Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Phong cách thể hiện ca khúc dân gian đương đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (136.83 KB, 7 trang )

VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

PHONG CÁCH THỂ HIỆN
CA KHÚC DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI
PHẠM NGỌC KHUÊ*

Tóm tắt
Trong bức tranh tổng thể của ca khúc Việt Nam những năm gần đây, thể loại ca khúc dân gian
đương đại mang giá trị sáng tạo văn hóa độc đáo, có thể coi như một nhịp cầu, nối giữa quá khứ và
hiện tại trên phương diện văn hóa nghệ thuật. Đây là một hướng đi đúng đắn, mang lại nhiều thành
công cho các nhạc sỹ/ca sỹ trẻ, khi kết hợp giữa tinh hoa âm nhạc truyền thống với những phương
pháp sáng tác, kỹ thuật biểu diễn âm nhạc của thế giới, để sáng tạo và trình diễn một thể loại ca khúc
mang hơi thở thời đại và bản sắc văn hóa Việt Nam. Bài viết mong muốn mang đến một cái nhìn chân
thực, khách quan về ca khúc dân gian đương đại trong giai đoạn hiện nay và chỉ ra một số vấn đề về
phong cách thể hiện được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn biểu diễn ca khúc dân gian đương đại của
người viết.
Từ khóa: Ca khúc dân gian đương đại, nhạc trẻ, phương pháp biểu diễn
Abstract
In the overall picture of Vietnamese songs recent years, the contemporary folk songs genre contains
unique cultural creativity values, which can be considered as a link, connecting the past and the present
on the aspects of culture and art. This is a right direction which brings many successes for young
musicians/ singers, when they combine the quintessence of traditional music with the composing
methods, musical performance techniques of the world in order to creates and performs a genre of
songs that contains a breath of the age and Vietnamese cultural identity. The article would like to bring
a realistic, objective view of contemporary folk songs in the current period and point out some issues of
performance style drawn from author’s practical experience of performing contemporary folk songs.
Keywords: Contemporary folk songs, young music, performance styles

1. Nhận thức về thể loại ca khúc dân gian
đương đại
Về phương diện thực tiễn


Trong nhiều thể loại ca khúc ở Việt Nam
hiện nay, có một thể loại cho thấy sự liên hệ
với truyền thống văn hóa, đó là những ca khúc
mang yếu tố văn hóa dân gian. Những ca khúc
này được gọi chung là thể loại ca khúc dân gian
đương đại. Sự hiện diện của thể loại này đã đưa
công chúng trở lại với những giá trị tốt đẹp của
văn hóa truyền thống trong một diện mạo mới
đầy thú vị. Suy rộng hơn, đó là phát huy được
* ThS., Khoa Quản lý văn hóa nghệ thuật, Trường ĐHVHHN

Số 32 (Tháng 6 - 2020)

bản sắc văn hóa Việt Nam trong quá trình hội
nhập văn hóa mang tính tồn cầu.
Ca khúc dân gian đương đại là một hiện
tượng văn hóa khơng phải ngẫu nhiên xuất
hiện. Sự hiện diện của nó là hệ quả tất yếu của
cả một quá trình tiếp biến văn hóa dựa trên cơ
sở nền tảng truyền thống văn hóa dân tộc Việt
Nam. Trên dòng chảy của lịch sử, bất cứ ở giai
đoạn nào, văn hóa dân tộc ln tự làm giàu
bằng sự bồi đắp những yếu tố văn hóa ngoại
sinh. Âm nhạc cũng khơng nằm ngồi quy luật
đó, nó ln là yếu tố động, cho dù hình thức
vận động của nó có thể là sơi động hay thầm
lặng. Một hiện tượng văn hóa - âm nhạc mới ở
thế kỷ XX cũng là kết quả của q trình chọn

VĂN HĨA

NGHIÊN CỨU

65


VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU

lọc, chắt lọc giữa âm hưởng âm nhạc Việt Nam
và âm hưởng âm nhạc phương Tây.
Trong quá trình phát triển của ca khúc Việt
Nam, ở giai đoạn nào cũng có những bài hát
chứa đựng trong nó những biểu hiện của âm
nhạc dân gian. Ngay từ khi mới xuất hiện nền
tân nhạc ở đầu thế kỷ XX, các tác phẩm âm nhạc
được viết dựa trên nền tảng âm nhạc phương
Tây, song các nhạc sỹ cũng đã đưa nhiều chất
liệu của âm nhạc dân gian truyền thống Việt
Nam vào trong sáng tác của mình. Các nhạc
sỹ trong thời kỳ này như Văn Cao, Phạm Duy,
Thẩm Oánh,… sáng tác nhiều ca khúc mang
âm hưởng dân ca được cơng chúng đón nhận
nồng nhiệt.
Giai đoạn 1954 - 1975, do bối cảnh của lịch
sử và sự phân hóa về thể chế chính trị, nền âm
nhạc Việt Nam chia làm 2 nhánh với sự khác
biệt rõ rệt: nhánh âm nhạc cách mạng (ở miền
Bắc XHCN và Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam); nhánh âm nhạc của chế độ Việt
Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam). Âm nhạc

