Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

KIẾN THỨC cơ bản lớp 12 học kì II

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (557.28 KB, 24 trang )

HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD

KIẾN THỨC CƠ BẢN LỚP 12 - HỌC KÌ II
VỢ CHỒNG A PHỦ - Tơ Hồi
1. Tác giả
- Tơ Hồi (1920 - 2014), tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở huyện Thanh Oai, Hà Đông
(nay là Hà Tây), nhưng sinh ra và lớn lên ở quê ngoại thuộc phủ Hoài Đức, Hà Đơng (nay là
quận Cầu Giấy, Hà Nội).
- Ơng có một tuổi thơ và thời trai trẻ phải lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề, như làm gia
sư, dạy kèm trẻ, bán hàng, làm kế tốn hiệu bn… và nhiều khi thất nghiệp.
- Viết văn từ trước cách mạng, nổi tiếng với truyện "Dế mèn phiêu lưu kí".
- Sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có gần 200 đầu sách thuộc nhiều thể
loại khác nhau: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, tự truyện, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.
Ơng là một nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại Việt Nam.
- Sáng tác của ông thiên về diễn tả những sự thật đời thường: "Viết văn là một q trình đấu
tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì khơng tầm thường, cho dù phải đập vỡ những thần
tượng trong lịng người đọc".
- Ơng có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau
trên đất nước ta. Ông cũng là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh,
sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có - nhiều khi rất bình dân và thơng tục,
nhưng nhờ cách sử dụng đắc địa và tài ba nên có sức lơi cuốn, lay động người đọc.
- Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
- Tác phẩm chính: Dế mèn phiêu lưu kí (1941), O chuột (1942), Truyện Tây Bắc (1953)…
2. Tác phẩm
a. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:
- Truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" (1952) in trong tập "Truyện Tây Bắc" - được tặng giải
Nhất - Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955.
- Hoàn cảnh sáng tác: Trong chuyến đi thực tế cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm
1952.
b. Tóm tắt:
- Mị, một cơ gái xinh đẹp, u đời, có khát vọng tự do, hạnh phúc bị bắt về làm con dâu gạt


nợ cho nhà Thống lí Pá Tra.
- Lúc đầu Mị phản kháng nhưng dần dần trở nên tê liệt, chỉ "lùi lũi như con rùa ni trong
xó cửa".
- Đêm tình mùa xuân đến, Mị muốn đi chơi nhưng bị A Sử (chồng Mị) trói đứng vào cột
nhà.
- A Phủ đánh A Sử nên nên đã bị bắt, bị phạt vạ và trở thành kẻ ở trừ nợ cho nhà Thống lí.
- Khơng may hổ vồ mất 1 con bị, A Phủ đã bị đánh, bị trói đứng vào cọc đến gần chết.
- Mị đã cắt dây trói cho A Phủ, 2 người chạy trốn đến Phiềng Sa.
- Mị và A Phủ được giác ngộ cách mạng, trở thành du kích.
3. Nhân vật Mị
a. Sự xuất hiện của Mị:
- Hình ảnh: "một cơ con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 1


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối, cô ấy
cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi".
- Cô gái ấy là con dâu của một gia đình quyền thế, giàu có "nhiều nương, nhiều bạc, nhiều
thuốc phiện nhất làng" nhưng lúc nào cũng "cúi mặt", "mặt buồn rười rượi".
 Cách vào truyện ấn tượng nhờ tạo ra những đối nghịch. Thủ pháp tạo tình huống "có vấn
đề" để dẫn dắt người đọc vào hành trình tìm hiểu số phận nhân vật.
b. Cuộc đời cực nhục, khổ đau của Mị:
 Trước khi làm dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra:
- Là cơ gái trẻ đẹp, có tài thổi sáo: "Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị", "Mị
thổi sáo giỏi", "Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu
người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị".

- Là người con hiếu thảo, tự trọng: "Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm
nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu".
 Khi về làm dâu nhà thống lí:
- Nguyên nhân: Mị bị bắt về làm dâu gạt nợ.
- Lúc đầu: Mị phản kháng quyết liệt.
+ "Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc".
+ Mị tính chuyện ăn lá ngón để tìm sự giải thốt.
+ Vì lịng hiếu thảo nên phải nén nỗi đau riêng, quay trở lại nhà thống lí.
- Những ngày làm dâu:
+ Bị vắt kiệt sức lao động:
 "Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương
bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để
tước thành sợi".
 "Con ngựa con trâu làm cịn có lúc, đêm nó cịn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà
con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày".
 Bị biến thành một thứ công cụ lao động là nỗi cực nhục mà Mị phải chịu đựng.
+ Chịu nỗi đau khổ về tinh thần: Bị giam cầm trong cái buồng "kín mít, có một chiếc cửa sổ
một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương
hay là nắng".
 Sống với trạng thái gần như đã chết.
- Thái độ của Mị:
+ "Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi".
+ "Bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa… ngựa chỉ biết ăn cỏ,
biết đi làm mà thôi".
+ "Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa ni trong xó cửa".
 Sống tăm tối, nhẫn nhục, đau khổ, Mị tê liệt về tinh thần, buông xuôi theo số phận.
c. Sức sống tiềm tàng của Mị:
 Cảnh mùa xuân:
- "Hồng Ngài năm ấy ăn tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội".
- "Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như

