Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

CHUYÊN đề PHÂN BIỆT ĐỒNG âm NHIỀU NGHĨA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (162.75 KB, 10 trang )

I. LÍ DO CHỌN CHUN ĐỀ
1.Vai trị của mơn Tiếng Việt nói chung và từ đồng âm, từ nhiều nghĩa nói riêng
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thơng, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức của
cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Bởi thế dạy Tiếng Việt có vai trị
cực kì quan trọng, những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa
giáo dục địi hỏi những u cầu mới trong dạy mơn Tiếng Việt nói chung và phân
mơn Luyện từ và câu nói riêng. Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy Tiếng
Việt là dạy học thông qua giao tiếp. Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao tiếp bằng
ngôn ngữ là công cụ cực mạnh để học sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khả năng
sử dụng từ tiếng Việt. Do đó, việc đưa học sinh vào các hoạt động học tập trong môn
Tiếng Việt được giáo viên đặc biệt quan tâm, chú ý. Ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta
thực sự có nhiều khía cạnh khó, một trong những nội dung khó đó là phần nghĩa của
từ. Dân gian có câu: “Phong ba bão táp khơng bằng ngữ pháp Việt Nam”.
Thật vậy, trong chương trình mơn Tiếng Việt lớp 5, nội dung nghĩa của từ được
tập trung biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu. Sau khi học xong, các
em học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ đồng nghĩa cũng
khơng mấy khó khăn, tuy nhiên khi học từ đồng âm và từ nhiều nghĩa thì các em bắt
đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cũng không
được như mong đợi của giáo viên. Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là hai mảng kiến
thức quan trọng trong phân mơn Luyện từ và câu – chương trình Tiếng Việt lớp 5.
Trong thực tế thì đa số học sinh kể cả học sinh giỏi và khơng ít giáo viên nhầm lẫn
giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Vì thế, tổ 4 + 5 quyết định xây dựng chuyên đề :
Giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và
câu lớp 5.
2. Thực trạng
a. Thuận lợi, khó khăn
- Thuận lợi :
+ Đội ngũ GV lớp 5 trẻ, nhiệt tình, chun mơn khá vững vàng, ham học hỏi, tìm tịi
và trải nghiệm thực tế, lãnh đạo nhà trường quan tâm chỉ đạo để nâng cao chất lượng
giáo dục; sự ủng hộ và quan tâm của các bậc phụ huynh.
+ Trường lại đóng ở trung tâm phường nên rất thuận lợi cho việc đi lại, học tập của


học sinh.
+ Trong những năm gần đây, chất lượng đào tạo từng bước ổn định và đem lại những
hiệu qua thiết thực. Học sinh biết sử dụng từ ngữ có chọn lọc trong nói, viết, vận dụng
dùng từ đặt câu trong bài Tập làm văn tương đối hay, đặc biệt là những HS khá giỏi.
- Khó khăn :
+ Trình độ HS khác nhau, kĩ năng tiếp thu bài và vốn từ của các em cũng khác nhau
+ Hầu hết học sinh lớp 5 khi học các tiết luyện từ và câu về từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa đều gặp rất nhiều khó khăn. Chẳng hạn:
+ Học sinh còn giải nghĩa từ sai, lúng túng...
+ Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa còn mơ hồ, định tính
+ Đặt câu có sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa: chưa chính xác, chưa hay, chưa
đúng với nét nghĩa yêu cầu.
+ Một số GV nắm chưa chắc kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; hoặc lâu ngày
chưa xem lại kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa nên việc truyền đạt kiến thức
cho HS chưa được đầy đủ.
b. Nguyên nhân.
1


Sở dĩ lý do khiến bài tập về phân biệt từ đồng âm và từ đồng nghĩa trở nên khó
khăn với học sinh, học sinh dễ nhầm lẫn giữa hai loại từ này vì các nguyên nhân sau:
-Về thời lượng tiết học:
+ Từ đồng âm được dạy trong 1 tiết ở tuần 5, các em được học khái niệm về từ đồng
âm. Các bài tập về từ đồng âm chủ yếu giúp học sinh phân biệt nghĩa các từ đồng âm,
đặt câu phân biệt các từ đồng âm; bài luyện tập về từ đồng âm đã được giảm tải, vì
thế thời lượng cịn ít.
+ Từ nhiều nghĩa được dạy trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần 8. Học sinh được học khái
niệm về từ nhiều nghĩa. Các bài tập chủ yếu là phân biệt các từ mang nghĩa gốc và
nghĩa chuyển, đặt câu phân biệt nghĩa, nêu các nét nghĩa khác nhau của một từ.
+ Trong quá trình dạy học các bài học này, mỗi giáo viên đều làm đúng vai trò

