Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHUYÊN DỤNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (226.11 KB, 9 trang )

CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHUYÊN DỤNG

1. Tài trợ xuất khẩu
o
Tài trợ trước khi giao hàng:
o Tài trợ sau khi giao hàng
2.
Nhờ thu chứng từ
3.
Định nghĩa các thuật ngữ trong nhờ thu chứng từ:
4. Thư tín dụng chứng từ (L/C's)

1. Tài trợ xuất khẩu
Tài trợ thương mại đề cập đến nguồn tài trợ xuất nhập khẩu dựa trên hợp đồng
giữa người mua và người bán. Khác với các đơn hàng nội địa có thể thoả thuận dưới
hình thức hợp đồng miệng, hợp đồng với những người mua hay người bán nước ngoài
phải được làm bằng văn bản. Thậm chí cả những đơn đặt hàng gấp bằng điện thoại
cũng nên chuyển thành các đơn đặt hàng viết càng sớm càng tốt để tránh sự hiểu
lầm và khả năng gian lận thương mại.
Để giảm nguy cơ hiểu lầm, các phương pháp kiểm tra và bảo vệ được quốc tế
chấp nhận đã được phát triển để bảo vệ lợi ích của người mua và người bán. Phòng
Thương mại quốc tế (ICC) đã biên soạn lại “INCOTERM” để cung cấp cho các thương
nhân một bộ quy tắc quốc tế thống nhất cho việc giải thích các điều khoản thương
mại sử dụng trong các hợp đồng ngoại thương. Các thông tin về Incoterms sẵn có
trong các ngân hàng hay các tổ chức xúc tiến xuất khẩu.
Tài trợ thương mại bao gồm các khoản tài trợ ngắn hạn và dài hạn thực hiện
thông qua các ngân hàng. Các khoản tài trợ dài hạn áp dụng cho xuất khẩu hàng hoá
dài hạn – hàng hoá có vòng đời sản phẩm dài hơn, – ví dụ: thiết bị sử dụng trong
sản xuất. Hiện nay, hàng xuất khẩu của Việt nam– nông sản, hàng thủ công, dệt,
nguyên liệu công nghiệp thô, hàng da, dầu lửa và sản phẩm dầu lửa - thường được
sử dụng ngay và tài trợ là ngắn hạn, thường là ít hơn 6 tháng.


Tài trợ xuất khẩu cũng được phân loại dựa vào thời điểm nó được cung cấp –
tài trợ trước và sau khi giao hàng.
1.1. Tài trợ trước khi giao hàng:
Mục đích của tài trợ trước khi giao hàng, thường được gọi là tín dụng trọn gói,
là để hỗ trợ cho việc mua nguyên liệu và các đầu vào khác cần thiết để thực hiện đơn
hàng. Khoản nợ được trả trong quá trình xử lý các hoá đơn xuất khẩu bao quát cả
việc bán hàng đó. Một tín dụng trọn gói có thể dựa vào một trong những chứng từ
sau: một thư tín dụng do người nhập khẩu mở cho người xuất khẩu; một đơn đặt
hàng được xác nhận và không huỷ ngang cho việc xuất khẩu hàng hoá; hoặc, các
chứng cứ khác của việc thiết lập một đơn đặt hàng với người xuất khẩu.
Thời hạn tối đa thường là 180 ngày. Ngoại trừ trường hợp được sự cho phép
đặc biệt của ngân hàng trung ương nước xuất khẩu, thời hạn này có thể được mở
rộng đến mức tối đa là 360 ngày. Nếu viêc giao hàng không được thực hiện trong
khoảng thời gian quy định thì sẽ phải trả lãi suất cao hơn nhiều, như một khoản tiền
phạt.
Các ngân hàng Việt Nam có thể sử dụng những yêu cầu thế chấp thông thường
khi đánh giá một khoản tín dụng trọn gói. Ngoài ra để đáp ứng những yêu cầu này,
có rất nhiều yếu tố đặc thù đối với tài trợ xuất khẩu mà ngân hàng muốn xem xét
lại:
- Khả năng giao hàng đúng hạn của bạn.
- Quy mô khoản nợ so với doanh thu hàng năm và vốn của bạn để đảm bảo
rằng đơn đặt hàng nằm trong khả năng của bạn.
- Việc tổ chức để đảm bảo nguồn nguyên vật liệu, (mua trong nước hay nhập
khẩu.)
- Các điều khoản tài chính mà người mua đưa ra; nếu không phải là một thư tín
dụng không huỷ ngang, ngân hàng sẽ phải kiểm tra lại hiện trạng của người mua
nước ngoài.
- Tư cách của ngân hàng phát hành, nơi quản lý các hợp đồng xuất khẩu bằng
các thư tín dụng.
- Rủi ro quốc gia: là các điều kiện kinh tế, chính trị ở nước người mua sẽ ảnh

