BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
----------------*****--------------
TRẦN ĐỨC TOÀN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY VỤ
ĐÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI
DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số
: 60.31.10
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN VĂN ĐỨC
HÀ NỘI - 2008
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị
nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thơng tin trích dẫn trong luận văn đã được
ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2008
Tác giả
Trần Đức Toàn
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Phịng Nơng
nghiệp và phát triển nơng thôn huyện Kim Thành đã tạo điều kiện để tôi triển
khai thực hiện đề tài này.
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn tới thầy giáo hướng dẫn TS. Trần Văn Đức
đã tận tình giúp đỡ về mọi mặt trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tơi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế đã
có những ý kiến q báu để tơi hồn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2008
Tác giả
Trần Đức Toàn
ii
MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2
2. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
4
2.1. Cơ sở lý luận
4
2.1.1. Tăng trởng và phát triển kinh tế
4
2.1.1.1. Các khái niệm về tăng trởng và phát triển
4
2.1.1.2. Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển kinh tÕ
4
2.1.1.3. C¸c lý thut ph¸t triĨn kinh tÕ
5
2.1.1.4. Mèi quan hệ giữa tăng trởng và phát triển
13
2.1.1.5. Phát triển bền vững
13
2.1.2. Những vấn đề cơ bản về phát triển sản xuất cây vụ đông
15
2.1.2.1. Đặc điểm sản xuất cây vụ đông
15
2.1.2.2. Vai trò của sản xuất cây vụ đông
17
2.1.2.3. Những nhân tố ảnh hởng đến sản xuất cây vụ đông
19
2.1.2.4. Phát triển cây vụ đông
22
2.1.2.5. Các chủ trơng của Đảng và chính sách của nhà nớc liên quan đến
phát triển cây vụ đông
23
2.2. Cơ sở thực tiễn
27
2.2.1. Thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông ở Việt Nam
27
2.2.2. Kinh nghiệm sản xuất cây vụ đông ở một số địa phơng
30
2.2.3. Các bài học rút ra từ thực tiễn
33
2.2.4. Lợc khảo các công trình nghiên cứu có liên quan
34
iii
3. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN KIM THÀNH VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Kim Thành
36
36
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
36
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
36
3.2. Phương pháp nghiên cứu
41
3.2.1. Chọn địa bàn nghiên cứu
41
3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
41
3.2.3. Phương pháp tổng hợp và sử lý số liệu
43
3.2.4. Phương pháp phân tích số liệu
44
3.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
44
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
46
4.1. Thực trạng phát triển cây vụ đơng huyện Kim Thành
46
4.1.1. Tình hình phát triển cây vụ đông của huyện Kim Thành 2005 - 2007
47
4.1.2. Phát triển cây vụ đông của các hộ nông dân huyện Kim Thành
55
4.1.3. Những kết luận rút ra từ nghiên cứu thực trạng
76
4.2. Một số giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất cây vụ đông huyện Kim Thành
77
4.2.1. Phương hướng mục tiêu phát triển cây vụ đông
77
4.2.2 Một số giải pháp phát triển
78
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
84
5.1. KÕt luËn
84
5.2 . KiÕn nghÞ
85
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV
Bảo vệ thực vật
CC
CƠ CẤU
CN & XD
Cơng nghiệp và xây dựng
DT
DIỆN TÍCH
ĐBSH
Đồng bằng sơng Hồng
ĐVT
ĐƠN VỊ TÍNH
HQKT
Hiệu quả kinh tế
HTX
HỢP TÁC XÃ
GO
Giá trị sản xuất
IC
CHI PHÍ TRUNG GIAN
KHKT
Khoa học kỹ thuật
LĐ
LAO ĐỘNG
MI
Thu nhập hỗn hợp
PTNT
Phát triển nơng thơn
SXHH
Sản xuất hàng hố
VA
GIÁ TRỊ GIA TĂNG
VĐ
Vụ đơng
Danh mục các bảnG số liệu
v
Trang
Bảng 2.1: Tác động của cây trồng vụ đông đến độ màu mỡ của đất
18
Bảng 2.2: Tác động của cây trồng vụ đông đến độ màu mỡ của đất
18
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Kim Thành năm 2007
37
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Kim Thành giai đoạn 2005 - 2007
39
Bảng 3.3: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Kim Thành
2005 - 2007
39
Bảng 3.4: Số lượng mẫu của các điểm điều tra
43
Bảng 4.1: Diện tích và cơ cấu diện tích cây vụ đơng huyện Kim Thành
2003 - 2007
48
Bảng 4.2: Diện tích một số cây vụ đông chủ yếu của các xã, thị trấn huyện
Kim Thành năm 2007
49
Bảng 4.3: DT cây vụ đông huyện Kim Thành và tỉnh Hải Dương năm
50
2007