những con bướm sặc sỡ".
- "Đám trẻ đợi tết, chơi quay cười ầm trên sân chơi trước nhà".
- "Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha, bổi hổi. Mị ngồi nhẩm bài hát của người đang thổi":
"Mày có con trai con gái rồi

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 2


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
Mày đi làm nương
Ta khơng có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu"
 Tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân:
- Lúc uống rượu đón xuân: "Mị lén lấy hủ rượu, cứ uống ực từng bát".
- Khi nghe tiếng sáo gọi bạn:
+ Nhớ lại những kỉ niệm ngọt ngào của quá khứ: thổi sáo, thổi lá giỏi, "có biết bao người
mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị".
+ "Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước.
Mị trẻ lắm, Mị vãn còn trẻ. Mị muốn đi chơi…"
+ Mị muốn chết: "Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không
buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra".
 Mị đã ý thức được tình cảnh đau xót của mình.
+ Trong đầu Mị vẫn đang rập rờn tiếng sáo:
"Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu quả pao rơi rồi…"
 Tiếng sáo biểu tượng cho khát vọng tình yêu tự do đã thổi bùng lên ngọn lửa tâm hồn Mị.
+ Mị hành động:
 "Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, sắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng".

 "Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách".
 Mị muốn được đi chơi xuân, quên hẳn sự có mặt của A Sử.
- Khi bị A Sử trói đứng:
+ "Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như khơng biết mình đang bị trói. Hơi rượi còn nồng
nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi..."
+ "Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được..."  Khát vọng đi chơi xuân đã
bị chặn đứng.
+ "Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi", "Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ", "Mị lúc mê lúc tỉnh"…
 Tơ Hồi đặt sự hồi sinh của Mị vào tình huống bi kịch: khát vọng mãnh liệt  hiện thực
phũ phàng, khiến cho sức sống của Mị càng thêm mãnh liệt.
 Tư tưởng của nhà văn: Sức sống của con người cho dù bị giẫm đạp, trói buộc nhưng vẫn
ln âm ỉ và có cơ hội là bùng lên.
 Tâm trạng và hành động của Mị khi thấy A Phủ bị trói đứng:
- Lúc đầu khi chứng kiến A phủ bị trói "Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay".
 Dấu ấn của sự tê liệt tinh thần.
- Khi nhìn thấy "một dịng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại" của A
Phủ thì Mị thức tỉnh dần.
+ "Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần
khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được".
+ Nhận thức được tội ác của nhà thống lí: "Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết",
"Chúng nó thật độc ác…"
+ Thương cảm cho A Phủ: "Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói,
chết rét, phải chết".
 Từ lạnh lùng thương cảm, dần dần Mị nhận ra nỗi đau khổ của mình và của người khác.
+ Mị tưởng tượng khi A Phủ đã trốn được: "lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị cởi trói cho
nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 3



HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…".
- Mị liều lĩnh hành động: "Mị rón rén bước lại", "Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây
mây" cởi trói cho A Phủ.
 Hành động bất ngờ nhưng hợp lí: Mị dám hi sinh vì cha mẹ, dám ăn lá ngón tự tử nên
cũng dám cứu người.
+ "Mị đứng lặng trong bóng tối. Rồi Mị cũng vụt chạy ra"  Hành động tất yếu: Đó là con
đường giải thốt duy nhất, cứu người cũng là tự cứu mình.
 Tài năng của nhà văn trong miêu tả tâm lí nhân vật:
Diễn biến tâm lí tinh tế được miêu tả từ nội tâm đến hành động.
 Giá trị nhân đạo sâu sắc: Khi sức sống tiềm tàng trong con người được hồi sinh thì nó là
ngọn lửa khơng thể dập tắt. Nó tất yếu chuyển thành hành động phản kháng táo bạo, chống
lại mọi sự chà đạp, lăng nhục để cứu cuộc đời mình.
4. Nhân vật A Phủ:
a. Số phận đặc biệt của A Phủ:
- Từ nhỏ mồ côi cha mẹ, không người thân thích, sống sót qua nạn dịch.
- 10 tuổi bị bắt đem bán đổi lấy thóc của người Thái, sau đó trốn thoát và lưu lạc đến Hồng
Ngài.
- "A Phủ khỏe, chạy nhanh như ngựa", "biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi
săn bị tót rất bạo".
- "con gái trong làng nhiều người mê, nhiều người nói: "Đứa nào được A Phủ cũng bằng
được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu".
- Nhưng A phủ vẫn rất nghèo, khơng lấy nổi vợ vì phép làng và tục lệ cưới xin ngặt nghèo.
b. Tính cách đặc biệt của A Phủ:
- Gan góc từ bé: "A Phủ mới mười tuổi, nhưng A Phủ gan bướng, không chịu ở dưới cánh
đồng thấp. A Phủ trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài".
- Lớn lên: dám đánh con quan, sẵn sàng trừng trị kẻ ác:
"chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử", "xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo

dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp".
- Khi trở thành người làm công gạt nợ:
+ A Phủ vẫn là con người tự do: "bơn ba rong ruổi ngồi gị ngồi rừng", làm tất cả mọi thứ
như trước đây.
+ Không sợ cường quyền, kẻ ác.
 Không sợ cái uy của bất cứ ai, không sợ cả cái chết.
- Bị trói vào cột, A Phủ nhai đứt hai vịng dây mây định trốn thốt.
 Tinh thần phản kháng là cơ sở cho việc giác ngộ cách mạng nhanh chóng sau này.
 Nghệ thuật xây dựng nhân vật rất đặc trưng:
- Nét khác nhau giữa hai nhân vật:
+ Mị: được khắc họa với sức sống tiềm tàng bên trong tâm hồn.
+ A Phủ: được nhìn từ bên ngồi, tính cách được bộc lộ ở hành động, vẻ đẹp hiện lên qua sự
gan góc, táo bạo, mạnh mẽ.
- Nét giống nhau giữa hai nhân vật: Tính cách của những người dân lao động miền núi:
+ Mị: Bề ngoài lặng lẽ, âm thầm, nhẫn nhục nhưng bên trong luôn sôi nổi, ham sống, khao
khát tự do và hạnh phúc.
+ A Phủ: Táo bạo, gan góc mà chất phác, tự tin.
 Cả hai đều là nạn nhân của bọn chúa đất, quan lại tàn bạo nhưng trong họ tiềm ẩn sức

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 4


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
mạnh phản kháng mãnh liệt.
5. Nội dung: Giá trị hiện thực, nhân đạo sâu sắc:
- Cảm thông sâu sắc với nỗi khổ vật chất và nỗi đau tinh thần của các nhân vật Mị và A phủ
dưới chế độ thống trị của phong kiến miền núi.
- Khám phá sức mạnh tiềm ẩn của những nạn nhân: niềm khát khao hạnh phúc, tự do và khả

năng vùng dậy để tự giải phóng.
6. Nghệ thuật:
- Khắc họa nhân vật: sống động và chân thực.
- Miêu tả tâm lí nhân vật: sinh động, đặc sắc (diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa
xuân và đem Mị cắt dây trói cho A Phủ).
- Quan sát, tìm tịi: Có những phát hiện mới lạ trong phong tục, tập quán (tục cưới vợ, trình
ma, đánh nhau, xử kiện, ốp đồng, đêm tình mùa xuân, cảnh uống rượu ngày tết…).
- Nghệ thuật kể chuyện: uyển chuyển, linh hoạt, mang phong cách truyền thống nhưng đầy
sáng tạo (kể theo trình tự thời gian nhưng có đan xen hồi ức, vận dụng kĩ thuật đồng hiện
của điện ảnh ….).
- Ngôn ngữ: giản dị, phong phú, đầy sáng tạo, mang bản sắc riêng.
- Giọng điệu: trữ tình, lơi cuốn người đọc.
-----------------------------------------------------------VỢ NHẶT - Kim Lân
1. Tác giả:
- Kim Lân (1920 - 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh.
- Năm 1944, Kim Lân tham gia hội văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ
phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).
- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông
dân.
- Trong tác phẩm của Kim Lân ta thấy cuộc sống và con người của làng quê Việt Nam nghèo
khổ, thiếu thốn mà vẫn u đời; thật thà, chất phác mà thơng minh, hóm hỉnh, tài hoa.
- Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962).
2. Tác phẩm
a. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:
- “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí” (1962).
Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết "Xóm ngụ cư" - được viết ngay sau Cách mạng
tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hịa bình lập lại (1954), ơng dựa vào
một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.
b. Tóm tắt:

