước. Chính vì vậy việc thúc đẩy tăng trưởng
ngành Dệt May góp phần duy trì sự ổn định và định hướng sự phát triển dài
hạn và bền vững của nhiều ngành và nền kinh tế, tạo điều kiện nâng cao hiệu
quả kinh tế, hỗ trợ các ngành khác phát triển, đảm bảo ổn định kinh tế - chính
trị và đảm bảo phát triển bền vững.
Trước hết, duy trì tăng trưởng ngành Dệt May góp phần ổn định nền
kinh tế quốc dân và ổn định kinh tế của nhiều vùng và khu vực thuộc cụm dệt
may trong cả nước. Tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của các ngành
khác. Tạo nguồn ngoại tệ quan trọng phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Cùng với nhiều ngành cơng nghiệp khác, ngành Dệt May đã có
những đóng góp quan trọng vào xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất

nước. Ngành Dệt May đã vươn lên hàng thứ 2 trong 10 mặt hàng xuất khẩu
có giá trị lớn của đất nước, trong đó, phần đóng góp chủ yếu là từ gia công
xuất khẩu hàng may mặc (chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may) và từ đó đến nay vẫn ln giữ vững ở vị trí này.


11

Thứ hai ngành Dệt May là ngành thu hút nhiều lao động, phần lớn là
lao động phổ thông, do vậy thu hút lao động xã hội, góp phần giải quyết tình
trạng thất nghiệp và tạo sự ổn định chính trị - xã hội.
Thúc đẩy tăng trưởng bền vững góp phần tăng cường mối liên hệ sản
xuất giữa các ngành, tạo điều kiện thúc đẩy các ngành khác phát triển. Đảm
bảo chất lượng các yếu tố đóng góp cho tăng trưởng mà một loạt các ngành
nghề liên quan đã có điều kiện để phát triển, tiêu biểu là 2 ngành cơ khí và
các ngành liên quan đến sản xuất các loại phụ liệu cho ngành Dệt May. Phát
triển các ngành này lại từng bước tạo tiền đề cho ngành Dệt May chủ động
hơn trong xuất khẩu và tiến tới việc xuất khẩu theo hình thức FOB là chủ yếu.
Từ đó lại tạo điều kiện để nâng cao hơn nữa hiệu quả và tính bền vững của
tăng trưởng.
Duy trì tăng trưởng bền vững ngành Dệt May góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế vững chắc. Dệt May cũng là một ngành mũi nhọn của nền kinh tế
Việt Nam trong gia đoạn đổi mới. Tăng trưởng bền vững của ngành Dệt May
có tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế Việt Nam.
Ngành Dệt May phát triển ổn định và có chất lượng cao sẽ kéo theo sự
phát triển của nhiều ngành kinh tế khác. Góp phần tạo cơ hội hấp dẫn để thu
hút đầu tư nước ngoài: Ngoài các hình thức đầu tư thơng thường vào ngành
Dệt May, gia cơng xuất khẩu hàng may mặc cịn tạo điều kiện để thu hút đầu
tư nước ngoài dưới các dạng rất phong phú như do tiên lượng trước được khả
năng thu hồi vốn và tìm kiếm lợi nhuận, nên bên nước ngồi đã đầu tư trước

về thiết bị máy móc cho doanh nghiệp Việt Nam, rồi trừ dần vào giá gia cơng
trong giai đoạn tiếp theo. Nhờ hình thức đầu tư trả dần này mà nhiều doanh
nghiệp may của Việt Nam đã từng bước hiện đại hoá được cơ sở vật chất của
mình, từ đó cũng có điều kiện để phát triển gia công xuất khẩu nhiều hơn.


