DI SẢN VĂN HĨA
NGHỆ NHÂN “CỊ KE ƠỐNG KHÁO”
TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG MƯỜNG Ở HỊA BÌNH
TRẦN BẠCH DƯƠNG
Tóm tắt
Âm nhạc dân gian Mường hiện còn lưu truyền một thể loại dàn nhạc có tên gọi “Cị ke ơống kháo”.
Các thành viên của dàn nhạc này là những người có năng khiếu bẩm sinh, có đam mê nghệ thuật và
phải trải qua một quá trình nỗ lực rèn luyện, tu dưỡng để trở thành nghệ nhân. Cộng đồng Mường kính
trọng họ, coi họ là những người tài giỏi, hiểu biết về phong tục tập qn. Nghệ nhân “Cị ke ơống kháo”
thuộc tầng lớp tinh hoa trong xã hội Mường, giữ vai trò quan trọng trong bảo tồn, phát huy và giáo dục
truyền thống văn hóa tộc người.
Từ khóa: Cị ke ôống kháo, người Mường, âm nhạc dân gian, nghệ nhân dân gian
Abstract
Folk music of Muong ethnic minority circulates an orchestra called “Cị ke ơống kháo”. The members
of this orchestra are innate gifted people who have a passion for art and must go through a process
of training and attempting to become artisans. Muong community respects them, considers them as
talented people, understanding customs and habits. The artisans of “Cị ke ơống kháo” belong to the
elite class of Muong society, playing an important role in preserving, promoting and educating ethnic
cultural traditions.
Keywords: Cò ke ôống kháo, Muong people, folk music, folk artisans
Đặt vấn đề
N
gười Mường - tộc người bản địa
ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam, sinh
sống tập trung nhiều nhất tại tỉnh
Hịa Bình, nơi bắt đầu của địa hình núi đá kéo
dài và cao dần về phía các tỉnh Sơn La, Điện
Biên, Lai Châu, tạo nên một miền Tây Bắc hùng
vĩ. Người Mường coi Hịa Bình là q hương,
là vùng đất khởi sinh tộc người, kể cả người
Mường sinh ra và lớn lên ở nơi khác cũng xem
Hịa Bình như đất tổ của mình.
Văn hóa Mường có nhiều điểm tương đồng
với văn hóa Kinh, vì thế các nhà nghiên cứu tin
vào giả thuyết rằng hai tộc người này chung
một nguồn gốc, gọi là người tiền Việt - Mường.
Theo giả thuyết này, vào khoảng thế kỷ VI Số 28 - Tháng 6 - 2019
VIII, một bộ phận người tiền Việt - Mường di
chuyển xuống sinh sống ở đồng bằng Bắc Bộ,
tại đây họ liên tục tiếp xúc, giao lưu với các tộc
người khác nên có sự biến đổi về văn hóa và
trở thành người Kinh hiện nay [4, tr.29]. Người
Mường là bộ phận tộc người ở lại vùng núi, ít
tiếp xúc giao lưu nên vẫn cịn giữ một số nét
văn hóa cổ xưa từ thời tiền Việt - Mường. Ngày
nay văn hóa Mường với bản sắc độc đáo trở
nên đầy hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu và
khách du lịch, người ta biết tới văn hóa Mường
với nghệ thuật cồng chiêng, diễn xướng Mo,...
hoặc chỉ đơn giản qua câu nói: “Cơm đồ, nhà
gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới ”.
Âm nhạc dân gian Mường hiện còn lưu
truyền một thể loại dàn nhạc có tên gọi “Cị
ke ơống kháo”. Xét theo Luật di sản văn hóa
VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU
25
VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU
Việt Nam thì đây là một trường hợp thuộc di
sản văn hóa phi vật thể [3]. Nó tồn tại trong
mối liên hệ không tách rời giữa nghệ thuật
âm nhạc và người trình diễn. Những người
trình diễn đồng thời giữ vai trị bảo lưu và trao
truyền nghệ thuật đó qua các thế hệ, họ được
gọi là Nghệ nhân dân gian “Cị ke ơống kháo”.
Bàn về yếu tố con người trong di sản văn
hóa, GS.TS. Hồng Vinh đã viết: “Di sản văn hóa
phi vật thể bao gồm các thể loại văn hóa nghệ
thuật chủ yếu sau đây: Âm nhạc, ca múa, sân
khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại,
lễ hội, nghi lễ, phong tục, tập quán, y học dân
tộc, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất
đồ thủ cơng mỹ nghệ. Có thể ghi nhận vào đây
cả “nghệ nhân dân gian”, người đang nắm các
bí quyết này, cũng được xem là tài sản văn hóa.
Trong đạo luật “Bảo tồn các tài sản văn hóa”
của nước Nhật Bản, lớp nghệ nhân dân gian
kể trên được gọi là “Kho báu sống” [5, tr.110].
