Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất chương trình ca múa nhạc ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (173.62 KB, 5 trang )

VĂNHĨA
HĨAĐƯƠNG
ĐƯƠNGĐẠI
ĐẠI
VĂN

ỨNG DỤNG KHOA HỌC CƠNG NGHỆ
TRONG SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH CA MÚA NHẠC
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
PHẠM NGỌC HIỀN

Tóm tắt
Thực tế ở phạm vi tồn cầu đã chứng minh, những thành tựu của khoa học công nghệ đã, đang và
sẽ thâm nhập sâu, rộng hơn vào mọi ngõ ngách của đời sống con người. Trong xã hội đương đại, việc
ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất dường như là u cầu có tính chất tất yếu, là
bảo chứng cho khả năng thành công khi tham gia vào thị trường. Ở trong nước, việc ứng dụng thành
tựu khoa học công nghệ vào sản xuất các chương trình ca múa nhạc trong bối cảnh cuộc Cách mạng
cơng nghiệp 4.0 đang có những tác động ngày càng sâu sắc đến hoạt động tổ chức biểu diễn ở Thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Từ khóa: Khoa học cơng nghệ, ca múa nhạc, Thành phố Hồ Chí Minh
Abstract
The reality on a global scale has proved that the achievements of science and technology have
been penetrating deeper and wider into every corner of human life. In the contemporary society,
the application of science and technology to production activities seems to be an indispensable
requirement, a guarantee for the ability to succeed when participating in the market. In Vietnam,
the application of scientific and technological achievements to the production of music and dance
programs in the context of the Industrial Revolution 4.0 is impacting more and more profoundly on the
organization of performance in the Ho Chi Minh city today.
Keywords: Science and technology, music and dance, Ho Chi Minh City

Đặt vấn đề


ách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN
4.0) lần đầu tiên được đề cập trong
bản Kế hoạch hành động chiến lược
cơng nghệ cao, được Chính phủ Đức thơng
qua vào năm 2012. Theo đó, nội hàm của thuật
ngữ CMCN 4.0 là tập trung phát triển các lĩnh
vực chính: Công nghệ sinh học, kỹ thuật số và
vật lý với những yếu tố cơng nghệ cốt lõi là trí
tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối (Internet of
Things - IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)… [1]
Như vậy, một khi CMCN 4.0 bùng nổ với
những phát minh mới chắc chắn sẽ làm thay

C

Số 29 (Tháng 9 - 2019)

đổi sâu sắc, tồn diện đời sống chính trị - kinh
tế - văn hóa - xã hội của con người trên khắp thế
giới. Đặc biệt, dưới sự tác động của khoa học
công nghệ (KHCN), con người sẽ thay đổi nhu
cầu, thói quen, phương thức, hành vi tiêu dùng
các sản phẩm văn hóa nghệ thuật, vui chơi giải
trí, mà trong đó các chương trình ca múa nhạc
(CMN) là một thành tố. Đồng thời, cuộc CMCN
4.0 cũng mở ra những cơ hội quý giá trong việc
ứng dụng các thành tựu KHCN vào quá trình
sản xuất chương trình CMN ở Thành phố (Tp)
Hồ Chí Minh là tất yếu để có thể nâng cao năng
lực cạnh tranh, chinh phục được cơng chúng.


VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU

67


VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU

1. Thực tế ứng dụng khoa học cơng nghệ
trong sản xuất chương trình ca múa nhạc ở
Tp. Hồ Chí Minh hiện nay
1.1. Khai thác dữ liệu lớn (Big data)
Big data là tập hợp dữ liệu với kích thước
lớn và phức tạp, vượt khả năng thu thập, xử lý
và quản lý của các công cụ phần mềm thông
thường trong một khoảng thời gian hợp lý.
Nguồn dữ liệu tạo thành các big data có thể
đến từ các trang web, mạng xã hội, ứng dụng
dành cho máy tính để bàn, thiết bị di động,
các thí nghiệm khoa học, thiết bị cảm biến và
các thiết bị khác trong Internet of Things - IoT...
[4]. Trong đó, đối với hoạt động giải trí như
sản xuất các chương trình CMN, nguồn dữ liệu
dạng Big data của công chúng trên mạng xã
hội, thiết bị di động có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng. Thơng qua nguồn dữ liệu này, nếu các
đơn vị tổ chức chương trình CMN biết đầu tư
khai thác một cách hợp pháp, hợp lý thì hồn