12

Thúc đẩy tăng trưởng bền vững ngành Dệt May góp phần thoả mãn tốt
hơn nhu cầu người tiêu dùng và xuất khẩu, đóng góp nguồn thu ngân sách
ngày càng tăng và ổn định. Đảm bảo kinh tế phát triển bền vững, nền kinh tế
nước ta đang trên đà phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng khá hơn,
nhu cầu của người dân bây giờ khơng cịn chỉ là ăn no mà còn phải ăn ngon,
mặc đẹp. Nắm bắt được điều này ngành Dệt May Việt Nam đã và đang nỗ lực
đổi mới, nhằm đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng,
mặc dù hàng ngoại trên thị trường nội địa vẫn còn nhiều, nhưng hàng dệt may
Việt Nam dần khẳng định được vị trí của mình trên thị trường Quốc tế và
trong nước.
Trong xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, mỗi quốc gia
đều tìm thấy những lợi thế so sánh của mình và trên trường Quốc tế, triệt để
khai thác những ưu thế đó. Với những đặc trưng của mình, ngành Dệt May
Việt Nam đã đóng vai trị tích cực, đóng góp phần đáng kể vào quá trình tăng
trưởng kinh tế và mở rộng mối quan hệ thương mại của Việt Nam với khu
vực và thế giới.
Với khuynh hướng phát triển đúng đắn của ngành Dệt May, tốc độ tăng
trưởng của ngành luôn giữ ở mức cao và giá trị xuất khẩu tăng nhanh và khá
ổn định. Xuất khẩu chiểm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước và ngành xuất khẩu lớn thứ hai, đóng góp lượng ngoại tệ đáng kể cho
ngân sách quốc gia, tạo đà cho sự nghiệp Cơng nghiệp hố - Hiện đại hố
(CNH-HĐH) đất nước. Như vậy có thể khẳng định rằng thúc đẩy tăng trưởng

ngành Dệt May Việt Nam có một vai trị lớn đối với sự phát triển ổn định và
bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay.


13

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng bền vững.
Sự gia tăng về sản lượng và giá trị sản phẩm trong nhiều ngành đã cho
thấy sự tăng trưởng được tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình
sản xuất kinh doanh là quá trình các nguồn lực đầu vào được kết hợp theo
những cách thức khác nhau nhằm tạo ra sản phẩm (đầu ra) có ích cho nhu cầu
của thị trường và xã hội, tuy nhiên sự tăng trưởng của các ngành ở mỗi nước
một khác. Như vậy rõ ràng giữa việc sử dụng các nguồn lực đầu vào có quan
hệ nhân quả tới sản lượng đầu ra. Nói cách khác là sự tăng trưởng hay sự gia
tăng sản lượng thể hiện cách thức sử dụng các yếu tố đầu vào. Vấn đề thực tế
cho các ngành công nghiệp hiện nay là các yếu tố đầu vào và vai trò của từng
loại đã tác động như thế nào đến sự tăng trưởng của ngành. Các lý thuyết và
các mơ hình tăng trưởng đang tìm cách lý giải cho vấn đề này, mặc dù vẫn
còn nhiều tranh cãi song thực tế người ta đã phân chia các nhân tố có ảnh
hưởng tới sự tăng trưởng và tính bền vững của tăng trưởng thành hai loại
nhân tố, đó là: các nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế.
1.3.1 Các nhân tố kinh tế
Các nhân tố kinh tế bao gồm các luồng yếu tố đầu vào mà sự biến đổi
của nó trực tiếp làm biến đổi sản lượng đầu ra của một ngành sản xuất. Tuy
nhiên tăng trưởng và tăng trưởng bền vững còn tuỳ thuộc vào đặc thù riêng
của từng ngành, các giai đoạn phát triển của từng ngành.
Khi đánh giá tính bền vững tăng trưởng của ngành còn phải xem xét
các nhân tố nào là giới hạn của sự gia tăng sản lượng. Giới hạn của tăng
trưởng là do cầu hay cung, biến số nào đóng vai trò giới hạn của gia tăng về
sản lượng. Đây là chủ đề trọng tâm của những tranh cãi giữa các trường phái

lý thuyết về tăng trưởng mà cho đến nay vẫn còn chưa thống nhất. Hầu hết
các học thuyết kinh tế cổ điển thì đều dựa trên quan điểm nghiêng về cung
chứ không phải cầu. Trong một giai đoạn nhất định thì sự khan hiếm tài