hướng dẫn, tổ chức cho học sinh. Tuy nhiên do thời lượng 1 tiết học có hạn nên
giáo viên chưa lồng ghép liên hệ phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong các
bài học. Do đó, sau bài học, học sinh chỉ nắm được kiến thức về nội dung học một
cách tách bạch. Đôi khi giảng dạy nội dung này, giáo viên cịn khó khăn khi lấy
thêm một số ví dụ cụ thể ngồi sách giáo khoa để minh hoạ phân biệt từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa.
- Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa có nhiều đặc điểm và hình thức giống hệt nhau
từ cách đọc đến cách viết, chỉ khác nhau về ý nghĩa.
- HS còn chưa hiểu và chưa biết phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ
nhiều nghĩa.
- Dạng bài tập phối hợp cả hai kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để
học sinh nắm rõ bản chất và biết cách phân biệt, rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ
nhiều nghĩa chỉ có 1 tiết, trong khi đó khả năng tư duy trừu tượng của các em còn hạn
chế.
-Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là vấn đề khó kể cả giáo viên thậm chí đối với
các nhà ngơn ngữ học vẫn cịn nhiều bàn cãi.
-Vốn từ vựng của các em học sinh còn hạn chế, hầu hết các em có thể hiểu
vấn đề, nhưng khi trình bày một vấn đề lại thiếu ngơn ngữ nên thường ấp úng hoặc
khơng nói được theo ý muốn. Khi đưa ra một từ mới, đặc biệt là từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa thì các em khơng hiểu nghĩa hoặc giải nghĩa theo cách nêu thành ví dụ cụ
thể, mà khơng thể nói chính xác được nghĩa của từ đó.
3. Giải pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong phân
môn Luyện từ và câu lớp 5.
3.1. Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
3.1.1. Từ đồng âm
1. Khái niệm: Từ đồng âm là từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa.
Ví dụ: Mẹ em đậu (1) xe lại để em mua một gói xơi đậu (2).
Đậu (1): chỉ hành động đỗ xe lại, dừng xe lại.
Đậu (2) chỉ một món ăn, đồ ăn.
2. Đặc điểm của từ đồng âm:

- Những từ nào đồng âm với nhau thì luôn luôn đồng âm trong tất cả mọi bối cảnh
được sử dụng.
- Đồng âm giữa từ với từ là kết quả của đồng âm tiếng với tiếng. Điều này nó được
triệt để khai thác khi người Việt sử dụng từ đồng âm để chơi chữ của mình.
3: Các loại từ đồng âm:
2


Có thể có nhiều tiêu chí phân loại từ đồng âm khác nhau. Dựa vào cấp độ các đơn vị
đồng âm có thể phân hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt thành các loại sau:
3.1. Ðồng âm giữa từ với từ.
Ở đây tất cả các đơn vị tham gia vào nhóm đồng âm đều là từ. Loại này được
chia thành hai loại nhỏ hơn:
- Ðồng âm từ vựng: Tât cả các từ đều thuộc cùng một loại.
VD: + Ðường 1 (đường đi - DT) - Ðường 2 (đường phèn - DT)
-Ðồng âm từ vựng- ngữ pháp: Các từ trong nhóm đồng âm khác nhau về từ loại. Ví
dụ:
+Câu 1 (câu nói - DT) - Câu 2 ( câu cá - ĐT)
3.2.Ðồng âm giữa từ với tiếng
- Ở đây các đơn vị tham gia vào nhóm từ đồng âm khác nhau về cấp độ. Yếu tố
là từ bản thân là một tiếng độc lập, yếu tố cịn lại là tiếng khơng độc lập. Thí dụ:
+ Ðồng 1 (cánh đồng) - Ðồng 2 ( Ðồng lòng) - Ðồng 3( mục đồng)
- Đối với giáo viên Tiểu học, cần chú ý thêm từ đồng âm được nói tới trong
sách giáo khoa Tiếng Việt 5 gồm cả từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hay hơn
2 từ có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhưng giữa chúng
khơng có mối quan hệ nào, chúng vốn là những từ hoàn toàn khác nhau) như
trường hợp “câu” trong “câu cá” và “câu” trong “đoạn văn có 5 câu”
- Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế:
+ do trùng hợp ngẫu nhiên( gió bay, bọn bay, cái bay)
+ do từ vay mượn trùng với từ có sẵn (đầm sen, bà đầm; la mắng, nốt la)