cách mạng với tinh thần chủ đạo là ngợi ca
tình yêu quê hương đất nước, động viên quần
chúng nhân dân xây dựng CNXH và thể hiện
khát vọng ý chí thống nhất đất nước. Nhiều
ca khúc cách mạng Việt Nam xuất hiện trong
thời kỳ này có nội dung và ngôn từ mang âm
hưởng, màu sắc dân gian. Các nhà nghiên cứu
âm nhạc gọi là ca khúc trữ tình mang phong
cách dân gian. Thực chất, nó là một nhánh của
thể loại ca khúc trữ tình ở giai đoạn này. Nhìn
trên nhiều bình diện, có thể thấy việc bám sát
hiện thực đời sống và thực tiễn cách mạng vẫn
là nét chủ đạo của ca khúc trữ tình. Các nhạc
sỹ đã sáng tạo ra nhiều sản phẩm tinh thần là
những ca khúc mang đậm chất dân ca. Màu
sắc dân ca của vùng châu thổ Bắc Bộ được
thể hiện trong các ca khúc như: Đóng nhanh
lúa tốt (Lê Lơi - Huyền Tâm), Lúa mới (Nguyễn
Đức Tồn), Lúa vàng (Mạc Hy), Cấy chiêm (Tơ
Vũ - Qch Vinh); chất liệu hị sơng nước của
cư dân đồng bằng Nam Bộ được chưng cất
và hiện diện trong các ca khúc như: Lên ngàn,
Mùa lúa chín (Hồng Việt)…
Về phương diện lý luận
Ca khúc dân gian đương đại thực sự chưa
được phát triển thành khái niệm có tính chất
66

Số 32 (Tháng 6 - 2020)


học thuật, cũng không phải là một thuật
ngữ trong âm nhạc, mà là một cách gọi để
chỉ một thể loại ca khúc viết theo hệ thống
lý thuyết âm nhạc phương Tây nhưng mang
trong nó những yếu tố dân gian Việt Nam.
Cụm từ ca khúc dân gian đương đại mới xuất
hiện ở Việt Nam hơn chục năm nay, đặc biệt
gần đây thường xuyên xuất hiện trên truyền
thông, trong các cuộc thi có phân chia các thể
loại giọng hát, hay trong chương trình Bài hát
Việt trên sóng VTV3. Mục đích là để phân biệt
giữa những ca khúc này với các bài hát mang
phong cách Pop, Rock, thính phịng… Mặc
dù cịn có những cách hiểu khác nhau, nhưng
nhìn chung có hai luồng ý kiến chủ yếu: 1) Ca
khúc dân gian đương đại là một thể loại; 2) Ca
khúc dân gian đương đại là một cách gọi.
Nhìn nhận ca khúc dân gian đương đại là
một thể loại, nhạc sỹ Nguyễn Cường cho rằng:
Đó là các bài hát muốn nhấn mạnh rằng nó gần
gũi với dân ca và muốn trở thành cái gọi là dân
ca mới trong đời sống mới. Ca khúc được gọi là
dân gian đương đại ngoài yếu tố giai điệu mang
âm hưởng dân ca, gần gũi với dân ca thì cịn có
cả yếu tố khác như cách phối khí, cách trình bày,
trang phục biểu diễn… Nó bộc lộ sự phát triển
của âm nhạc Việt Nam tới mức độ phân chia
thành phong cách âm nhạc riêng. Thế giới có
Pop, Rock, R&B, Hip hop… thì Việt Nam có dân
gian đương đại. Nói cách khác, nó như là thể loại

của âm nhạc Việt Nam [1, tr.33]. Tác giả Nguyễn
Vĩnh Tiến, người có nhiều ca khúc sáng tác
theo thể loại này cũng đưa ra nhận định: Ca
khúc dân gian đương đại là một thể loại có sự kết
hợp của yếu tố dân gian và yếu tố đương đại. Hai
yếu tố này đi song hành với nhau chứ không loại
bỏ nhau. Các tác giả vẫn dùng hơi thở thời đại,
ngôn ngữ đương đại để nói vấn đề hơm nay [15].
Nhạc sỹ Lê Minh Sơn, trong một cuộc phỏng
vấn nói về sự thưa vắng của loại bài hát dân
gian đương đại trên sâu khấu Bài hát Việt, cho
rằng: “Việc tìm ra một bài hát đi vào lịng người
là chuyện khơng dễ dàng. Tác giả viết loại ca
khúc này phải là người có khát vọng thể hiện cái
tơi Việt Nam và thốt khỏi sự ảnh hưởng quá lớn
của nhạc nước ngoài” [8,tr.36].
Tác giả bài viết đồng tình với quan điểm
của các nhạc sỹ nói trên khi cho rằng, ca khúc


VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

dân gian đương đại là một thể loại đặc trưng
của âm nhạc Việt Nam. Các ca khúc được các
nhạc sỹ đương đại sáng tác, ít nhiều đều khai
thác chất liệu từ âm nhạc dân gian Việt Nam.
2. Những yêu cầu đặt ra đối với nghệ sỹ biểu
diễn ca khúc dân gian đương đại
Sau khi được sáng tác, tác phẩm âm nhạc
đương nhiên trở thành đứa con tinh thần của

riêng người nhạc sỹ viết ra nó, nhưng để trở
thành một sản phẩm âm nhạc, tác phẩm phải
được đưa đến cơng chúng và phải có đời sống
trong cơng chúng. Q trình đó được thực
hiện thơng qua các nghệ sỹ trình diễn (nhạc sỹ
phối khí, ca sỹ thể hiện). Nhìn nhận vấn đề như
vậy để thấy rằng, bên cạnh vai trị của người
nghệ sỹ sáng tác thì nghệ sỹ trình diễn cũng
có vai trị nhất định để làm nên sự thành cơng
của tác phẩm âm nhạc. Chính vì vậy, trong đời
sống âm nhạc, nhiều ca khúc, bài hát trở nên
nổi tiếng, có chỗ đứng trong lịng cơng chúng
một phần là nhờ nghệ sỹ thể hiện thành cơng
và có bản phối khí hay. Nhiều tên tuổi nghệ
sỹ/ca sỹ gắn với những ca khúc nổi tiếng như:
Nghệ sỹ nhân dân Thu Hiền với ca khúc Câu hò
trên bến Hiền Lương (sáng tác Hoàng Hiệp, thơ
Đằng Giao), Nghệ sỹ Anh Thơ với ca khúc Xa
khơi (sáng tác Nguyễn Tài Tuệ), nghệ sỹ Tùng
Dương với ca khúc Quê nhà (sáng tác Trần
Tiến), nghệ sỹ Ngọc Khuê với ca khúc Bà tôi
(sáng tác Nguyễn Vĩnh Tiến)… Đây là những ca
khúc mang âm hưởng dân gian được các nghệ
sỹ thể hiện thành công, ghi dấu ấn trong lòng
khán giả. Tuy nhiên, để thể hiện thành cơng
những ca khúc dân gian đương đại, thì phong
cách phối khí của nhạc sỹ và cách hát của ca sỹ
là những yếu tố vô cùng quan trọng, là điểm
tạo nên sự khác biệt giữa dòng nhạc dân gian
đương đại với các dịng nhạc khác.

Đối với nhạc sỹ phối khí
Khơng giống như một số nước có nền âm
nhạc hàn lâm lâu đời, ở Việt Nam, khá nhiều
nhạc sỹ sáng tác ca khúc (chủ yếu một bè)
nhưng họ lại khơng phối khí. Phối khí tốt làm
cho ca khúc trở nên hồn thiện hơn, hay hơn
nếu nhạc sỹ phối khí nắm được nội dung và ý
đồ của tác giả ca khúc; ngược lại, không hiểu
được ý đồ của tác giả, nghệ sỹ phối khí có thể sẽ
Số 32 (Tháng 6 - 2020)

làm giảm chất lượng của ca khúc. Với vai trị vơ
cùng quan trọng, phối khí trước hết là sự phối
hợp nhiều nhạc cụ cùng loại hoặc khác loại.
Điều quan trọng nhất trong ý thức của người
nghệ sỹ phối khí là làm sao âm thanh của các
loại nhạc cụ không được lấn át lẫn nhau, biết
tôn nhau để tạo nên vẻ đẹp của nghệ thuật.
Nghệ sỹ phối khí phải biết tận dụng những
ưu thế của hòa thanh, phức điệu, tiết tấu, giai
điệu, âm sắc,... để thực hiện bằng được ý đồ
của tác giả. Phối khí vừa mang tính khoa học,
vừa mang tính nghệ thuật, dẫu vậy, nó vẫn là
thứ do con người sáng tạo ra, do đó, con người
có thể thay đổi nó theo thẩm mỹ của thời đại.
Phối khí cho ca khúc nói chung, đến thời
điểm hiện tại, phần nhạc đệm vốn được xây
dựng trên nền tảng của tư duy hòa thanh cổ
điển phương Tây. Đó là những kiểu hợp âm
có cấu tạo dựa theo nguyên tắc âm nhạc học,

