BỘYTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LÊ THỊ THỦY
CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH TẠI
BỆNH VIỆN TÂM THAN TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: CHĂM SÓC s ứ c KHỎE TÂM THẦN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐÊ
TỐT NGHỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA CÁP I
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Vũ Thu Thủy
I1ỈƯỜNG ĐẠi Hạc Đlẽù DƯỠNG
_______ NÁM DINH
THƯ VIỆN
SỐ:Q.ICí..5j...
NAM Đ ỊN H -2 0 1 5
MỤC LỤC
ĐẶT VÂN ĐỀ................................................................................................................................................... 5
Chương 1 .......................................................................................................................................................... 7
TÓNG QUAN TÀI LIỆU ...............................................................................................................................7
I. KIẾN THỨC C ơ BẢN VỀ ĐỘNG KINH..........................................................................................7
1. Định nghĩa động k in h .......................................................................................................................... 7
2. Dịch tễ bệnh động k inh........................................................................................................................7
3. Đặc điểm lâm sàng động kinh........................................................................................................... 9
4. Cận lâm sàng...................................................................................................................................... 12
5. Phân loại động kinh............................................................................................................................12
6. Động kinh tâm thần và các rối loạn tâm thần trong động kinh...................................................... 14
7. Các phương pháp điều trị động kinh................................................................................................ 18
8. Tình hình quản lý và điều trị bệnh động kinh ờ Việt Nam............................................................. 20
9. Chăm sóc người bệnh động kinh...........................................................................................................21
Chăm sóc người bệnh động kinh sau cơn............................................................................................... 22
10. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh động kinh........................................................... 25
Chương 2 ......................................................................................................................................................... 27
THỤC TRẠNG CHĂM
sóc NGƯỜI BỆNH ĐỘNG K INH...................................................................27
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH NAM ĐỊNH.................................................................................. 27
Bệnh nhân 1:................................................................................................................................................27
Bệnh nhân 2:................................................................................................................................................29
Bệnh nhân 3:................................................................................................................................................29
BÀN LUẬN.....................................................................................................................................................33
2.1 Các mặt tốt trong q trình chăm sóc người bệnh........................................................................... 33
2.2 Một số tồn tại trong q trình chăm sóc người tại bệnh viện tâm thần Tỉnh NamĐịnh................ 33
2.3. Một vài nhận xét về thực trạng chăm sóc và phục hồi của người bệnh động kinhtạibệnh viện
tâm thần Tỉnh Nam Định............................................................................................................................34
GIÀI PHÁP......................................................................................................................................................36
KẾT LU Ậ N .................................................................................................................................................... 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................................................42
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt chuyên đề này. Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn
Th.s Vũ Thu Thủy - Phó Trưởng Bộ mơn Tâm thần kinh - Trường Đại học Điều
dưỡng Nam Định đã giúp đỡ và hướng dẫn tơi rất tận tình trong suốt thời gian tơi
thực hiện chuyên đề này.
Xin được cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Tâm thần kinh - Trường
Đại học Điều dưỡng Nam Định, các cán bộ y tế của Bệnh viện Tâm thần tỉnh
Nam Định đã giúp đỡ, chia sẻ cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong thời gian
học tập và làm chuyên đề này.
Xin được cảm ơn các bạn trong lóp Chuyên khoa 1, khóa 2, dã cùng vai sát
cánh với tơi để hồn thành tốt chun đề này.
Xin được cảm ơn những người bệnh, gia đình người bệnh đà thông cảm và
tạo điều kiện cho tôi được thăm khám, tiếp xúc, lắng nghe và thực hiện nghiêm
túc những lời khuyên dành cho họ.
Xin chân thành cảm ơn mọi người!
2
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phịng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Điêu dưỡng Nam Định
Tên em là: Lê Thị Thúy
Học viên : Lớp Chuyên khoa 1, khóa 2
Sau một thời gian học tập tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, dưới
sự hướng dẫn nhiệt tình của Th.s Vũ Thu Thủy và các thầy cơ trong bộ mơn
Tâm thần kinh. Em đã hồn thành chun đề tốt nghiệp với đề tài
" Chăm sóc ngưịi bệnh động kinh tại bệnh viện tâm thần tỉnh Nam Định "
Chuyên đề tốt nghiệp của tôi không sao chép từ bất kỳ chương trình nghiên
cứu, luận văn hay luận án nào, đó là cơng sức nghiên cứu và tìm hiểu của bản
thân. Tuy tơi có sử dụng một số tài liệu nhưng chỉ mang tính chất để tham khảo
phục vụ cho việc hồn thành chun đề.
Tơi xin cam đoan những lời trên đây là đúng sự thật, nếu vi phạm tơi sẽ
chịu mọi hình thức kỷ luật của nhà trường.
Nam Định, ngày 10 tháng 05 năm 2015
Lê Thị Thúy
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
T \ •Ã
■ •> ■
Diên giải
CLS
Chất lượng sống
GDSK
Giáo dục sức khỏe
NB
Người bệnh
NCS
Người chăm sóc
ĐẶT VẤN ĐỀ
Động kinh là một bệnh nặng, mạn tính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khỏe và khả năng lao động của bệnh nhân. Bệnh chiếm tỷ lệ 0,6% dân số. Động
kinh có thể khởi phát ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng có đến 1/2 số trường hợp bệnh
khởi phát ở độ tuổi trước 20, vì vậy, chúng để lại di chứng rất nặng nề cho bệnh
nhân, khiến họ dễ trở thành người tàn phế, thành gánh nặng cho bản thân, gia
đình và xã hội [9].
Biểu hiện lâm sàng của động kinh rất đa dạng và phức tạp, gồm những rối
loạn đột ngột kịch phát các chức năng của não về vận động, cảm giác, giác quan,
ý thức... Ngoài những biểu hiện rối loạn trong cơn, thì những rối loạn trước cơn,
sau cơn và giữa cơn cũng phong phú. Đáng chú ý là những rối loạn tâm thần
trong bệnh động kinh biểu hiện là các rối loạn về trí tuệ, cảm xúc, tư duy và nhân
cách. Đó là do hậu quả của quá trình bệnh lý lâu dài gây nên. Vì vậy người bệnh
động kinh thường giảm cơ hội hòa nhập, thiếu tự tin, hay lo lắng, thất vọng và
điều quan trọng nhất là mặc cảm tự ty về bệnh tật của mình nên ảnh hưởng rất lớn
đến chất lượng cuộc sống..