tồn có thể nhận diện được nhu cầu, thị hiếu,
xu hướng giải trí của cơng chúng. Đó chính là
cơ sở thực tiễn quan trọng để đơn vị tổ chức
chương trình CMN xây dựng chiến lược truyền
thơng marketing, cũng như định hướng phát
triển sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhất
cho công chúng.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, hầu như chưa
có đơn vị tổ chức chương trình CMN nào ở Tp.
Hồ Chí Minh khai thác hiệu quả hệ thống dữ
liệu của công chúng dưới dạng Big data từ các
mạng xã hội, thiết bị di động… Hầu hết những
quyết định sản xuất, tổ chức biểu diễn của đơn
vị tổ chức dựa trên chức năng, nhiệm vụ định
sẵn, hoặc đó là sự phán đốn cá nhân dựa vào
q trình quan sát thực tế và đôi khi là kết quả
của những kinh nghiệm được đúc kết từ nhiều
năm làm nghề. Chính vì vậy, khơng có nhiều
chương trình CMN thu hút được cơng chúng
tham gia, hoặc có thương hiệu lớn, để lại
những ấn tượng sâu sắc với khán giả. Điều này
cho thấy sự phát triển nghệ thuật biểu diễn
CMN ở Tp. Hồ Chí Minh thiếu nền tảng cho sự
68

Số 29 (Tháng 9 - 2019)

bền vững, mà một phần nguyên nhân là chưa
biết cách khai thác hiệu quả những dữ liệu big
data bằng khoa học cơng nghệ hiện đại.

1.2. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI)
Trí tuệ nhân tạo, hay trí thơng minh nhân
tạo, là dạng trí tuệ do con người lập trình tạo
nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động
hóa các hành vi thông minh như con người.
Nghĩa là AI giúp máy tính biết suy nghĩ và lập
luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do
hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích
nghi… Nó là một trong những ngành trọng
yếu của tin học, ngày càng giúp con người
xử lý được nhiều vấn đề trong cuộc sống mà
vốn dĩ chưa xử lý được, hoặc xử lý chưa hiệu
quả như nhận dạng chữ viết, khn mặt, chẩn
đốn bệnh, điều khiển từ xa…[2].
Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh
dịch vụ văn hóa giải trí tại Tp. Hồ Chí Minh như
tổ chức biểu diễn các chương trình CMN, ở
một chừng mực nhất định và trong giới hạn về
nguồn lực, một số cơng nghệ có tích hợp AI đã
bước đầu được sử dụng. Ví dụ điển hình như
sử dụng AI để lập trình vận hành sân khấu, hệ
thống âm thanh, ánh sáng, cảnh trí, hình ảnh,...
cho các chương trình CMN. Với sự hỗ trợ của
các máy tính sử dụng AI, sau khi được lập trình,
khi sử dụng, thay vì địi hỏi cả một lực lượng
nhân sự hỗ trợ hùng hậu như trước kia thì giờ
đây, chỉ cần thao tác ấn nút, mọi ý tưởng nghệ
thuật của đạo diễn sẽ được thể hiện một cách
trọn vẹn, đầy đủ và chính xác nhất trên sân
khấu. Đối với khán giả, AI cũng giúp họ tương

tác và được hưởng lợi nhiều hơn khi tham gia
vào các chương trình CMN. Ví dụ điển hình là
khi khán giả đặt mua vé online, vị trí ghế ngồi
của họ sẽ được kết nối tương tác với các dịch
vụ, tiện ích khác tại sân khấu.
Nhưng, để sử dụng được công nghệ AI
vào trong quá trình sản xuất các chương trình
CMN một cách thường xuyên hơn, ở quy mô
lớn hơn và với chất lượng cơng nghệ cao hơn,
địi hỏi đơn vị tổ chức phải sở hữu năng lực