14

nguyên, nguồn đầu vào hay là sự thiếu khả năng cung cấp luôn luôn là giới
hạn của sự tăng trưởng, nhất là ở những ngành mà sức sản xuất còn ở mức
thấp. Tuy nhiên theo trường phái kinh tế học hiện đại lại cho rằng mức gia
tăng sản lượng là do cầu quyết định, vì trong một thời kỳ nhất định tương ứng
với giá cả và nhu cầu của thị trường thì sản lượng sản phẩm và doanh thu của
ngành luôn ở dưới mức tiềm năng. Tức là đáp ứng nhu cầu của thị trường
nhưng các ngành vẫn còn nguồn lực chưa sử dụng hết tối đa, công suất chưa
sử dụng hết, lao động cịn dơi dư, nguồn ngun liệu đầu vào vẫn còn dồi dào,
song các doanh nghiệp trong ngành buộc phải vui lòng cung ứng sản lượng
theo yêu cầu của thị trường, nếu không sẽ ảnh hưởng tới mức tăng trưởng của
ngành trong tương lai. Tuy nhiên mỗi quan điểm trên đếu có giá trị trong
những giai đoạn và hồn cảnh riêng của quốc gia đó.
Xuất phát từ thực tế ở các nước đang phát triển hiện nay thì nhiều
ngành sản xuất cơng nghiệp khả năng cung chưa đáp ứng được nhu cầu của
thị trường, do vậy việc gia tăng sản lượng thường phải bắt nguồn từ sự gia
tăng các yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh theo quan hệ hàm số giữa
sản lượng với vốn, lao động, đất đai và nguyên liệu, kỹ thuật và cơng nghệ.
Hàm sản xuất nói lên sản lượng tối đa có thể sản xuất được tuỳ thuộc vào
lượng các đầu vào trong điều kiện trình độ kỹ thuật và cơng nghệ nhất định.
Mỗi một yếu tố ( biến số) có vai trò nhất định trong việc tạo ra sự gia tăng
sản lượng, do trình độ phát triển kinh tế mỗi nơi, mỗi lúc quyết định. Như vậy
các yếu tố đầu vào có tác động nhất định đến sự tăng trưởng của ngành.
Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp phối hợp rất khác nhau các yếu

tố sản xuất đầu vào (inputs) để đạt được sản lượng sản xuất (outputs) khác
nhau. Mối quan hệ đó được gọi là Hàm sản xuất:
Q = f ( X1, X2, X3,......... Xn )


15

Nếu chỉ nghiên cứu K - Vốn sản xuất và L - Lao động, ta có hàm sản
xuất Cobt - Douglas: Q =

f ( K,L )
0,75

Q=

K

0,25

. L

( Kinh tế Mỹ từ 1899 - 1922 của Cobt - Douglas ).
Nhưng vấn đề đặt ra là yếu tố đầu vào nào là quyết định nhất và tác
động lớn nhất đến tăng trưởng và tăng trưởng bền vững của một ngành. Tuy
còn nhiều vấn đề tranh cãi nhưng các nhân tố đầu vào ảnh hưởng trực tiếp tới
tăng trưởng bao gồm:
a. Vốn sản xuất là một yếu tố đầu vào của doanh nghiệp được trực tiếp
sử dụng vào quá trình sản xuất hiện tại cùng với các yếu tố sản xuất khác, để
tạo ra sản phẩm hàng hố (đầu ra). Nó bao gồm các máy móc, thiết bị,
phương tiện vận tải, nhà kho và cơ sở hạ tầng kỹ thuật ( khơng tính tài nguyên

thiên nhiên như đất đai và khoáng sản…) Trong điều kiện năng suất lao động
khơng đổi, thì việc tăng tổng số vốn kinh doanh sẽ làm tăng thêm sản lượng
hoặc trong khi số lao động không đổi, tăng vốn bình quân đầu người lao
động, cũng sẽ làm gia tăng sản lựợng. Tất nhiên trên thực tế sự biến thiên của
yếu tố vốn khơng đơn giản như vậy, vì nó có liên quan đến các yếu tố khác
như lao động, kỹ thuật. Hơn nữa tốc độ tăng trưởng, tốc độ gia tăng sản lượng
và tăng trưởng bền vững còn phụ thuộc vào cơ cấu vốn, trình độ quản lý vốn
và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp và của ngành cơng nghiệp
đó.
b. Lao động là yếu tố sản xuất đặc biệt có tầm quan trọng nhất định.
Nguồn sức lao động được tính trên tổng số lao động các loại và có khả năng
làm việc của lực lượng lao động đang sử dụng trong ngành. Nguồn lao động
với tư cách là các yếu tố đầu vào, trong sản xuất, cũng giống như các yếu tố
khác được tính bằng tiền trên cơ sở giá cả lao động được hình thành do thị


