Tải bản đầy đủ (.docx) (68 trang)

GiaoTrinhBaiGiangChamSocSucKhoeTamThan

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (361.51 KB, 68 trang )

BÀI GIẢNG

CHĂM SÓC SỨC KHOẺ TÂM THẦN

1


MỤC LỤC
Bài 1: Khái niệm về bệnh tâm thần, thực trạng về quản lý người bệnh
Trang 3
Bài 2: Các triệu chứng và hội chứng tâm thần thường gặp…………. .Trang 10
Bài 3: Chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần.................................Trang 15
Bài 4: Chăm sóc các trường hợp cấp cứu tâm thần...........................Trang 2 0
Bài 5: Phụ giúp bác sĩ khám và làm liệu pháp ch ữa bệnh tâm th ần........Trang
26
Bài 6: Chăm sóc người bệnh Hysteria................................................Trang 33
Bài 7: Chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt................................Trang 39
Bài 8: Chăm sóc người bệnh động kinh.......................................... ...Trang 45
Bài 9: Quản lý-theo dõi-hỗ trợ người bệnh tâm thần.........................Trang 51
Bài 10: Vệ sinh-phòng bệnh tâm thần...............................................Trang 56

2


BÀI 1

KHÁI NIỆM BỆNH TÂM THẦN VÀ THỰC TRẠNG
VỀ QUẢN LÝ NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Trình bày được đại cương về tâm thần học và các nguyên nhân và các
nhân tố thuận lợi gây phát sinh bệnh tâm thần.


2. Mô tả được thực trạng về quản lý người bệnh tâm thần.
NỘI DUNG
1. Đại cương về tâm thần học.
1.1. Mục tiêu và đối tượng của tâm thần học.
- Sức khoẻ cho mọi người là mục tiêu lớn, mục tiêu chiến l ược của t ổ ch ức
y tế
thế giới (WHO), của nhiều quốc gia phát triển và của cả ngành y tế n ước
ta và
cũng là thước đo chung của mọi xã hội văn minh.
- Không thể chia cắt sức khoẻ thể chất với sức khoẻ tâm th ần xã h ội và
ngày càng phải khẳng định vai trò quan trọng của s ức khoẻ tâm th ần trong
một nỗ lực chung để nâng cao chất lượng sống cho m ọi ng ười trong m ột
xã hội phát triển.
- Chính vì vậy, đối tượng của tâm thần học ngày nay khơng ch ỉ đóng khung
trong khn khổ bốn bức tường của bệnh viện - chỉ tập trung vào nh ững
người bệnh tâm thần nặng như người bệnh tâm thần phân liệt, r ối lo ạn
cảm xúc lưỡng cực, sa sút trí tuệ,... thuộc phạm vi tâm th ần học truy ền
thống. Mà tâm thần học hiện đại đang phải bươn trải để phấn đ ấu vì s ức
khoẻ tồn diện cả thể chất và tâm thần - vì sự thoải mái cho tất cả m ọi
người sống trong cộng đồng.
Với phương châm “Tất cả vì sức khỏe tâm th ần và vì ng ười bệnh tâm
thần”
1.2. Khái niệm về sức khỏe tâm thần.
Trong khi sức khoẻ về thể chất đã được dần từng bước xã hội đặt đúng
vào vị
trí của nó, thì sức khoẻ tâm thần cịn phải bền bỉ ph ấn đấu đ ể thay đ ổi
dần nhận
3



thức vẫn còn nhiều lệch lạc, nhiều mặc cảm.
Vậy sức khoẻ tâm thần là gì? Sức khoẻ tâm th ần khơng ch ỉ là m ột tr ạng
thái khơng có rối loạn hay dị tật về tâm thần, mà còn là một trạng thái tâm
thần hoàn toàn thoải mái. Muốn có một trạng thái tâm thần hồn tồn
thoải mái thì cần phải có chất lượng ni sống tốt, có đ ược s ự cân b ằng và
hoà hợp giữa các cá nhân, môi trường xung quanh và môi tr ường xã h ội.
Như vậy, thực chất sức khoẻ tâm thần ở cộng đồng là:
1. Một cuộc sống thật sự thoải mái.
2. Đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của
người
khác.
3. Có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý tr ước mọi tình huống.
4. Có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối quan h ệ.
5. Có khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các s ự c ố gây m ất
thăng
bằng, căng thẳng (Tổ chức y tế thế giới. Geneva - 1998).
Vậy là chăm sóc bảo vệ sức khoẻ tâm thần cho mọi người là một mục tiêu
rấ t
cụ thể, mang tính xã hội, nhưng cũng rất cao, rất lý tưởng và ph ải ph ấn
đấu liên
tục để tiến dần từng bước, cuối cùng đạt được m ục tiêu “Nâng cao ch ất
lượng cuộc sống” của con người Việt Nam.
1.3. Nội dung của tâm thần học.
- Tâm thần là một bộ mơn trong y học, có nhiệm vụ nghiên c ứu các bi ểu
hiện lâm sàng, bệnh nguyên, bệnh sinh các bệnh tâm th ần, nghiên c ứu các
biện pháp phòng và chữa các bệnh này.
- Tâm thần học được chia ra 2 phần lớn: tâm thần h ọc đại c ương và tâm
thần học hiện đại.
- Trong quá trình phát triển, tâm thần học đã chia ra nhiều phân môn: tâm
thần học người lớn, tâm thần trẻ em, tâm thần học quân sự, tâm th ần học

người già, giám định pháp y tâm thần, tâm thần học xã h ội, d ược lý tâm
thần và sinh hóa tâm thần...
1.4. Thế nào là bệnh tâm thần.
- Là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn do nhiều nguyên
nhân khác nhau gây ra: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang ch ấn tâm th ần,
bệnh cơ thể…làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại. Các quá trình cảm
giác, tri giác, tư duy, ý thức...bị sai lệch cho nên bệnh nhân tâm th ần có
những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù h ợp v ới th ực t ại, v ới
môi trường xung quanh.
4


- Phạm vi các bệnh tâm thần rất rộng. Bệnh tâm th ần là loại bệnh r ất ph ổ
biến,
công nghiệp ngày càng phát triển, sự tập trung dân cư vào các thành ph ố
ngày
càng đông, cuộc sống ngày càng căng thẳng thì bệnh ngày càng tăng. Có
những
bệnh tâm thần nặng (các bệnh loạn thần), quá trình phản ánh th ực tại sai
lệch trầm trọng, hành vi, tác phong bị sai lệch nhiều. Có nh ững b ệnh nhân
tâm thần nhẹ (các bệnh tâm căn, nhân cách bệnh), quá trình ph ản ánh
thực tại cũng như hành vi tác phong ít rối loạn, bệnh nhân vẫn cịn có th ể
sinh hoạt, lao động, học tập được, tuy có giảm sút.
- Bệnh tâm thần thường không gây chết đột ngột nh ưng làm đ ảo l ộn sinh
hoạt, gây căng thẳng cho các thành viên trong gia đình và t ổn th ất c ả v ề
kinh tế. Bệnh tâm thần nếu khơng được chữa trị kịp thời có th ể dẫn đến
trạng thái tâm thần sa sút, người bệnh trở thành gánh n ặng cho gia đình
và xã hội. Phát hiện sớm và ngăn chặn kịp th ời là để ngăn chặn s ự tiến
triển xấu này.
1.5. Phân biệt bệnh tâm thần với bệnh thần kinh.