Cách gọi “Kho báu sống” đã cho thấy đặc trưng
của nghệ nhân dân gian dưới góc nhìn văn
hóa, những con người đang sống, vừa là chủ
thể vừa là thành phần của một di sản văn hóa.
Điều đó cũng cảnh báo sự khó khăn trong việc
chọn cách tiếp cận và phương pháp nghiên
cứu phù hợp.
“Cị ke ơống kháo” được trình diễn trong
đám tang và lễ hội, tại đây nó phục cho các
nghi lễ tín ngưỡng2. Ngồi ra, người Mường
cịn dùng nó để giải trí ở những dịp vui như:
gặp mặt ngày xuân, sau tiệc rượu, các cuộc trò
chuyện trong đêm khuya. Cách đây vài chục
năm, người ta còn thấy “Cò ke ôống kháo” xuất
hiện tại đám cưới ở Kim Bôi và Lạc Thủy, tuy
nhiên hiện nay khơng cịn thấy nữa.
Biên chế một dàn nhạc “Cị ke ơống kháo”
khá linh hoạt, thơng thường tại tang lễ chỉ từ
3 - 5 người, vào các dịp vui hoặc tham gia lễ
hội thì số lượng thường nhiều hơn, có thể lên
đến hơn 10 người. Mỗi dàn nhạc có một người
trưởng nhóm, người này sẽ đại diện cho nhóm
nhạc để làm các cơng việc chung như: tiếp
nhận và xếp lịch công việc, thương thảo tiền
công, tổ chức họp nhóm, phân cơng nhiệm vụ
cho các thành viên khác. Người trưởng nhóm
được lựa chọn, suy tơn với hai tiêu chí: Thứ
nhất là người giỏi chun mơn, sử dụng được
nhiều nhạc khí và thơng thạo các bài bản âm
nhạc “Cị ke ơống kháo”; thứ hai phải là người
trung thực, có uy tín trong cộng đồng3.
Bài viết giới thiệu một cái nhìn tổng thể về
các nghệ nhân “Cị ke ơống kháo”, qua khảo
sát, nghiên cứu ở 03 điểm thuộc tỉnh Hịa
Bình: 1) Xã Sủ Ngịi, thành phố Hịa Bình; 2) Xã
Phong Phú, huyện Tân Lạc; 3) Xã Nhân Nghĩa,
huyện Lạc Sơn. Thông tin được tổng hợp từ
các quan sát về thân phận và cuộc sống hàng
ngày, những ý kiến từ phía cộng đồng và lời
bộc bạch của bản thân các nghệ nhân “Cị ke
ơống kháo”.
Hiện nay, “Cị ke ơống kháo” khá phổ biến
trong cộng đồng Mường ở Hịa Bình, mỗi xã
thường có từ 1 - 3 dàn nhạc. Thơng tin cụ thể
tại 03 xã mà chúng tôi chọn khảo sát: Xã Sủ
Ngịi có 1 dàn nhạc, số lượng nghệ nhân là
5 người; xã Phong Phú có 3 dàn nhạc ở xóm
Lầm, xóm Ải và xóm Mận, tổng số nghệ nhân
là 10 người; xã Nhân Nghĩa có 03 dàn nhạc ở
xóm Vó trên, Vó giữa và xóm Bưng, tổng số
nghệ nhân là 12 người.
1. Vài nét về dàn nhạc “Cò ke ơống kháo”
Số nghệ nhân ở mỗi xã có lẽ cịn nhiều hơn,
thống kê trên là những người thường xuyên
tham gia dàn nhạc “Cị ke ơống kháo”, cịn lại
một số nghệ nhân khác ít tham gia, vì những
lý do như: bận cơng việc, hoặc sức khỏe yếu do
tuổi đã cao…
“Cị ke ôống kháo” hiểu theo nghĩa đen là từ
ghép của tên gọi hai nhạc khí: “Cị ke” và “ơống
kháo” (đàn nhị và sáo trúc). Đây là hai nhạc khí
chủ chốt khơng thể thiếu trong dàn nhạc này,
vì chúng diễn tấu giai điệu chính. Bên cạnh đó,
26
người ta thường bổ sung thêm các nhạc khí
khác như: trống con, chũm chọe, đàn tam, đàn
bầu,... tùy theo điều kiện cho phép1.
Số 28 - Tháng 6 - 2019
DI SẢN VĂN HĨA
2. Q trình trở thành nghệ nhân “Cị ke
ơống kháo”
Trình diễn “Cị ke ơống kháo” khơng phải là
nghề gia truyền, chỉ có một vài nghệ nhân kế
tục nghề từ những người ruột thịt. Trong thực
tế thì ai cũng có thể trở thành nghệ nhân “Cị
ke ơống kháo” nếu có đủ các điều kiện: Năng
khiếu, niềm đam mê, đạo đức tốt và lối ứng xử
đúng mực. Đó là những yếu tố lần lượt xuất
hiện qua từng giai đoạn để một người bình
thường trở thành nghệ nhân “Cị ke ôống
kháo”.