Bảng 4.4: Năng suất một số cây vụ đông chủ yếu huyện Kim Thành 2005 - 2007
51
Bảng 4.5: Năng suất một số cây vụ đông của huyện Kim Thành và tỉnh
Hải Dương năm 2007
52
Bảng 4.6: Sản lượng một số cây vụ đông huyện Kim Thành 2005 - 2007
53
Bảng 4.7: Sản lượng một số cây vụ đông của huyện Kim Thành và tỉnh
Hải Dương năm 2007
54
Bảng 4.8: Giá trị sản xuất vụ đông huyện Kim Thành 2005 - 2007
55
Bảng 4.9: Điều kiện sản xuất của các nhóm hộ năm 2007
56
Bảng 4.10: Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất cây vụ đông năm 2007
57
Bảng 4.11: Chi phí sản xuất cây vụ đơng của các nhóm hộ năm 2007
60
Bảng 4.12: Chi phí sản xuất cây vụ đông theo vùng canh tác năm 2007
62
Bảng 4.13: Thu nhập của các công thức luân canh năm 2007
63
Bảng 4.14: Chi phí sản xuất cây vụ đơng năm 2007
65
vi
Bảng 4.15: So sánh năng suất cây vụ đông huyện Kim Thành với năng
suất khảo nghiệm
69
Bảng 4.16: Tỷ suất sản phẩm hàng hố cây vụ đơng năm 2007
70
Bảng 4.17: Tỷ lệ sản phẩm vụ đơng theo các hình thức tiêu thụ
72
Bảng 4.18: Nguồn cung cấp thông tin khi bán sản phẩm
74
Bảng 4.19: Một số khó khăn trong sản xuất vụ đông theo đánh giá của hộ
nông dân
75
Bảng 4.20: Mục tiêu phát triển cây vụ đông huyện Kim Thành đến 2010
78
Bảng 4.21: Kế hoạch chuyển giao KHKT sản xuất vụ đông
79
Bảng 4.22: Dự kiến khối lượng tiêu thụ
81
Bảng 4.23: Dự kiến diện tích cây vụ đơng chủ yếu huyện Kim Thành đến
năm 2010
82
vii
1. MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Vụ đơng là vụ sản xuất thứ 3 của các địa phương miền Bắc và Bắc trung
bộ. Ban đầu vụ đông được quan tâm chủ yếu dưới góc độ tận dụng đất đai sau 2
vụ lúa. Tuy nhiên, do gắn chặt với điều kiện thời tiết mùa đông nên sản xuất vụ
đông tạo ra những sản phẩm đặc trưng. Do đặc điểm này mà sản xuất vụ đơng đã
góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường về các loại lương
thực, thực phẩm.
Qua quá trình phát triển vụ đơng đã khẳng định được vai trị to lớn trong
sản xuất nông nghiệp như sau: Thứ nhất, sản xuất vụ đơng góp phần khai thác có
hiệu quả hơn tiềm năng đất đai và lao động nông nghiệp. Thứ hai, sản xuất vụ
đông đã tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hố có giá trị kinh tế cao đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Thứ ba, sản xuất vụ đơng góp phần nâng
cao thu nhập cho các hộ nơng dân. Ngồi ra, việc thâm canh một số giống cây họ
đậu trong vụ đơng cịn góp phần cải tạo đất.
Kim Thành là một trong những địa phương sản xuất vụ đông trọng điểm
của tỉnh Hải Dương. Những năm gần đây lĩnh vực này luôn đạt được mức tăng
đáng kể về năng suất và giá trị sản xuất. Ngoài ý nghĩa tạo ra một khối lượng lớn
sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường và giải quyết việc làm, nâng cao
thu nhập cho nhiều hộ nông dân sản xuất vụ đơng đã góp phần quan trọng làm
tăng thu nhập trên mỗi đơn vị diện tích, khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn
các nguồn lực đất đai, lao động và tiền vốn. Tổng diện tích cây vụ đơng của
huyện ln được duy trì ở mức trên 2.400 ha và là một trong những huyện có
diện tích vụ đơng lớn của tỉnh Hải Dương. Năm 2007 tổng giá trị sản xuất vụ
đông của huyện đạt trên 70 tỷ đồng, giá trị sản xuất vụ đông trên mỗi ha canh tác
tăng từ 22,04 năm 2005 lên 23,63 triệu đồng năm 2007 đưa vụ đông từ chiếm
1
30% trong cơ cấu giá trị ngành nông nghiệp năm 2003 lên 35,5% năm 2007
[23]. Một số loại cây vụ của huyện đã khẳng định được vị trí trong tỉnh cả về
diện tích, năng suất và giá trị sản lượng như củ đậu chiếm 94% diện tích và 98%
sản lượng, dưa hấu chiếm 35% diện tích và 34% sản lượng của toàn tỉnh Hải
Dương [24].
Bên cạnh những kết quả đạt được sản xuất vụ đông của huyện cũng đã
bộc lộ một số mặt hạn chế. Thứ nhất diện tích cây vụ đông tuy lớn nhưng chưa
tương xứng với tiềm năng đất đai của huyện. Hiện nay tổng diện tích vụ đơng
mới chiếm khoảng 50 % quỹ đất có khả năng sản xuất vụ đông của huyện [24].
Vụ đông chưa thực sự phát triển rộng khắp mà mới chỉ thực sự tập trung ở một
số xã trong huyện. Thứ hai là việc thực hiện quy trình kỹ thuật thâm canh của
các hộ chưa khoa học dẫn đến năng suất cây vụ đơng của huyện cịn thấp hơn
năng suất trung bình của tỉnh. Bên cạnh đó những khó khăn mà các hộ nơng
dân đang phải đối mặt như tình trạng giá vật tư đầu vào tăng, chất lượng giống
cây vụ đông chưa được kiểm soát chặt chẽ trong khi giá đầu ra luôn biến động
cũng đã tác động tiêu cực đến sự phát triển sản xuất vụ đông của huyện.