 Điểm khác nhau:
- Bệnh tâm thần (còn gọi là tâm bệnh) chưa phát hiện đ ược t ổn th ương
đặc hiệu về mặt hình thái của hệ thần kinh mà chỉ phát hiện đ ược nh ững
biến đổi tinh vi về mặt sinh hóa, miễn dịch, di truyền...Ða số các dấu hi ệu
bệnh là do rối loạn
chức năng của não. Phần lớn bệnh nhân có thể ăn khỏe, ch ơi khỏe, đi đ ứng
bình
thường nhưng có ý nghĩ, cảm xúc, hành vi khơng phù h ợp, kỳ d ị, khó hi ểu.
Bệnh nhân tâm thần thường khơng nhận thấy mình bị bệnh, t ừ ch ối điều
trị tại chuyên khoa tâm thần.
- Bệnh nhân thần kinh có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra làm t ổn
thương
thực thể tại các phần khác nhau của hệ thần kinh nh ư não bộ, tủy s ống,
dây thần
kinh ngoại vi gây rối loạn chủ yếu chức năng tiếp thu và thực hiện của con
người. Người bệnh ít có các hành vi kỳ dị, ý nghĩ bất bình th ường nh ưng có
thể tê liệt nửa người, khó khăn đi đứng, ăn nói, điếc, mù...). Đa số bệnh
nhân cịn ý thức được bệnh của mình.
 Điểm liên quan với nhau:
- Bệnh thần kinh có tổn thương ở tổ chức não, ít nhiều có rối lo ạn tâm
thần kèm
5


theo: rối loạn trí nhớ, trí tuệ, ý thức...
- Bệnh nhân tâm thần (bệnh tâm thần nội snh) tuy ch ưa phát hiện đ ược
tổn thương thực thể ở não, có thể có những rối loạn th ần kinh kèm theo
(rối loạn trương lực cơ, phản xạ, thần kinh thực vật...).
2. Nguyên nhân và các bệnh tâm thần thường gặp.
2.1. Nguyên nhân.

Nguyên nhân gây nên bệnh tâm thần là một vấn đề phức tạp. Hiện nay, có
những bệnh nguyên nhân đã rõ ràng, nhưng vẫn còn một số bệnh nguyên
nhân
chưa xác định được. Xung quanh vấn đề bệnh nguyên và bệnh sinh các
bệnh tâm thần còn tồn tại nhiều quan điểm và giả thuyết khác nhau.
2.1.1. Nguyên nhân thực thể.
Là những bệnh mà nguyên nhân do tổn thương tr ực tiếp tổ ch ức não hay
ngoài
não gây trở ngại hoạt động của não.
- Do tổn thương trực tiếp đến tổ chức não:
+ Chấn thương sọ não.
+ Nhiễm khuẩn thần kinh (viêm não, giang mai, th ần kinh...)
+ Nhiễm độc thần kinh (nghiện rượu, ma túy, nhiễm độc th ực phẩm,
nhiễm độc
hóa chất cơng nghiệp, nơng nghiệp...).
+ Các bệnh mạch máu não, các tổn thương não khác (u não, teo não, x ơ r ải
rác,
tai biến mạch máu não...)
- Do các bệnh cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động não:
+ Các bệnh nội khoa, nội tiết.
+ Các bệnh về chuyển hóa và thiếu sinh tố...
2.1.2. Nguyên nhân tâm lý.
- Bệnh loạn thần phản ứng bao gồm: loạn thần phản ứng cấp, rối loạn
sang chấn
sau stress, rối loạn sự thích ứng.
- Căng thẳng tâm lý dẫn đến bệnh tâm căn, rối loạn dạng c ơ th ể, r ối lo ạn
phân ly.
- Rối loạn hành vi ở thiếu niên do giáo dục không đúng, môi tr ường xã h ội
không thuận lợi.
- Rối loạn ám ảnh, lo âu...

2.1.3. Nguyên nhân do cấu tạo thể chất bất thường và phát triển tâm
lý.
- Các di tật bẩm sinh.
6


- Thiếu sót về hình thành nhân cách.
2.1.4. Các ngun nhân chưa rõ ràng.
- Do có sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân khác (di truy ền,
chuyển hóa, miễn dịch, cấu tạo thể chất...) nên khó xác đ ịnh nguyên nhân
chủ yếu. Các rối loạn tâm thần nội sinh thường gặp là:
+ Bệnh tâm thần phân liệt.
+ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực.
+ Động kinh nguyên phát.
2.1.5. Các nhân tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát sinh.
 Nhân tố di truyền:
- Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến một số bệnh tâm th ần
nhưng
khơng phải là tuyệt đối. Có khi bệnh tâm th ần phát sinh trong m ột thành
viên của gia đình mà khơng thấy trong các thành viên khác, có tr ường h ợp
cha mẹ đều có bệnh mà con cháu vẫn khỏe m ạnh bình th ường. Cũng có
trường hợp nhân tố di truyền không tác động vào th ế hệ tiếp theo mà vào
thế hệ sau nữa.
 Yếu tố nhân cách:
- Nhân cách bao gồm: thích thú, khuynh h ướng, năng l ực, tính cách, khí
chất...
- Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sự phát sinh các
bệnh tâm
thần, nhất là các bệnh do căn nguyên tâm lý. Khi bị bệnh tâm th ần thì
người có

nhân cách vững bị nhẹ hơn và hồi phục nhanh hơn.
- Nhân cách yếu, không bền vững là một yếu tố thuận l ợi cho b ệnh tâm
thần phát sinh, khi mắc bệnh tâm thần sẽ hồi phục khó khăn và ch ậm.
 Tuổi tác:
- Mỗi lứa tuổi có những đặc điểm tâm lý riêng, vì thế có nh ững lo ại bệnh
tâm thần thường hay xảy ra ở lứa tuổi này mà ít xảy ra ở lứa tuổi khác.
 Giới tính:
- Nam giới thường mắc bệnh tâm thần nhiều hơn n ữ giới. Các bệnh tâm
thần do chấn thương sọ não, nghiện rượu, bệnh động kinh...th ường g ặp ở
nam giới.
Các bệnh rối loạn phân ly (Histeria), rối loạn cảm xúc lưỡng c ực, tr ầm
cảm, lo âu...hay gặp ở nữ giới. Đặc biệt phụ nữ cịn có nh ững r ối lo ạn tâm
thần do những sự biến động của nội tiết vào các th ời kỳ: dậy thì, kỳ kình
nguyệt, sinh nở, tiền mãn kinh mà và mãn kinh.
7