VĂN HĨA ĐƯƠNG ĐẠI

tài chính mạnh, đội ngũ nguồn nhân lực cơng
nghệ chất lượng cao và một tầm nhìn phát
triển có tính chất chiến lược của lãnh đạo đơn
vị. Những địi hỏi trên rõ ràng khơng có nhiều
doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh ở lĩnh vực
nghệ thuật biểu diễn CMN có khả năng đáp
ứng. Đó là một phần nguyên nhân quan trọng
vì sao ở Tp. Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói
chung, khơng có nhiều chương trình CMN đạt
chất lượng cao nhờ ứng dụng công nghệ AI.
1.3. Ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR)
Công nghệ thực tế ảo cho phép con người
tương tác nhiều hơn, hiệu quả và có những
trải nghiệm thú vị hơn thơng qua sự hỗ trợ
của máy tính. Ứng dụng những thành tựu
của cơng nghệ này, hiện nay, trong một số

chương trình CMN tại Tp. Hồ Chí Minh, hình
ảnh nghệ sỹ ảo trên sân khấu đã được hiện
thực hóa bằng máy chiếu Hologram và các
thiết bị kỹ thuật máy chiếu hiện đại khác (các
thiết bị này thường được kết nối kỹ thuật
và điều khiển từ xa). Cơng nghệ này tạo ra
hình ảnh chân thực đến mức khán giả khó
phân biệt giữa người thật và người ảo trong
chương trình.

Đây là một bước phát triển của cuộc CMCN
4.0 đối với nghệ thuật biểu diễn. Ứng dụng
công nghệ thực tế ảo không chỉ hỗ trợ người
nghệ sỹ trong q trình diễn xuất trên sân
khấu, mà cịn cho phép đạo diễn thực thi hóa
các ý tưởng sáng tạo nghệ thuật mới lạ trên
nền tảng công nghệ nhằm mang lại hiệu quả
nghệ thuật cao nhất cho tác phẩm, phục vụ
công chúng trọn vẹn nhất.
Tính hữu dụng của cơng nghệ VR trong tổ
chức sản xuất các chương trình nghệ thuật
CMN có lẽ khơng cần phải bàn cãi (mặc dù nó
vẫn có mặt hạn chế). Song do tính mới mẻ của
nó, cũng như những địi hỏi về nguồn lực tài
chính, con người mà khơng phải lúc nào, ở đâu
và chương trình nào đơn vị tổ chức cũng có
thể sử dụng được cơng nghệ này. Tuy nhiên,
trong tương lai gần, trước những đòi hỏi ngày
càng cao của cơng chúng, và cũng từ những
địi hỏi trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật,

thiết nghĩ công nghệ VR sẽ được sử dụng
thường xuyên và hiệu quả hơn.
2. Một số vấn đề đặt ra
NSND Lê Tiến Thọ đã từng cho rằng: “Trong
thời đại CMCN 4.0 với nhiều thiết bị nghe nhìn
hỗ trợ thì sân khấu cũng
cần tiếp cận khán giả
bằng công nghệ số. Một
số nhà hát đã thay đổi
tích cực, tiếp cận khán
giả bằng việc giới thiệu
thơng tin về buổi diễn,
vở diễn trên website
hoặc trang Facebook
chính thức của mình”
[3]. Nghệ sỹ Thanh Bạch
trong một cuộc phỏng
vấn cũng cho rằng:
“Trên thế giới hiện nay,
sân khấu đã đi vào nhà
của khán giả”. Điều đó
Hình 1. Cơng nghệ Gauze tạo hình diễn viên ảo trên sân khấu
được sử dụng trong Chương trình kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Tơn Đức Thắng nghĩa là nghệ thuật đã
(Nguồn: Tác giả)
tự thân tiếp cận đến

Số 29 (Tháng 9 - 2019)

VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU


69


VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU

tận khán giả chứ khơng cịn theo phương
thức truyền thống trước đây là khán giả đến
nhà hát. Điều này đặt ra vấn đề là nhà sản xuất
chương trình CMN phải nhận thức ý nghĩa,
tầm quan trọng và tính tất yếu trong việc ứng
dụng các thành tựu KHCN trong chu trình sản
xuất, cung ứng dịch vụ ra cho thị trường trong
bối cảnh hiện nay. Bởi nếu khơng, các chương
trình CMN được sản xuất ở Tp. Hồ Chí Minh sẽ
khơng những tụt hậu so với xu hướng phát
triển nghệ thuật biểu diễn của thế giới, mà còn
trở nên ngày càng lạc lõng trên thị trường văn
hóa nghệ thuật đang cạnh tranh mạnh mẽ, và
trở nên “lạc điệu” so với nhu cầu, thị hiếu nghệ
thuật của cơng chúng.
Ở một bình diện khác, thơng qua các giá
trị cơng nghệ được tích hợp trên các công
cụ truyền thông đại chúng như facebook,
zalo,… nhà sản xuất chương trình CMN tại Tp.
Hồ Chí Minh cần đóng vai trị dẫn dắt và khơi
nguồn cảm hứng cá nhân cho khán giả khi họ
đến tham dự chương trình. Bởi, khi tham dự
chương trình, khán giả khơng thuần túy đến