Trước những thách thức trên, hàng loạt câu hỏi đặt ra như thực trạng
sản xuất vụ đông của huyện đang diễn ra như thế nào? Đâu là tiềm năng và
hạn chế trong phát triển? Nguyên nhân nào ảnh hưởng đến phát triển sản xuất
cây vụ đông của huyện? Và làm thế nào để vụ đơng của huyện thực sự phát
triển góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực đầu tư để nâng cao thu
nhập cho các hộ? Nhằm góp phần trả lời những câu hỏi trên chúng tôi thực
hiện đề tài “Nghiên cứu phát triển sản xuất cây vụ đông trên địa bàn huyện
Kim Thành - tỉnh Hải Dương”.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
• Mục tiêu chung
2
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đơng của
huyện Kim Thành, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất cây vụ đông
của huyện đến năm 2010.
• Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nói chung và phát
triển cây vụ đơng nói riêng.
- Phân tích đúng đắn thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đơng ở trên
địa bàn huyện nhằm tìm ra những thế mạnh, những tồn tại hạn chế và các
nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây vụ đông trong những năm
qua.
- Đề xuất định hướng một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất
cây vụ đông của huyện đến 2010.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Cây vụ đông ở huyện Kim Thành.
- Hộ nông dân trồng cây vụ đơng với q trình sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Tổng quan tài liệu được sử dụng các số liệu của
năm trước, khảo sát thực trạng tiến hành vào vụ đông năm 2005 - 2007. Định
hướng và giải pháp dự kiến được áp dụng vào các vụ đông tiếp theo từ năm
2010.
- Phạm vi về không gian: Tại địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải
Dương.
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung phát triển sản
xuất cây vụ đông (chủ yếu là củ đậu, khoai tây, ngô và dưa hấu).
3
2. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1. Tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.1.1.1. Các khái niệm về tăng trưởng và phát triển
Những mục tiêu phát triển của các quốc gia đều dựa vào khả năng khai
thác nguồn lực trong nước và nước ngoài. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có
sự kết hợp và khả năng khai thác các nguồn lực khác nhau. Song, quan niệm
chung nhất là phải tạo ra được sự tiến bộ toàn diện cả về kinh tế, xã hội và
môi trường, nhưng coi tăng trưởng là tiền đề cần thiết cho sự phát triển.
Tăng trưởng kinh tế mới chỉ giới hạn trong khuôn khổ làm tăng thêm
sản lượng bằng cách mở rộng quy mơ, chứ chưa đề cập đến mối quan hệ của
nó đến các vấn đề xã hội.
Vậy, tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản
lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định [18]. Đó là kết quả của tất
cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra.
Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên
của GNP, GDP. Mức tăng đó thường đứng trên tồn bộ nền kinh tế quốc dân,
hay tính bình qn theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước đó.
Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai
đoạn nhất định sẽ cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng. Đó là sự tăng thêm sản
lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc.
4
Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về
mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự
tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế
– xã hội [18].
Phát triển kinh tế phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trình độ thấp
lên trình độ cao hơn.
2.1.1.2. Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển kinh tế
Gồm có các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế xã hội.
* Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, có 2 chỉ tiêu cơ bản:
- Tổng thu nhập: phản ánh một cách khái quát nhất quy mô sản lượng
hàng hoá và dịch vụ đã làm ra trong năm gồm:
+ Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của tồn
bộ hàng hố và dịch vụ mà tất cả công dân một nước sản xuất ra không phân
biệt sản xuất được thực hiện ở trong nước hay ngoài nước trong một thời kỳ
nhất định.
+ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của tồn
bộ hàng hố và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó
(dù nó thuộc về người trong nước hay người ngồi nước) trong một thời gian
nhất định.
Tổng sản phẩm quốc dân được xác định theo phương trình kinh tế
sau đây:
GNP = GDP + thu nhập tài sản ròng
Thu nhập tài sản ròng bằng tổng thu về thu nhập nhân tố từ nước ngoài
trừ đi tổng thu về thu nhập nhân tố cho nước ngồi.
- Chỉ tiêu thu nhập bình qn đầu người: thơng thường sử dụng chỉ tiêu
GNP bình qn đầu người, GDP bình quân đầu người.
5
* Các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế – xã hội gồm: một số chỉ tiêu
như chỉ tiêu cơ cấu ngành trong GDP; chỉ tiêu về cơ cấu hoạt động
ngoại thương; chỉ tiêu về sự liên kết kinh tế; chỉ tiêu về mức tiết kiệm
- đầu tư.
2.1.1.3 Các lý thuyết phát triển kinh tế
Các lý thuyết phát triển kinh tế có thể được chia thành 5 loại [31], đó
là:
- Lý thuyết Linear-Stages (trong những năm 1950 và 1960)
- Các mơ hình thay đổi về cơ cấu (trong những năm 1960 và đầu những
năm 1970).