Trước tiên, người học phải có năng khiếu
âm nhạc, đây là tố chất mà mỗi người có được
từ bẩm sinh, thể hiện qua khả năng cảm nhận
cao độ, tiết tấu và ghi nhớ giai điệu âm nhạc.
Các nghệ nhân vốn là những người chân chất,
mộc mạc, họ giải thích về tố chất này bằng từ
khéo: “Cái món này khơng phải cứ thích là làm
được đâu, người khéo thì chỉ cần nghe, nhìn đã
làm theo được rồi! Anh nào khơng khéo thì dù
có chỉ tận tay, gí vào đầu, học cả đời vẫn làm sai,
không theo nghề được” (PVS Nghệ nhân Bùi
Văn N, ở Tân Lạc). Vì vậy, trước khi nhận học
trò để truyền dạy, các nghệ nhân bao giờ cũng
chú ý tới yếu tố này. Nếu người học khơng có
năng khiếu, họ sẽ thẳng thắn từ chối, vì “cứ nể
nang mà nhận dạy, rồi cũng chẳng học được
thành nghề đâu” (PVS Nghệ nhân Bùi Văn T, ở
Sủ Ngòi).
Trường hợp nghệ nhân Bùi Văn X, trưởng
nhóm “Cị ke ơống kháo” ở Sủ Ngịi, có con
trai là Bùi Văn H (sinh 1992), hiện đang thất
nghiệp, ở nhà giúp cha mẹ làm việc đồng áng.
Mặc dù ơng X đang dạy “Cị ke ơống kháo”
cho một người cùng xóm, nhưng ơng khơng
truyền nghề cho con trai mình. Lý do rất đơn
giản: “Cháu khơng có năng khiếu nên không học
được”.
Nếu năng khiếu âm nhạc là yếu tố đầu tiên
phải có, thì niềm đam mê đối với âm nhạc “Cị
ke ơống kháo” là yếu tố thứ hai, nó là động lực
xuyên suốt giúp cho người học vượt qua quá
Số 28 - Tháng 6 - 2019
trình khổ luyện, tu dưỡng. Nghệ nhân Bùi Văn
T (ở Tân Lạc, sinh năm 1943) cho biết, ơng đã
“mê” âm nhạc “Cị ke ôống kháo” ngay từ lần
đầu được nghe, khi mới 12 tuổi. Ơng về nhà
tự làm cị ke (đàn nhị), cắt đoạn tre làm thùng
đàn, dùng da ếch căng mặt đàn, làm xong còn
chẳng biết lên dây cho đúng. Với chiếc đàn
tự tạo đó, ơng hăng hái theo các đàn anh để
học “Cị ke ơống kháo” và trở thành một nghệ
nhân giỏi. Nay tuổi đã cao, ông vẫn thường
xuyên tham gia dàn nhạc “Cị ke ơống kháo”,
ơng nói: “cái này nó ngấm vào máu rồi, nếu
khơng được chơi thường xun, tơi cảm thấy
thiêu thiếu gì đó”.
Cuối cùng, sau khi học đủ các bài bản “Cị
ke ơống kháo”, để có một vị trí chính thức
trong dàn nhạc “Cị ke ơống kháo” và được
cộng đồng cơng nhận, người học “Cị ke ơống
kháo” phải đạt tiêu chuẩn thứ ba, đó là có lối
sống lành mạnh, biết ứng xử đúng chuẩn mực
tại các không gian tơn nghiêm như lễ hội, lễ
tang. Vì tiêu chuẩn này mà có người từng bị
“thử thách” đến hàng chục năm, cũng có người
vì liên tiếp cư xử sai mà bị loại bỏ. Chẳng hạn
như trường hợp của nghệ nhân Bùi Văn K ở Sủ
Ngịi. Ơng có tật hay uống rượu say và quấy
nhiễu, nhiều lần giữa lễ tang ông lè nhè trêu
chọc mọi người (chọc cả dùi trống vào người
đến viếng), vì thế bị cộng đồng chê trách,
những người cùng nhóm nhạc cũng dần tránh
né khơng mời tham gia nữa.
3. Cuộc sống hàng ngày của nghệ nhân “Cị
ke ơống kháo”
Đời sống kinh tế
Chơi nhạc “Cị ke ơống kháo” là công việc
không thường xuyên, nguồn thu nhập đến
từ phục vụ lễ tang rất ít ỏi và khơng ổn định.
Nghệ nhân Bùi Văn T ở Tân Lạc cho biết: “Thời
gian trước, tại đám tang thầy Mo được chia 1 vai
thịt lợn (tức là ¼ con lợn), người thổi kèn nhận
được chiếc thủ lợn, nghệ nhân “Cị ke ơống kháo”
chỉ được chia một phần thịt nhỏ khoảng 1kg,
thay cho lời cảm ơn của tang chủ”.
VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU
27
VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU
Ngun tắc trả cơng này được giải thích
như sau: Thứ nhất, thầy và thợ là hai vị trí khác
nhau4, thầy Mo nhận công nhiều hơn thợ kèn,
thợ đàn; Thứ hai, thợ kèn được trả công cao
hơn thợ đàn (tức “Cị ke ơống kháo”), vì cơng
việc của người thổi kèn được cho là nặng nhọc,
vất vả hơn. Người Mường quan niệm rằng các
bản nhạc được trình bày bằng âm sắc của chiếc
kèn mới là âm nhạc nghi lễ và chỉ dành riêng
cho nghi lễ5. Dàn nhạc “Cị ke ơống kháo” mặc
dù xuất hiện ở đám tang, nhưng có vai trò hỗ
trợ cho giai điệu của kèn, hoặc chơi độc lập các
bài bản “Cị ke ơống kháo” khi chiếc kèn tạm
nghỉ (đêm khuya, hoặc lúc gia đình tang chủ
dùng bữa).
Ngày nay, việc trả công được thay bằng
tiền mặt, thầy Mo: 1,5 - 2 triệu; thợ kèn: 700
- 800 ngàn; nghệ nhân “Cị ke ơống kháo” chỉ
được nhận khoảng 400 - 500 ngàn cho một lần
phục vụ tang lễ. Tất nhiên đó khơng thể là một
khoản thu nhập thường xun, cũng chẳng đủ
để duy trì cuộc sống, như một nghệ nhân đã
nói: “Đủ tiền để uống trà, hút thuốc thơi” (PVS
nghệ nhân Bùi Văn T ở Tân Lạc).
Nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” không nhận
thù lao khi phục vụ lễ hội, vì đó là nhiệm vụ
được xem là vinh dự mà cộng đồng lựa chọn
giao phó, nên họ tự nguyện tham gia với một
tâm thế nhiệt tình và thành kính. Sau cùng, họ
sẽ được Ban tổ chức lễ hội mời một bữa cơm
“thụ lộc” từ những đồ cúng.
Bởi lý do nêu trên mà “Cị ke ơống kháo”
khơng thể trở thành một nghề mưu sinh và
các nghệ nhân phải mưu sinh bằng một nghề
khác. Tuy nhiên, khảo sát về nghề mưu sinh
của họ lại mang cho chúng tôi những kết quả
rất bất ngờ và thú vị. Hóa ra các nghệ nhân
“Cị ke ơống kháo” thường làm những nghề
địi hỏi có trí thơng minh và sự khéo léo. Một
số người làm việc trí óc như: Chủ tịch xã, cán
bộ văn hóa, kế toán, giáo viên trung học phổ
thông,… số khác làm những việc cần kỹ năng
28
Số 28 - Tháng 6 - 2019
khéo léo, có tay nghề như: Lái máy cẩu chuyên
dụng, thợ mộc, nhạc cơng organ, cơng nhân
nhà máy Thủy điện Hịa Bình… Những nghề
này giúp họ có đời sống kinh tế khá ổn định so
với mức sống chung của cộng đồng, thường ở
mức trung bình trở lên.
Sở thích và lối sống
Thưởng thức âm nhạc là sở thích chung của
các nghệ nhân “Cị ke ôống kháo”. Vật dụng phổ
biến tại nhà riêng của họ là bộ thiết bị nghe
nhạc, những dàn âm thanh khơng đắt tiền, cơng
suất trung bình (40 - 60W), chúng thường được
bày đặt ở không gian để tiếp khách, gần bàn
uống trà. Tất cả ở trong trạng thái hoạt động
tốt, điều đó chứng tỏ chúng được sử dụng và tu
sửa thường xuyên. Âm nhạc mà họ thích nghe
là các ca khúc Việt Nam được sáng tác trong
nửa cuối thế kỷ XX6. Giai điệu của chúng đơi khi
cịn được họ trình diễn bằng “Cị ke ơống kháo”
trong những lúc cao hứng.
Các nghệ nhân “Cị ke ơống kháo” có một
điểm chung trong lối sống: rất hướng ngoại và
có nhiều mối quan hệ trong cộng đồng. Điều
này dễ dàng nhận thấy qua thái độ hiếu khách
và sự chân thành. Họ cởi mở, thích được làm
quen với người lạ, sẵn sàng chia sẻ mọi câu
chuyện đời thường của mình khá thoải mái
nhưng khơng “vẽ chuyện làm quà”7. Có lẽ thái
độ hiếu khách, sự chân thành cùng với cơng
việc “Cị ke ơống kháo” khiến họ có nhiều mối
quan hệ trong cộng đồng. Khảo sát cho thấy
hầu như mỗi người dân Mường đều biết và
giao thiệp với một vài nghệ nhân “Cị ke ơống
kháo” trong vùng.