Động kinh không được điều trị hoặc động kinh mạn tính có thể dẫn tới
những hậu quả nghiêm trọng về mặt cơ thể, tâm lý và xã hội. Nhưng những hiểu
biết sai lầm về động kinh làm cho người ta sợ hãi, e ngại, tìm cách che dấu, hổ
thẹn. Tình trạng khơng hiểu biết và những thái độ tiêu cực đối với loại bệnh này
khá phổ biến ở mọi nước khiến cho động kinh bị dấu diếm hoặc bỏ qua[7].
Nam Định là một trong những tỉnh có số lượng bệnh nhân động kinh tương
đối cao, theo thống kê của phịng kế hoạch tổng họp tính đến tháng 12 năm 2014,
tồn tỉnh hiện có 1893 bệnh nhân động kinh. Năm 1999, Chính phủ Việt Nam
đưa vào Chương trình mục tiêu Quốc gia dự án bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng
đồng[2]. Bệnh động kinh là môt trong ba bệnh chính được đưa vào chương trình.
Do vậy việc chăm sóc người bệnh động kinh ngày càng được quan tâm, nhằm cải
5
thiện vấn đề này tôi thực hiện chuyên đề: Chăm sóc người bệnh động kinh tại
Bệnh viện Tâm thần tinh Nam Định với các mục tiêu sau:
1. Nhận xét thực trạng chăm sóc người bệnh động kinh tại Bệnh viện Tâm
thần tỉnh Nam Định
2. Đe xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh động
kinh tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định
6
Chương 1
TỎNG QUAN TÀI LIỆU
I. KIẾN THỨC C ơ BẢN VÈ ĐỘNG KINH
1. Định nghĩa động kinh
Động kinh là những cơn ngắn, định hình, đột khởi, có khuynh hướng chu
kỳ và tái phát do sự phóng điện đột ngột quá mức từ vỏ não hoặc qua vỏ não của
nhũng nhóm nơ ron, gây rối loạn chức năng của hệ thần kinh trung ươns
(TKTW) (cơn vận động, cảm giác, giác quan, thực vật,...), điện nào đồ ghi được
các đợt sóng kịch phát. Panayiotis N. Varelas (2008),
Humana Press, pp. 1 - 2.
2. Dich tễ bênh đông kinh
Theo tổ chức Y tế Thế giới, qua điều tra 108 nước trên thế giới với tỷ lệ
85,4% dân số toàn cầu, đã phát hiện được 43.704.000 người mắc động kinh.
Tỷ lệ trung bình mắc động kinh là 8,93 đối với 1000 người tính theo 105
nước. Con số mà biến đổi theo các nước khác nhau: ờ châu Mỹ là 12,59 cho 1000
người, ở châu Phi là 11,29; ở phía đơng Địa Trung Hải là 9,4; ở châu Âu là 8,23;
cịn ở Tây Thái Bình Dương là 3,66 [1].
về giới, hầu hết các nghiên cứu (không phải toàn bộ) ở Châu Á nhận thấy
tỉ lệ nam bị động kinh cao hơn đôi chút so với nữ [14].
về tỉ lệ các loại cơn, theo tài liệu nước ngồi thì ở người lớn động kinh cục
bộ hoặc những cơn liên quan đến cục bộ chiếm 55 - 60 %, cơn toàn thể tiên phát
chiếm 26 - 32 %, cơn động kinh không phân loại chiếm 8 - 17 %. Tổng hợp các
nghiên cứu ở các nước phát triển cho thấy cơn cục bộ phổ biến hơn cơn toàn thể
ở cả trẻ em và người lớn mặc dù ưu thế của động kinh cục bộ vẫn trội hơn ở
7
người lớn. Trên lâm sàng nhiều cơn biểu hiện toàn thể nhưng bản chất là cơn cục
bộ tồn thể hóa [14]
1.2.Một số nghiên cứu về bệnh nguyên bệnh sinh của động kinh.
1.2.1. Nguyên nhân của động kinh.
+ Động kinh không rõ nguyên nhân.
- Động kinh căn nguyên ẩn, biểu hiện nguyên nhân được che giấu khi thăm
khám lâm sàng và cận lâm sàng không thấy tổn thương ở não. Động kinh căn
nguyên ẩn chiếm 60,5% và hay gặp ờ trẻ em.
- Động kinh nguyên phát: cơn động kinh xảy ra mà khơng có tổn thươníi
khu trú não. Tỷ lệ gặp động kinh nguyên phát là 28,4%.
- Động kinh có nguyên nhân (động kinh triệu chứng). Là do các tổn thương
ở não đã cố định hoặc tiến triển, gây xuất hiện cơn động kinh trên lâm sàng hay
trên điện não đồ.
1.2C ơ chế bệnh sinh của động kinh.
Cơ chế bệnh sinh của động kinh đã và đang được làm sáng tỏ nhưng cho
đến nay vẫn chưa rõ cơ chế bệnh sinh của động kinh và còn nhiều những quan
điểm khác nhau về vấn đề này. Hiện nay có nhiều giả thuyết giải thích về cơ chế
bệnh sinh của động kinh nhưng đáng chú ý nhất là giả thuyết giảm hoạt động của
GABA.
Gamma aminobutyric acid (GABA) là một chất dẫn truyền thần kinh có tác
dụng ức chế chủ yếu của hệ thần kinh. GABA có tác dụng lên tế bào bìa ở vỏ
não, tăng ngưỡng chịu kích thích của các neuron vỏ não, đồng thời kiểm sốt tính
thấm của tế bào với ion cr, Na+, K+, tăng phân cực màng tế bào. Các yếu tố làm
giảm chất GABA hoặc làm ức chế cơ quan cảm nhận GABA sẽ gây nên cơn
động kinh. Trong thực tế lâm sàng, Valproic acid có tác dụng làm giảm chuyển
8
hóa GABA, do đó làm tăng nồng độ GABA trong hệ thần kinh trung ương nên có
tác dụng chống động kinh.
3.