 Tình trạng sức khỏe tâm thần:
- Trên thực tế lâm sàng thường gặp những bệnh tâm thần phát sinh khi
sức khỏe bị giảm sút, mất ngủ kéo dài, thiếu dinh dưỡng lâu ngày, làm vi ệc
quá sức...Khi
người bệnh tâm thần quá suy kiệt thì cần phải nâng cao thể trạng để giúp
người
bệnh nhanh chóng hồi phục.
2. Thực trạng về quản lý người bệnh tâm thần.
2.1. Khả năng phát hiện bệnh, điều trị bệnh và chăm sóc người bệnh
cịn nhiều hạn chế.
2.1.1. Khả năng phát hiện bệnh:
Điều tra ngẫu nhiên mẫu 620 hộ gia đình cho thấy, ở nhóm t ừ 17 tuổi tr ở
lên, tỷ lệ bệnh nhân tâm thần được phát hiện bởi cộng đồng và ngành y tế

chiếm 5,4%.
Nếu xét với nhóm loạn thần và động kinh, tỷ lệ đ ược c ộng đ ồng và y t ế
phát hiện cũng chỉ đạt 19,8%. Trong khi, còn t ới 80% bệnh nhân thu ộc
nhóm hai bệnh này chưa được cộng đồng và y tế phát hiện.
2.1.2. Khả năng điều trị bệnh:
Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng (BVSKTTCĐ) do ngành y tế
đảm trách chủ yếu quản lý và điều trị cho người bệnh tâm th ần phân li ệt
và người bệnh động kinh. Nhưng ngay với các đối tượng này, đi ều tra ng ẫu
nhiên 620 hộ gia đình cho thấy chỉ có 50% số bênh nhân tâm th ần phân
liệt và động kinh đã được phát hiện và tiếp cận đ ược v ới các d ịch v ụ c ủa
dự án BVSKTTCĐ. Hiện
98,7% người bệnh tâm thần hiện đang sống tại cộng đ ồng, cùng v ới gia
đình hoặc đang đi lang thang. Tỷ lệ tiếp cận và được chăm sóc t ại các c ơ
sở y tế tập trung chỉ chiếm 1,3%.
2.1.3. Khả năng chăm sóc người bệnh tâm thần:
Hệ thống LĐTBXH đã thực hiện chế độ trợ cấp xã hội (phát thuốc và tiền
trợ cấp hàng thàng) cho 95.8% số người bệnh tâm th ần đã hoàn thiện h ồ
sơ.
Tuy nhiên, vẫn còn 4.2% số người bệnh tâm thần phân li ệt và ng ười b ị
bệnh động kinh sau khi đã được chẩn đoán bệnh bởi ngành y tế v ẫn ch ưa
được nhận trợ cấp xã hội vì thiếu cơ chế liên kết gi ữa ngành LĐTBXH và
ngành Y tế.
Như vậy, cả ngành Y tế và ngành LĐTBXH nói riêng và suy rộng ra là cả h ệ
thống nhà nước (vận hành với kinh phí từ ngân sách nhà n ước) nói chung
chỉ mới cung cấp dịch vụ cho khoảng 5% đối tượng bị rối nhiễu tâm trí và
8


chủ yếu tập trung vào những trường hợp nặng. Với riêng hai bệnh tâm
thần phân liệt (TTPL) và động kinh, quản lý của dự án BVSKTTCĐ m ới ch ỉ

đạt 71.9% kế hoạch. Mà kế hoạch này, chỉ tập trung vào nh ững trường
hợp bị bệnh nặng. Các đối tượng bị bệnh tâm thần khác nh ư lo âu, rối lo ạn
hành vi, thiểu năng trí tuệ, tăng động... chưa được đ ưa vào d ự án
BVSKTTCĐ của Bộ y tế. Như vậy, gần 95% người rối nhiễu tâm trí, 80%
người bệnh tâm thần nằm ngoài diện bao phủ của dịch vụ chăm sóc
BVSKTTCĐ của ngành y tế. Cho thấy vai trị của gia đình, cộng đ ộng v ẫn là
chính trong chăm sóc người bệnh hiện nay ở hai tỉnh.
2.2. Chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần:
Hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần chủ yếu do
ngành y tế quản lý, và một phần hỗ trợ an sinh xã hội ngành LĐTBXH th ực
hiện. Các cơ sở cung cấp dịch vụ CSSKTT chủ yếu chú tr ọng vào đi ều tr ị
tập trung bằng thuốc và dự phòng cũng tập trung vào phát thuốc đi ều tr ị,
các dịch vụ trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người bệnh còn r ất
hạn chế. Mức trợ cấp xã hội chưa bằng 1/4 mức lương tối thiểu cho người
bệnh ở cộng đồng, và chỉ tương đương 1/2 mức lương tối thiểu cho b ệnh
nhân ở cơ sở chăm sóc tập trung. Các nguyên lý chăm sóc ph ục hồi và đ ảm
bảo quyền tối thiểu của bệnh nhân chưa được chú trọng trong quá trình
thiết kế, vận hành và giám sát chất lượng phục vụ CSSKTT.
Xét theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới (WHO), việc đánh giá ch ất
lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần tại cơ sở có điều tr ị tập
trung, được nhóm nghiên cứu căn cứ vào mức độ đảm bảo năm quy ền c ơ
bản của bệnh nhân. Các cơ sở được khảo sát của c ả y tế và LĐTBXH có đ ạt
mức độ sơ khởi ở bốn khu vực: (1) Chất lượng môi trường sống, (2) s ự
đảm bảo điều kiện chăm sóc về sức khỏe và thể chất, (3) năng l ực pháp
luật và sự tự do cá nhân; (4) mối quan hệ gi ữa nhân viên và ng ười b ệnh.
Riêng khu vực thứ năm (sống độc lập và tái hòa nh ập cộng đ ồng), cả hai
bệnh viện đều chưa có bất kỳ dịch vụ nào giúp bệnh nhân tiếp cận các
quyền này, dù chỉ ở mức sơ khởi.
Ở các bệnh viện tâm thần tỉnh đã có sự đảm bảo điều kiện cơ bản v ề
chăm sóc sức khỏe thể chất, người bệnh không bị từ chối điều tr ị vì các lý

do tài chính, tín ngưỡng, văn hóa, và ln được chuy ển gửi các c ơ s ở
chuyên khoa khi cần thiết. Tuy nhiên, việc chăm sóc ch ủ yếu là d ựa vào
hóa dược trị liệu, mảng phục hồi chức năng và huy động nguồn lực xã h ội
hỗ trợ người bệnh còn bị “bỏ ngỏ”. Hoạt động khám sàng lọc các bệnh
thường gặp, tư vấn sức khỏe sinh sản.. hoàn toàn thiếu vắng. Người bệnh
được đưa vào điều trị chủ yếu theo nguyện vọng của gia đình, khơng ph ải
trên cơ sở mong muốn của người bệnh. Các quyền lợi hợp pháp c ủa ng ười
9


bệnh tôn trọng như một người sử dụng dịch vụ y tế hồn tồn khơng được
xét tới trong các hoạt động điều trị.
2.3. Truyền thơng kiến thức về chăm sóc sức khỏe tâm thần:
Tài liệu về sức khỏe tâm thần cịn hạn chế về hình thức và nội dung. Kh ả
năng tiếp cận các tài liệu truyền thông về chăm sóc sức khỏe tâm thần cịn
rất thấp.
2.4. Cấu trúc tổ chức hệ thống CSSKTT chưa hợp lý:
Hệ thống dịch vụ CSSKTT bao gồm các cơ sở khám và điều tr ị bệnh tâm
thần do ngành y tế quản lý; các cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp xã h ội, tr ị
liệu tâm lý, chăm sóc và ni dưỡng đối tượng chính sách, trong đó có
người bệnh tâm thần.
Hệ thống cung cấp dịch vụ CSSKTT được hình thành từ trung ương đ ến
địa phương, nhưng BVTT chỉ tập trung tuyến trung ương và tuy ến tỉnh.
Các dịch vụ CSSKTT ở tuyến cơ sở chưa phát triển.
Hệ thống hiện tại hồn tồn khơng đưa vào trong cấu trúc hệ thống y tế
ngồi nhà nước, bao gồm dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm th ần cung c ấp
bởi các cơ sở y tế tư nhân và tổ chức dân sự, phi lợi nhuận. M ảng chăm sóc
tại cộng đồng bởi người dân hoàn toàn bị bỏ qua.