Năm 1945, nạn đói khủng khiếp xảy ra tràn lan khắp nơi, người chết như rạ, người sống
cũng dật dờ như những bóng ma. Tràng là một người xấu xí thơ kệch,ế vợ, sống ở xóm ngụ
cư. Tràng làm nghề kéo xe bò thuê và sống với một mẹ già. Một lần kéo xe thóc Liên đồn
lên tỉnh Tràng đã quen với một cô gái. Vài ngày sau gặp lại, Tràng khơng cịn nhận ra cơ gái
ấy, bởi vẻ tiều tụy, đói rách làm cơ đã khác đi rất nhiều. Tràng đã mời cô gái một bữa ăn, cô
gái liền ăn một lúc bốn bát bánh đúc. Sau một câu nói nửa thật, nửa đùa, cơ gái đã theo anh
về nhà làm vợ. Việc Tràng nhặt được vợ đã làm cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, nhất là bà Cụ Tứ
(mẹ Tràng) đón nhận người con dâu trong tâm trạng vừa buồn vừa mừng, vừa lo âu, vừa hi
vọng nhưng không hề tỏ ra rẻ rúng người phụ nữ đã theo khơng con mình. Đêm tân hơn của

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 5


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
họ diễn ra trong khơng khí chết chóc, tủi sầu từ xóm ngụ cư vọng tới. Sáng hôm sau, một
buổi sáng mùa hạ, nắng chói lói. Bà cụ Tứ và cơ dâu mới xăm xắn dọn dẹp, quét tước trong
ngoài. Trước cảnh ấy, Tràng cảm thấy mình gắn bó và có trách nhiệm với cái nhà của mình
và thấy mình nên người, trông người vợ đúng là một người phụ nữ hiền hậu đúng mực,
khơng cịn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như lần đầu gặp nhau. Bà cụ Tứ hồ hởi đãi hai con vài
bát cháo loãng và một nồi chè cám. Qua lời kể của người vợ, Tràng dần dần hiểu được Việt
Minh và trong óc Tràng hiện lên hình ảnh đám người đói kéo nhau đi phá kho thóc Nhật,
phía trước là một lá cờ đỏ bay phấp phới.
c. Bố cục:
- Đoạn 1: Từ đầu  “thành vợ thành chồng”: Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.
- Đoạn 2: Tiếp  “cùng đẩy xe bò về”: Kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ, nên
chồng.
- Đoạn 3: Tiếp  “cứ chảy xuống rịng rịng”: Tình thương của người mẹ già nghèo khó đối
với đơi vợ chồng mới.

- Đoạn 4: Còn lại: Lòng tin về sự đổi đời trong tương lai.
3. Ý nghĩa nhan đề “Vợ nhặt”:
- Vợ nhặt: vợ kiếm được, nhặt được một cách tình cờ, ngẫu nhiên.
 Thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác (Sự khốn cùng của hoàn cảnh).
 Sự cưu mang, đùm bọc và khát vọng, niềm tin hướng tới cuộc sống tươi sáng hơn của con
người trong cảnh khốn cùng.
4. Tình huống truyện:
- Nhan đề của truyện đã gợi lên một tình huống lạ: Tràng, anh nơng dân ngụ cư xấu xí,
nghèo khổ nhặt được vợ giữa những ngày đói thê thảm “người chết như ngả rạ”.
 Tình huống độc đáo, vừa bất ngờ, vừa éo le, không chỉ tạo được sức hấp dẫn cho cốt
truyện mà còn bộc lộ được thân phận của những con người cùng khổ. Đó cũng chính là cái
nền để nhà văn Kim Lân tô đậm những vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn họ.
5. Bức tranh ảm đạm của nạn đói:
- “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu
nhau lên xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như
ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm không gặp ba bốn cái thây nằm
cong queo bên đường. Khơng khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.”
- “Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những
bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngồi bãi chợ cứa gào lên từng hồi thê thiết.”
 Bằng ngòi bút tả thực kết hợp với thủ pháp so sánh, bức tranh xóm ngụ cư trong những
ngày đói hiện lên chân thực, mang màu sắc âm khí; đó cũng là bức tranh u tối, thê lương của
xã hội nước ta trong những năm 1945 (Hồn cảnh điển hình).
6. Diễn biến tâm trạng của các nhân vật:
a. Người vợ nhặt:
- Là cơ gái khơng tên, khơng gia đình, bị cái đói đẩy ra lề đường  số phận nhỏ nhoi, đáng
thương.
- Cái đói đã làm thị trở nên chao chát, đanh đá, liều lĩnh, đánh mất sĩ diện, sự e thẹn, bản
chất dịu dàng (gợi ý để được ăn), “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện
trị gì”.
- Là người phụ nữ có tư cách:

+ E thẹn, ngượng ngùng khi theo Tràng về nhà.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 6


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
+ Khép nép, lo âu khi ra mắt mẹ chồng.
- Là người vợ hiền hậu, biết lo toan, vun vén cho gia đình.
- Chị là người thắp lên niềm tin và hi vọng cho mọi người khi kể chuyện ở Bắc Giang, Thái
Nguyên, Việt Minh đã cùng với nhân dân phá kho thóc Nhật chia cho người đói.
 Nhân vật người vợ nhặt góp phần tơ đậm hiện thực của nạn đói và đem lại giá trị nhân
đạo cho tác phẩm: dù trong hồn cảnh nào, người phụ nữ vẫn ln khát khao một mái ấm gia
đình hạnh phúc.
b. Nhân vật Tràng:
- Ngoại hình: xấu xí, thơ kệch.
- Gia cảnh: nghèo hèn.
- Tính cách: vui vẻ (thường đùa vui với trẻ), hào hiệp, nhân hậu (sẵn lòng cho người đàn bà
xa lạ một bữa ăn giữa nạn đói, sau đó đem về đùm bọc, cưu mang).
- Tâm trạng:
+ Lúc đầu, khi mới nhặt vợ: Tràng có chút phân vân, lo lắng: “thóc gạo này đến cái thân
mình cũng chả biết có ni nổi khơng, lại cịn đèo bịng.”
+ Trên đường về:
 Tự đắc, mừng vui, hạnh phúc: “Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm
cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh… cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình.”
 Lúng túng: “tay nọ xoa vào vai bên kia người đàn bà.”
 Xuất hiện nhiều cảm xúc êm dịu, ấm áp: “Trong một lúc, Tràng hình như quên hết những
cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả
những tháng ngày trước mặt. Trong lịng hắn bây giờ chỉ cịn tình nghĩa với người đàn bà đi

bên cạnh.”
“Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ơm ấp, mơn
man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuột nhẹ trên sống lưng.”
+ Thời gian chờ đợi để ra mắt:
 Ngỡ ngàng, lo lắng, đượm buồn: “Tràng đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy
sờ sợ... Quái sao nó lại buồn thế nhỉ?... đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải
thế...”
 Hồi hộp, nôn nao: “Thấy mẹ, Tràng reo lên như một đứa trẻ... Hôm nay sao u về muộn thế!
Làm tơi đợi nóng cả ruột.”
 Nhẹ nhõm khi được sự đồng ý của mẹ: “Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi.”
+ Buổi sáng đầu tiên có vợ:
 Tâm hồn có những cảm nhận mới mẻ: “Trong người êm ái, lửng lơ như người vừa ở trong
giấc mơ đi ra”.
+ Tràng biến đổi hẳn: “Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà của hắn lạ
lùng.”; “Bây giờ hắn mới nên người, hắn thấy có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này.”
+ Nhen nhóm niềm tin vào một tương lai tươi sáng:
“Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới.”
 Diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng - người đàn ông nhặt được vợ trong nạn đói được nhà
văn khám phá, miêu tả vơ cùng phong phú mà tinh tế, sâu sắc, phù hợp với quy luật tâm lý.
 Con người dù sống trong hồn cảnh nào, dù là vực thẳm của sự đói khát vẫn luôn khao
khát yêu thương, hạnh phúc, mái ấm gia đình và ln hy vọng, tin tưởng vào tương lai.
c. Bà cụ Tứ:
- Ngoại hình: già nua, ốm yếu, lưng khịng vì tuổi tác.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 7


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD

- Gia cảnh: Một bà mẹ nghèo.
- Diễn biến tâm trạng:
+ Khi nghe tiếng reo, nhận thấy thái độ vồn vã khác thường của con, “bà lão phấp phỏng”.
+ Khi thấy có người đàn bà lạ ở trong nhà, “bà lão đứng sững lại, càng ngạc nhiên hơn”.
+ Khi đã hiểu rõ sự việc, nhiều cảm xúc đan xen trong lòng người mẹ nghèo:
 Buồn tủi: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi...
Cịn mình thì... Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dịng nước mắt...”; “Người ta có
gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ
được...”
 Lo lắng: “...chúng nó có ni nổi nhau sống qua được cơn đói khát này khơng.”; “Vợ
chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia khơng...”
 Vui mừng: “Ừ, thơi thì các con đã phải duyên, phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng...”;
“Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà
rạng rỡ hẳn lên.”
 Thương xót: “Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá...”
 Động viên con tin tưởng vào một tương lai tươi sáng:
“Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?”; “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà,
ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có đàn gà cho xem.”
 Giọt nước mắt người mẹ.
 Với nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế, Kim Lân đã đem đến những xúc động sâu
sắc cho người đọc về hình ảnh một người mẹ già có tấm lịng nhân hậu, bao dung, có tình
mẫu tử cao cả, tiêu biểu cho những phẩm chất của người mẹ nghèo Việt Nam.
7. Nội dung:
a. Giá trị hiện thực: Phản ánh chân thực tình cảnh bi thảm của người nơng dân trong nạn
đói khủng khiếp năm 1945.
b. Giá trị nhân đạo: Thể hiện được sự đồng cảm xót thương với số phận của những con
người nghèo khổ; lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật; thấu hiểu và trân
trọng tấm lịng nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc rất con người, niềm tin vào cuộc sống,
tương lai của những người lao động nghèo; dự cảm về sự đổi đời trong tương lai của họ.
c. Ý nghĩa văn bản: Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp

năm 1945 và khẳng định: ngay trên bờ vực của cái chết, con người vẫn hướng về sự sống,
tin tưởng ở tương lai, khát khao tổ ấm gia đình và yêu thương , đùm bọc lẫn nhau.
8. Nghệ thuật:
- Xây dựng tình huống truyện độc đáo.
- Cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn:
+ Cách dẫn dắt câu chuyện tự nhiên, giản dị, chặt chẽ.
+ Khéo léo làm nổi bật sự đối lập giữa hồn cảnh và tính cách nhân vật.
- Dựng cảnh chân thật, sinh động, đặc sắc: cảnh chết đói, cảnh bữa cơm ngày đói,…
- Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, bộc lộ tự nhiên, chân thật.
- Ngôn ngữ nông thôn mộc mạc, giản dị, gần với khẩu ngữ nhưng được chọn lọc kĩ, tạo nên
sức gợi.
-----------------------------------------------------------RỪNG XÀ NU - Nguyễn Trung Thành
1. Tác giả
- Nguyễn Trung Thành (bút danh khác là Nguyên Ngọc) tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu,

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 8


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
sinh năm 1932, quê ở huyện Thanh Bình, tỉnh Quảng Nam.
- Năm 1950 ơng vào bộ đội, sau đó làm phóng viên báo "Quân đội nhân dân" Liên khu V.
- Năm 1962, ông tình nguyện trở về chiến trường miền Nam, lấy bút danh Nguyễn Trung
Thành.
- Tác phẩm chính: tiểu thuyết "Đất nước đứng lên" (Giải nhất - Giải thưởng Hội văn nghệ
Việt Nam năm 1954 - 1955); tập truyện và kí "Trên quê hương anh hùng Điện Ngọc"
(1969); tiểu thuyết "Đất Quảng" (1971 - 1974)…
- Với vị trí của người đầu tiên đưa vùng đất Tây Nguyên vào văn xuôi, cho tới hôm nay,
Nguyễn Trung Thành vẫn là cây bút văn xuôi viết hay nhất về miền rừng núi này.

2. Tác phẩm
a. Hoàn cảnh ra đời:
- Truyện ngắn "Rừng xà nu" (1965) ra mắt đầu tiên trên tạp chí văn nghệ "Quân giải phóng
Trung Trung Bộ" số 2/1965, sau đó in trong tập "Trên quê hương những anh hùng Điện
Ngọc".
b. Tóm tắt tác phẩm:
- Truyện kể về cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân làng Xô Man và cuộc đời Tnú - nhân vật
chính của truyện. Tnú là một chú bé mồ côi cha mẹ, được dân làng đùm bọc. Tnú cùng với
Mai là hai trong số những người thiếu niên được cán bộ Quyết dìu dắt làm liên lạc, sau đó
Tnú bị kẻ thù bắt và tra tấn.
- Ba năm sau, anh vượt ngục trở về cùng dân làng chuẩn bị vũ khí chiến đấu. Được tin này,
giặc hùng hổ kéo về làng ráo riết lùng sục cán bộ. Tnú cùng nhiều thanh niên trong làng trốn
vào rừng.
- Không bắt được anh, chúng đánh đập hành hạ vợ con anh. Từ nơi ẩn nấp, Tnú đã nhảy vào
giữa bọn lính. Vì chỉ có hai bàn tay trắng nên anh khơng thể cứu nổi vợ con. Vợ con anh bị
giặc giết hại. Giặc đốt mười ngón tay anh bằng nhựa xà nu. Trước cảnh tượng ấy, dân làng
Xô Man nhất tề vùng lên giết chết cả tiểu đội giặc. Cụ Mết kêu gọi mọi người cầm vũ khí
đứng lên đánh giặc. Rồi Tnú gia nhập bộ đội giải phóng. Anh ln khắc sâu mối thù quân
giặc và chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ quê hương.
c. Chủ đề: Thông qua câu chuyện về Tnú, tác phẩm ca ngợi sức mạnh và tinh thần quật
cường của dân làng Xô Man và cũng là của nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống
Mĩ.
3. Hình tượng rừng xà nu
- Ẩn dụ về người dân Tây Nguyên.
- Mang hai lớp nghĩa: tả thực và tượng trưng.
+ Nghĩa tả thực:
 Hình dáng: “nhọn hoắt như mũi lê”, như “mũi tên lao thẳng lên bầu trời”.
 Màu sắc: “xanh rờn”.
 Mùi hương: “thơm ngào ngạt”, “thơm mỡ màng”.
 Đặc tính: "ham ánh sáng mặt trời".