được liên kết với nhau theo những hệ thống
công năng nhất định. Chúng thường được âm
hình hóa dựa theo những mơ hình nhịp điệu
khác nhau để phù hợp với nội dung, tính chất
của từng ca khúc. Do tính khoa học cũng như
sự thuận lợi khi biểu diễn, kiểu phối khí này
hầu như đã thành công thức chung cho hầu
hết các ca khúc đang thịnh hành [9, tr.63].
Dẫu có thể coi đó là mẫu số chung, nhưng
ở mỗi thể loại ca khúc vẫn rất cần có những tư
duy phối khí khác nhau. Với ca khúc dân gian
đương đại, một phần do ý thức thể loại, phần
cịn lại do ý đồ khơi gợi cho cơng chúng hướng
tới sự liên tưởng về không gian âm nhạc truyền
thống, nên hầu hết bản phối ln có bóng
dáng của yếu tố âm nhạc dân gian thông qua
các câu nhạc cũng như các loại nhạc khí dân
gian được sử dụng. Điều này đang trở thành
một tiêu chí cần thiết, đảm bảo cho sự thành
công của tác phẩm.
Kết hợp các nhạc khí dân gian với nhạc
khí phương Tây trong dàn nhạc không phải là
việc làm mới mẻ, nhưng bối cảnh những năm
gần đây, thì việc làm đó cũng đáng trân trọng.
Trong không gian ồn ã, sôi động của nhịp sống
công nghiệp nơi đơ thị, qua sự trình diễn của
người nghệ sỹ, âm thanh của đàn bầu, nhị, sáo,
trưng, đinh pá, đàn goong,... vang lên trong bài
hát đã tạo ra sự ấm áp, gần gũi và sảng khối


VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU

67


VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU

cho người nghe. Đó cũng là cách mà nhạc sỹ
phối khí muốn dẫn dắt người nghe hướng về
những không gian thôn dã của các vùng quê.
Trong kỹ thuật thanh nhạc truyền thống
của người Việt nói chung, của các dân tộc
thiểu số nói riêng ở Việt Nam, nhiều loại dân ca
thường có những nhạc cụ mang tính đặc thù
để đệm cho nó. Nói cách khác, do tính thẩm
mỹ của dân tộc, trên phương diện âm thanh,
trải qua nhiều năm, trong tiềm thức của người
thưởng thức, cứ nói tới một loại nhạc cụ nào là
người ta nghĩ ngay tới vai trị của nó với một
loại dân ca tương thích. Chẳng hạn: tính tẩu
dùng đệm cho hát then; đàn bầu, sáo nhị dùng
đệm cho hát chèo, hát xẩm; đàn đáy cho hát
ca trù; kèn so na cho hát tuồng; đàn nguyệt
dùng đệm ngâm thơ; mõ đệm cho tụng kinh...
Chính những điều đó, đã gợi cho nhạc sỹ phối
khí có cách tư duy mới trong việc kết hợp với
nhạc khí phương Tây, hoặc kết hợp giữa các
nhạc khí dân tộc với nhau trong dàn nhạc sẽ

tạo được hiệu ứng dân gian như mong muốn.
Nghiên cứu này khơng nhằm mục đích đi
tìm hiểu thủ pháp kết hợp giữa nhạc khí dân
gian và nhạc khí phương Tây của các nhạc sỹ,
mà chỉ muốn thơng qua đó thấy được cách
phối khí của người nhạc sỹ cũng như tinh
thần, thành tố âm nhạc dân gian được thể
hiện trong tác phẩm. Vì vậy, chúng tơi chỉ lấy
một vài ví dụ có tính tiêu biểu mà các nhạc sỹ
phối khí sử dụng nhạc cụ dân tộc thực thụ, hay
mô phỏng lại âm thanh của nhạc cụ dân tộc,
chẳng hạn: Trong ca khúc Bà tôi và Giọt sương
bay lên của Nguyễn Vĩnh Tiến, bên cạnh dàn
nhạc nhẹ, nhạc sỹ phối khí cịn dùng thêm
đàn bầu, mõ,... cho phù hợp âm nhạc tụng
kinh có trong bài hát. Các ca khúc Về q (Phó
Đức Phương), Tiếng hát bên dịng sơng Trà (Vũ
Thiết), Bức tranh quê (Thanh Nghị),... cũng
được người phối khí sử dụng đàn bầu, sáo,...
tạo ra tính chất âm nhạc thanh bình vốn có
của những làng q thuộc châu thổ Bắc Bộ.
Một số ca khúc của Mạnh Trí viết về đề tài Tây
Nguyên, trong cách phối, nhạc sỹ luôn đề cao
sắc thái âm nhạc vùng miền. Chẳng hạn: Bài
ca trên đồi, Chờ em xuống núi có sử dụng tiếng
sáo tiêu để dẫn dắt; Khúc Ei rei mùa xuân, Rừng
núi hát tình ca, Bơ hơ mùa cà phê em hát, Tiếng
68