xem những gì diễn ra trên sân khấu mà cịn có
những nhu cầu “ngồi sân khấu” khác. Ví dụ
điển hình như khi các nghệ sỹ thế giới tham
dự Liên hoan phim Cannes 2018 tại Pháp, họ
không hẳn đến để thưởng thức các tác phẩm
điện ảnh, mà còn muốn nhân cơ hội này để làm
nổi bật hình ảnh cá nhân, nâng cao “nhân hiệu”
của bản thân. Điều này vơ cùng có ý nghĩa khi
họ hoạt động trong lĩnh vực giải trí. Một ví dụ
khác, đầu năm 2019, tại Nhà hát Bến Thành đã
tổ chức biểu diễn vở cải lương “Tiên Nga” do
Công ty tổ chức biểu diễn Idecaf sản xuất. Khi
đến tham gia chương trình này, rất nhiều khán
giả đã cập nhật hình ảnh về vở diễn, về khơng
gian tổ chức biểu diễn trên facebook, zalo cá
nhân như là một phương thức để khẳng định
cá tính, sở thích giải trí của chính bản thân họ.
Qua đó họ thu nhận được những giá trị riêng
ngoài việc thỏa mãn được nhu cầu thưởng
thức nghệ thuật của mình. Hơn nữa, xét từ góc
70

Số 29 (Tháng 9 - 2019)

độ kinh tế, việc này còn mang lại những hiệu
quả truyền thông, marketing cho đơn vị tổ
chức mà họ không cần phải tốn nhiều nguồn
lực. Thế nhưng rất tiếc rằng, ở Tp. Hồ Chí Minh
hiện nay, khơng có nhiều đơn vị tổ chức biểu
diễn CMN có sự quan tâm đúng mức đến vấn

đề này.
Một vấn đề nữa là, dù việc ứng dụng KHCN
để sản xuất các chương trình CMN dường như
là yêu cầu tất yếu, nhưng Tp. Hồ Chí Minh hiện
nay chưa có cơ sở nào đào tạo nhân sự riêng
cho lĩnh vực đặc thù này. Vì vậy, thị trường
nghệ thuật biểu diễn nói chung, thị trường
CMN nói riêng, khơng có được những nhân
sự chất lượng cao và chuyên môn phù hợp
để làm việc trong những chương trình CMN
cần sử dụng cơng nghệ cao, mà thực tế phần
lớn nhân sự nhóm này tự học hỏi và làm bằng
những kinh nghiệm cá nhân. Thực trạng này
không chỉ làm cho nhà sản xuất rơi vào thế bị
động khi cần ứng dụng KHCN cho các chương
trình CMN, mà cịn hạn chế rất nhiều khả năng
cũng như hiệu quả ứng dụng. Thực tiễn đó
cho thấy, việc hình thành các chương trình
đào tạo nghệ sỹ, đạo diễn là việc làm cần thiết,
nhằm giúp họ không chỉ giỏi về lĩnh vực nghệ
thuật mà họ được đào tạo, mà còn được trang
bị những kiến thức chuyên môn về ứng dụng
KHCN trong hoạt động sản xuất chương trình
nghệ thuật biểu diễn cho xã hội.
Mặt khác, dù việc ứng dụng KHCN trong
các chương trình CMN có ở cấp độ nào, quy
mơ nào thì đơn vị sản xuất cũng cần gắn kết
chặt chẽ với nhiệm vụ giữ gìn, phát huy các
giá trị truyền thống dân tộc. Chúng ta có thể
thấy tinh thần đó được thể hiện trong tiết

mục của nhóm nhảy 218 Dance Crew của Việt
Nam khi họ tham gia chương trình Asia’s Got
Talent 2017. Mặc dù tiết mục được dàn dựng
theo phong cách hiện đại, với phần trình diễn
ứng dụng cơng nghệ Led-Wiless, nhưng nhóm
nhảy đến từ Việt Nam đã giới thiệu đến khán
giả quốc tế các giá trị văn hóa truyền thống


VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI

Việt Nam qua thiết kế trên nền biểu tượng hoa
sen, nón lá và nhạc dân tộc được remix. Song
khơng nhiều nhà sản xuất, đạo diễn dàn dựng
có ý thức này. Nếu tình trạng này vẫn tiếp diễn
và phát triển mạnh mẽ đến mức ngồi tầm
kiểm sốt thì chắc hẳn sẽ để lại những hệ lụy
không mong muốn trong quá trình phát triển
của thị trường nghệ thuật biểu diễn của Việt
Nam nói chung, Tp. Hồ Chí Minh nói riêng.
Kết luận
Theo xu hướng phát triển của thế giới, việc
tăng cường ứng dụng các thành tựu của KHCN
như khai thác dữ liệu lớn (Big data), trí tuệ nhân
tạo (AI), cơng nghệ thực tế ảo (VR), công nghệ
kỹ thuật số,… vào sản xuất các chương trình
CMN ở Tp. Hồ Chí Minh là điều cần thiết. Kết
quả ứng dụng này sẽ góp phần nâng cao chất
lượng các chương trình biểu diễn CMN ở Tp.
Hồ Chí Minh, cũng như ở Việt Nam, tiệm cận

với các nước phát triển. Đồng thời, thông qua
việc ứng dụng này sẽ rút ngắn khoảng cách
giữa nhu cầu, thị hiếu thưởng thức nghệ thuật
của công chúng với chất lượng các chương
trình CMN thực tế được sản xuất. Qua đó, giúp
cho các đơn vị tổ chức biểu diễn khai thác thị
trường văn hóa nghệ thuật hiệu quả hơn, hịa
nhập được với thị trường thế giới thông qua
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Thế nhưng, thực tế hiện nay cho thấy, việc
ứng dụng KHCN vào sản xuất các chương trình
CMN ở Tp. Hồ Chí Minh cịn nhiều hạn chế, khó
khăn. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân
khác nhau như năng lực tài chính của đơn vị
sản xuất chưa đủ mạnh, chất lượng nguồn
nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu công
việc, khả năng sáng tạo nghệ thuật trên nền
tảng công nghệ của người đạo diễn còn hạn
chế… Để giải quyết những tồn tại, khó khăn
trên, thiết nghĩ cần có sự đồng lịng, hiệp sức
tồn diện từ đơn vị sản xuất chương trình,
cơng chúng, cơ quan quản lý nhà nước và các
cơ sở đào tạo.
P.N.H
(ThS., Trung tâm Ca nhạc nhẹ Tp. Hồ Chí Minh)
Số 29 (Tháng 9 - 2019)

Tài liệu tham khảo
1. Hồ Tú Bảo (2017), “Hiểu về Cách mạng công
nghiệp lần thứ 4”, />khoa-hoc/hieu-ve-cach-mang-cong-nghiep-lanthu-4-3574624.html).

2. Trần Thị Ngọc Hồi (2016), “Trí tuệ nhân
tạo là gì? Nguồn gốc và một số ứng dụng của
trí tuệ nhân tạo trong thực tiễn”, http://startup.
vitv.vn/tin-chu/21-09-2016/tri-tue-nhan-tao-lagi-nguon-goc-va-mot-so-ung-dung-cua-tri-tuenhan-tao-trong-t/1321.
3. Tân Khoa (2018), “Sân khấu khơng thể
đứng ngồi cuộc với cách mạng công nghiệp
4.0”, u n g - n g o a i - c u o c - vo i - c a c h - m a n g - co n g nghiep-40-172268.html.
4. Duy Luân (2013), “Big Data là gì và người ta
khai thác, ứng dụng nó vào cuộc sống như thế nào?”,
/>
Ngày nhận bài: 31 - 7 - 2019
Ngày phản biện, đánh giá: 27 - 8 - 2019
Ngày chấp nhận đăng: 25 - 9 - 2019

VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU

71



×