 Có sức sống mạnh mẽ và sức sinh sôi nảy nở diệu kì: "Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã
có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời".
 Quan sát tinh tế, miêu tả kết hợp so sánh. Tái hiện trước mắt người đọc hình ảnh những
cánh rừng xà nu ở Tây Nguyên.
+ Nghĩa biểu tượng: Rừng xà nu biểu tượng cho con người Tây Nguyên.
 Rừng xà nu bị tàn phá với rất nhiều vết thương "Cả rừng xà nu hàng vạn cây khơng có cây

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 9


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
nào không bị thương".
 Nỗi đau của con người Tây Nguyên trong chiến tranh: bị tra tấn, bị giết hại.
 Hình dáng đặc biệt, sự "ham ánh sáng mặt trời" của cây xà nu.
 Biểu tượng cho phẩm chất tốt đẹp của người Tây Nguyên: yêu tự do, có khát vọng sống
mãnh liệt.
 Sự sinh sơi nảy nở diệu kì của xà nu.
 Biểu tượng cho sự hiên ngang, anh dũng, bất khuất trước kẻ thù, sự tiếp nối của các thế hệ
người dân Tây Nguyên đứng lên đánh giặc.
 Hóa thân thành ngọn lửa.
 Chứng nhân cho mọi sự kiên trọng đại, đau thương và anh dũng của làng Xô Man.
 Với các thủ pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, thậm xưng, tác giả làm cho rừng xà nu trở
thành biểu tượng đẹp đẽ của con người Tây Nguyên, con người miền Nam, con người Việt
Nam trong kháng chiến chống Mĩ.
 Hình ảnh cây xà nu nổi bật, xuyên suốt tác phẩm, là một biểu tượng nghệ thuật đẹp, giàu
giá trị thẩm mĩ, góp phần thể hiện chủ đề và tạo khơng khí Tây Ngun độc đáo.
4. Hình tượng con người Tây Nguyên (dân làng Xô Man)
a. Cụ Mết:

- Ngoại hình: "vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt
vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng. Ơng ở trần, ngực căng như
một cây xà nu lớn"; "sáu mươi tuổi rồi mà tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực" 
mang dáng dấp của những anh hùng trong truyền thuyết, sử thi Tây Nguyên như Đăn Săn,
Xinh Nhã.
- Tính cách: cương quyết, gan dạ "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!", chỉ huy
dân làng Xô Man cầm giáo mác, dao, rựa xông ra chém gục mười tên giặc…
- Phẩm chất: yêu thương mọi người, biết nhìn xa trơng rộng, là chỗ dựa tinh thần cho dân
làng Xô Man.
 Biểu tượng của sức mạnh truyền thống, hội tụ nhiều vẻ đẹp của người dân Tây Nguyên.
b. Tnú:
- Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được dân làng cưu mang, sau đó giác ngộ cách mạng.
- Tính cách: gan góc, táo bạo, dũng cảm: "khơng thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác
mạnh mà bơi ngang", nuốt luôn cái thư vào bụng khi bị giặc bắt, khi bị giặc tra tấn vẫn
không khai, khi bị giặc đốt mười đầu ngón tay vẫn khơng kêu van…
- Có thế giới tâm hồn phong phú, giàu tình yêu thương với mọi người, có ý thức kỉ luật cao:
khi học thua Mai "nó đập bể cả cái bảng nứa trước mặt Mai và anh Quyết, bỏ ra suối ngồi
một mình suốt ngày", "Nó cầm một hịn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng"; khi chứng
kiến cảnh hai mẹ con Mai bị tra tấn, Tnú chồm dậy "nhảy xổ vào giữa bọn lính… ơm chặt
lấy mẹ con Mai"…
 Con người ưu tú, anh hùng của làng Xô Man, là nịng cốt của kháng chiến, có cuộc đời,
số phận bi tráng, biết vượt lên đau đớn và bi kịch cá nhân để chiến đấu bảo vệ quê hương.
c. Dít: Là hiện thân của thế hệ trẻ ln biết kế tụng truyền thống cha anh. Khi cịn nhỏ, Dít
tỏ ra là một cô gái nhanh nhẹn và lanh lợi khi đi tiếp tế cho cán bộ. Khi bị bắt và dọa dẫm thì
đơi mắt cơ bình thản một cách lạ lùng. Khi lớn lên, Dít đã trở thành một cơ bí thư chi bộ
vững vàng, có bản lĩnh. Nhưng ở Dít vẫn có một tình cảm kín đáo, sâu sắc, thể hiện rõ ở
cách đối xử với Tnú trước và sau khi đọc giấy phép của Tnú…