Đặc điểm lâm sàng động kinh
Các cơn co giật động kinh là những triệu chứng rối loạn chức năng của não do
mất cân bằng của các q trình kích thích và ức chế trong toàn bộ các tế bào thần
kinh dẫn tới các đợt kịch phát đồng thì của các tế bào thần kinh ờ vỏ não. Sự
tham gia của các vùng chức năng vỏ não sẽ quyết định các biểu hiện lâm sàng
của các cơn co giật. Các cơn co giật động kinh thường là tự phát, kéo dài 1-2
phút, sau đó là giai đoạn ức chế của não như trạng thái lú lẫn, yếu vận động hoặc
nói khó.
a. Cơn động kinh cục bộ.
Gồm các loại: cục bộ vận động, cục bộ thùy thái dương, cục bộ thùy trán,
thùy chẩm. Hay gặp nhất là cục bộ thùy thái dương và thùy chẩm.
* Động kinh cục bộ thùy thái dương:
- Cơn vắng ý thức: gặp chủ yếu ở người lớn, biểu hiện như: người bệnh
đang nói chuyện hay làm việc bỗng sắc mặt nhợt nhạt, vẻ mặt ngơ ngác, miệng
nhai tóp tép hoặc chép miệng, gãi đầu, sờ tay lên mặt, xoa tay không theo ý
muốn. Trong cơn người bệnh khơng biết gì. Cơn kéo dài khoảng 50-60 giây.
- Cơn tâm thần giác quan: người bệnh có vui mừng hoặc sợ hãi vô cớ, bỗng
chốc người bệnh cảm thấy con người và đồ vật xung quanh vô cùng xa lạ như
chưa bao giờ trơng thấy. Ngược lại có những người bệnh cảm thấy cảnh vật trở
nên xa lạ, có những người chưa bao giờ gặp hoặc lại cảm thấy như mình đã thấy
rồi hoặc đã gặp rồi. Có thể gặp ảo thính, ảo khứu, ảo vị.
- Cơn tâm thần vận động: biểu hiện bằng những hành động không ý thức
trong khi người bệnh thức tỉnh hoặc ngủ. Những vận động có thể đơn giản như
trên: chép miệng, nhai tóp tép, gãi đầu...Có thể có hành động phức tạp hơn như
người bệnh gấp chăn màn, quần áo, đi giầy dép, sắp sếp đồ dung, dụng cụ
9
...Trong khi làm như vậy người bệnh như tách rời với môi trường xung quanh,
mọi hành động đều vô thức, hết cơn người bệnh khơng nhớ gì về hành động của
mình cả.
Có khi người bệnh có những hành động khơng có ý thức như đột ngột
vùng chạy thẳng về phía trước bất kể phía trước có trở ngại hoặc nguy hiểm gì.
Người bệnh có thể có những hành động tàn nhẫn tấn công bất cứ người nào khi
lên cơn đâm, chém, bắn, đánh đập...Ngược lại có những người bệnh chạy chốn
những ảo giác đe dọa người bệnh. Cơn kéo dài vài phút, có khi lâu hơn, sau cơn
người bệnh hồn tồn khơng biết mình đã có những hành động gì.
* Động kinh cục bộ vận động
Biểu hiện bằng cơn co giật nửa người khơng mất ý thức, khởi phát có thề
là co giật ở bàn tay, bàn chân hoặc ở cả mặt sau đó lan ra nửa naười: giật quay
nhãn cầu, đầu và thân sang một bên. Cơn kéo dài 2-3 phút cũng có khi chuyển
thành cơn co giật tồn thân và mất ý thức (toàn bộ cơn lớn).
b. Cơn tồn thể
Thuật ngữ tồn bộ có ý nghĩa là trong loại động king này toàn bộ não và
toàn bộ cơ thể bị xâm phạm. Trong động kinh tồn bộ có: Động kinh cơn lớn (
cơn co giật), động kinh cơn nhỏ (cơn vắng ý thức), động kinh co thắt trẻ em,
động kinh giật cơ và động kinh mất trương lực.
- Động kinh cơn lớn: trước khi xảy ra cơn có thể có triệu chứng báo trước
như đau đầu, đầy hơi, rầu rĩ, lạnh lùng ít giờ hoặc ít ngày. Triệu chứng báo trước
thường là bất thường cảm giác, vận động, co cứng cơ chi trên, các ảo giác, rối
loạn tâm thần nhưng chỉ kéo dài 1/10 giây. Cơn thực sự có 3 giai đoạn:
Giai đoạn co cứng: đột ngột ngã xuống bất tỉnh nên có thể gây thương tích,
các chi duỗi cứng, các ngón tay gấp, đầu ưỡn ngửa quay sang một bên, hàm
nghiến chặt và có thể cắn vào lưỡi, hai mắt trợn ngược, tím vì khơng thở được,
tiểu dầm hoặc đại tiện không tự chủ. Giai đoạn này kéo dài 10 -20 giây.
10
Giai đoạn giật: cơ thân và chi giật liên tiếp, ngắn, mạnh, có nhịp; hai mắt
giật ngang hoặc giật lên. Có thể cắn phải lưỡi, sùi bọt mép. Giai đoạn này dài 1 2 phút, ít khi quá 6 phút.
Giai đoạn duỗi: hơn mê, các cơ dỗi ra, phản xạ gân xương giảm, có thể có
Babinski, thở bù lại mạnh, nhanh, ồn ào, thờ ngáy sau vài phút tỉnh lại, khơng
nhớ những gì đã xảy ra. Giai đoạn này kéo dài 5 - 10 phút.
Loại cơn này xuất hiện đầu tiên vào lứa tuổi 10 - 20 (80 % các trường
họp), nếu ít cơn thì đáp ứng tốt với điều trị.
Động kinh cơn bé (cơn vắng ý thức): gồm nhiều loại nhung chung một số
đặc điểm là thường gặp ở trẻ em, các cơn ngắn từ 1/10 - 10 giây, nhiều cơn trone
ngày. Thường đột ngột mất ý thức hoàn tồn nên bất động, rơi chén đũa khi ăn,
ngừng cơng việc,... Có thể khơng hoặc mất trương lực, giật cứng cơ ... đó là cơn
vắng phức tạp. Tuổi thường gặp 3 - 1 2 tuổi, tiến triển có 3 khả năng:
- Hết cơn.