10



BÀI 2

CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ HỘI CHỨNG BỆNH
TÂM THẦN
Mục tiêu bài học;
1. Trình bày được triệu chứng bệnh tâm thần.
2. Nêu được các hội chứng tâm thần thường gặp.
* Đặc điểm của triệu chứng học tâm thần.
Để mô tả các triệu chứng tâm thần, người ta sử dụng nguyên tắc phân loại theo
tâm lý về các chức năng tâm thần.
Biến đổi các hiện tượng tâm lý: tri giác, trí nhớ, tư duy, cảm xúc, ý chí…
Mợt triệu chứng tâm thần ít khi xuất hiện riêng lẻ mà thường kết hợp với nhau
thành mợt hợi chứng. Thí dụ: hợi chứng trầm cảm bao gồm rối loạn cảm xúc
(khí sắc buồn), rối loạn tư duy (tư duy chậm chạp) và rối loạn vận động (vận
động hạn chế).
Khi đánh giá các triệu chứng tâm thần, nhiều khi khó phân biệt giữa triệu chứng
bệnh lý với hoạt động tâm thần bình thường. Cần phải nắm vững các đặc điểm
tâm lý, ngôn ngữ từng lứa tuổi, tầng lớp xã hội, từng địa phương, từng dân tợc
để phân tích và nhận định.
I. CÁC TRIỆU CHỨNG BỆNH TÂM THẦN.
1. Rối loạn cảm giác và tri giác.
1.1. Tăng cảm giác:
- Là tăng khả năng cảm thụ những kích thích tự nhiên ở bên ngoài mà bình
thường khơng nhận thấy.
- Đây là triệu chứng đầu tiên của loạn thần, ngoài ra còn gặp trong các trạng thái
suy nhược, nhiễm khuẩn, nhiễm độc.
11



Giảm cảm giác:
- Là giảm khả năng cảm thụ những kích thích bên ngoài, bệnh cảm thấy mơ hồ
khơng rõ ràng.
- Thường gặp trong hội chứng trầm cảm, rối loạn phân ly…
1.3. Loạn cảm giác:
- Là những cảm giác đa dạng hết sức khó chịu xuất phát từ các vùng khác nhau
trong cơ thể, nhưng không thể xác định được bằng khám xét cụ thể.
- Thường gặp trong hội chứng trầm cảm, nghi bệnh.
1.4. Ảo giác:
- Là tri giác về mợt sự vật khơng có trong thực tại khách quan, ảo giác phát sinh
là do biểu tượng đã chiếm một vị trí nổi bật, do vậy mà ấn tượng thực tế được
thay thế bằng hình ảnh bên trong, xuất chiếu ra thực tại với cường đợ mạnh
mang tính khách quan. Người bị ảo giác hoàn toàn tin rằng mình đang nhận
được những sự vật hiện tượng có trong thực tại, giống như một người bình
thường đang tri giác hiện thực khác quan.
- Tuỳ thuộc vào cơ quan tiếp nhận mà có nhiều loại ảo giác khác nhau. Ví dụ: ảo
thanh là từ cơ quan thính giác, ảo thị là từ cơ quan thị giác...
Chú ý:
. Ảo giác giả là những hình ảnh của sự vật không giống với sự vật hiện tượng
trong thực tế.
. Ảo tưởng là tri giác nhầm, khơng đúng về sự vật hiện tượng có thật. Khác với
ảo giác giả, ảo tưởng nhất thiết phải có đối tượng thực tế nhưng bị tri giác sai
lầm.
. Nhìn biến hình là tri giác sai lệch về kích thước hoặc hình dạng của sự vật và
không gian.
2. Rối loạn cảm xúc.
2.1. Tăng khí sắc:
- Là trạng thái thoải mái, vui sướng cùng với say mê mãnh liệt và tăng ham
muốn.

- Thường gặp trong hưng cảm.
2.2. Giảm khí sắc:
- Là trạng thái buồn rầu, ủ rũ, đau khổ.
- Thường gặp trong trầm cảm.
2.3. Khối cảm:
- Là trạng thái vui vẻ, vơ tư mợt cách vơ nghĩa, khơng thích ứng với hoàn cảnh
và lứa tuổi.
- Khoái cảm có thể gặp ở người bình thường khi uống một chút rượu, trong tiền
hôn mê...
2.4. Vô cảm:
1.2.

12


- Là trạng thái không biểu hiện cảm xúc, thờ ơ dửng dưng với xung quanh và cả
bản thân mình.
- Thường gặp trong tâm thần phân liệt.
2.5. Cảm xúc dị thường:
- Là cảm xúc khơng thích hợp trái ngược nhau trước một đối tượng như: vừa
yêu vừa ghét, hoặc hoàn toàn trái ngược với sự kiện như: cười trong đám tang.
- Thường gặp trong tâm thần phân liệt.
3. Rối loạn tư duy.
3.1. Tư duy phi tán:
- Là sự liên tưởng mau lẹ, có tính chất cơ giới, máy móc. Nợi dung nông cạn,
chủ đề luôn thay đổi theo tác động của ngoại cảnh.
- Thường gặp trong hưng cảm.
3.2. Tư duy chậm chạp:
- Là dòng ý tưởng rất chậm chạp, suy nghĩ khó khăn, sau mỡi câu hỏi dừng lại
rất lâu mới trả lời.