+ do từ rút gọn trùng với từ có sẵn (hụt mất hai ly, cái ly; hai ký, chữ ký...)
- Trong giao tiếp cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của từ
hoặc dùng với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm.
4. Nguồn gốc của hiện tượng đồng âm.
Đại bộ phận các từ đồng âm khơng được giải thích về nguồn gốc, nhưng có một
số từ, nhóm từ người ta có thể phát hiện ra con đường hình thành nên chúng.
- Những nhóm đồng âm khơng tìm được lí do hình thành chủ yếu gồm các từ
bản ngữ.
Ví dụ: bay (Danh từ) - bay (Động từ);
rắn (Tính từ) - rắn (Danh từ);
đá (Danh từ) - đá (Động từ); ...
Đây chính là nhóm từ đồng âm ngẫu nhiên thường gặp đối với học sinh, dạng
này dễ nhận biết.
- Số còn lại, con đường hình thành nên chúng có thể là:
+ Do tiếp thu, vay mượn các từ của ngôn ngữ khác. Từ được vay mượn có thể đồng
âm với từ của bản ngữ và chúng tạo nên nhóm đồng âm; hoặc cũng có khi hai, ba từ
được vay mượn từ những ngơn ngữ khác nhau và đồng âm với nhau.
Ví dụ: Trong tiếng Việt: sút1 (giảm sút: gốc Việt) - sút2 (sút bóng: gốc Anh)
+ Do sự tách biệt nghĩa của từ nhiều nghĩa, một nghĩa nào đó bứt ra khỏi cơ cấu
nghĩa chung và hình thành một từ mới đồng âm với chính từ ban đầu. Ở đây, thực ra
đã có sự đứt đoạn trong chuỗi liên hệ về nghĩa để dẫn đến những cặp từ đồng âm.
Ví dụ: Trong tiếng Việt: q1 (món ăn ngồi bữa chính) - q2 (vật tặng cho người
khác)
- Do sự chuyển đổi từ loại.
3


Đối với tiếng Việt, ngồi những nhóm đồng âm khơng xác định được căn
ngun, những nhóm hình thành do vay mượn từ, tách nghĩa của từ nhiều nghĩa,…
Cịn có một con đường rất đáng chú ý là sự biến đổi ngữ âm của từ do kết quả của

một quá trình biển đổi ngữ âm của từ do kết quả của một q trình biến đổi ngữ âm
lịch sử nào đó. Chẳng hạn:
+ từ 'và" (từ nối) đồng âm với động từ và (và cơm).
+ mấy → với (từ nối) đồng âm với động từ với (giơ tay với thử trời cao thấp).
3.1.2. Từ nhiều nghĩa
1. Khái niệm: là từ mang nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển, các nghĩa của từ
nhiều nghĩa ln có mối liên hệ với nhau.
2. Đặc điểm
- Từ nhiều nghĩa là Một từ nhưng có thể gọi tên nhiều sự vật , hiện tượng, biểu
thị nhiều khái niệm ( về sự vật, hiện tượng ) có trong thực tế
Ví dụ 1: Với từ “Ăn’’:
Ăn cơm : cho vào cơ thể thức nuôi sống ( nghĩa gốc).
Ăn cưới : Ăn uống nhân dịp cưới.
Ví dụ 2: “Cánh đồng lúa chín” và “thời cơ đã chín”
“chín” ở câu đầu tiên mang nghĩa chỉ kết quả: “cánh đồng lúa” sau một thời gian đã
“chín” – báo hiệu mùa thu hoạch đến (một kết quả được mong chờ).
“chín” ở câu thứ hai mang nghĩa chỉ kết quả chờ đợi cho đến lúc phù hợp – báo hiệu
tới lúc đưa ra hành động nào đó.
- Mỗi từ bao giờ cũng có một nghĩa chính (nghĩa gốc). Đây là nghĩa trực tiếp,
gần gũi, quen thuộc, dễ hiểu ; nghĩa đen khơng hoặc ít phụ thuộc vào văn cảnh.
- Nghĩa có sau (nghĩa chuyển, nghĩa ẩn dụ), được suy ra từ nghĩa gốc. Muốn
hiểu nghĩa chính xác của một từ được dùng, phải tìm nghĩa trong văn cảnh.
- Ngồi ra, cũng có một số từ mang tính chất trung gian giữa nghĩa gốc và
nghĩa chuyển , đang chuyển dần từ nghĩa gốc sang nghĩa chuyển.
VD : – Tôi đi sang nhà hàng xóm.
Đi : (Người ) tự di chuyển từ nơi này đến nơi khác , khơng kể bằng cái gì.
Nghĩa này của từ đi khơng hồn tồn giống nghĩa gốc (hoạt động của 2 bàn chân di
chuyển từ nơi này đến nơi khác ). Nhưng nó vẫn có mối quan hệ với nghĩa gốc ( di
chuyển từ nơi này đến nơi khác ). Gặp những trường hợp này, ta cũng xếp là từ mang
nghĩa chuyển

- Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều
nghĩa với từ một nghĩa.
+ Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt một khái niệm thì từ ấy chỉ có
một nghĩa.
+ Từ nào là tên gọi của nhiều sự vật, hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là
từ nhiều nghĩa.
- Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng (ẩn dụ) và tương cận (hoán dụ)
người ta liên tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng, tính
chất giống nhau hay gần nhau giữa các sự vật ấy. Từ chỗ gọi tên sự vật, tính chất,
hành động này (nghĩa 1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành động khác nghĩa
(nghĩa 2), quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó.
Ví dụ:
Chín: (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển cao nhất, hoàn
thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng.
4


Chín: (2) Chỉ q trình vận động, q trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến sự phát triển
cao nhất. (Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín)
Chín: (3) Sự thay đổi màu sắc nước da (ngượng chín cả mặt )
Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ đa nghĩa, trước hết phải, miêu tả
thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa
Đối với học sinh lớp 5, chúng ta không thể yêu cầu học sinh nắm vững các
thành phần ý nghĩa của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ song yêu cầu học sinh phải
giải nghĩa một số từ thông qua các câu văn, các cụm từ cụ thể, xác định được nghĩa
gốc và nghĩa chuyển của từ, phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, tìm được một
số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ, đặt câu với các nghĩa của từ nhiều nghĩa.
3.Phân loại từ nhiều nghĩa
Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa
Theo cơ chế hoán dụ

Dạng 1 Dựa vào sự giống nhau về hình thức
Dựa trên cơ sở quan hệ giữa bộ phận và
giữa các sự vật, hiện tượng hay nói cách tồn thể.
khác là dựa vào các kiểu tương quan về Ví dụ: Chân (1) là những tên gọi chỉ bộ
hình dáng.
phận được chuyển sang chỉ cái tồn thể
Ví dụ: miệng xinh và miệng bát
(Anh ấy có chân (2) trong đội bóng.
Dạng 2 Dựa trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay
Dựa trên quan hệ giữa vật chứa và cái
chức năng của các sự vật, đối tượng.
được chứa.
Ví dụ: cắt cỏ với cắt quan hệ
Ví dụ:
+ Anh trai tơi đang làm nhà (cơng trình
xây dựng)
+ Cả nhà có mặt (gia đình)
Dạng 3 Dựa trên cơ sở ẩn dụ kết quả do tác
Dựa trên quan hệ nguyên liệu hay công
động của các sự vật đối với con người. cụ với sản phẩm làm ra từ nguyên liệu
Ví dụ: đau vết mổ và đau lịng
hay cơng cụ đó hoặc hành động dùng
ngun liệu hay cơng cụ đó.
Ví dụ:
+ Một kg muối (Nguyên liệu)
+ Chị ấy muối dưa rất ngon (hành động
làm cho thức ăn lên men)
3.2. Dấu hiệu để phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
Sau các bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cùng với các bài luyện tập,
có thể giúp học sinh rút ra so sánh như sau:

* Giống nhau: Đều có hình thức âm thanh giống nhau ( đọc và viết).
* Khác nhau
Từ đồng âm
Từ nhiều nghĩa
a/ Từ đồng âm là các từ có các nghĩa a/ Từ nhiều nghĩa là 1 từ nhưng gọi tên
hồn tồn khác nhau, khơng có mối nhiều sự vật, hiện tượng, biểu thị nhiều
quan hệ nào.
khái niệm; có các nghĩa khác nhau
VD:
nhưng vẫn có liên quan nào đó về
(1)Trên sân cỏ, các cầu thủ đều nỗ lực nghĩa
ghi bàn.
VD:
(2)Muốn sang thì bắc cầu kiều
+ Lỗ mũi (1): bộ phận nhô lên ở giữa mặt
Muốn con hay chữ thì u lấy thầy.
người và động vật có xương sống, dùng
5


=>Chữ cầu trong hai câu trên giống nhau
về cách phát âm và cách viết nhưng nghĩa
hoàn toàn khác nhau
Cầu (1) là: người chơi hoặc thi đấu một
mơn bóng nào đó
Cầu (2) là: một dạng kiến trúc xây dựng
giúp nối liền hai bên đường (bờ) bị ngăn
cách
b/ Không thể thay thế được vì mỗi từ
đồng âm bản thân nó ln mang nghĩa

gốc.

để thở và ngửi
+ mũi thuyền (2): bộ phận có đầu nhọn
nhơ ra phía trước ở một số vật
=> Mũi của chiếc thuyền không dùng để
ngửi như mũi người và mũi động vật
nhưng vẫn gọi là mũi vì nó có nghĩa
chung là có mũi nhọn nhơ ra phía trước

b/ Có thể thay thế từ nhiều nghĩa trong
nghĩa chuyển bằng một từ khác.
VD:
Mùa xuân (1) là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân
(2)
=> xuân (1) mang nghĩa gốc, chỉ một
màu trong năm
xuân (2) mang nghĩa chuyển. Mùa xuân
mang đến sự sống và tươi mới, nên càng
mang nghĩa về sự tươi mới, trẻ đẹp. Vì
vậy có thể thay xn (2) thành từ tươi
c/ Từ đồng âm là cùng 1 từ đó, tiếng đó đẹp là “Làm cho đất nước càng ngày
nhưng chỉ dùng để gọi tên một sự vật, càng tươi đẹp”.
hiện tượng
c/ Từ nhiều nghĩa là cùng 1 từ đó, tiếng
đó nhưng dùng để gọi tên nhiều sự vật,
hiện tượng
3.3. Các cách phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Dựa vào khái niệm, xét mối liên hệ về nghĩa của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa,

điểm khác nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, chúng ta có một số cách phân biệt
như sau
3.3.1. Dựa vào nghĩa của từ (phân biệt bằng định nghĩa)
Theo cơ chế thứ nhất giải nghĩa từ trong sgk Tiếng Việt Tiểu học thì có thể dạy
từ bằng cách đối chiếu từ với hiện thực (vật thật hoặc vật thay thế); Để phân biệt từ
đồng âm và từ nhiều nghĩa dựa vào nghĩa của từ, ta có một số dạng bài tập cơ bản
* Dạng 1: Giải nghĩa của các từ.
Đây là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung nghĩa, gồm tập hợp các nét
nghĩa bằng một định nghĩa. Tập hợp nét nghĩa được liệt kê theo sự sắp xếp nét nghĩa
khái quát, cũng là nét nghĩa từ loại lên trước hết và các nét nghĩa càng hẹp, càng
riêng thì càng ở sau.
HS tiểu học đa phần phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa dựa vào cách này.
Với dạng bài tập này, GV cần hướng dẫn HS nắm được nghĩa của từng từ, trình bày
được khái niệm mà từ biểu thị sau đó dựa trên mối liên hệ về nghĩa của chúng để xác
định đó là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa
Dạng bài tập riêng
Dạng bài tập phối hợp
Đối với từ đồng âm:
Phân biệt nghĩa các từ in nghiêng; cho
6


Phân biệt nghĩa của các từ đồng âm trong
các cụm từ sau:
Cánh đồng(1) – tượng đồng(2).
“đồng”(1) chỉ khoảng đất rộng,
bằngphẳng, dùng để cấy, trồng trọt
“đồng”(2) là kim loại
=> chúng là những từ đồng âm (vì nghĩa
khác nhau).