- Tiếp tục duy trì cơn (6 %).
- Xuất hiện cơn co cứng giật cơ (40 %): thường 6 năm sau cơn vắng ý
thức. Nếu cơn vắng ý thức đầu tiên sau 7 tuổi thường đáp ứng kém với điều trị,
dễ bị kích thích bởi ánh sáng, cũng thường cách ly với xã hội nên tiên lượng xấu.
- Hội chứng West: gặp ở trẻ 4 - 7 tháng tuổi. Có ba dấu hiệu chính sau:
+ Co cứng, gấp cổ, chi, thân mình.
+ Rối loạn tính tình và tác phong.
+ Điện não đồ có loạn nhịp biên độ cao của các nhọn.
+ Loại này tiên lượng xấu vì gây đần độn.
- Hội chứng Lennox - Gastaut: gặp ở trẻ từ 2 - 6 tuổi với tam chứng vắng
ý thức khơng điển hình, cơn cứng, mất trương lực. Suy sụp tâm thần vận động.
11
Điện não đồ có nhọn - sóng chậm lan tỏa. Tiên lượng xấu [5].
4. Cận lâm sàng
a. Điện não đồ
Giúp xác định động kinh, loại ccm, vị trí động kinh. Tuy nhiên điện não đồ
bình thường khơng loại được động kinh, ngược lại 10 - 15
người bình thường
có bất thường điện não không bao giờ lên cơn [4],
b. Các xét nghiệm khác
Tìm nguyên nhân như chụp phim sọ, chụp động mạch não, glucoza máu,
điện giải đồ, dịch não tủy, chụp cắt lóp vi tính, cộng hưởng từ não,...
5. Phân loại động kinh
Năm 1981 Liên đoàn chống động kinh quốc tế (ILAE) đã đưa ra bảng
phân loại động kinh và cách phân loại này được sử dụng rộng rãi cho đến nay[6].
Bảng
1.:P hân loại năm 1981 của ILAE
12
Các con cục bộ
A Các cơn cục bộ đon giản (khơng có rối loạn ý thức)
1 Với các triệu chứng vận động
2 Với các triệu chứng cảm giác hay giác quan
3 Với các triệu chửng thực vật
4 Với các triệu chứng tâm thần
B Các con cục bộ phức tạp (có rối loạn ý thức)
1 Khởi phát cục bộ đơn giản, tiếp theo sau là rối loạn ý thức
2 Có rối loạn ý thức ngay lúc khởi phát
c Con cục bộ đon giản hay con cục bộ phức tạp diễn tiến thành con tồn thể hóa
thứ phát
II Con tồn thể ngun phát
A Cơn vắng ý thức (con bé)
B Con giật cơ
c Con co giật
D Con co cứng
E Con mất trương lực
F Con co cứng - co giật
III Con không phân loại vì khơng phù họp hai nhóm trên do thiếu dữ kiện để phân
loại
13
;Ị
i
1
-------
i
6. Động kinh tâm thần và các rối loạn tâm thần trong động kinh
a.
Động kinh tâm thần
Động kinh tâm thân còn gọi là động kinh thùy thái dương. Đặc diêm cua
loại động kinh này là những biến đổi từng cơn về hành vi tác phong, người bệnh
mất sự tiếp xúc có ý thức với mơi trường xung quanh. Cơn động kinh này thường
\
bắt đầu bằng nhũng cơn thoáng như: ngửi thấy mùi cao su cháy, thấy đồ vật lớn
lên hay nhỏ đi, có cảm giác đã từng thấy hoặc chưa bao giờ thấy, các ảo giác...
.
,
,
Trong cơn, người bệnh có thê có những rơi loạn vận dộng như ngáp, nhai,
,
nt, chép môi, đứng lên, ngôi xuông, mặc áo vào, cởi áo ra, di lang thang, vùng
chạy hỗn loạn, đi trốn, đi tìm hoặc thực hiện những hoạt động có kĩ năng cao như
lái xe, chơi những bản nhạc phức tap...Những hành vi này có tính chất tự động,
khơng mục đích và người bệnh sau đó khơng nhớ những gì xảy ra.
Nấu tổn thương có liên quan đến bán cầu chủ đạo thì người bệnh có thêm
những rối loạn về ngơn ngữ như đang nói bỗng nhiên dừng lại, nói nãng không
liên quan. Hầu hết những cơn này đều bắt nguồn ở thùy thái dương đặc biệt là hồi
hải mã hoặc hạnh nhân, hệ thống viền hoặc những vùng khác của não.
b.
Các rối loạn tâm thần trong bệnh động kinh.
Các rối loạn tâm thần rất hay gặp ở bệnh nhân động kinh. Theo nhiều tác
giả, khoảng 30-40% bệnh nhân động kinh có những khó khăn về tâm thần. Các
rối loạn tâm thần cấp tính và mãn tính trong động kinh chiếm một vị trí quan
trọng trong lâm sàn của bệnh động kinh. Các rối loạn tâm thần cấp tính có thể
xảy ra có tính chất kế tiếp, các rối loạn tâm thần mãn tính xuất hiện ở các giai
đoạn xa của bệnh nhân. Theo tài liệu của Smedt. R.các rối loạn tâm thần xuât
hiện ở 2-5
%các bệnh nhân động kinh. Sự kéo dài của bệnh nhân động kin
yếu tố quyết định cho sự phát sinh các rối loạn tâm thần. Một số trường hợp rối
loạn tâm thần do động kinh có liên quan đến ổ động kinh vùng thái dương bên
phải, chuẩn đoán các rối loạn thần kinh do rối loạn thần kinh thường gặp khó
14
khăn vì chưa có tiêu chuẩn chuẩn đốn, phân biệt có sức thuyết phục đẻ phân biệt
chúng với các rối loạn tâm thần tương tự trong các bệnh khác.
•
Các trạng thái rối loạn tâm thần cấp của động kinh
Cơn thoáng báo tâm thần:
Thường là những ơn cảm xúc lo âu, cảm giác lạ lùng, ccm khoái cảm, cơn
hồi ức dồn dập, cơn sống lại trong dĩ vãng, hoặc cơn tư duy cưỡng bức, tư duy
ngừng lại. Sau cơn thường bệnh nhân cịn giữ lại một số hình ảnh rất sinh động
với sắc thái trải nghiện và cảm xúc đặc biệt, cảm giác đã thấy rồi hoặc cảm giác
chưa bao giờ thấy.