Số 32 (Tháng 6 - 2020)


chuông trai làng, Nhịp điệu cao nguyên,... đều sử
dụng đàn gong, ki pá, t’rưng trong dàn nhạc.
Có thể kể thêm một số ca khúc mà khi phối
khí các nhạc sỹ khơng qn sử dụng nhạc cụ
dân tộc hay âm hưởng của nhạc cụ dân tộc,
như: Trên đỉnh Phù Vân (Phó Đức Phương),
Duyên nợ tang bồng (Nguyễn Văn Tân) sử dụng
nhị; Lạnh thu đếm tình (Lê Võ Tuân), Tìm về tuổi
thơ (Quang Hưng - Phạm Kim Anh), Thư pháp
(Nguyễn Duy Hùng) sử dụng sáo trúc; Lời ru Âu
Lạc (Nguyễn Minh Sơn), Độc huyền cầm (Bảo
Lan) có sự tham dự của đàn bầu; Dời đô ngàn
năm vang mãi (Nguyễn Tiến) có sử dụng tiếng
kèn so na…
Đối với ca sỹ trình diễn
Khi ca sỹ trình diễn, đưa ca khúc đến với
cơng chúng, có thể coi như là cơng đoạn cuối
cùng của sự sáng tạo tác phẩm âm nhạc. Do
đó, cách hát và cách trình diễn trên sân khấu
của ca sỹ là vô cùng quan trọng, không kém
khâu sáng tác và phối khí.
Đã có một thời gian khá dài, kỹ thuật thanh
nhạc ở nước ta thường lấy theo hệ quy chiếu
chuẩn là âm nhạc kinh viện cổ điển phương
Tây. Học và hát trong các nhạc viện hay trường
nghệ thuật đều phải hát theo kỹ thuật Bel
canto. Theo nhà sư phạm Trung Kiên, phong
cách hát Bel canto mang tính khí nhạc, nghĩa
là xem giọng hát như một nhạc khí. Người ca

sỹ luyện tập cho giọng hát phát triển, nắm
vững kỹ thuật thanh nhạc khác nhau như hát
liền giọng, hát thanh, âm nảy, hoa mỹ, hát vuốt
nhỏ dần,... sử dụng những kỹ thuật này hết sức
điêu luyện và hợp lý trong mối quan hệ giữa
giai điệu và lời ca không làm âm thanh nặng
nề, ảnh hưởng tới âm sắc. Khơng vì mục đích
rõ lời mà áp dụng cách hát như nói [5, tr.181].
Thể loại ca khúc dân gian đương đại có
những yêu cầu đối với ca sỹ khác với các thể
loại ca khúc khác như cổ điển thính phịng,
bolero, nhạc cách mạng... Ca sỹ thể hiện có thể
thỏa sức sáng tạo dựa trên nền tảng kỹ thuật
thanh nhạc được học. Nhưng quan trọng hơn
cả, ca sỹ trình bày cần tìm hiểu rõ tác phẩm
được tác giả sáng tác dựa trên âm hưởng dân
gian vùng miền nào, để khi thể hiện có thể vận
dụng cách luyến láy cho đúng với vùng miền


VĂN HĨA - NGHỆ THUẬT

đó vào một câu hoặc một đoạn trong bài hát.
Ví dụ, bài hát Làng quan họ quê tôi của nhạc sỹ
Nguyễn Trọng Tạo được viết trên chất liệu dân
gian Bắc Bộ - dân ca quan họ Bắc Ninh. Khi thể
hiện bài hát này, ca sỹ không nhất thiết phải
luyến láy cả bài (hự - hạ - hồi - hư…) như đúng
cách dân gốc hát quan họ Bắc Ninh, mà có thể
luyến, nhấn những câu hoặc từ nào đó làm nổi

lên được đặc trưng vùng miền của bài hát.
Trong xu thế hội nhập mang tính tồn cầu
hiện nay, nhiều nước nhận ra rằng, cần phải
bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc,
vùng miền. Với nước ta, nhiều năm trở lại đây,
bản sắc văn hóa dân tộc luôn được Đảng ta
quan tâm một cách đúng mức. Điều đó đã giúp
cho những người làm văn nghệ nói chung và
làm âm nhạc nói riêng, có cơ sở nhận thức lại
nhiều vấn đề có liên quan đến nó. Trong thanh
nhạc, mặc dù cách hát Bel canto là kinh điển,
nhưng nó khơng phải là mơ hình để áp dụng
cho tất cả các nền thanh nhạc.
So với cách hát dân ca, hay hát trên sân
khấu cổ truyền Việt Nam, kỹ thuật Bel canto
có nhiều điểm khác biệt. Hát quan họ, ca trù
chủ yếu với kỹ thuật vang, rền, nền, nảy; hát
chèo cần sự nhẹ nhàng, nền nã, mượt mà; hay
đặc điểm nổi trội của tuồng là thể hiện rất
rõ cái hùng và cái bi, nhiều khi diễn viễn vừa
diễn xuất, vừa múa và hát. Vì thế, các nghệ sỹ
tuồng phải vận dụng khí để hát căng, đơi khi
cường điệu. Nhạc sỹ Lê Yên cho rằng: Tuồng
truyền thống là loại hình mang những nội dung
cần thể hiện bằng sự khoa trương, căng cứng
đến bạo liệt, cho nên cũng một làn điệu, nếu
chỉ hát kiểu bình thường thì giọng đẹp mấy, kỹ
thuật điêu luyện mấy đi chăng nữa, cũng chưa
được công nhận là hát tuồng... Ngữ khí chủ yếu
của hát tuồng là thứ cần vận dụng một áp suất