Đối với từ nhiều nghĩa:
Trong những câu sau câu nào có từ
“chân” mang nghĩa gốc và câu nào có từ
“chân” mang nghĩa chuyển?
+ Lịng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
(1)
+ Bé đau chân.(2)
Với bài tập trên, giáo viên yêu cầu học
sinh nêu nghĩa của từ “chân” trong mỗi
câu và xác định nghĩa chuyển, nghĩa gốc:
+ “chân” (1) chỉ một bộ phận làm trụ đỡ
của cái kiềng – nghĩa chuyển
+ “chân” (2) một bộ phận của cơ thể đỡ
và di chuyển cơ thể - nghĩa gốc.

biết những từ nào là từ đồng âm, từ nào là
từ nhiều nghĩa:
1. Cái nhẫn bằng bạc. ( tên một kim loại
quý)
2. Đồng bạc trắng hoa xoè. (tiền)
3. Cờ bạc là bác thằng bần. (trị chơi ăn
tiền, khơng lành mạnh)
4.Ơng Ba tóc đã bạc. (màu trắng)
5. Dừng xanh như lá bạc như vơi. (thay
lịng đổi dạ)
6. Cái quạt máy này phải thay bạc. (một
bộ phận của cái quạt)
=> Từ bạc ở câu 1 đồng âm với từ bạc ở
câu 4, 5, 6. Các từ bạc 1, 2, 3 là từ nhiều
nghĩa.


* Dạng 2: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
Đối với từ đồng âm
Đối với từ nhiều nghĩa
Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm:
Đặt câu để phân biệt nghĩa của từ
bàn
“đứng”
GV hướng dẫn HS với hai từ cần đặt ít
GV có thể gợi ý HS xác định nghĩa của
nhất là hai câu, các từ đó có quan hệ đồng tiếng đứng trước:
âm với nhau (1 câu chứa tiếng bàn mang + nghĩa 1 nói tới một tư thế (chân thẳng,
nghĩa này; 1 câu chứa tiếng bàn mang
chân đặt trên mặt nền) của người hoặc
nghĩa hồn tồn khác)
động vật.
Ví dụ:
+ nghĩa 2 nói tới trạng thái (ngừng
- Cả nhà ngồi vào bàn để ăn cơm.
chuyển động) của một đồ vật hiện tượng
- Bố mẹ em cũng đang bàn chuyện cưới
Dựa vào đó HS đặt câu.VD
vợ cho anh trai.
+ Nghĩa 1: Chúng em đang đứng nghiêm
trang chào cờ.
+ Nghĩa 2: Kim đồng hồ đứng lại.
* Dạng 3: Nối từ hoặc cụm từ với nghĩa đã cho.
 Đối với từ đồng âm:
Ví dụ: Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ “sao” trong mỗi câu ở cột A
A

B
1. Sao trên trời có khi tỏ khi mờ.
a. Chép lại hoặc tạo ra văn bản khác theo
đúng bản chính.
2. Sao lá đơn này thành ba bản.
b. Tẩm một chất nào đó rồi sấy khô.
7


3. Sao tẩm chè.
4. Sao ngồi lâu thế?
5. Cánh đồng lúa mới đẹp làm sao!

c. Nhấn mạnh mức độ làm ngạc nhiên, thán
phục.
d. Các thiên thể trong vũ trụ.
e. Nêu thắc mắc không biết rõ nguyên
nhân.

 Đối với từ nhiều nghĩa:
Ví dụ: Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ “chạy” trong mỗi câu ở cột A
A
1. Bé chạy lon ton trên sân.
2. Tàu chạy băng băng trên đường
3. Đồng hồ chạy đúng giờ.
4. Dân làng khẩn trương chạy lũ.

B
a. Hoạt động của máy móc.
b. Khẩn trương tránh những điều không

may sắp xảy đến.
c. Sự di chuyển nhanh của phương tiện
giao thông.
d. Sự di chuyển nhanh bằng chân.