- Thường gặp trong trầm cảm.
3.3. Tư duy rời rạc:
- Là ý tưởng như bị ngắt quãng làm bệnh nhân khơng nói được nữa, sau đó mới
tiếp tục nói về chủ đề cũ hoặc chuyển chủ đề mới.
- Thường gặp trong tâm thần phân liệt.
3.4. Tư duy lai nhai:
- Là người bệnh khó chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác, thường đi sâu vào
những chi tiết vụn vặt, nhỏ mọn.
- Thường gặp trong bệnh động kinh.
3.5. Tư duy định kiến:
- Là người bệnh luôn luôn lặp đi lặp lại một chủ đề nhất định.
- Thường gặp trong loạn tâm thần do căn nguyên tâm lý, nhân cách bệnh.
3.6. Ám ảnh:
- Là những ý tưởng, những hồi ức, những cảm xúc và hành vi không phù hợp
với thực tế, luôn luôn xuất hiện trên người bệnh với tính chất cưỡng bức. Điều
này làm cho bệnh nhân lo sợ.
- Để chống lại sự lo sợ này bệnh nhân có những lời nói, đợng tác hoặc hành
đợng để tự trấn an mình, ta gọi đó là những nghi thức.
3.7. Hoang tưởng:
- Là những ý tưởng, phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế, do bệnh sinh
ra, người bệnh cho là hoàn toàn chính xác, khơng thể giải thích, thuyết phục
được.
- Các hoang tưởng thường gặp:

13


* Hoang tưởng bị hại: Bệnh nhân tin tưởng rằng có người đang theo dõi, hại
mình, bắt giết mình…
* Hoang tưởng ghen tuông: Bệnh nhân cho rằng vợ/ chồng mình có quan hệ bất

chính với người khác, sự duy trì hoang tưởng dẫn đến cảm xúc thù hằn, giận dữ
hoặc bí mật theo dõi.
* Hoang tưởng nghi bệnh: Bệnh nhân ln nghi ngờ mình mắc bệnh nguy hiểm
khơng có cơ sở thực tế, đi khám nhiều nơi để yêu cầu tìm cho ra bệnh.
* Hoang tưởng liên hệ: Với những sự kiện hàng ngày bệnh nhân đều cho rằng
có mối liên quan đặc biệt đối với mình.
* Hoang tưởng bị tợi: Bệnh nhân tin rằng mình có nhiều tợi lỡi khơng thể tha
thứ được, có thể tìm đến cái chết làm cho bệnh nhân tự sát.
4. Rối loạn hoạt động.
4.1. Tăng hoạt động:
- Là những hoạt động vượt qua những giới hạn bình thường, tiêu hao năng
lượng.
- Thường gặp trong hưng cảm, nghiện độc chất.
4.2. Giảm hoạt động:
- Là trạng thái suy giảm các hình thức hoạt động giới hạn.
- Thường gặp trong trầm cảm, trạng thái suy nhược.
4.3. Mất hoạt động:
Thường kết hợp với mất cảm xúc, gặp trong tâm thần phân liệt, loạn tâm thần
phản ứng.
4.4. Hành vi xung động:
Là những hành vi xuất hiện đột ngột, mãnh liệt, không duyên cớ, không được
người bệnh cân nhắc suy nghĩ và khơng có sự đấu tranh để tự kiềm chế. Có thể
gặp các loại xung đợng khác nhau như: uống rượu, đốt nhà, trộm cướp, đi lang
thang, ăn bẩn, loạn dục...
4.5. Hội chứng căng trương lực:
- Gồm hội chứng kích đợng căng trương lực và bất đợng căng trương lực.
- Thường gặp trong tâm thần phân liệt.
5. Rối loạn trí tuệ.
Trí tuệ được coi là nhận thức của con người, bao gồm cả kiến thức đã thu nhập
được, cả năng lực tiếp thu và áp dụng nó vào thực tiễn.

5.1. Trí tuệ thiểu năng: Thường có tính chất bẩm sinh hoặc xuất hiện trong
những năm đầu sau sinh. Các trạng thái trí ṭ thiểu năng khơng có tính chất
t̀n tiến (không nặng thêm), bao gồm ba mức độ: hội chứng ngu, hội chứng
đần và hội chứng thộn.
5.2. Trí tuệ sa sút: Là trạng thái cuối cùng của nhiều bệnh tâm thần, bao gồm
hai loại: trí tuệ sa sút từng phần và trí ṭ sa sút toàn bợ.
14


1.

2.

3.

5.

6. Rối loạn trí nhớ.
Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm, hiểu biết của con
người bằng cách ghi nhớ, giữ gìn và tái hiện chúng.
Rối loạn trí nhớ gồm : Giảm nhớ, tăng nhớ, mất nhớ, loạn nhớ.
II. CÁC HỢI CHỨNG BỆNH TÂM THẦN.
Hợi chứng hưng cảm. Là hội chứng hưng phấn tâm thần vận đợng với các biểu
hiện:
- Cảm xúc hưng phấn: Khí sắc tăng, vui vẻ, thân mật với mọi người thái quá,
có thể đi từ trạng thái khoái cảm đến.
- Tư duy hưng phấn: Nói nhanh, tư duy phi tán, chú ý luôn thay đổi, hoang
tưởng tự cao, phát minh…
- Vận động hưng phấn: Đứng ngồi không yên, dáng đi điệu bộ, ít ngủ, ăn uống
ít.

Hội chứng trầm cảm. Là hội chứng thường gặp, chiếm tỷ lệ khoảng 2,8% dân
số với các biểu hiện:
- Cảm xúc ức chế: Khí sắc giảm, bệnh nhân buồn rầu, ủ rũ. Mất các thích thú
cũ và hứng thú trong lao động, chán ăn hoặc ăn nhiều.
- Tư duy ức chế: Suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng khó khăn, ý tưởng nghèo nàn,
có nhiều ý tưởng tự ty, tự buộc tội, bệnh nhân trở nên vô vọng, bi quan có thể có
ý tưởng tự sát.
- Vận đợng ức chế: Lờ đờ chậm chạp, giọng nói trầm và đơn điệu, giảm các
đợng tác, trường hợp nặng có thể bất động.
Hội chứng paranoid. Là hội chứng thường gặp trong tâm thần phân liệt, động
kinh, loạn thần triệu chứng và loạn thần căn nguyên tâm lý. Bao gồm:
- Hoang tưởng các loại: suy đoán và cảm thụ.
- Các hiện tượng tâm thần tự động:
+ Ý tưởng tự động: ý nghĩ của mình bị bộc lộ, bị đánh cắp hoặc do người khác
sắp đặt sẵn vào ( tư duy bị bộc lợ).
+ Cảm giác tự đợng: mợt siêu lực nào đó gây cho người bệnh các cảm giác
nóng, lạnh, đau, đói, khát…
+ Vận động tự động: cho rằng người bên ngoài dùng tay chân mình để cử động,
dùng miệng mình để nói…
- Ảo giác: có thể là ảo giác thật nhưng điển hình là ảo giác giả.
4. Hội chứng Paranoia.
- Hoang tưởng nguyên phát, suy đoán.
- Rối loạn cảm xúc phù hợp với hoang tưởng.
- Khơng có rối loạn tri giác và hiện tượng tâm thần tự động.
Hội chứng nghi bệnh. Là trạng thái quá lo lắng sợ hãi, quá chú ý vào sức khỏe
của mình đến mức trở thành như hoang tưởng nghi bệnh.
15