- Lý thuyết phụ thuộc thế giới (International Dependency)
- Cách mạng tân cổ điển (những năm 1980)
- Các lý thuyết tăng trưởng mới (cuối những năm 1980 và 1990).
Nội dung chính của các lý thuyết như sau:
1. Lý thuyết các giai đoạn phát triển (Linear-Stages).
Ý tưởng về các giai đoạn phát triển khác nhau xuất hiện từ thế kỷ 18.
Adam Smith lần đầu tiên cho rằng tất cả các xã hội đều trải qua 4 giai đoạn,
cụ thể là săn bắn, hái lượm, sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng hoá. Theo
Karl Marx, tất cả các xã hội đều phải trải qua, đó là chế độ phong kiến, chủ
nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mơ hình tăng trưởng về
phát triển của Walt W.Rostow là một điểm cộng thêm của ý tưởng này.
Trong đầu những năm 1950, khi thế giới đang khôi phục lại từ sự tàn
phá của Thế chiến Hai và hầu hết những nước là thuộc địa của các nước phát
triển đều được độc lập, có một nhu cầu lớn về các chính sách phát triển. Để
chống lại mối đe doạ lan rộng từ chế độ cộng sản, các nước tư bản phát triển
cố gắng đưa ra các đề xuất chính sách cứng rắn đối với các nước mới độc lập,
các đề xuất này nhằm đưa các nước kém phát triển đi theo chiều hướng phát
6
triển. Thành công của Kế hoạch Marshall của Mỹ nhằm giúp các nước mới
thành lập ở các nước Tây Âu là thực tế và kinh nghiệm lịch sử của nước phát
triển trong việc chuyển đổi các xã hội nông nghiệp sang các nước cơng
nghiệp hiện đại có thể có những bài học quan trọng cho các nước đang phát
triển, dẫn đến việc hình thành các lý thuyết giai đoạn của Rostow. Theo
Rostow, việc chuyển đổi từ kém phát triển đến phát triển có thể được nhận
thấy trong hàng loạt các bước hay giai đoạn thơng qua đó tất cả các nước phải
đi đến. Ông miêu tả ba giai đoạn này là:
Xã hội truyền thống: Giai đoạn này là giai đoạn đầu tiên của sự phát
triển, như các xã hội săn bắn và hái lượm của Adam Smith hay các xã hội
phong kiến của Marx.
Giai đoạn chuẩn bị cho sự cất cánh: Đây là giai đoạn bắt đầu có sự tiết
kiệm. Một hay hai lĩnh vực sản xuất hàng hoá quan trọng với tiềm năng phát
triển lớn được chú ý đến và đầu tư trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng cũng
được thực hiện.
Giai đoạn cất cánh: Giai đoạn này là giai đoạn quan trọng nhất trong 5
giai đoạn của mơ hình Rostow. Lĩnh vực này có thể được nhận biết nhờ 3 đặc
điểm chính, đó là: Thứ nhất, có sự gia tăng trong tỷ lệ đầu tư sản xuất từ 5%
hay thấp hơn, trở thành 10% hay nhiều hơn thu nhập quốc dân. Thứ hai, sự
phát triển của một hay hai lĩnh vực sản xuất quan trọng hơn với một tỷ lệ tăng
trưởng cao. Thứ ba, sự tồn tại hay xuất hiện nhanh chóng của các khn khổ
về thể chế, xã hội và chính trị làm nẩy sinh các động lực cho sự mở rộng khu
vực hiện đại.
Hướng tới giai đoạn trưởng thành: Đây là giai đoạn khi mà tất cả các
cản trở đối với giai đoạn cất cánh khơng cịn và xã hội đã tự đi vào con đường
tăng trưởng kinh tế bền vững.
7
Thời đại tiêu dùng: Đây là giai đoạn cuối cùng. Một khi đã đạt được tới
giai đoạn này thì tất cả các vấn đề mà các nước kém phát triển phải đối mặt
với cũng sẽ qua và các xã hội sẽ đạt tới một giai đoạn tiêu dùng rộng lớn hơn.
Mơ hình tăng trưởng Harrod-Domar:
Nền tảng lý thuyết của Lý Thuyết Giai Đoạn của Rostow và trọng tâm
của thuyết đó về sự tiết kiệm xuất phát từ mơ hình tăng trưởng Harrod-Domar
(H-Đ)
Phương trình chính của mơ hình H-D là:
Trong đó Y là thu nhập quốc dân, s là tỷ suất tiết kiệm và k là tỷ lệ vốn
- sản lượng. Vì thế về bên trái của biểu thức này là tỷ lệ gia tăng của thu nhập
quốc dân. Với một k ln ổn định và vì thế tỷ lệ gia tăng thu nhập quốc dân
tương ứng với tỷ suất tiết kiệm của nền kinh tế. Ví dụ, nếu tỷ lệ vốn - sản
lượng là 3, khi đó tỷ lệ tăng trưởng là 5%, tỷ suất tiết kiệm sẽ là 15%. Nếu
như tỷ suất tiết kiệm chỉ là 5%, khi đó 10% kia có thể vay mượn nước ngồi
hay từ viện trợ nước ngoài. Đây là một luận cứ cơ bản đằng sau kế hoạch
Marshall và kế hoạch này đã rất thành công.