mạnh, nặng kể cả khi nói thầm [4, tr.91]. Đây là
những điều mà trong hát Bel canto khơng có.
Nếu ca sỹ nắm bắt và nhìn nhận được những
điều khác biệt này, để vận dụng khi biểu diễn
các bài hát dân gian đương đại thì sẽ đem lại
hiệu quả như mong muốn.
Những năm gần đây, do nhận thức về vai
trò quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc đối
với sự phát triển của đất nước, nhiều ca sỹ đã
Số 32 (Tháng 6 - 2020)

không ngại ngần và sẵn sàng khẳng định mình
thơng qua cách hát dựa vào hồn cốt của kỹ
thuật hát dân gian. Những ca sỹ đi theo hướng
này đã tạo nên một phong cách mới: phong
cách dân gian và được công chúng chấp nhận.
Phong cách này cũng được định hình qua các
cuộc thi liên hoan tiếng hát truyền hình như
Sao Mai, Sao Mai điểm hẹn, Bài hát Việt, Việt
Nam Idol, Giọng hát Việt (The Voice)... Nhiều ca
sỹ như Anh Thơ, Tân Nhàn, Ngọc Khuê, Tùng
Dương, Khánh Linh, Hà Linh, Nguyễn Trần
Trung Quân,... đã thành danh từ sân khấu này
và cũng chính từ dịng nhạc này.
Khi trình diễn bài hát dân gian đương đại,
ca sỹ không phụ thuộc quá nhiều vào kỹ thuật
thanh nhạc phương Tây, mà họ tìm cách kết
hợp giữa cách hát ta và Tây, xử lý sao cho tinh
tế ra chất dân gian của bài hát trong một môi
trường mới, ý thức mới. Thường thì những đặc

trưng của văn hóa vùng miền như phương
ngữ, âm điệu, luyến láy,... luôn được các ca sỹ
quan tâm khai thác triệt để.
Vận dụng cách đệm xuyên tâm trong chèo làm
nhạc nối giữa hai câu hát. Kiểu đệm này chúng
ta bắt gặp trong Về miền ca dao (Khánh Vinh),
Trầu không (Quang Hưng - Phạm Kim Anh), Độc
huyền cầm (Bảo Lan), Vội (Đức Nghĩa), Về quê
(Phó Đức Phương), Huế thương, Ca dao em và tôi
(An Thuyên), Sơng q (Nguyễn Trọng Tạo)...
Vận dụng cách đệm bè tịng của âm nhạc
dân gian. Đệm bè tòng là câu nhạc đệm có
trong hát then, hát văn, chèo ca Huế, tài tử - cải
lương và một số loại dân ca khác. Đó là những
câu nhạc “luồn lách”, đơi khi phần vocal của bề
đệm bám theo giai điệu của ca sỹ đang trình
diễn, bởi các nhạc cụ điện tử, truyền thống
một cách ngẫu hứng, đơi khi nằm ngồi ý
đồ của nhạc sỹ phối. Những trường hợp này
xuất hiện trong bản phối của các ca khúc Huế
thương (An Thuyên), Gió mùa về (Lê Minh Sơn),
Ơng tơi (Nguyễn Vĩnh Tiến), Hát mãi bài trường
ca Đam San (Mạnh Trí)...
Một yếu tố nữa khơng thể khơng đề cập
tới, đó là trang phục và phong cách biểu diễn
của ca sỹ. Khi biểu diễn những ca khúc dân
gian đương đại (trên sân khấu), hầu như các
ca sỹ (kể cả những người phụ họa) đều chú ý

VĂN HÓA

NGHIÊN CỨU

69


VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU

tới trang phục truyền thống. Điều đó cho thấy,
những ca sỹ này đã biết cộng cảm cùng tác
giả sáng tác để thể hiện cho được sự thống
nhất giữa nội dung và hình thức của bài hát.
Đó cũng là một cách khơi gợi để dẫn dắt công
chúng vừa thưởng thức cái hay cái đẹp của
ca khúc, vừa liên tưởng tới những giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc. Bên cạnh đó,
với những bài hát mang âm hưởng dân gian
vùng miền, được kết hợp với phần xử lý tác
phẩm cũng như hịa âm phối khí theo phong
cách hiện đại - trẻ trung như Rock, Pop, R&B,
nhạc điện tử,… thì người nghệ sỹ trình diễn
được quyền phối kết hợp với những bộ đồ trang phục biểu diễn theo cách riêng của họ.
Ví dụ, khi ca sỹ Đoan Trang trình bày tác phẩm
Quạt giấy của nhạc sỹ Lưu Thiên Hương trong
chương trình Bài hát Việt, âm nhạc được phối
khí theo phong cách Pop Rock, ca sỹ đã lựa
chọn cho mình trang phục quần jean kết hợp
với áo yếm, đi giày cao gót, cầm quạt giấy. Sự
kết hợp đầy ngẫu hứng cùng cách trình diễn
tự tin đã giúp bài hát Quạt giấy đến gần hơn