hưởng đến việc thanh toán đối với người xuất khẩu?
- Rủi ro ngoại hối: nếu bạn nhận thanh toán bằng ngoại tệ, bạn có dự định
tham gia một hợp đồng tỷ giá có kỳ hạn để cố định giá bằng tiền đồng không? Hoặc
bạn đã có một mức lợi nhuận trong giá đủ lớn để tránh được các rủi ro về tỷ giá
chưa?
- Bạn có tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối và xuất khẩu không.
- Người nhập khẩu có tuân thủ các quy định quản lý ngoại hối/thương mại ở
nước họ hay không.
- Chỗ để xếp hàng có được đặt trước trên một tàu còn hoạt động tốt trước ngày
đến hạn của thư tín dụng và ngày cuối cùng của vận đơn không.
Các ngân hàng thường nhận thế chấp ngay cả đối với hàng hoá công ty bạn
mua về để thực hiện đơn hàng. Bạn cũng có thể được yêu cầu cung cấp báo cáo về
dự trữ và các chứng từ về bảo hiểm kho hàng.
1.2. Tài trợ sau khi giao hàng
Tài trợ sau khi giao hàng đề cập đến các khoản cho vay, ứng trước hay tín dụng
do ngân hàng cung cấp cho người xuất khẩu từ ngày giao hàng cho đến ngày nhận
được tiền do xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu các điều khoản thanh toán quy định phải
hoàn thành việc thanh toán khi nhận được chứng từ giao hàng thì không cần hỗ trợ
sau khi giao hàng.
Thời hạn tín dụng tối đa thường không vượt quá 180 ngày, và sẽ có thể được
nới rộng thêm khi có sự cho phép của các cán bộ có thẩm quyền của ngân hàng
trung ương với điều kiện có bằng chứng về khó khăn trong việc thu tiền. Đối với xuất
khẩu hàng hoá dài hạn, tín dụng sau khi giao hàng có thể được các ngân hàng xuất
nhập khẩu ở nhiều nước kéo dài hơn nữa, 5-7 năm hay thậm chí lâu hơn. Những
khoản tín dụng dài hạn như vậy thường được gọi là các tín dụng trả chậm.
Tài trợ sau khi giao hàng có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức:
- Đàm phán về các chứng từ xuất khẩu kèm theo thư tín dụng;
- Mua các hoá đơn xuất khẩu đối với các hợp đồng xuất khẩu đã được xác
nhận;
- Ứng trước đối với các hoá đơn xuất khẩu theo phương thức nhờ thu hoặc tài

trợ các hoá đơn;
- Quỹ khuyến khích xuất khẩu trả cho người xuất khẩu;
- Ứng trước đối với hàng hoá xuất khẩu uỷ thác;
- Ứng trước đối với các thủ tục miễn giảm thuế;
Nguồn vốn lưu động quan trọng nhất đối với nhà xuất khẩu là thông qua các
hoá đơn thương mại hay các hoá đơn được ngân hàng của họ tài trợ. Nhà xuất khẩu
yêu cầu ngân hàng của mình ứng trước tiền để đảm bảo các hoá đơn chứng từ. Ngân
hàng cho vay thực hiện phương thức đền bù cho người xuất khẩu trong trường hợp
người mua không trả được tiền.
Ngân hàng sẽ yêu cầu nhà xuất khẩu thúc đẩy việc thực hiện các chứng từ xuất
khẩu bao gồm một hoá đơn ngoại hối đối với người mua cho toàn bộ giá trị của hoá
đơn, một vận đơn và chứng từ bảo hiểm vẫn còn để trống do đó tên của hàng hoá có
thể chuyển thành tên của ngân hàng nếu cần thiết. Sau khi người mua thanh toán
hoá đơn, ngân hàng sẽ tính lãi suất đối với người xuất khẩu trong khoảng thời gian
từ ngày đàm phán (ngày mua) cho đến ngày nhận được hoá đơn chứng từ.
Thông thường, ngân hàng sẽ trả trước từ 50 – 100% giá trị hoá đơn và coi
phần còn lại như lợi nhuận của nhà xuất khẩu. Khi hoá đơn được thanh toán, ngân
hàng sẽ trả khoản còn dư sau khi trừ đi lãi suất.
2. Nhờ thu chứng từ
Người ta có thể thanh toán tiền hàng xuất khẩu bằng hai cách: bằng tiền mặt,
bằng điện chuyển tiền (TTs), lệnh chuyển tiền (DDs), chuyển qua đường bưu điện
(MTs); hoặc bằng séc. Thông thường, đối với các đơn hàng lớn, người ta không trả
bằng tiền mặt; hoặc, trên cơ sở chứng từ, có thể thanh toán trên cơ sở nhờ thu
chứng từ hoặc thanh toán thông qua chứng từ thư tín dụng. Có hai loại nhờ thu
chứng từ:
Thanh toán đổi chứng từ, DP: Với tư cách là nhà xuất khẩu, bạn phải yêu cầu
ngân hàng của mình gửi các chứng từ gửi hàng gốc cùng với các chứng từ cụ thể
khác, như hoá đơn, chứng nhận kiểm dịch và chứng nhận chất lượng, đến một ngân
hàng đã thoả thuận trước, ngân hàng nhờ thu, ở nước người nhập khẩu.
Ngân hàng nhờ thu có nhiệm vụ thông báo cho người nhập khẩu là đã nhận