BÀI 3


CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN TÂM THẦN
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Trình bày được nhận định tình trạng bệnh nhân rối loạn tâm tâm th ần
c ấp
và mãn tính.
2. Mô tả được cách hướng dẫn người nhà bệnh nhân quản lý bệnh nhân
rố i
loạn tâm thần tại nhà.
3. Thực hiện được chế độ chăm sóc, chế độ thuốc và tư vấn cho bệnh
nhân và gia đình bệnh nhân.
NỘI DUNG
Rối loạn tâm thần là rối loạn trong khả năng tư duy và xử lý thông tin.
Người bị loạn tâm thần khơng có khả năng nhận thức, ghi nh ớ, x ử lý, h ồi
tưởng,
hoặc tác động lên thông tin, một cách mạch lạc, theo m ột ph ương cách
được chấp nhận. Có sự giảm khả năng chủ ý huy động, di chuy ển, duy trì
và hướng sự chú ý. Một đặc điểm quan trọng của trạng thái loạn tâm th ần
là bệnh nhân không thể xếp loại ưu tiên các kích thích. Kh ả năng tác động
lên hiện thực khơng thể tiên đốn được và bị giảm bởi vì bệnh nhân khơng
thể phân biệt các kích thích nội tại với ngoại tại.
16


1. Nhận định tình trạng bệnh nhân rối loạn tâm tâm thần c ấp.
- Bệnh nhân nghe thấy các tiếng nói bất thường, có các ảo giác (các c ảm
giác sai
hoặc tưởng tượng, ví dụ: nghe thấy tiếng nói khi khơng có ai ở xung
quanh).
- Bệnh nhân có các biểu hiện hoang tưởng: bệnh nhân có các ý t ưởng hồn

tồn sai lầm mà những người khác cùng nhóm xã hội v ới họ khơng có suy
nghĩ như vậy. Ví dụ: bệnh nhân tin tưởng rằng h ọ đang bị hàng xóm đ ầu
độc, họ đang nhận được các thơng điệp từ tivi hoặc đang bị quan sát theo
dõi bởi người khác bằng những phương tiện đặc biệt.
- Các điều bệnh nhân tin hay sợ hãi kỳ dị.
- Lú lẫn, bất an, bồn chồn.
- Bệnh nhân có thể bị kích động hay có các hành vi kỳ d ị.
- Ngơn ngữ lộn xộn, phân liệt hay ngôn ngữ kỳ lạ.
- Các trạng thái cảm xúc cực đoan và không ổn định.
- Các gia đình có thể đưa bệnh nhân đến khám vì các thay đ ổi trong hành vi
của
bệnh nhân, bao gồm các hành vi kỳ lạ hoặc biểu hiện hoảng h ốt, s ợ hãi
(tách biệt với mọi người, đa nghi hăm dọa với người khác ...).
* Nếu các triệu chứng loạn thần tái diễn hay mãn tính → rối loạn loạn
thần mãn
tính.
* Nếu các triệu chứng hưng cảm chiếm ưu thế (tăng khí sắc, ngơn ngữ hay
tư duy phi tán, tự cao ...) → các rối loạn cảm xúc l ưỡng c ực.
* Nếu khí sắc trầm chiếm ưu thế trong bệnh cảnh → bệnh trầm cảm.
2. Nhận định tình trạng bệnh nhân rối loạn tâm tâm thần mãn.
Bệnh nhân có thể biểu hiện:
- Khó khăn trong suy nghĩ và tập trung chú ý.
- Nghe thấy các tiếng nói bất thường.
- Có những điều tin kỳ lạ (ví dụ: có những lực lượng siêu nhiên, bị theo dõi,
truy hại...).
- Các triệu chứng cơ thể đặc biệt (ví dụ: có các đ ộng v ật hay đ ồ v ật b ất
thường bên trong cơ thể mình).
- Các vấn đề về cảm xúc hành vi bất thường, rút lui, cơ l ập kh ỏi xã h ội.
- Có thể có các rắc rối trong điều hành cơng việc hay nghiên c ứu.
- Giảm động lực hoặc giảm các mối quan tâm thích thú, l ơ là chăm sóc bản

thân.
- Các rối loạn tư duy (biểu hiện bằng ngôn ngữ kỳ lạ hoặc r ời r ạc không
liên quan).
17


- Gia đình có thể đưa bệnh nhân đi khám bệnh vì các biểu hiện bàng quan,
cơ lập, tách biệt với mọi người, lười vệ sinh cá nhân hoặc có các hành vi kỳ
d ị.
 Các giai đoạn có tính chất chu kỳ biểu hiện:
- Kích động hoặc bồn chồn bất an.
- Hành vi kỳ lạ.
- Các ảo giác (các tri giác sai lầm hay tưởng tượng, ví dụ: nghe th ấy c ả
tiếng nói
mà người khác khơng nghe thấy).
- Các hoang tưởng (các điều tin chắc chắn và hoàn tồn sai l ầm, ví d ụ:
bệnh nhân cho rằng mình có dịng dõi hồng gia, đang nh ận đ ược các
thông điệp từ T.V, đang bị theo dõi hoặc truy hại).
3. Các hướng dẫn quản lý bệnh nhân.
Thông tin cơ bản cho bệnh nhân và gia đình bệnh nhân:
- Kích động và các hành vi kỳ dị là các triệu chứng của bệnh tâm th ần.
- Các giai đoạn cấp thường có tiên lượng tốt, song tiến tri ển lâu dài c ủa
bệnh thì
khó có thể tiên lượng trước được từ giai đoạn cấp.
- Các triệu chứng có thể ln biến động. Có các triệu ch ứng báo tr ước và
các triệu chứng sớm khi tái phát.
- Thuốc là yếu tố cơ bản trong trị liệu để làm giảm các triệu ch ứng hiện
tại và các dự phòng tái phát.
- Việc điều trị có thể cần phải tiếp tục vài tháng sau khi đã h ết các tri ệu
chứng.

- Trợ giúp của gia đình đóng vai trị cơ bản để bệnh nhân tuân th ủ đi ều tr ị
và tái
phục hồi chức năng một cách có hiệu quả.
- Các tổ chức cộng đồng có thể là nguồn trợ giúp quý báu cho bệnh nhân
và gia
đình họ.
4. Chế độ chăm sóc và tư vấn cho bệnh nhân và gia đình b ệnh nhân.
- Bệnh nhân loạn thần cần được theo dõi giấc ngủ, số giờ ngủ được trong
ngày, khi ngủ có ngủ mê, có thức giấc giữa đêm khơng?... Do ng ười b ệnh
thường bị hoang tưởng, ảo giác, kích động, khơng t ự chăm sóc đ ược bản
thân nên gia đình phải hết sức chú ý.
- Điều dưỡng hướng dẫn người nhà khi chăm sóc bệnh nhân cần l ưu ý
những vấn đề sau có thể xảy ra cho người bệnh:
Các triệu chứng bệnh như hoang tưởng (có những ý tưởng sai, không đúng
với
18


thực tế), ảo giác (cảm thấy những sự việc không hề có trong hiện th ực) có
thun giảm hay khơng?
Có xuất hiện thêm các ý nghĩ kỳ dị (không th ể có đ ược trong th ực t ế)
khơng?
Có dễ kích động hay khơng?
Bệnh nhân đã nhận thức được bệnh của mình hay chưa? Có h ợp tác điều
trị
khơng?
Cần phát hiện ý tưởng và hành vi tự sát (nhất là ở nh ững bệnh nhân tr ầm
cảm
nặng, hoặc đã có hành vi tự sát trong tiền s ử). Ngoài ra, c ần theo dõi các
triệu