với khán giả (đạt giải Bài hát mang phong cách
Pop Rock nổi bật nhất năm 2007). Tiếp đó, năm
2008, cũng trong chương trình Bài hát Việt, ca
sỹ Tùng Dương trình diễn bài hát Con Cị của
nhạc sỹ Lưu Hà An, với phần hịa âm phối khí
theo kiểu world music mới lạ, trang phục áo
vest lịch lãm, phần thiết kế tay cánh dơi đã
giúp Con Cò vút bay trên sân khấu và đạt 3 giải:
Bài hát của năm, Bài hát được yêu thích nhất và
Ca sỹ được yêu thích nhất.
Trong thời gian qua, một vấn đề khác đáng
quan ngại là tình trạng làm mới, cách tân, cải
biên trang phục dân tộc trên sân khấu biểu
diễn. Thay vì phát triển, gìn giữ và tơn vinh
những nét đẹp, giá trị văn hóa dân tộc, khơng
ít cách làm, sử dụng đã làm biến dạng các
trang phục truyền thống. Có những ca sỹ đã
khốc lên mình những thiết kế sử dụng chất
liệu vải trong suốt - chiếc áo dài “mặc cũng như
không” khiến người xem phải đỏ mặt. Không
chỉ vậy, một số ca sỹ cịn mặc những bộ thiết
kế được ghép đơi áo dài với quần soóc, hay áo
dài với tất lưới gợi cảm. Khá nhiều ý kiến bày tỏ
sự phẫn nộ với cách sử dụng trang phục phản
cảm trên, cho rằng, đây là hành vi làm “vấy bẩn”
70

Số 32 (Tháng 6 - 2020)

bộ trang phục truyền thống của dân tộc. Cách

đây một vài năm, một số nghệ sỹ sử dụng khăn
Piêu để làm “khố” trong một tiết mục biểu diễn
cũng khiến giới nghiên cứu văn hóa và dư luận
bất bình. Tình trạng đó cho thấy vẫn cịn tồn
tại sự dễ dãi, tùy tiện của một số nghệ sỹ khi
trình diễn với trang phục dân tộc.
Về phong cách trình diễn, ca sỹ phải tìm
những động tác, cử chỉ mang tính thích hợp
với trang phục và nội dung bài hát. Chẳng
hạn, với những bài hát mang âm hưởng dân
ca châu thổ Bắc Bộ (như Làng quan họ quê tôi),
hay đồng bằng Nam Bộ (như Áo mới Cà Mau)
hoặc âm hưởng dân ca Bình - Trị - Thiên (như
Quảng Bình quê ta ơi), thường thì sắc diện của
ca sỹ phải thân thiện, ánh mắt dịu dàng, đi lại
nhẹ nhàng thướt tha. Đối với bài hát mang âm
hưởng dân tộc Tây Nguyên (như Ngọn lửa cao
nguyên), thường thì các động tác biểu cảm của
ca sỹ phải nồng nàn, mạnh mẽ.
Với ca sỹ, khi hát các bài hát thuộc loại này,
họ cũng nhận thức rõ được nội dung và sắc
thái dân tộc của tác phẩm. Do vậy, để thể hiện
và chuyển tải thành công nội dung và ý đồ của
tác giả sáng tác/nhạc sỹ phối khí, các ca sỹ phải
chú trọng tới tinh thần, phương ngữ của bài
hát. Bên cạnh đó, khi trình diễn, việc lựa chọn
trang phục của ca sỹ cũng có ảnh hưởng nhất
định tới việc chuyển tải nội dung, tinh thần bài
hát đến cảm xúc của khán giả khi thưởng thức
nghệ thuật. Những động tác, cử chỉ biểu cảm

khi biểu diễn cũng nhẹ nhàng, dun dáng...
góp phần tơ đậm thêm yếu tố dân gian cho
các ca khúc mà họ thể hiện.
Kết luận
Từ đầu thế kỷ XX, âm nhạc Việt Nam dần
bộc lộ hiện tượng giao lưu, tiếp biến với văn
hóa âm nhạc phương Tây. Điều đó dẫn đến sự
ra đời của một số ca khúc được viết theo hình
thức và lý thuyết âm nhạc phương Tây, nhưng
mang chất liệu âm nhạc dân gian Việt Nam.
Kể từ đó đến nay, nó đã phát triển thành một
thể loại, gọi là ca khúc dân gian đương đại.
Sự xuất hiện của thể loại ca khúc này đã góp
phần tạo ra sự cân bằng và cho thấy tính đa
dạng của ca khúc Việt Nam trong những năm
gần đây.


VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

Về mặt lý luận, mặc dù ca khúc dân gian
đương đại chưa được xem xét, nghiên cứu
để hình thành một khái niệm rạch rịi, nhưng
người ta vẫn cơng nhận sự tồn tại của nó
thơng qua các cuộc thi giọng hát, trên các
diễn đàn, hay các phương tiện truyền thông
đại chúng.