Tuy nhiên cũng đã xuất hiện một vài chỉ trích về mơ hình Các giai đoạn.
Quan điểm này cho rằng mơ hình các giai đoạn đã q đề cao tiết kiệm. Tuy
tiết kiệm và đầu tư là các điều kiện cần cho sự phát triển nhưng chúng không
được coi là điều kiện duy nhất.
2. Các mơ hình thay đổi cơ cấu
Các mơ hình thay đổi cơ cấu nhấn mạnh đến nhu cầu của một sự thay
đổi về cơ cấu trong xã hội. Các mơ hình này khơng mâu thuẫn với ý tưởng
của mơ hình các giai đoạn nhưng chúng triển khai các mơ hình chức năng
8
phức tạp để chỉ ra các thay đổi về cơ cấu trong xã hội có thể đưa nền kinh tế
hướng tới con đường phát triển bền vững như thế nào.
3. Cuộc cách mạng Phụ thuộc-Quốc tế:
Khi lý thuyết phát triển hiện thời không mang lại bất cứ thay đổi nào
trong cuộc sống của người dân ở các nước đang phát triển, thì sự bất bình gia
tăng giữa các nhà kinh tế ở các nước đang phát triển đã dẫn đến sự xuất hiện
của các lý thuyết phát triển khác. Các lý thuyết này trở nên phổ biến đối với
các nhà kinh tế ở các nước đang phát triển trong những năm 1970, dần được
biết đến như lý thuyết Cuộc cách mạng Phụ thuộc-Quốc tế.
ý tưởng cơ bản đằng sau Cuộc cách mạng Phụ thuộc-Quốc tế là các nước thế
giới thứ ba bị dàn xếp trong một mối quan hệ phụ thuộc và thống trị với các
nước giàu, và các nước giàu vơ tình hay cố ý góp phần vào việc duy trì quan
hệ này và hiện trạng đó được duy trì.
Các lý thuyết phụ thuộc có hai yếu kém lớn, đó là: Thứ nhất, các lý
thuyết này chủ yếu chỉ tập trung tới việc tìm ra tại sao các nước kém phát
triển vẫn cứ kém phát triển. Họ khơng có các ý tưởng cụ thể như một nước
nên bắt đầu và duy trì sự phát triển như thế nào. Thứ hai, thất bại lớn của các
nước theo đuổi cách tiếp cận cấp tiến/ triệt để này để có được đường lối cách
mạng. Các nước này lật đổ giai cấp thống trị hiện thời và thay đổi chiến dịch
cách mạng của việc bình thường hố nhưng cuối cùng đã khơng đạt được bất
cứ sự cải thiện có ý nghĩa nào trong điều kiện của dân chúng.
4. Cách mạng tân cổ điển (Neoclassical Counterrevolution):
Sau khi trấn động ban đầu từ các lý thuyết Phụ thuộc giảm bớt và khi
các lý thuyết này khơng mang lại bất cứ sự cải tiến có ý nghĩa nào trong cuộc
sống của người nghèo, các nhà kinh tế tân cổ điển đã quay trở lại với hàng
9
loạt các lý thuyết khác được biết đến là cách mạng tân cổ điển. Lý thuyết
Cách mạng tân cổ điển nhấn mạnh đến ba việc, đó là:
- Chính sách kinh tế vi mô theo chiều cung
- Các lý thuyết mong đợi hợp lý
- Tư nhân hố các Cơng ty nhà nước.
Không giống với những người đằng sau các lý thuyết phụ thuộc, những
người tin rằng tình trạng kém phát triển là một hiện tượng do bên ngoài gây
ra, những người đằng sau cách mạng tân cổ điển tin rằng tình trạng kém phát
triển là một hiện tượng bắt nguồn từ nguyên nhân bên trong. "Luận cứ trung
tâm của cách mạng tân cổ điển là tình trạng kém phát triển có nguyên nhân từ
việc phân bổ nguồn tài nguyên nghèo nàn do các chính sách sai lệch về giá cả
và việc nhà nước can thiệp quá nhiều của các nước thế giới thứ ba." "Thế giới
thứ ba kém phát triển không phải bởi các hoạt động bóc lột của các nước thế
giới thứ nhất và các tổ chức quốc tế kiểm soát mà là bởi sự can thiệp của nhà
nước và tình trạng tham nhũng, khơng hiệu qủa và thiếu các động cơ về kinh
tế cụ thể." Theo lý thuyết này điều cần thiết là việc thúc đẩy các thị trường tự
do và các nền kinh tế có chính sách tự do kinh doanh trong bối cảnh các chính
phủ lạc quan , điều đó cho phép "ma lực của thương trường" và "bàn tay vơ
hình" của giá cả thị trường để chỉ đạo việc phân bổ nguồn lực và thúc đẩy
phát triển kinh tế.
Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển truyền thống:
Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển cho tới cuối những năm 1980 được
biết đến như lý thuyết tăng trưởng truyền thống. là một tóm tắt về lý thuyết
tăng trưởng tân cổ điển cho tới những năm 1980 và cơ bản dựa trên mơ hình
Tăng trưởng Tân cổ điển của Solow. Mơ hình tăng trưởng của Solow là một
sự mở rộng của mơ hình tăng trưởng Domar và giống mơ hình Harrod Domar
10
đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tiết kiệm. Mơ hình của Solow được coi
là một sự cải tiến so với mơ hình Harrod-Domar, bởi vì nó đã chỉ ra cách sự
tự do hoá các thị trường quốc gia có thể thu hút nhiều đầu tư trong nước cũng
như nước ngồi và vì thế làm tăng tỷ lệ tích luỹ vốn hay nói cách khác là làm
tăng tỷ suất tiết kiệm.
Mơ hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow: Solow mở rộng mơ hình
Harrod-Domar theo hai cách. Thứ nhất, ông xem xét lao động như một nhân
tố thứ yếu của q trình sản xuất. Thứ hai, ơng đưa ra một nghiên cứu về khoa
học ứng dụng, các biến số độc lập thứ ba. Quan trọng nhất là không giống với
hệ số cố định, lãi suất cố định đối với quy mơ tiêu dùng của mơ hình H-D, mơ
hình của Solow thể hiện việc giảm năng suất đối với lao động và vốn một
cách riêng lẻ và năng suất cố định đối với cả hai nhân tố nói chung.
Các tiến bộ về khoa học kỹ thuật trở thành hệ số dư trong mơ hình Solow, giải
thích cho sự tăng trưởng dài hạn. Mức độ của nó được thừa nhận là được
quyết định ngoại sinh và độc lập với tất cả các hệ số khác.
Hàm sản lượng trong mơ hình Solow:
y=AemtKaL1-a
Trong đó y là GDP, K là vốn nhân lực và vốn tự nhiên, L là công nhân
tay chân , A cố định, là trình độ khoa học cơng nghệ , em là tỷ lệ ngoại sinh cố
định khi khoa học kỹ thuật phát triển, a là tính co giãn của sản lượng tương
ứng với vốn.
Thông tin trên đây về mô hình tăng trưởng Solow làm giảm lãi suất đối
với vốn và lao động, ví dụ, MPK
Lý thuyết tăng trưởng truyền thống, trên cơ sở của mơ hình tăng trưởng
Solow, giải thích rằng vì ở các nước phát triển, vốn tương đối nhiều hơn so
với ở các nước đang phát triển, theo luật tiệm giảm, vốn sẽ có một mức lãi
11
suất thấp hơn ở các nước phát triển so với ở các nước đang phát triển. Kết quả
là vốn sẽ có một chiều hướng tự nhiên chảy đến các nước đang phát triển nơi
mà tỷ lệ lãi suất cao hơn. Vì vậy từ bối cảnh của các nước đang phát triển,
chiến lược tốt nhất sẽ là mở rộng cửa để thu hút đầu tư nước ngoài và tháo gỡ
tất cả các rào cản đối với luồng vốn nước ngoài.
5. Lý thuyết tăng trưởng mới (Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh)
Một trong những tranh cãi về lý thuyết tăng trưởng truyền thống là nó
khơng nhận ra được chính xác các nguồn gốc của sự tăng trưởng kinh tế dài
hạn. Theo lý thuyết này, sự thiếu vắng của các cú sốc về khoa học công nghệ
ở tất cả các nền kinh tế sẽ dẫn tới mức tăng trưởng bằng khơng. Vì thế thu
nhập bình qn đầu người tăng ln được xem là một hiện tượng tạm thời do
các cú sốc về công nghệ. Bất cứ sự gia tăng nào trong GNP mà khơng thể
đóng góp cho các điều chỉnh ngắn hạn về cả lực lượng lao động hay vốn thì
được xếp vào danh mục loại thứ ba, thường biết đến như số dư Solow (Solow
residual). Số dư này đảm nhận gần 50% tăng trưởng trong lịch sử ở các quốc
gia công nghiệp [31]. Cái cách mà lý thuyết tăng trưởng quy cho phần lớn tăng
trưởng kinh tế tới một quá trình phát triển của tiến bộ khoa học công nghệ là
không thể chấp nhận được đối với nhiều nhà nghiên cứu về lĩnh vực này.
Lý do thứ hai cho sự không hài lịng về lý thuyết tăng trưởng truyền
thống là "thậm chí sau khi tự do hoá thương mại theo quy định và các thị
trường nội địa, nhiều quốc gia kém phát triển đã tăng trưởng ít hay khơng
tăng trưởng và khơng thu hút được các nguồn đầu tư nước ngoài hay tạm
ngưng được dòng vốn nội địa.
Ba khác biệt căn bản giữa lý thuyết tăng trưởng mới và Lý thuyết tăng
trưởng truyền thống.
12
Thứ nhât, các Lý thuyết tăng trưởng mới loại bỏ giả định tân cổ điển về
lợi nhuận biên giảm (diminishing marginal returns) đối với đầu tư vốn và cho
phép tăng lãi suất tới quy mô trong tổng sản lượng.
Thứ hai, các lý thuyết tăng trưởng mới đã dùng khái niệm về các yếu tố
ngoại biên (externalities) để giải thích cho các mức tăng lợi nhuận.
Thứ ba, mặc dù công nghệ có vai trị quan trọng trong các lý thuyết
tăng trưởng mới, nhưng nó vẫn khơng cần giải thích tăng trưởng dài hạn.