16

trường và mức tiền lương quy định. Là yếu tố sản xuất đặc biệt, do vậy lượng
lao động không đơn thuần chỉ là số lượng ( đầu người hay thời gian lao động)
mà còn bao gồm chất lượng của lao động, người ta gọi là nguồn nhân lực. Đó
là cịn người bao gồm trình độ tri thức học vấn và những kỹ năng, kinh
nghiệm lao động sản xuất nhất định. Do vậy những chi phí nhằm nâng cao
trình độ người lao động - nguồn nhân lực, cũng được coi là đầu tư dài hạn cho
đầu vào. Yếu tố lao động quyết định rất lớn đến năng suất lao động và hiệu
quả của quá trình sản xuất kinh doanh , từ đó tác động khơng nhỏ tới tính bền
vững của tăng trưởng.
c. Đất đai và tài nguyên là yếu tố sản xuất quan trọng trong sản xuất
công nghiệp. Mặc dù với nền kinh tế công nghiệp hiện tại, đất đai dường như
khơng quan trọng. Song thực tế cũng khơng phải hồn tồn như vậy. Kể cả

sản xuất cơng nghiệp hiện đại, khơng thể khơng có đất đai. Do diện tích đất
đai là cố định, người ta phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai bằng đầu tư
thêm lao động và vốn trên một đơn vị diện tích nhằm tăng thêm sản phẩm.
Chính điều này đã làm vai trị của vốn nổi lên thêm và đất đai trở thành kém
quan trọng. Nhưng như vậy khơng có nghĩa là lao động và vốn có thể thay thế
hồn tồn cho đất đai.
Các tài nguyên khác cũng là đầu vào trong sản xuất các sản phẩm từ
trong lòng đất, từ rừng và biển, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong
phú được khai thác sẽ làm tăng sản lượng một cách nhanh chóng, nhất là các
ngành có lợi thế về tài nguyên và nguồn lực dồi dào thì càng có nhiều khả
năng tăng trưởng và duy trì tăng trưởng bền vững.
Tuỳ thuộc vào tính chất các tài nguyên được đưa vào chu trình sản
xuất, người ta chia các tài nguyên ra làm tài nguyên vơ hạn và khơng thể thay
thế, tài ngun có thể tái tạo và tài nguyên không thể tái tạo. Từ tính chất đó,
các tài ngun được đánh giá về mặt kinh tế và được tính giá trị như các đầu


17

vào khác trong quá trình sử dụng. Những tài nguyên quý hiếm là những đầu
vào cần thiết cho sản xuất song lại có hạn, khơng thay thế được và khơng tái
tạo được. Nói chung, tài nguyên là khan hiếm tương đối so với nhu cầu. Vì
phần lớn những tài nguyên cần thiết cho sản xuất và đời sống đều có hạn,
khơng tái tạo, hoặc nếu được tái tạo thì phải có thời gian và phải có chi phí
tương đương như sản phẩm mới. Do vậy, có nguồn tài nguyên phong phú hãy
tiết kiệm nguồn tài nguyên trong sử dụng, cũng có ý nghĩa tương đương như
việc tạo ra một lượng giá trị gia tăng so với chi phí các đầu vào khác để tạo ra
nó.
d. Những thành tựu kỹ thuật và cơng nghệ mới là đầu vào đóng vai
trị cực kỳ quan trọng bằng sự tiến bộ của các nước công nghiệp mới (NICs)

trong mấy chục năm gần dây, do những thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật
đưa lại.
Những kỹ thuật và công nghệ ra đời là do sự tích luỹ kinh nghiệm
trong lịch sử và đặc biệt là được tạo ra từ những tri thức mới - sự phát minh
đem áp dụng vào các qui trình sản xuất hiện tại. Sự chuyển nhượng và ứng
dụng những phát minh tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất, rõ
ràng là một lợi thế lịch sử của các dân tộc, các nước kém phát triển. Vì những
chi phí cho việc mua kỹ thuật và công nghệ mới ở các nước đã phát triển rõ
ràng là đỡ tốn kèm thời gian và của cải hơn rất nhiều so với việc phải đầu tư
để có những phát minh mới, phải đi từ đầu tư giáo dục, đào tạo, nghiên cứu
khoa học, tổng kết các tri thức, kinh nghiệm và tự mày mị chế tạo rồi mới có
thể ứng dụng và sản xuất .
Ngoài các yếu tố sản xuất, ngày nay người ta còn đưa ra một loạt các
nhân tố kinh tế khác tác động tới tổng mức cung, như lợi thế do quy mô sản
xuất, chất lượng lao động ( hay yếu tố con người) và khả năng tổ chức quản