=> Như vậy, với dạng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa dựa vào nghĩa của từ,
ta thấy, các từ để phân biệt thường nằm trong các cụm từ, hoặc câu văn đơn nghĩa;
HS dễ dàng nhận diện hoặc sử dụng nhiều trong cuộc sống
* Dạng 4: Đặt câu để phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
 Đối với từ đồng âm:
VD: Đặt câu để phân biệt từ chiếu đồng âm
Với dạng bài tập này, HS cần đặt ít nhất hai câu với từ chiếu có ý nghĩa hoàn toàn
khác nhau. Chẳng hạn:
(1) Ánh nắng chiếu khắp nhành cây, kẽ lá làm cho rừng xuân sáng rực lên. (luồng
sáng phát ra từ mặt trời xuống một nơi nào đó)
(2) Những chiếc chiếu đẹp đã được trải ngay ngắn giữa nhà. (đồ dệt bằng cói, nylon,
v.v. dùng trải ra để nằm, ngồi)
 Đối với từ nhiều nghĩa:
VD: Đặt câu có từ ngọt dùng với các nghĩa:
- Có vị của đường, mật: Chè ngọt quá!
- Nói nhẹ nhàng, dễ nghe, dễ thuyết phục: Nói ngọt ai chả thích.
- Món ăn ngon, đậm đà: Canh chưa đủ ngọt, đành cho thêm ít mì chính vậy.
- Âm thanh êm dịu, gây thích thú: Giọng hát của cơ ấy ngọt ngào làm sao!
- Ở mức độ cao: Dao sắc cắt ngọt.
* Dạng 5: Lựa chọn từ thích hợp thay thế cho từ nhiều nghĩa
Dạng bài tập này thường được dùng đối với các bài tập liên quan đến từ nhiều nghĩa:
VD: Tìm từ có thể thay thế cho từ ăn trong mỗi câu sau:
- Bữa tối nhà Hương thường ăn muộn. (dùng bữa)
- Xe này ăn xăng lắm. (tốn hoặc hao)
- Cô ấy ăn lương rất cao. (hưởng)

- Rễ xoan ăn tận ra bờ ao. (lan)
- Tớ ăn con pháo của cậu rồi. (thắng)
- Làm khơng cẩn thận thì ăn địn. (bị hoặc chịu)
8


3.3.2. Đặt từ đã cho vào văn cảnh để giải nghĩa của từ (lời nói hoặc câu văn cụ
thể)
Theo cơ chế thứ hai giải nghĩa từ trong sgk Tiếng Việt Tiểu học thì có thể dạy
từ bằng cách đặt từ đó vào trong các lớp từ, lời nói, câu văn hay đoạn văn của nó để
có thể hiểu hơn về ngữ cảnh đang diễn ra, từ đó xác định đúng ngữ nghĩa của từ
VD: Em đang đi (1) học.
Ông cụ cố chờ con trai về rồi mới đi (2).
Trong VD trên, nếu chỉ tách riêng từ đi để giải xác định nghĩa như cách trên
thì thơng thường, HS đều cho rằng đây là một từ (người hoặc động vật tự di chuyển
từ chỗ này đến chỗ khác bằng những bước chân nhấc lên, đặt xuống liên tiếp)
Nhưng khi đặt từ vào văn cảnh, sẽ thấy các nghĩa của từ đi như sau:
- đi (1) chỉ người hoặc động vật tự di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác bằng những
bước chân nhấc lên, đặt xuống liên tiếp
- đi (2) chỉ chết, mất (lối nói kiêng, tránh nhằm giảm đau thương, mất mát)
3.3.3. Dựa vào yếu tố từ loại
Phân tích khái niệm, đặc điểm của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, ta dễ dàng nhận ra
Từ đồng âm
Từ nhiều nghĩa
* Các từ đồng âm thường không cùng * Các từ nhiều nghĩa thường cùng từ
từ loại
loại
VD: cây bầu (danh từ) – bầu bĩnh (tính VD:
từ) – bầu cử (động từ)
+ Cổ gà – cổ chai – cổ áo (danh từ)

+ đánh nhau – đánh răng – đánh giày
* Chỉ có một số rất ít từ đồng âm cùng từ (động từ)
loại
* Chỉ có một số rất ít từ nhiều âm khác từ
VD: bóng rổ - bóng râm (danh từ)
loại
Cần cù – cần thiết (tính từ)
VD: Mùa xuân (DT) là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng
xuân(TT)
Đây cũng là một cách giúp HS phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
một cách nhanh chóng, chính xác
3.3.3. Dựa vào việc có thể thay thế từ cần xác định
Theo phân tích mục 3. 2 có thể thấy
+ Từ đồng âm k hơng thể thay thế được vì mỗi từ đồng âm bản thân nó ln mang
nghĩa gốc.
+ Từ nhiều nghĩa có thể thay thế từ nhiều nghĩa trong nghĩa chuyển bằng một từ
khác.
VD:
Mùa xuân (1) là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân (2)
=> xuân (1) mang nghĩa gốc, chỉ một màu trong năm
xuân (2) mang nghĩa chuyển. Mùa xuân mang đến sự sống và tươi mới, nên càng
mang nghĩa về sự tươi mới, trẻ đẹp. Vì vậy có thể thay xuân (2) thành từ tươi đẹp
là “Làm cho đất nước càng ngày càng tươi đẹp”.
Như vậy, nếu muốn biết từ cần xác định là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa thì
HS có thể thay thế từ đó bằng 1 từ khác
9