Cơn tương đương:
Cơn tương đương còn gọi là cơn tự động hay cơn tâm thần vận động tức là
cơn tương đương với cơn tồn bộ hóa thứ phát sau cơn thoáng qua báo tâm thần
(aura), trong cơn hoạt động ý thức giảm nhẹ, bệnh nhân còn nhớ và còn nhận
thức được hành vi của mình.
Cơn tương đương thường được biểu hiện bằng hành vi tự động, vd bệnh
nhân đang lau nhà mà lên cơn thì cứ lau mà khơng ngưng được, có khi cơn tương
đương mang tính chất xung đột ám ảnh, bệnh nhân chống lại và kết thúc bằng
một cơn giận giữ như cơn ăn cắp, cơn khiêu dâm, cơn giết người....
Có khi cơn tương đương có ý thức rối loạn nặng hơn, hành vi tự động sẽ
mang tính chất mù mờ ý thức, tác phong mơ hồ, bệnh nhân khơng thấu hiểu được
hành vi của mình và ngạc nhiên khi nghe người khác kể lại. Hành vi tự động có
thể là cơn đi lang thang, cơn bỏ chay. Trong cơn có những hành vi phạm pháp, có
khi là những hành vi lố bịch, hài ước. Cơn bỏ chạy thường là những cơn chạy
thẳng do ý thức bị thu hẹp.
Các cơn tương đương có thể xuất hiện riêng biệt, có thể trước hoặc sau cơn
tồn bộ.
về phương diện thần kinh một số tác giả cho rằng những cơn không giống
như cơn lớn hoặc cơn bé là những cơn tương đương như cơn ngáp hoặc cơn nấc..
15
Trạng
tháilú lẫn.
Lú lẫn động kinh thường đi kèm với trạng thái lo âu, thường có khuynh
hướng kích động giận giữ, lú lẫn có nhiều mức độ và sắc thái khác nhau, thường
kết hợp với các trạng thái lo âu, mê sảng, mộng du, hay bùng nổ, nhưng có đặc
điểm là các trạng thái này đều có đặc điểm quên sau con.
Trạng thái lú lẫn thường xuất hiện sau một loạt cơn kịch phát, nhưng cũng
có trường hợp trong q trình lú lẫn lại nổi lên cơn kịch phát, cơn lú lẫn thường
kéo dài vài giờ đến vài ngày, có khuynh hướng tái phát cơn sau giống cơn trước.
Các trạng thái hồng hơn.
Hồng hơn là trạng thái loạn thần kinh cơ bản của động kinh và hay gặp
trong pháp y tâm thần, có đặc điểm khởi đầu đột ngột, cơn ngắn và quên sau con.
Đột nhiên ý thức mù mờ bệnh nhân trờ nên ngơ ngác phân vân, trả lời
chậm, bàng quang với các vấn đề thực tế xung quanh, tư duy hướng về các vấn
đề trừu tượng như tôn giáo, chính trị vũ trụ . . .V..V..
Có khi ý thức rối loạn nhẹ bệnh nhân như sống trong cảnh mộng, cịn nhớ
và cịn định hướng đúng và cịn thích nghi với môi trường, nhưng trạng thái này
rất bấp bênh trong vài ngày, giai đoạn hồng hơn, tỉnh táo, xen kẽ nhau. Chính
trong trạng thái này thường xuất hiện những cơn bỏ chạy, với khuynh hướng giết
người, hành hung hoặc tự sát. Trong cơn xuất hiện những hiện tượng la lùng, ảo
mộng, ảo tưởng, ảo giác, ý tưởng thần bí. ở bệnh nhân có hai hiện tượng, có
những hành vi phá hoại độc ác nhưng có những hành vi cao đẹp, xây dựng tôn
giáo, trật tự , xã hội.
Các cơn loạn khỉ sắc.
Trong cơn bệnh nhân cảm thấy những cảm xúc lẫn lộn vừa buồn rầu, vùa
giận giữ, vùa bất mãn, vừa hằn học. Đặc biệt trong cơn mê dễ bị kích thích đồng
thời có những ý tưởng nghi bệnh. Thường xuất hiện các cảm giác sợ hãi, có
trường hợp xuất hiện khoái cảm nhưng rất hiếm. Một số bệnh nhân trong cơn
loạn khí sắc uống nhiều rượu, đi lang thang, rất nguy hiểm.
16
Cơn trầm cảm và hưng cảm.
Trong quá trình tiến triển của động kinh thường thường xuất hiện con trầm
cảm và hưng cảm, thường là những cơn khơng điển hình, trong cơn thường có rối
loạn ý thức giống trạng thái hồng hơn, trước hoặc sau cơn thường có biến đổi
khí sắc.
•
Các rối loạn tâm thần mãn tính của động kinh
TRƯỜNG #AI HỌC ĐIỄÙ DƯỠNG
NẦM ĐỊNH_______
THƯ VIỂN
S 6 : C L 5 á ..
Biến đổi nhãn cách.
Những bệnh nhân lâu ngày thường xuất hiện những biến dổi nhân cách đặc
chưng gọi là nhân cách ( hay tính cách) động kinh có những đặc điểm sau:
Tính cách bất ổn ( giao độnh): Khí sắc hoạt động khơng ổn định, có thể
thay đỏi từng lúc và có thể thay đổi đột ngột từ cực này sang cực khác. Bệnh
nhân đi từ phấn khởi niềm nở quá đáng đến chỗ ghét bỏ thậm tệ, khi thì hiền từ
độ lượng khi thì hung giữ xấu xa. Khi thì lễ phép q đỗi khi thì thơ lỗ, láo xược,
khi thì vui vẻ niềm nở, khi thì cau có n lặng.