18

lý. Những nhân tố tạo cung này rõ ràng đã làm tăng sản lượng của nhiều
ngành công nghiệp.
Quy mô sản xuất thể hiện ở khối lượng sử dụng các đầu vào. Trong khi
tỷ lệ giữa các yếu tố sản xuất khơng đổi, các điều kiện khác như nhau, thí dụ
tăng quy mơ đầu vào lên gấp hai lần thì cũng làm sản lượng tăng gấp hai. Sự
gia tăng tương đương với tăng thêm đầu vào đó người ta gọi là " Lợi tức tỷ lệ
với quy mơ". Cịn nếu sự gia tăng đó lớn hơn hay nhỏ hơn so với quy mô tăng
thêm đầu vào, gọi là: "Lợi tức tăng ( hoặc giảm) theo quy mô".
Người ta cũng nhận thấy rằng cùng một mức độ đầu tư trang bị kỹ thuật
và công nghệ như nhau, nhưng các nước công nghiệp tiên tiến và có trình độ
văn hố trong dân cao hơn sẽ đưa lại năng suất lao động cao hơn và sự tăng

trưởng cao hơn. Điều đó đã cho thấy chất lượng lao động hay nhân tố con
người đã tạo sự gia tăng sản lượng, C.Mac cho rằng đó là yếu tố đồng nhất
và cách mạng nhất trong sản xuất.
e. Chất lượng lao động bao gồm những hiểu biết chung ( trình độ văn
hố phổ thơng), những kỹ năng kỹ thuật được đào tạo, kinh nghiệm và sự
khéo léo tích luỹ trong lao động, ý thức tổ chức - kỷ luật và ý thức mong
muốn đạt tới hiệu quả trong cơng việc. Để có được đội ngũ những người lao
động và kinh doanh giỏi, mà nhiều nhà kinh tế cho rằng đó là động lực để đạt
được sự tăng trưởng cao, thì phải có đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
nhân viên trong ngành và phải có thời gian.
Để đảm bảo sự tăng trưởng và tăng trưởng bền vững thì phải thấy rõ sự
tương tác và phụ thuộc giữa các yếu tố là một hệ thống và trong quá trình
thúc đẩy lẫn nhau sẽ tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo tăng
trưởng bền vững. Vấn đề đang được các ngành quan tâm là để tăng trưởng
nhanh chóng nên bắt đầu từ yếu tố nào và đầu tư vào yếu tố nào thì đảm bảo
chất lượng tăng trưởng.


19

1.3.2. Các nhân tố phi kinh tế.
Thể chế chính trị và xã hội ngày nay được người ta thừa nhận vai trò
như là một nhân tố quan trọng trong quá trình tăng trưởng. Nếu một thể chế
kinh tế - chính trị - xã hội ổn định và mền dẻo sẽ tạo điều kiện để đổi mới liên
tục cơ cấu đầu tư, công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế,
tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và tăng trưởng cao. Ngược lại nếu thể
chế không phù hợp sẽ gây nhiều cản trở, mất ổn định những quan hệ làm ăn
và hợp tác có thể gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự tăng trưởng chung của một
ngành. Tuy vậy dù thể chế có tầm quan trọng đến đâu thì cũng chỉ tạo điều
kiện thúc đẩy sự tăng trưởng, tạo điều kiện thuận lợi để hướng các hoạt động

sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi hoặc hạn chế những bất lợi trong sự
phát triển chung của ngành.
Trình độ văn hoá và ý thức pháp luật của người dân cũng là những
nhân tố tác động đến chất lượng lao động. Chính vì vậy để đảm bảo tăng
trưởng lâu dài và ổn định, thì đầu tư cho đào tạo bồi dưỡng lao động được coi
là những đầu tư cần thiết và đi trước một bước cho tương lai.
1.4. Những lý thuyết tiêu biểu về tăng trưởng.
Có thể nói trong hai thế kỷ qua nhiều mơ hình tăng trưởng đã được đúc
rút từ thực tế và những lý thuyết về tăng trưởng & phát triển của nhiều ngành,
của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên mỗi một mơ hình tăng trưởng thường
nhấn mạnh vào một yếu tố chủ lực, đó là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến tốc
độ tăng trưởng và tăng trưởng bền vững của từng ngành trong từng giai đoạn.
Mơ hình của Hagen đã nhấn mạnh vào các yếu tố phi kinh tế là cơ sở gây ra
những biến đổi và tăng trưởng trong nhiều ngành lĩnh vực. Harrod Dorma thì
nhấn mạnh đến yếu tố vốn, Parker nhấn mạnh đến nguồn lực, Schumpeter và
Slow laị nhấn mạnh đến yếu tố tiến bộ không ngừng của khoa học-công nghệ,


×