Họ cùng có thói quen chung phổ biến
trong cộng đồng Mường là uống rượu. Nhưng
họ ln uống có chừng mực, vì hầu như khơng
có phản ánh hay than phiền về việc các nghệ
nhân “Cị ke ơống kháo” say xỉn, có lẽ bởi cơng
việc “Cị ke ơống kháo” địi hỏi sự nghiêm túc
và tỉnh táo. Tuy nhiên, uống vài chén rượu khi
gặp mặt nhóm nhạc vẫn là chuyện diễn ra
DI SẢN VĂN HĨA
thường xun. Họ ln sẵn lịng tổ chức tại
nhà riêng một bữa cơm rượu đãi khách hay
họp nhóm “Cị ke ơống kháo”; họ cũng rất vui
lịng nhận lời mời dùng cơm ở nhà của một
thành viên trong nhóm. Các bữa ăn này mang
lại cho họ sự gắn kết và tình thân, hơn nữa sau
đó thường là những khoảnh khắc ngẫu hứng
để họ chơi đàn với nhau.
Tập luyện và truyền dạy nghề
Việc tập luyện và truyền dạy nghề thường
diễn ra sau bữa ăn tối, khi các công việc hàng
ngày đã kết thúc. Các nghệ nhân tập hợp tại
nhà của một thành viên trong nhóm và hịa
tấu các bản “Cị ke ơống kháo” với nhau. Sau
mỗi bản nhạc, họ thường dừng lại để trao đổi,
góp ý cho nhau về ngón đàn, rồi nói chuyện
tâm tình. Đây cũng là thời gian họ sẽ truyền
dạy bài bản, ngón đàn cho các học trị. Học trị
chẳng của riêng ai, họ có thể học ở mỗi người
một ít. Thầy dạy thì khơng bao giờ thu học phí,
thường chỉ thấy học trị tự nguyện chăm lo trà
thuốc, hoặc biếu thầy vài lít rượu, thế là đủ.
Ngồi ra, học trị cịn được đi cùng các
nghệ nhân để thực tập trong các dịp trình
diễn “Cị ke ôống kháo”. Việc học có thể kéo dài
hoặc rút ngắn tùy theo khả năng của học trò,
những người học giỏi thường thành nghề sau
2 - 3 năm, có những trường hợp lâu hơn như
nghệ nhân Bùi Văn L (ở Sủ Ngịi) học hơn 10
năm mới được hành nghề. Ơng L kể lại rằng,
ngày đó ơng rất khéo, học nhanh tiến bộ,
nhưng ham chơi, khơng chú tâm tập luyện, vì
vậy các thầy phải cân nhắc mãi mới cho phép
ông đi làm nghề. Chuyện này cho thấy đam
mê với nghề và đạo đức của người học là tiêu
chí cơ bản để thầy dạy quyết định có truyền
nghề hay khơng. Các nghệ nhân ln dặn học
trị phải xem đây là việc làm phước, khơng cầu
lợi, cần có thành tâm và biết chia sẻ. Người làm
nghề cần có lối sống giản dị, tránh khốc lác,
khoa trương và đặc biệt không được gian dối.
Chúng tôi cịn ghi nhận được ở Sủ Ngịi có 2
Số 28 - Tháng 6 - 2019
người bị thầy “đuổi” không dạy nữa vì thiếu
thật thà8.
4. Vị thế của nghệ nhân “Cị ke ôống kháo”
trong đời sống cộng đồng
Khi đề cập tới “Cị ke ơống kháo”, chúng tơi
ghi nhận các ý kiến từ cộng đồng Mường như
sau:
- “Cị ke ơống kháo” à! Món đó khơng dễ đâu,
phải khéo mới làm được!
- Ơng ấy khéo đấy! Biết chơi “Cị ke ơống
kháo” cơ mà!
- Anh ấy thơng minh lắm! Việc gì cũng làm
được, biết chơi cả “Cị ke ơống kháo”!
“Cị ke ơống kháo” gắn bó với đời sống
cộng đồng Mường. Khơng ít người dân Mường
đã từng một lần thử làm quen với các nhạc khí
“Cị ke ơống kháo”, nhưng phần lớn sẽ nhanh
chóng bỏ cuộc sau khi nhận ra rằng đó khơng
phải là việc dễ dàng. Âm nhạc cần sự khéo léo
hơn là sức mạnh cơ bắp, hơn nữa, kể cả người
khéo léo nhất cũng phải trải qua một thời gian
tập luyện mới có thể thành nghề. Vì thế, việc
biết chơi “Cị ke ơống kháo” đơi khi trở thành
một tiêu chí để người ta đánh giá về năng lực
con người. Và nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”
mặc nhiên được coi là những người thông
minh, khéo léo.