được chứng từ và chỉ giao cho chứng từ cho người nhập khẩu khi họ đã trả tiền.
Thông thường, trong nhờ thu D/P hoá đơn thường được trả ngay hay trả theo yêu
cầu nhưng cũng có những trường hợp có điều khoản nhờ thư chứng từ thanh toán
sau 30 ngày, có nghĩa là người nhập khẩu có thể thanh toán trong vòng 30 ngày kể
từ khi nhìn thấy chứng từ.
Chấp nhận thanh toán đổi chứng từ, DA: trong trường hợp này, người xuất
khẩu cho người nhập khẩu hưởng tín dụng. Ngân hàng của bạn có thể một hoá đơn
có thời hạn, là hoá đơn được thanh toán trong tương lai. Ví dụ hoá đơn đó có thể
được thanh toán “trong vòng 60 ngày kể từ khi nhìn thấy” hay “sau 90 ngày kể từ
ngày của hoá đơn” hoặc “sau 120 ngày kể từ ngày vận đơn”.
Hóa đơn đó sẽ được chuyển đến cho ngân hàng nhờ thu, là người có quyền
chuyển các chứng từ gửi hàng và các chứng từ khác cho người nhập khẩu dựa trên
sự chấp nhận vận đơn của anh ta. Khi đến hạn, được tính từ ngày chấp nhận hoặc từ
ngày của vận đơn, tuỳ thuộc vào từ ngữ trên hối phiếu, ngân hàng nhờ thu sẽ đưa
hoá đơn cho người nhập khẩu để thu tiền.
Dù xuất khẩu trên cơ sở DP hay DA, ngân hàng nhờ thu vẫn phải thông báo
bằng điện hoặc telex trường hợp không trả tiền hoặc không chấp nhận. Nếu không
thì có thể thông báo bằng thư máy bay dù cách này có thể bị thất lạc. Các điều kiện
sau đây thường được kèm trong hướng dẫn nhờ thu:
Không thanh toán hoặc không chấp nhận: nếu hoá đơn không được thanh
toán hoặc không được chấp nhận, ngân hàng nhờ thu sẽ được hướng dẫn để có
kháng nghị hoá đơn không hợp lệ. Kháng nghị chính thức được một luật sư thực hiện
và nó sẽ giúp cho người xuất khẩu tiến hành hành động pháp lý để phá vỡ hợp đồng.
Lệ phí ngân hàng: Nhà nhập khẩu phải chịu mọi phí cũng như chi phí nhờ thu
do ngân hàng đặt ra trừ khi có trường hợp ngược lại theo thoả thuận. Trong mọi
trường hợp hướng dẫn thu phí từ người mua hàng cũng cần được nêu rõ trong hợp
đồng nhờ thu. Thông thường, ngân hàng nhờ thu chỉ quan tâm đến việc thu hồi giá
trị trên hoá đơn và nếu người trả tiền từ chối trả phí, ngân hàng sẽ có quyền trừ các
phí đó từ tiền thanh toán hoá đơn.
Lệnh chuyển tiền: Cần phải có quy định rằng "ngân hàng nhờ thu" chuyển

tiền bằng điện (TT) và chi phí do người xuất khẩu chịu. Nếu không, thông thường
ngân hàng sẽ chuyển tiền bằng bưu điện hoặc gửi lệnh chuyển tiền bằng máy bay,
khi đó sẽ phải mất hơn một tuần tiền mới đến nơi.
3. Định nghĩa các thuật ngữ trong nhờ thu chứng từ:

×