Các lý thuyết tăng trưởng nội sinh có thể được thể hiện bằng một
phương trình đơn giản y = AK, trong đó A có thể là bất cứ nhân tố nào tác
động đến công nghệ, và K là cả vốn nhân lực và tự nhiên. Không giống với
các lý thuyết tăng trưởng truyền thống, mơ hình này khơng trình bày được
quy luật lợi nhuận giảm đối với vốn hay lao động khi nó xem xét đến khả
năng đầu tư vào vốn nhân lực và tự nhiên, có thể phát sinh ra các nền kinh tế
bên ngoài và cải thiện sản xuất.
Mơ hình tăng trưởng nội sinh này giúp giải thích tại sao các khả năng
lợi nhuận cao đối với việc đầu tư ở các nền kinh tế đang phát triển với tỷ lệ
vốn-lao động thấp bị xói mịn chủ yếu bởi giảm thấp đi các mức đầu tư bổ
sung vào vốn con người, cơ sở hạ tầng, hay nghiên cứu và phát triển lâu dài.
Ngược lại với các lý thuyết tân cổ điển truyền thống, các lý thuyết về tăng
trưởng nội sinh mới đưa ra một vai trị tích cực đối với chính sách cơng trong
việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế thông qua đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào
nguồn vốn nhân lực.
2.1.1.4. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển
Tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho phát triển. Bởi vì, nền kinh tế có
tăng trưởng thì mới có khả năng tăng ngân sách nhà nước; tăng thu nhập của
dân cư. Nhờ có tăng trưởng kinh tế, Nhà nước mới có thể tăng đầu tư cho giáo
13
dục, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng, giải phóng sức
sản xuất và có điều kiện giải quyết các vấn đề xã hội. Tăng trưởng kinh tế là
điều kiện cần để làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội và tác động trực tiếp
đến sự hình thành cơ cấu kinh tế. Ngược lại sự tiến bộ về mọi mặt của nền
kinh tế sẽ là động lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng.
Tóm lại, tăng trưởng có thể là điều kiện cần đối với sự phát triển,
nhưng nó chưa phải là điều kiện đủ. Tăng trưởng mà khơng phát triển sẽ dẫn
đến suy thối cả về kinh tế và xã hội, ngược lại phát triển mà không tăng
trưởng là không tồn tại trong thực tế.
2.1.1.5. Phát triển bền vững
Vào nửa cuối của thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, loài người đã phải
đương đầu với những thách thức lớn do suy thoái về nguồn lực và giảm cấp
mơi trường. Trong tình hình đó, quan niệm mới về sự phát triển đã được đặt
ra, đó là phát triển bền vững.
Phát triển bền vững là quan niệm mới của sự phát triển. Nó lồng ghép
các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường:
đảm bảo thoả mãn những nhu cầu của hiện tại mà không phương hại đến khả
năng đáp ứng những nhu cầu của tương lai [18]. Các thế hệ hiện tại khi sử
dụng tài nguyên cho sản xuất ra của cải vật chất không thể để cho thế hệ mai
sau phải gánh chịu tình trạng ơ nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói. Cần
phải để cho các thế hệ tương lai được thừa hưởng những thành quả lao động
của thế hệ hiện tại dưới dạng giáo dục, kỹ thuật, kiến thức và các nguồn lực
khác ngày càng được tăng cường. Tăng cường thu nhập kết hợp với các chính
sách mơi trường và thể chế vững chắc có thể tạo cơ sở cho việc giải quyết cả
hai vấn đề môi trường và phát triển.
14
Điều then chốt đối với phát triển bền vững không phải là sản xuất ít đi
mà là sản xuất khác đi, sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm các nguồn tài ngun
và bảo vệ mơi trường. Các chính sách mơi trường có thể tăng cường hiệu suất
trong sử dụng tài nguyên và đưa ra những đòn bẩy để tăng cường những cơng
nghệ và phương pháp ít gây nguy hại và không gây giảm cấp môi trường và
nguồn lực. Các đầu tư tạo ra nhờ các chính sách mơi trường sẽ làm thay đổi
cách thức sản xuất các sản phẩm và dịch vụ, có thể có trường hợp đầu ra thấp
hơn nhưng lại tạo ra những lợi ích làm tăng phúc lợi lâu dài của con người.
Trong thực tế khi thu nhập tăng lên, nhu cầu nâng cao chất lượng mơi trường
cũng sẽ tăng lên và các nguồn lực có thể sử dụng cho đầu tư sẽ tăng lên.
Nhà nước ta đã đưa ra quan niệm chính thức về phát triển lâu bền là
thoả mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần và văn hoá cho thế hệ
hiện tại và tương lai của Việt Nam thông qua việc quản lý một cách khôn
khéo tài nguyên thiên nhiên. Xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch
hành động, cơ chế tổ chức, nhằm đảm bảo cho khả năng sử dụng lâu bền các
tài nguyên thiên nhiên được nhất thể hoá và liên kết chặt chẽ với tất cả các
khía cạnh của q trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà giữa đời sống vật
chất và đời sống tinh thần, giữa thiên nhiên và con người, giữa tự nhiên và
nhân tạo, giữa hiện tại và tương lai. Sự phát triển đó nhằm đáp ứng nhu cầu
của xã hội hiện tại nhưng không làm phương hại đến phát triển của xã hội
tương lai.