Khác với năng lực của ông Mo, ông T’lượng
hay bà Mỡi (những người thực hành tâm linh
và được cộng đồng tin rằng có năng lực thần
bí), nghệ nhân “Cị ke ôống kháo” mang tố
chất của con người, trở thành tài nghệ qua rèn
luyện. Quan niệm đó thể hiện qua cách ứng
xử của cộng đồng với nghệ nhân “Cò ke ôống
kháo”, người ta không cần phải tỏ ra cung kính,
thậm chí có chút e sợ như với ơng Mo, ơng
T’lượng, song người Mường ln kính trọng và
thường có mối quan hệ khá thân mật, gần gũi
với nghệ nhân “Cò ke ơống kháo”.
Tính chất cơng việc của nghệ nhân “Cị ke
ơống kháo” luôn gắn với các sự kiện trong xã
hội, từ việc thờ cúng chung (lễ hội), hay việc
VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU
29
VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU
riêng của mỗi gia đình (lễ tang, đám giỗ). Họ
không chỉ thường xuyên tham gia mà như đã
trở thành một phần của các sự kiện ấy, điều đó
địi hỏi họ phải biết và tuân thủ đúng theo quy
tắc và trình tự của các nghi lễ. Trong đám tang,
mỗi khi ơng Mo thực hành một nghi lễ thì dàn
nhạc “Cị ke ơống kháo” sẽ chơi một bản nhạc
phù hợp với nghi lễ đó. Thêm nữa, họ phải biết
cách điều chỉnh để kéo dài hơn hoặc rút ngắn
bản nhạc tùy theo thời gian của một nghi lễ
đang diễn ra, sao cho nghi lễ kết thúc thì bản
nhạc cũng dừng.
Sự kiêng kỵ trong tang ma được các nghệ
nhân tuân thủ rất nghiêm cẩn. Ở Mường Vang
còn lưu truyền một bản nhạc tên là “Mo trâu”,
được tấu lên khi gia chủ dâng mâm cúng thịt
trâu cho tinh linh người chết. Thực ra, việc
dâng cúng thịt trâu là thủ tục phổ biến ở thời
gian trước, khi mà các trình tự của tang ma
Mường còn rất rườm rà. Người Mường tin rằng
nếu tấu bản nhạc này mà khơng có mâm cúng
thịt trâu thì sẽ mắc lỗi với người chết. Nhưng
ở thời điểm hiện nay, khơng phải gia đình nào
cũng có điều kiện để cúng thịt trâu, vì vậy bài
“Mo trâu” ngày càng ít được sử dụng đến nỗi
đang có nguy cơ thất truyền. Trong q trình
sưu tầm tài liệu, chúng tơi đã rất khó khăn để
thuyết phục các nghệ nhân “Cị ke ơống kháo”
trình tấu bản nhạc này. Cuối cùng họ miễn
cưỡng thực hiện sau khi hướng về phía cửa sổ
(cửa vóng) lầm rầm vài câu xin phép.
Do tính chất cơng việc nên họ là những
người được nhiều người biết đến và có nhiều
mối quan hệ trong cộng đồng, nhất là với các
già làng, trưởng bản. Những mối quan hệ đó
mang lại cho họ nhiều kiến thức về cuộc sống
và cơ hội trong công việc. Vì vậy, nghệ nhân
“Cị ke ơống kháo” trở thành người được cộng
đồng tin tưởng để tham khảo ý kiến về nghi lễ
hay phong tục tập quán9.
Như vậy có thể thấy, nghệ nhân “Cị ke
ơống kháo” đã khẳng định được vị thế của
30
Số 28 - Tháng 6 - 2019
mình trong đời sống cộng đồng Mường. Họ
được cộng đồng kính trọng và yêu quý không
chỉ bởi là những người trực tiếp giữ gìn và
phát huy di sản âm nhạc dân gian Mường, mà
cịn bởi tư chất thơng minh, khéo léo, am hiểu
phong tục tập quán và hiểu biết xã hội, có kinh
nghiệm trong đối nhân xử thế...
5. Một số vấn đề đặt ra hiện nay
Nghệ nhân “Cị ke ơống kháo” vừa là chủ
thể, vừa là thành phần của một di sản văn hóa
nghệ thuật. Họ đang ngày một già đi theo quy
luật của cuộc sống, một khi họ từ giã cuộc
sống này mà chưa kịp trao truyền cho thế hệ
sau, vốn cổ nghệ thuật đó sẽ theo họ về thế
giới bên kia. Nhiều nghệ nhân đã bày tỏ với
chúng tôi sự lo lắng vì khơng tìm được người
để truyền nghề, bởi hiện nay giới trẻ người
Mường không mấy quan tâm đến nghệ thuật
“Cị ke ơống kháo”.
Bên cạnh đó, ý kiến của các nghệ nhân
đơi khi cịn bị xem nhẹ. Tại lễ hội khai hạ Đình
Ngịi, xã Sủ Ngịi, ban tổ chức đã u cầu các
nghệ nhân “Cị ke ơống kháo” tập và chơi bản
nhạc “Lưu thủy” của người Kinh thay thế các
bản nhạc “Cị ke ơống kháo” truyền thống, mặc
cho họ phản đối một cách yếu ớt10. Có lễ hội
thì lại thu thanh sẵn các bản nhạc cồng chiêng
và “Cò ke ôống kháo”. Điều đó cho thấy nhận
thức của một số cán bộ văn hóa cấp cơ sở cịn
hạn chế, vơ tình làm ảnh hưởng đến sự tồn
vong của một loại hình nghệ thuật mang bản
sắc dân tộc Mường.