Tính bùng
nổ:
Bệnh nhân động kinh thường có phức cảm về bệnh, tự ti, bi quan về sự bất
lực, đau khổ và sút kém, đa nghi về sự khinh miệt của người khác cho nên bệnh
nhân dễ phản ứng với xung quanh. Phản ứng có thể bùng nổ cho nên một lời nói
sơ ý có thể làm bệnh nhân xanh xám mặt mày, vứt bỏ công việc đang làm, thậm
chí bị kích động và chửi bới, vì vậy bệnh nhân động kinh dễ mất lịng những
người xung quanh. Có khi gặp khó khăn trong vấn đề đời sống, thời tiết thay đổi
cũng có thể làm cho bệnh nhân bực tức, gây gổ với người than.
Tính bầy nhầy:
Thể hiện bằng nhiều sự kiện có tính chất khác nhau, bệnh nhân có tình cảm
gắn bó chặt chẽ với gia đình, nghề nghiệp, quê hương cho nên thương không đi
xa nhà và chuyển nghề được. Ngược lại thành kiến rất da dẳng khó xóa bỏ. bệnh
nhân hay suy nghĩ chậm chạp, khó chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác, bệnh
nhân thường khơng nói về một chủ đề và nói nhiều chi tiết thừa. Bệnh nhân
17
thường bảo vệ những tập quán cũ thích nghi lễ ton giáo, có khuynh hướng tìm cái
chính xác chi ly, thích ngăn nắp chật tự cái gì cũng đi vào chi tiết, khơng thích
ngắn gọn, bệnh nhân bám sát thầy thuốc, theo dõi, chữa bệnh, và kiên trì uống đủ
thuốc.
Tính
vị
kỷ:
Q lo lắng về bệnh tật, vòng quan tâm ngày càng thu hẹp về sức khịe của
mình, vì thế bệnh nhân trở nên vị kỷ, đòi hỏi được mọi người chú ý chăm sóc.
Mất
tríđộng kinh
Quan niệm trước kia khi nghiên cứu bệnh nhân nội trú thì cho rằng trước
sau bệnh nhân cũng động kinh, mất trí nhớ nhưng gần đây khi nghiên cứu bệnh
nhân nội trú t h ì :
Nếu loại trừ những nhóm động kinh trẻ em sớm, và não tổn thương rõ rệt
nhũng bệnh nhân điều trị nội trú mà có trí tuệ bình thường trước khi bị độna kinh
thì mất trí động kinh chỉ chiếm 5- 10% bệnh nhân động kinh.
Khơng có một trạng thái đơn điệu do động kinh mà chỉ có hình thái trí tuệ
giảm sút với các mức độ khác nhau tùy theo quá trình, tính chất và vị trí của các
tổn thương thực thể ở não.
Cái gọi là mất trí kiểu động kinh thực ra chỉ là những nét biến đổi nhân
cách cùng thời gian trở nên trầm trọng hơn mà thôi. Vd; tuy duy chậm chạm làm
cho bệnh nhân không phân biệt được cái chính cái phụ, bị vướng vào những chi
tiết vụn vặt vô nghĩa. Ngôn ngữ trở nên nghèo nàn bệnh nhân qn ngày
tháng.. .có vẻ như mất trí.
7. Các phương pháp điều trị động kinh
a. Hóa liệu pháp
Cơ bản là thuốc chống động kinh. Bắt đầu phát triển từ năm 1938 khi
Merritt và Putnam phát hiện ra phenytoin [14]. Thời gian sau đó nhiều thế hệ
thuốc chống động kinh mới ra đời với nhiều ưu điểm so với các thuốc thế hệ
trước, ví dụ: valproic acid, carbamazepine,lamotrigine,topiramate,oxcarbazepine,
18
vigabatrine, felbamate, Depakine,... Thuốc điều trị động kinh cần được uống đủ
liều - hàng ngày, liều lượng chia làm 2-3 lần; liều lượng tính theo cân nặng cơ
thể, tuổi và nhất là căn cứ vào thể lâm sàng. Khi xảy ra cơn động kinh liên tục
cần phải sử dụng thuốc chống động kinh theo đường tĩnh mạch. Thầy thuốc điều
trị là người quyết định điều chỉnh tăng hoặc giảm liều lượng thuốc, người
bệnhđộng kinh thường được theo dõi chặt chẽ về tác dụng của thuốc đặc biệt chú
ý tới các chức năng máu, gan, thận, và luôn cảnh giác với các tai biến có thể xảy
ra như ngộ độc, dị ứng, viêm gan, viêm thận,... Dùng thuốc là để kiểm soát cơn
động kinh giúp cho người bệnhvẫn đảm bảo được đời sổng bình thường hàng
ngày trong gia đình và xã hội. Như vậy trong khi điều trị người bệnhvẫn có thể
tham gia lao động sinh hoạt bình thường, trẻ em vẫn có thể vui chơi học tập như
những trẻ em khác.
Trong điều trị động kinh hóa liệu pháp nhằm mục đích chính sau: kiểm
sốt hồn tồn cơn co giật, giảm mức độ nghiêm trọng của cơn động kinh, tránh
tác dụng phụ, giảm tỉ lệ từ vong, tránh tương tác thuốc, nâng cao CLS bệnh nhân
động kinh [10]
b. Phẫu thuât
Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy một số nền văn minh cổ đã thực
hiện khoan xương sọ để cắt bỏ mô bệnh (epileptogenic(bad) tissue) trong não.
Phẫu thuật chữa động kinh thực sự phát triển cuối thế kỷ 19 nhờ công trình
nghiên cứu của Victor Horsley, Bệnh viện Quốc gia, Luân Đơn. Ơng đã tiến hành
nghiên cứu trên 100 con khỉ, dùng kích thích điện để xác định và vẽ bản đồ các
vùng chức năng và các đường dẫn truyền thần kinh trong não. Trên cơ sở các
nghiên cứu này, đến cuối năm 1886 ông đã tiến hành 10 ca phẫu thuật chữa bệnh
động kinh, trong đó 9 ca được đánh giá là rất thành công[14]. Tiếp theo Victor
Horsley nhiều tác giả khác đã thực hiện và tiếp tục nghiên cứu phẫu thuật chữa
động kinh cho đến nay.