chứng khác như thái độ với người thân, với bệnh nhân khác, s ự quan tâm
chăm
sóc vệ sinh cá nhân...
- Giảm thiểu các căng thẳng và sự kích thích đối với bệnh nhân:
Khơng tranh luận với các suy nghĩ loạn thần của bệnh nhân (Ví dụ: bạn có
thể
khơng đồng ý với các điều tin của bệnh nhân, song không đ ược c ố tranh
cãi là
bệnh nhân đã sai).
Tránh đối đầu hay chỉ trích bệnh nhân trừ khi đó là cần thiết đ ể phịng
tránh các
hành vi gây thương tổn hay gây rối.
- Đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và người chăm sóc họ.
Gia đình hoặc bạn bè cần phải luôn ở bên bệnh nhân.
Đảm bảo các nhu cầu cơ bản của bệnh nhân (Ví dụ: thức ăn, n ước uống ...)
Chú ý tránh các thương tổn cho bệnh nhân.
- Hầu hết các bệnh nhân loạn thần đều có một mức độ rối loạn nh ất định
về ăn
uống. Trong mọi trường hợp, phải cho họ ăn đủ chất và l ượng. Nên ch ọn
những
thức ăn có nhiều đạm, đường, rau (thành phần này cần nhiều vì các thuốc
an thần kinh cũng có thể gây táo bón), bổ sung các vitamin (ăn hoa qu ả
tươi), uống nhiều nước. Nếu bệnh nhân có tăng huyết áp, tiểu đ ường...
kèm theo, phải có chế độ ăn dành riêng cho từng bệnh do bác sĩ dinh
dưỡng chỉ định.
- Các trường hợp kích động gây nguy hiểm cho bệnh nhân, ng ười nhà hay
cộng
19



đồng cần phải đưa vào viện và theo dõi chặt chẽ ở một cơ sở an toàn.
- Người nhà phải ln có thái độ tơn trọng, giúp đ ỡ, khơng phân bi ệt đ ối
x ử đ ối
với bệnh nhân, lắng nghe ý kiến, thực hiện các yêu cầu, nguy ện v ọng c ủa
họ trong điều kiện cho phép. Khi từ chối, nên giải thích cho ng ười b ệnh
hiểu.
- Phải tuân thủ các chỉ định của nhân viên y tế, không t ự ý cho ng ười bệnh
dùng
thuốc và kịp thời báo cáo những biểu hiện bất thường cả về cơ th ể và tâm
thần.
- Khuyến khích bệnh nhân bắt đầu lại các hoạt động th ường ngày sau khi
đã cải
thiện được các triệu chứng.
5. Chăm sóc về chế độ thuốc.
- Các thuốc chống loạn thần sẽ làm giảm các triệu ch ứng loạn th ần. Li ều
lượng
thuốc nên là liều thấp nhất có thể được mà vẫn có hiệu quả điều trị, mặc
dù một số bệnh nhân có thể cần liều cao hơn.
- Các thuốc chống lo âu cũng có thể được s ử dụng ph ối hợp v ới các thu ốc
an thần kinh để điều trị các cơn kích động cấp diễn.
- Phải giải thích cho bệnh nhân biết rằng việc dùng thuốc liên tục sẽ gi ảm
được
nguy cơ tái phát.
- Cần tiếp tục điều trị bằng các thuốc chống loạn thần ít nh ất 3 tháng sau
cơn loạn thần đầu tiên và cần dùng lâu dài hơn sau các c ơn ti ếp theo.
- Trường hợp bệnh nhân không chịu uống thuốc nh ư y l ệnh c ủa bác sĩ, có
thể tiêm các thuốc chống loạn thần có thời gian bán h ủy dài để đ ảm bảo
việc duy trì liên tục và giảm nguy cơ tái phát.
- Thông báo cho bệnh nhân biết các tác dụng phụ có th ể xảy ra. Các tác
dụng phụ vận động thường gặp là:

Loạn trương lực hay co thắt xoắn vặn cơ cấp. Các biểu hiện này có th ể
điều trị
được bằng tiêm Benzodiazepine hoặc dùng thuốc chống parkinson.
Bồn chồn bất an, vận động không ngừng nghỉ, các triệu ch ứng này có th ể
điều trị được bằng giảm liều hoặc dùng thuốc chẹn β.
Các triệu chứng giống Parkinson (run, mất vận động) có th ể điều tr ị bằng
uống
thuốc chống Parkinson.
 Khám chuyên khoa:
20


- Nếu có thể cân nhắc khám chuyên khoa cho tất cả các tr ường h ợp m ới có
rối loạn các rối loạn loạn thần.
- Trầm cảm hoặc hưng cảm có các triệu chứng loạn thần có th ể c ần m ột
phương
thức điều trị khác. Cân nhắc khám chuyên khoa để chẩn đoán rõ ràng và
đảm bảo một trị liệu đúng đắn nhất.
- Khám chuyên khoa với các dịch vụ cộng đồng thích h ợp có th ể làm gi ảm
bớt
gánh nặng cho các gia đình và tăng cường khả năng tái phục hồi.
- Cần xem xét khám chuyên khoa với các tr ường hợp có các tác d ụng ph ụ
vận
động nặng.
 Lưu ý:
- Nếu các triệu chứng trầm cảm nổi bật trong bệnh c ảnh (khí s ắc tr ầm,
buồn, bi
quan, cảm giác có tội ).
- Nếu các triệu chứng hưng cảm chiếm ưu thế trong bệnh c ảnh (kích
thích, tăng

sắc, tự cao).
- Nhiễm độc mạn tính hoặc trạng thái cai rượu, cai các chất khác (ch ất
kích thích, chất gây ảo giác) có thể gây ra các triệu chứng loạn th ần.

21


BÀI 4

CHĂM SÓC CÁC TRƯỜNG HỢP
CẤP CỨU TÂM THẦN
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Mô tả được các trạng thái bệnh lý tâm thần chính trong c ấp c ứu b ệnh
tâm
thần.
2. Trình bày được định nghĩa, nguyên nhân các trường hợp trong cấp c ứu
bệnh tâm thần.
3. Thực hiện được cách xử trí, theo dõi, chăm sóc và phịng ng ừa các
trường
hợp cấp cứu bệnh tâm thần thường gặp.
NỘI DUNG
Trong lâm sàng tâm thần học có nhiều trường hợp cần c ấp cứu. Ở đây ch ỉ
đề
22


cập đến cấp cứu do rối loạn hành vi tác phong đ ặc hi ệu cho b ệnh nhân
tâm thần,
cần can thiệp y tế với các biện pháp nhanh nhất mà không đề cập đến
những