Để bảo vệ di sản văn hóa này, chúng tơi
cho rằng giải pháp thiết thực nhất là chú trọng
nâng cao trình độ nhận thức của các cán bộ
văn hóa ở cơ sở. Họ, hơn ai hết phải hiểu được
giá trị của các yếu tố văn hóa bản địa mà họ
đang tiếp xúc, gần gũi và biết tôn trọng ý kiến
của các nghệ nhân. Trên nền tảng đó họ sẽ
có những hành động tuyên truyền hiệu quả
về giá trị di sản văn hóa, tạo chuyển biến tích
cực trong nhận thức của cộng đồng Mường.
DI SẢN VĂN HÓA
Khi thế hệ trẻ người Mường hiểu và biết trân
trọng văn hóa nghệ thuật dân gian, muốn
học tập và gìn giữ nó, thì các nghệ nhân “Cị
ke ôống kháo” sẽ không còn phải lo lắng về
việc truyền nghề.
Kết luận
Thứ tư, cùng với những nhân vật khác như:
thầy Mo, thầy Thường, ơng T’lượng, bà Mỡi,
các nghệ nhân “Cị ke ơống kháo” đã góp phần
tạo nên một bộ khung của tầng lớp tinh hoa
trong xã hội, góp phần bảo lưu, phát huy và
giáo dục truyền thống văn hóa Mường.
Con người là tổng hòa của các mối quan
hệ xã hội, vì thế muốn làm rõ chân dung một
nhân vật có vị trí nhất định trong xã hội như
nghệ nhân “Cị ke ơống kháo”, thì việc xem xét
một cách tổng thể là điều cần thiết. Từ nhiều
góc độ mơ tả khác nhau, bài viết mong muốn
nhận diện một cách khách quan, chân thực
về nghệ nhân “Cị ke ơống kháo” trong xã hội
Mường ở Hịa Bình.
Trong xu hướng biến đổi và hội nhập văn
hóa hiện nay, rất cần trân trọng và phát huy
vai trò xã hội của các nghệ nhân dân gian như
nghệ nhân “Cị ke ơống kháo”, khơng chỉ ở tài
năng nghệ thuật mà cịn ở vốn văn hóa truyền
thống mà họ đang lưu giữ, thực hành và giáo
dục cho cộng đồng, góp phần bảo vệ bản sắc
văn hóa dân tộc Mường .
Thứ nhất, mặc dù “Cị ke ơống kháo” khơng
phải nghề gia truyền, nhưng để trở thành
nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”, người học phải
có năng khiếu bẩm sinh, có đủ đam mê để khổ
luyện, và cuối cùng là tu dưỡng đạo đức để
được xã hội công nhận.
(ThS., Khoa Văn hóa học, Trường ĐHVHHN)
Thứ hai, trong đời sống văn hóa cộng
đồng Mường, nghệ nhân “Cị ke ơống kháo”
là những người giản dị, chân thật, am tường
phong tục tập quán, say mê âm nhạc dân
gian như một thú vui tao nhã. Nghệ nhân
“Cị ke ơống kháo” là một kiểu “nhân cách văn
hóa”, một vị trí ít được chú ý, nhưng ln hiện
hữu trong xã hội Mường. Người Mường kính
trọng họ, coi họ là những người tài giỏi, am
hiểu về phong tục tập qn và có uy tín trong
cộng đồng.
Thứ ba, các nghệ nhân “Cị ke ơống kháo”
đã tạo nên một tổ chức, có người đứng đầu
và các thành viên, có các hoạt động cụ thể
(trình diễn, tập luyện, trao truyền). Trong đó,
nội dung tập luyện gắn với truyền dạy “Cị ke
ơống kháo” là một sinh hoạt tinh thần mang
giá trị văn hóa, giáo dục sâu sắc. Đó chính
là hiện thực của hoạt động bảo lưu và sáng
tạo truyền thống từ các nghệ nhân dân gian
Mường.
Số 28 - Tháng 6 - 2019
T.B.D
Chú thích
Khơng có quy ước, giới hạn cụ thể về
số lượng nhạc khí tham gia dàn nhạc. Thơng
thường, dàn nhạc “Cị ke ơống kháo” có ít hơn 10
nhạc khí. Nhưng số lượng người tham gia có thể
lên tới 15 người hoặc hơn bằng cách tăng gấp
đôi, gấp ba số người chơi cùng một loại nhạc khí.
1
Jean Cusinier là người có những ghi chép
sớm nhất về “Cị ke ơống kháo”, trong cuốn Người
Mường - Địa lý nhân văn và xã hội học, xuất bản lần
đầu bằng tiếng Pháp năm 1948 [1, tr.679-680].