19
Ngày nay phẫu thuật được chỉ định chủ yếu cho các thể động kinh sau:
động kinh cục bộ khơng có tổn thương lan rộng, động kinh cục bộ toàn bộ hóa,
động kinh do dị dạng mạch ở nơng, động kinh do u não [13].
c. Điều trị các rối loạn tâm thần kết hợp
Trầm cảm, lo âu, loạn thần, kích động... Ngun tắc là sử dụng các loại
thuốc ít có khả năng kích hoạt cơn động kinh. Để điều trị Trầm cảm có thể dùng
sertraline, venlafaxine. Điều trị lo âu có thể dùng các benzodiazepine, buspirone.
Điều trị loạn thần có thể dùng olanzapine, haloperidol. Riêng với trầm cảm và lo
âu có thể kết hợp điều trị bằng liệu pháp tâm lý [5],
d. Phục hồi chức năng tâm lý xã hội dựa vào cộng đồng.
Hướng dẫn người bệnh tham gia các lao động đơn giản, vệ sinh cá nhân,
các chức năng sinh hoạt, giao tiếp xã hội, lao động nghề nghiệp giúp phục hồi
chức năng đã mất, dần đưa bệnh nhân trở lại cuộc sống và hoà nhập với cộng
đồng
e. Chế độ làm việc, nghỉ ngoi
Tránh làm việc trên cao, dưới nước, gần lửa, lái xe, tránh làm việc lâu
ngồi nắng, khơng làm việc có ánh sáng chói lịe như hàn...Tuy nhiên cần
khuyến khích người bệnh lao động, làm việc nhẹ nhàng, tránh căng thẳng và sang
chấn, giúp người bệnh sớm hòa nhập cộng đồng. Tránh cho người bệnh làm việc
quá sức, trong mơi trường độc hại, cần có chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý.
8. Tình hình quản lý và điều trị bệnh động kinh ở Việt Nam
Việt Nam chưa có một nghiên cứu trên quy mơ tồn quốc về tỉ lệ và số
bệnh nhân động kinh, do vậy dựa vào tỉ lệ chung của các nghiên cứu đã có thì với
dân số 80 triệu người nước ta có khoảng 800.000 bệnh nhân động kinh.
Để thuận tiện cho công tác quản lý và chăm sóc bệnh nhân động kinh,
ngành Tâm thần Trung ương đã lồng ghép bệnh động kinh vào Chương trình mục
tiêu quốc gia chăm sóc sức khỏe ban đầu. Theo đó có một hệ thống để phát hiện,
20
điều trị, theo dõi và quản lý bệnh nhân động kinh. Hệ thống này được nhà nước
cấp kinh phí hoạt động do vậy các bệnh nhân động kinh được hưởng nhiều ưu đãi
trong q trình điều trị chăm sóc. Mơ hình này theo từng cấp như sau:
Bảng
1.2:Quản lý điều trị động kinh ở việt Nam
Cấp
Cơ quan chịu trách nhiệm
Trung ương
Bệnh viện tâm thần trung ương
Tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương
Bệnh viện tâm thần tỉnh/ thành phố
hoặc Trung tâm phòng chống bệnh xã
hội
Quận/ huyện
Ị
Phòng khám tâm thần trực thuộc Trung
tâm y tế quận/ huyện
Xã/ phường
Cán bộ chuyên trách tâm thần
Cộng tác viên
Tại Nam Định, Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định quản lý và điều trị
ngoại trú cho khoảng 446 bệnh nhân động kinh (tính đến thời điểm 12/2014).
Nhũng bệnh nhân này được chẩn đoán xác định bệnh bởi các bác sĩ chuyên khoa
tâm thần/ thần kinh, sau đó được lập hồ sơ bệnh án và chuyển về quản lý, điều trị
ngoại trú tại các trạm y tế xã/ phường. Những bệnh nhân này được nhận thuốc
điều trị ngoại trú tại trạm y tế và được khám, kiểm tra định kỳ bởi các bác sĩ
chuyên khoa tâm thần của bệnh viện.
9. Chăm sóc người bệnh động kinh,
a. Chăm sóc người bệnh trong cơn
Ngay lập tức đưa người bệnh vào nơi an tồn, nới rộng quần áo, giữ tay
chân (khơng đè quá chặt), bảo vệ đầu khi ngã, trong cơn giật mạnh không nên di
21
chuyển trừ khi đang ở nơi nguy hiểm, để đầu hơi cúi ra phía trước, chèn gạc vào
giữa hai hàm răng, lau đờm dãi, giữa cơn giật từ từ quay đầu người bệnh sang
một bên cho nằm nghiêng để đờm rãi chảy ra tránh sặc vào phổi, không nên cố
gắng khống chế động tác giật, rời các vật sắc nhọn ra xa, khơng bỏ bất cứ vật gì
vào miệng như thức ăn, nước kể cả thuốc để tránh cắn vào lưỡi và sặc vào đường
hơ hấp.
- Nhanh chóng thực hiện y lệnh: tiêm thuốc chống động kinh, không cho
uống thuốc khi đang giật, đang ngủ hoặc đang hôn mê.
- Giải thích và ln ở bên cạnh người bệnh khi bắt đầu tinh, giữ người
bệnh tại giường, hồi sức toàn diện cho người bệnh.
- Hướng dẫn người bệnh cách phòng bệnh.
- Phịng bệnh nói chung: quản lý thai nghén, bảo vệ bà mẹ trẻ em giải
quyết tốt các trường hợp đẻ khó, chống các bệnh xã hội, phát hiện sớm động kinh
không rõ nguyên nhân, tiêm chủng đầy đủ đối với trẻ sơ sinh, chống các bệnh
nhiễm khuẩn, chú ý vấn đề dinh dưỡng, an tồn giao thơng và sinh hoạt, thực
hiên đúng nguyên tắc dùng thuốc.
- Loại bỏ yếu tố thuận lợi gây cơn, sinh hoạt điều độ, sử dụng thuốc đúng
chỉ định, tìm hiểu dấu hiệu báo trước khi có cơn động kinh như đột ngột sợ hãi,
nhanh chóng cho người bệnh nằm để tránh bị thương, chế độ sinh hoạt lao động
đúng mức, thức ngủ đúng giờ, tránh công việc gây nguy hiểm như làm việc trên
cao, dưới nước, gần lửa, lái xe, lái tàu, làm việc lâu ngoài nắng, kiêng rượu tuyệt
đối bất cứ ở dạng nào (uống, thuốc xoa bóp có cồn, nước hoa có đậm độ cồn
cao), tránh nhịn đói dẫn đến hạ đường huyết, tránh mệt mỏi cơ thể, tinh thần,
tránh các kích thích.
b. Chăm sóc người bệnh động kinh sau cơn.