+ Thông thường, nếu không thể thay thế được (khi thay nghĩa của cả câu, hoặc
cụm từ, từ thay đổi ) thì đó là từ đồng âm.
Tuy nhiên cần lưu ý có một số rất ít trường hợp có thể thay từ đồng âm bằng từ
khác mà nghĩa không đổi
VD: (1) Má em đi chợ.
(2) Em thích uống nước ra má.
Má (1) đồng âm với má (2) nhưng ta có thể thay má (1) bằng từ mẹ, chuyển thành
câu “Mẹ em đi chợ.” mà nghĩa của câu không đổi.
+ Nếu thay được từ nhiều nghĩa trong nghĩa chuyển (khi thay bằng một từ khác mà
nghĩa không đổi hoặc nghĩa tương tự) thì đó là từ nhiều nghĩa
*Lưu ý: Hầu hết các từ đồng âm là từ đơn. Ngoại trừ một số rất ít trường hợp là từ
phức:
a/ Nhà em nay nấu chè với đường kính.
b/ Muốn tính chu vi hình trịn, ta lấy đường kính nhân với 3,14.
c/ Vì sao mặt trăng lại chiếu sáng vào ban đêm?
d/ Đêm hè, mn ngàn vì sao lấp lánh trên bầu trời.
4. Minh họa các bước tiến hành
VD: Phân biệt nghĩa các từ in nghiêng; cho biết những từ nào là từ đồng âm, từ nào
là từ nhiều nghĩa:
1. Cái nhẫn bằng bạc.
2. Đồng bạc trắng hoa xoè.
3. Cờ bạc là bác thằng bần.
4.Ơng Ba tóc đã bạc.
5. Dừng xanh như lá bạc như vôi.
6. Cái quạt máy này phải thay bạc.
Để dạy dạng bài tập này, GV tiến hành các bước sau
- Yêu cầu HS đọc kĩ đề bài, phân tích đề, xác định rõ đề yêu cầu gì
- Nhắc lại kiến thức liên quan đến bài tập
- Tổ chức cho HS thảo luận nhóm 4, sử dụng từ điển hoặc vốn hiểu biết bản thân, xác
định nghĩa của từng từ bạc trong mỗi trường hợp

1. Cái nhẫn bằng bạc. ( tên một kim loại quý)
2. Đồng bạc trắng hoa xoè. (tiền)
3. Cờ bạc là bác thằng bần. (trò chơi ăn tiền, khơng lành mạnh)
4.Ơng Ba tóc đã bạc. (màu trắng)
5. Dừng xanh như lá bạc như vơi. (thay lịng đổi dạ)
6. Cái quạt máy này phải thay bạc. (một bộ phận của cái quạt)
- Sau khi xác định nghĩa xong, căn cứ vào các nghĩa đó và dấu hiệu, cách phân biệt từ
đồng âm và từ nhiều nghĩa để HS tìm từ bạc trong trường hợp nào là đồng âm, trong
trường hợp nào là nhiều nghĩa
=> Sau đó KL: Các từ bạc ở câu 1,4, 5, 6 là từ đồng âm, các từ bạc 1, 2, 3 là từ
nhiều nghĩa.
Trên đây là nội dung lý thuyết chuyên đề “Giúp HS phân biệt từ đồng âm và
từ nhiều nghĩa” mà tổ 4 + 5 đã xây dựng. Rất mong nhận được sự tham gia, đóng
góp ý kiến của ban giám hiệu, các đồng chí đồng nghiệp để chun đề hồn thiện,
nâng cao hiệu quả giảng dạy và là tài liệu thiết thực để các đồng nghiệp cùng tham
khảo. Xin chân thành cảm ơn!
10


11



×