2
Đã có trường hợp người trưởng nhóm bị
“khai trừ” do vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức,
đó là câu chuyện của nghệ nhân Bùi Văn T, vốn
là trưởng nhóm “Cị ke ơống kháo” ở xã Sủ Ngịi.
Ơng rất giỏi nghề, nhưng vì hay bớt xén tiền
cơng của các thành viên khác nên đã bị tẩy chay
và mời ra khỏi nhóm.
3
Người Mường phân biệt rõ qua cách gọi:
thầy Mo, thợ kèn, thợ đàn.
4
Điều này thể hiện qua sự kiêng kỵ đối với
chiếc kèn, người Mường cho rằng tiếng kèn đám
là điềm báo của sự xúi quẩy, một tín hiệu của cái
chết. Vì thế người học kèn đám thường phải lắp
dăm kèn vào chiếc ống nứa nhỏ (nhằm giảm âm
5
VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU
31
VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU
lượng và đổi âm sắc) và chọn các nơi vắng vẻ, kín
đáo để tập luyện, tránh để người khác nghe thấy.
Trái lại, “Cị ke ơống kháo” hồn tồn khơng bị
ảnh hưởng bởi những sự kiêng kỵ đó, các nghệ
nhân có thể tập luyện, trình diễn ở bất cứ nơi
nào mình muốn, gần đây họ cịn biểu diễn “Cị
ke ôống kháo” trên các sân khấu âm nhạc cộng
đồng (văn nghệ xã, phường). Điều đó cho thấy
rằng âm nhạc “Cị ke ôống kháo” không bị giới
hạn trong không gian u buồn của đám tang hay
chỉ dành riêng cho sự linh thiêng của các nghi lễ.
Họ đặc biệt yêu thích các ca khúc được các
nhạc sĩ miền Bắc sáng tác trong thời kỳ kháng
chiến (nhạc đỏ) và các ca khúc trữ tình (nhạc
vàng).
6
Chúng tơi đã kiểm chứng bằng cách ghi
chép vài mẩu chuyện họ kể, sau đó 1 năm thì gợi
lại với họ để đối chiếu, họ đã kể lại đúng như lần
kể trước, điều đó cho thấy họ rất thật thà.
7
Tư liệu phỏng vấn nghệ nhân Bùi Văn X, Bùi
Văn L ngày 9/7/2017.
8
Phỏng vấn các nghệ nhân đã gợi cho chúng
tơi một manh mối rất thú vị, đó là quan hệ giữa
nghệ nhân “Cị ke ơống kháo” và thầy Mo. Hai
nhân vật này luôn xuất hiện cùng nhau ở các
thực hành tín ngưỡng. Nghệ nhân “Cị ke ơống
kháo” hơn ai hết là người nắm được những
bí mật mà thầy Mo không muốn để lộ. Đối với
những người dân Mường, nếu cần một sự phản
biện thuyết phục với thầy Mo, thì nghệ nhân “Cị
ke ơống kháo” hẳn là đối tượng có những nhận
xét khách quan nhất. Nói cách khác, khi người
ta hoài nghi về sự cần thiết của một thủ tục hay
một nghi thức mà thầy Mo yêu cầu, họ sẽ kiểm
chứng bằng cách hỏi ý kiến các nghệ nhân “Cò
ke ôống kháo”. Như vậy, uy tín của một thầy Mo
khá bị ảnh hưởng bởi những nhận xét đánh giá
của các nghệ nhân “Cị ke ơống kháo”. Song vấn
đề này chỉ xin tạm nêu ở đây mà chưa bàn luận
hay lý giải thêm.
9
Điều này đã diễn ra liên tục trong hai năm
gần đây 2018, 2019.
10
32
Số 28 - Tháng 6 - 2019
Tài liệu tham khảo
1. Jeanne Cuisinier (1948), Người Mường - Địa
lý nhân văn và xã hội học, Bản dịch của Sở Văn hóa
- Thơng tin tỉnh Hịa Bình, tái bản lần thứ nhất
năm 2007, Nxb. Lao động, Hà Nội.
2. Bùi Văn Kín, Mai Văn Trí, Nguyễn Phụng
(1972), Góp phần tìm hiểu tỉnh Hịa Bình, Ty Văn
hóa - Thơng tin tỉnh Hịa Bình, Hịa Bình.
3. Quốc hội nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (2013), Luật di sản văn hóa (văn bản
hợp nhất), Văn phòng Quốc hội, Hà Nội.
4. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt
Nam, Nxb. Giáo dục, tái bản lần thứ hai, Hà Nội.
5. Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và
thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, Nxb. Văn
hóa - Thơng tin và Viện Văn hóa, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 4 - 4 - 2019
Ngày phản biện, đánh giá: 5 - 6 - 2019
Ngày chấp nhận đăng: 25 - 6 - 2019