Bệnh tâm động kinh ảnh hường đến toàn bộ cuộc sống người bệnh và làm
cho họ mất đi nhiều khả năng sinh hoạt bình thường. Mặt khác, phần lớn người
bệnh bắt đầu bị bệnh khi còn trẻ và bệnh động kinh được coi như một bệnh mạn
tính làm cho họ mất đi hoặc suy yếu những khả năng sinh hoạt như: suy nghĩ, học
22
hỏi, giao tiếp xã hội, làm việc, tình cảm, các mối quan hệ cá nhân cũng như quan
hệ xã hội.
Phần khó khăn nhất trong điều trị bệnh động kinh là làm sao giúp người bệnh
giảm được cơn giật, kéo dài chu kỳ động kinh và có thể sống một cuộc sống
tương đối bình thường trong thời gian sau cơn bệnh.
• Dùng thuốc:
o Nhận thuốc điều trị: Người chăm sóc phải nhận thuốc điều trị cho NB
đều đặn hàng tháng để NB động kinh có thuốc uống hàng ngày
o Dùng thuốc đều đặn hàng ngày: Nếu người bệnh không được uống
thuốc đều đặn hàng ngày thì tỷ lệ tái phát sẽ rất cao.
o Uống thuốc đúng liều theo chỉ định của bác sỹ: Khơng có một liều
thuốc chung cho mỗi NB động kinh, mỗi một NB sẽ có chi định về thuốc và hàm
lượng tùy theo giai đoạn của bệnh. Vì vậy người chăm sóc khơng được tự ý tăng
hoặc giảm liều đột ngột.
o Cách uống thuốc: Cách uống đúng nhất với NB động kinh là đưa thuốc
cho NB và bảo NB uống trước mặt. Hiện nay có khá nhiều NB tích thuốc để tự tử
vì vậy NCS cần phải quản lý thuốc nghiêm ngặt, không được để cho NB tự lấy
thuốc và uống. NCS cũng phải kiểm tra xem NB có uống thuốc thật khơng do đó
việc bảo NB uống thuốc trước mặt nhằm hạn chế vấn đề NB tự ý bỏ thuốc hoặc
dấu thuốc.
• Vệ sinh
o Người chăm sóc cần khuyến khích và đơn đốc để NB tham gia vệ
sinh cá nhân hàng ngày, bên cạnh đó NCS nên hướng dẫn tỷ mỷ và kiên nhẫn,
khích lệ họ để họ cảm thấy vui, tích cực tham gia.
o Hỗ trợ của gia đình: Nếu người bệnh có thể tự tắm và gội, giặt quần
áo được được thì để cho NB tự vệ sinh và tắm rửa. Gia đình có thể hỗ trợ NB
trong một chừng mực nào đó nếu NB cần hỗ trợ ( vd: NB có thể tự tắm được thì
gia đình giặt quần áo giúp)
o Người chăm sóc cần phải giữ vệ sinh sạch sẽ cho người bệnh: Dù
người bệnh có thể tự làm hay gia đình phải hỗ trợ thì hàng ngày NB cần phải
23
được vệ sinh cá nhân, quần áo, đầu tóc phải gọn gàng. Không nên để cho NB bẩn
thiu và lôi thơi. Có như vậy NB mới cảm thấy khơng tự ti, và bớt ánh mắt kỳ thị
từ người khác. Hơn nữa việc cơ thể được sạch sẽ có thể hạn chế được các bệnh
nhiễm khuẩn hoặc viêm nhiễm khác. Vì vậy người chăm sóc cần phải giúp đỡ để
người bệnh ln được sạch sẽ.
• Dinh dưỡng
o Người bệnh động kinh cũng cần phải được ăn uống đầy đủ ít nhất 3
bữa/ngày và ít nhất 2 bát/ bữa, đủ dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu của cơ thể.
o Hỗ trợ gia đình: Trong một chừng mực nào đó gia đình có thể hỗ trợ
NB như đi chợ giúp hoặc nấu cơm giúp. Tuy nhiên gia đình cũng nên khuyến
khích người bệnh tham gia tự giác chủ động nấu cơm và tự lấy cơm để ăn. NB
động kinh ở giai đoạn ổn định hồn tồn có thể tham gia cùng gia đình thực hiện
các cơng việc như nấu cơm hoặc rửa bát. Gia đình khơng nên để người bệnh thụ
động, khơng tham gia hoặc hỗ trợ hồn tồn giúp NB.
• Lao động và phục hồi chức năng tâm lý cho NB.
o Lao động: Một chế độ điều trị toàn diện, giữ cho bệnh nhân có thời
gian học tập và nghỉ ngơi ổn định, tránh các điều kiện thuận lợi gây cơn, bố trí
cơng việc và nghề nghiệp hợp lý để phịng tránh các tai nạn thứ phát xảy ra khi
lên cơn. Người bệnh động kinh không được làm việc nguy hiểm liên quan đến
độ cao, làm gần những nơi nguy hiểm như gần nước, gần lửa, gần điện để đề
phòng người bệnh lên cơn trong khi làm. Tuy nhiên gia đình cần khuyến khích
và đơn đốc NB tham gia lao động. Khi người bênh làm được việc gì dù là nhỏ
nhất thì gia đình cũng nên khuyến khích động viên. Làm việc giúp cho người
bệnh cảm thấy mình có ích, thoả mãn vì mình đã hồn thành được một điều gì
đó, tự tin vào khả năng của mình, đồng thời đóng góp phần của mình vào cuộc
sống xã hội. Làm việc còn tạo cho con người cơ hội để giao tiếp với người khác,
có bạn bè quan hệ tình cảm lành mạnh.
o Giao tiếp: Muốn phục hồi chức năng tâm lý cho NB thì phải phục
hồi khả năng giao tiếp của NB. Muốn vậy thì NCS cũng như gia đình NB phải
hiểu rõ và tích cực giao tiếp để NB bớt mặc cảm, tự tin hơn. Một trong những
24