Tài liệu tham khảo


Ca khúc dân gian đương đại có thể xem
như là gạch nối mềm mại và đầy sáng tạo
giữa yếu tố âm nhạc dân gian bản địa và lý
thuyết âm nhạc phương Tây. Nó mang đến
hơi thở và sức sống của thời đại, nhưng thật
gần gũi, thân quen bởi các chất liệu có từ
trong truyền thống. Nó là một ví dụ tiêu biểu
của sự giao lưu, tiếp biến âm nhạc trong thời
đại tồn cầu hóa văn hóa hiện nay. Ta có thể
dễ dàng nhận thấy ở đó nhiều giá trị văn hóa
độc đáo, góp phần khơi gợi và lưu giữ hình
ảnh của làng quê xưa trong tâm thức của
người dân đương đại. Bên cạnh đó, thơng
qua lời ca và âm nhạc, người nghe có thể
cảm nhận và thu nhận được thế giới quan và
triết lý sống của thế hệ xưa. Việc công chúng
tiếp nhận những thông tin từ những ca khúc
dân gian đương đại, nếu nhìn sâu hơn điều
này đã phản ánh được chức năng thẩm mỹ
và chức năng giáo dục truyền thống của
nó. Nó là minh chứng cho thấy vẻ đẹp âm
nhạc không cần phải hướng đến một mẫu
số chung. Thật sai lầm khi trông đợi âm nhạc
chỉ mang vẻ đẹp thuần túy, đơn nhất của sự
tạo tác, trau chuốt về hòa thanh, giai điệu,
kỹ thuật nhưng thiếu đi cái bản sắc, cái riêng
biệt trong mỗi văn hóa sản sinh ra nó.

3. Đào Việt Hưng (1999), Tìm hiểu điệu thức
dân ca người Việt Bắc Trung bộ, Viện Âm nhạc,

Nxb. Âm nhạc, Hà Nội.

Để sáng tác, phối khí và biểu diễn thành
cơng thể loại này, người nhạc sỹ, ca sỹ khơng
chỉ cần có kiến thức và kỹ thuật biểu diễn âm
nhạc, mà rất cần phải có sự am hiểu về văn hóa
dân gian nói chung, âm nhạc dân gian Việt
Nam nói riêng. Chỉ khi có được điều đó, họ mới
thực sự thành cơng với thể loại này. Một lần
nữa, văn hóa trở thành lời giải, thành đích đến
của đỉnh cao nghệ thuật. Đó cũng là một sự
định hướng, là bài học kinh nghiệm quý được
đúc rút từ cá nhân người viết và những nhạc
sỹ, ca sỹ cùng thế hệ gửi gắm đến những nhạc
sỹ, ca sỹ tương lai.
Số 32 (Tháng 6 - 2020)

1. Bùi Đức Nghĩa (2012), Ca khúc dân gian
đương đại trong chương trình “Bài hát Việt” (2005
- 2012), Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Viện Khoa
học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
2. Dương Viết Á (2005), Âm nhạc Việt Nam từ
góc nhìn văn hóa, Nxb. Hà Nội, Hà Nội.

4. Lê Yên (1994), Những vấn đề cơ bản về âm
nhạc tuồng, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
5. Nguyễn Trung Kiên (2001), Phương pháp sư
phạm thanh nhạc, Viện Âm nhạc xuất bản, Hà Nội.
6. Nguyễn Thụy Loan, (1994), Lược sử âm nhạc
Việt Nam, Nxb. Âm nhạc, Hà Nội.

7. Nguyễn Đăng Nghị (2009) “Ca khúc dân
gian đương đại”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (9).
8. Nguyễn Đăng Nghị (2011), Bay lên từ truyền
thống, Nxb. Văn hóa - Thơng tin và Tạp chí Văn
hóa Nghệ thuật, Hà Nội.
9. Phạm Ngọc Khuê (2014), Yếu tố dân gian
trong ca khúc đương đại Việt Nam, Luận văn Thạc
sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
10. Trần Bảo Lân (2007), Những yếu tố dân
gian trong ca khúc Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 2007), Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Viện Nghiên
cứu Văn hóa, Hà Nội.
11. Trần Tiến (2000), ý kiến tại cuộc Hội thảo
Những vấn đề sáng tác và biểu diễn hiện nay, Hà Nội.
12. Tô Vũ, (2002), Âm nhạc Việt Nam truyền
thống & hiện đại, Viện Âm nhạc, Hà Nội.
13. Tơ Vũ, Chí Vũ, Thụy Loan (1977), “Âm nhạc
phương Tây đã thâm nhập vào Việt Nam như thế
nào”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (4).
14. V.A. Vakhramêép (Vũ Tự Lân dịch, 1982),
Lý thuyết âm nhạc cơ bản, Nxb. Văn hóa, Hà Nội.
15. Vũ Thược, “Dân gian đương đại - lắng
đọng để trở lại”, />Details/307

Ngày nhận bài: 10 - 02 - 2020
Ngày phản biện, đánh giá: 15 - 4 - 2020
Ngày chấp nhận đăng: 25 - 6 - 2020

VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU


71



×