trường hợp loạn thần trên cơ sở các bệnh như: nhiễm khuẩn, nhiễm độc,
chấn
thương hay các bệnh lý cơ thể. Các trạng thái bệnh lý tâm th ần chính trong
c ấp
cứu tâm thần bao gồm: kích động, tự sát, người bệnh khơng chịu ăn.
1. Kích động.
1.1. Định nghĩa:
Kích động là một trạng thái hưng phấn tâm lý vận động quá m ức, xu ất
hiện đột
ngột, hành vi có tính chất kế tục, khơng có mục đích, khơng phù h ợp v ới
hồn
cảnh xung quanh, thường mang tính chất phá hoại, nguy hiểm.
1.2. Nguyên nhân kích động:
1.2.1. Kích động phản ứng:
- Do nhận thức sai lầm: thường gặp ở bệnh nhân phủ định bệnh, bệnh
nhân cho
rằng mình khơng có bệnh, bị cưỡng bức đến viện để giam gi ữ.
- Do phản ứng với các sự việc không vừa ý trong phòng bệnh, th ường g ặp
ở bệnh nhân động kinh, nhân cách bệnh.
- Do say mê theo đuổi mục đích riêng (th ường do hoang tưởng, ảo giác chi
phối) nhưng bị những người xung quanh cản trở, thường gặp ở bệnh nhân
tâm thần phân liệt.
- Do doạ nạt, yêu sách nhằm thoả mãn mục đích riêng, th ường g ặp trong
chậm
phát triển tâm thần, rối loạn phân ly.
- Do bị bệnh nhân khác xúi dục hoặc bệnh nhân khác kích động nên kích
động
theo.
- Kích động sau stress lạnh, thường gặp trong rối loạn phân ly, rối loạn sau
stress trầm trọng.

- Do thay đổi môi trường đột ngột (chuy ển viện, chuy ển phòng...), th ường
gặp ở
bệnh nhân chấn thương sọ não, tai biến mạch não.
1.2.2. Kích động trong các bệnh tâm thần:
23


- Trong bệnh tâm thần phân liệt: kích động có thể gặp ở tất cả các th ể
nhưng
thường gặp ở các thể: thể thanh xuân, thể căng trương lực, th ể paranoid.
Kích
động thường mang tính chất xung động, đột ngột, không l ường tr ước
được, nhiều khi rất nguy hiểm như đánh hoặc giết người. Kích động có
thể xuất hiện sau các bệnh nhiễm trùng, nhiễm độc hoặc do hoang tưởng,
ảo giác chi phối.
- Trong rối loạn cảm xúc pha hưng cảm: th ường ít khi kích đ ộng, kích đ ộng
thường xuất hiện sau các nhân tố có hại như: quá trình h ưng phấn kéo dài
kèm
theo kiệt sức, ở bệnh nhân xơ vữa mạch não hoặc nhiễm trùng, nhiễm
độc.
- Động kinh tâm thần: kích động xuất hiện đột ngột kèm theo r ối lo ạn
thức kiểu
hồng hơn, trong trạng thái này bệnh nhân có th ể kích đ ộng d ữ d ội, hung
bạo, phá mọi cản trở, giết người, cơn kích động mất đi đột ngột, sau c ơn
bệnh nhân qn tồn bộ.
- Kích động trong rối loạn tâm thần ở người cao tuổi: kích đ ộng th ường,
đột
ngột, vô nghĩa, không phê phán được, thường xuất hiện về ban đêm.
- Ngồi ra cịn gặp trong các bệnh sau:
+ Kích động do các bệnh nhiễm độc (rượu, ma t, hóa chất dùng trong

cơng
nghiệp và nơng nghiệp...).
+ Kích động do các bệnh nhiễm khuẩn (nhiễm khuẩn huy ết, sốt rét ác
tính, thương hàn, viêm não, lao màng não, giang mai não...).
+ Kích động do các bệnh thực thể của não (u não, bệnh lý mạch máu não,
chấn
thương sọ não...)
1.3. Cách xử trí, theo dõi và chăm sóc:
- Hỏi qua người nhà, người đi theo để sơ bộ tìm nguyên nhân kích đ ộng.
- Dùng liệu pháp tâm lý thích hợp để ổn định trạng thái tâm th ần cho bệnh
nhân
như giải thích, động viên, lắng nghe ý kiến của người bệnh, cho bệnh nhân
đi thăm quan buồng bệnh, nếu bệnh nhân bị trói thì c ởi trói cho bệnh
nhân (nếu có thể được).
- Nếu bệnh nhân đồng ý cho khám bệnh thì bác sĩ tiến hành khám ngay v ề
các
24


bệnh cơ thể, các thương tích, các xét nghiệm cận lâm sàng nh ằm lo ại tr ừ
các
chống chỉ định khi điều trị.
- Khi bệnh nhân quá kích động, cần tiến hành điều trị ngay theo y lệnh
bằng các
thuốc:
Haloperidol 5 mg x 1 - 2 ống.
Seduxen 10 mg x 1- 2 ống(tiêm bắp).
Hoặc Aminazin 25mg x 4 - 6 ống (tiêm bắp).
- Nếu giờ thứ 3 người bệnh vẫn còn kích động thì tiếp t ục cho li ều nh ư
trên. Thơng thường sau giờ thứ 6 thì trạng thái tâm th ần của ng ười bệnh

ổn định.
- Khi bệnh nhân ngủ, trạng thái tâm thần ổn định, cần tiến hành khám về
nội khoa, thần kinh và cho làm các xét nghiệm cần thiết nhằm tìm ngun
nhân gây kích động.
- Khi bệnh nhân tỉnh, thầy thuốc cần có mặt để làm liệu pháp tâm lí nh ằm
ổn định trạng thái tâm thần cho người bệnh.
- Khi bệnh nhân hết trạng thái kích động chuy ển sang thuốc uống, theo
dõi các tác dụng phụ của thuốc và tìm hiểu nguyên nhân để điều tr ị theo
nguyên nhân.
- Có thể phối hợp với liệu pháp sốc điện (ECT) t ừ 1-2 lần/24gi ờ. Ch ỉ đ ịnh
trong
những trường hợp: kích động trầm cảm (có ý tưởng và hành vi t ự sát), kích
động căng trương lực, kích động thanh xuân, kích động không dùng đ ược
thuốc an thần kinh hoặc kháng thuốc an thần kinh.
1.4. Quản lý bệnh nhân kích động tại bệnh phịng:
- Tốt nhất trong cơn kích động ta phải quản lý bệnh nhân ở phòng cách ly,
phòng cách ly phải được thiết kế làm sao khỏi bị khuất tầm nhìn c ủa nhân
viên, nghĩa là nhân viên ln quan sát được bệnh nhân đ ể kịp th ời can
thiệp khi bệnh nhân có những hành vi nguy hiểm.
- Phịng cách ly phải ở khu vực yên tĩnh, tránh hiện t ượng kích đ ộng dây
chuyền, bệnh nhân phịng nầy kích động làm bệnh nhân ở nh ững phịng
khác kích động theo. Khu vực nầy hạn chế người nhà ra vào, khơng cho
bệnh nhân cũng như những ngườì tị mị vào xem.
- Phịng cách ly phải thống mát, bảo đảm ánh sáng, khơng bít bùng đ ể
tránh cho bệnh nhân có cảm giác bị giam giữ, có phịng vệ sinh riêng, th ời
gian quản lý bệnh nhân ở phòng cách ly càng ngắn càng tốt, trong tr ường
hợp bệnh nhân q kích động ta có thể cố định bệnh nhân tại gi ường
bằng dây to bản nhưng không được cố định khơng q 24 giờ, có nhi ều
25



×