Chương trình Mơi trường của Liên hợp quốc đã đề xuất 5 nội dung của
phát triển bền vững gồm:
- Tập trung phát triển ở những vùng nghèo đói, nhất là những vùng rất
nghèo mà ở đó con người khơng có lựa chọn nào khác ngồi làm giảm cấp
nguồn lực và mơi trường.
15
- Tạo ra sự phát triển cao về tính tự lập của cộng đồng trong điều kiện
có hạn về nguồn lực, nhất là tài nguyên thiên nhiên.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dựa trên các kỹ thuật và cơng
nghệ thích hợp, kết hợp với khai thác tối đa kỹ thuật truyền thống.
- Thực hiện các chiến lược phát triển nhằm đảm bảo tự lực về lương
thực, cung cấp nước sạch và nhà ở, giữ gìn sức khoẻ, chống suy dinh dưỡng
thơng qua các cơng nghệ thích hợp.
- Xây dựng và thực hiện các chiến lược có người dân tham gia.
2.1.2. Những vấn đề cơ bản về phát triển sản xuất cây vụ đông
2.1.2.1. Đặc điểm sản xuất cây vụ đông
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, cây vụ đơng có mặt ở nước ta
từ hàng ngàn năm nay, ban đầu là các cây bản địa như khoai lang, ngô, đậu,
đỗ… Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học nông nghiệp trong việc
lai tạo, tuyển chọn các giống cây mới cũng như sự mở rộng giao lưu với các
nước trên thế giới đã có nhiều giống cây mới được đưa vào sản xuất ở nước ta
tạo nên tập đồn cây vụ đơng phong phú như hiện nay.
Từ những năm 70 của thế kỷ trước, ở nước ta nhờ thành công tiến bộ
khoa học kỹ thuật (KHKT) nên đã rút ngắn được thời gian sinh trưởng của
một số loại cây trồng tạo điều kiện cơ cấu lại mùa vụ. Từ đó trong nơng
nghiệp nước ta chính thức hình thành thêm một vụ sản xuất mới - vụ đơng.
Do đặc điểm thời tiết, khí hậu nên ở nước ta duy nhất các tỉnh phía Bắc
từ Mục Nam Quan đến bắc đèo Hải Vân có điều kiện thuận lợi cho việc sản
xuất cây vụ đơng ngồi hai vụ lúa.
Tuy nhiên để nghiên cứu phát triển cây vụ đông cần chú ý một số đặc
điểm chủ yếu sau:
16
- Cây trồng vụ đông chủ yếu là các loại cây cạn và ngắn ngày có đặc
tính sinh lý và sinh hoá khác nhau. Hầu hết những loại cây trồng này có yêu
cầu về thời vụ tương đối nghiêm ngặt và rất dễ bị các loại sâu bệnh hại. Do
đó, việc lựa chọn giống cây trồng cho phù hợp với chất đất của từng vùng và
thích nghi với sự biến động về điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu là hết sức
cần thiết. Bên cạnh đó, các hộ nơng dân cần đầu tư thích đáng cho khâu lựa
chọn giống tạo ra một tập đoàn giống đa dạng và phong phú đảm bảo cho
nâng cao năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm khi thu hoạch, đồng
thời các khâu sản xuất phải làm đúng và kịp thời để không ảnh hưởng đến
quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng vụ đông, không ảnh hưởng
đến vụ sản xuất kế tiếp.
- Vụ đông là vụ trồng nhiều loại cây khác nhau, do vậy, các hộ nơng
dân cần bố trí cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp với sự đầu tư của mình nhằm
tạo ra năng suất cao đáp ứng tốt cho nhu cầu tiêu dùng và có sản phẩm cung
ứng cho nhu cầu thị trường. Đây là vấn đề quan trọng đối với các nông hộ sản
xuất cây vụ đơng. Có như vậy hiệu quả sản xuất mới được tăng lên, do đó
việc tăng tỷ trọng hàng hố trong cơ cấu sản phẩm có ý nghĩa to lớn trong
chiến lược phát triển ngành nông nghiệp thành ngành sản xuất hàng hố.
- Sản xuất vụ đơng được tiến hành trong điều kiện thời tiết khí hậu lạnh,
khơ và diễn biến phức tạp. Khí hậu lạnh và khơ là điều kiện thuận lợi cho sản
xuất vụ đông do hạn chế được sự phát triển của sâu bệnh hại, nhưng sự diễn
biến phức tạp của thời tiết lại gây ra những rủi ro lớn cho sản xuất vụ đơng.
Vì vậy, từng vùng, từng địa phương cần nắm rõ được quy luật thay đổi của
khí hậu để có những giải pháp tốt, khắc phục một cách hữu hiệu nhất nhằm
tránh được những thiệt hại khơn lường có thể xảy ra.
- Sản phẩm cây vụ đơng có hàm lượng dinh dưỡng, hàm lượng nước
cao nên rất khó bảo quản. Cũng do đặc điểm trên mà sản phẩm vụ đông sản
17