THẦY VIỆT GUITARLEAD


Page 10


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
d. Bé Heng: Là đại diện cho vẻ đẹp của thế hệ măng non ở núi rừng Tây Nguyên. Heng tuy
nhỏ tuổi nhưng đã có dáng vẻ của một tiểu anh hùng. Em hăng hái và nhiệt tình tham gia
cách mạng. Em thông thuộc từng hố chông, từng chiến điểm khi dẫn Tnú về làng. Sự năng
nổ, háo hức và nhiệt tình của bé Heng khiến cho người đọc tin tưởng rằng, đó sẽ là lớp
người kế tục xứng đáng những truyền thống anh hùng bất khuất của cha ông.
 Những nhân vật trên là hình ảnh con người Tây Nguyên với đầy đủ các thế thệ, tiêu biểu
cho các phẩm chất, khí phách của một tập thể anh hùng, mỗi nhân vật đê lại trong lòng
người đọc những ấn tượng sâu sắc.
5. Nghệ thuật
- Bút pháp sử thi: Hình ảnh cây xà nu xuyên suốt tác phẩm với hai lớp nghĩa: tả thực và biểu
tượng. Giọng điệu sử thi trang nghiêm và chất thơ hùng tráng vút lên từ thiên nhiên và con
người Tây Nguyên.
- Nghệ thuật trần thuật độc đáo: đan xen giữa thực tại và quá khứ khiến tác phẩm có khả
năng dồn nén sự kiện: dung lượng ngắn nhưng nói về số phận của cả một bn làng, một dân
tộc, câu chuyện của một đời người được kể lại trong một đêm.
- Xây dựng được một số hình ảnh biểu tượng: cây xà nu, mười ngón tay thành mười ngọc
đuốc.
6. Nội dung
- Rừng xà nu là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Trung thành trong nền
văn học chống Mĩ. Truyện đề cao sức mạnh, lòng căm thù và sức sống bất diệt của nhân dân
miền Nam, của Cách mạng Việt Nam.
-----------------------------------------------------------NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH - Nguyễn Thi
1. Tác giả
- Nguyễn Thi (1928 - 1968), tên thật là Nguyễn Hoàng Ca, quê Nam Định, có tuổi thơ tủi
cực.
- Năm 1943, vào Sài Gịn kiếm sống, năm 1945 tham gia cách mạng, 1954 tập kết ra Bắc,

1962 trở lại miền Nam, 1968 hy sinh tại mặt trận Sài Gòn.
Sài Gòn mùa xuân 1968
- Sự nghiệp sáng tác: là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng
Miền Nam chống Mĩ, là nhà văn của người nông dân Nam Bộ, với giọng văn giàu chất hiện
thực, đằm thắm chất trữ tình, nhân vật có cá tính mạnh mẽ.
- Tác phẩm: Trăng sáng, Đơi bạn, Truyện và kí.
- Được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000.
2. Tác phẩm:
- Xuất xứ: Được sáng tác vào tháng 2/1966, in lần đầu trên tạp chí Văn nghệ Qn Giải
phóng. Sau đó được in trong tập "Truyện và kí" (1978).
Chiến sĩ giải phóng qn
- Tóm tắt truyện: Trong một trận đánh, Việt bị thương nặng, lạc đơn vị, anh hồi tưởng về gia
đình và đồng đội. Cha mẹ Việt đều bị giặc giết, Chiến và Việt giành nhau đi bộ đội. Chú
Năm cho phép cả hai lên đường, hai chị em mang bàn thờ má sang gửi chú Năm. Việc nhà
sắp xếp chu toàn. Anh Tánh cùng tiểu đội đã tìm được Việt vẫn chắc tay súng, Việt được
đưa về điều trị. Anh định viết thư cho chị Chiến.
- Chủ đề: Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ, yêu nước, căm thù giặc
sâu sắc. Đồng thời, khẳng định truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc tạo nên sức

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 11


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
mạnh tinh thần to lớn cho nhân dân ta chống lại kẻ thù xâm lược.
3. Tình huống truyện
- Nhân vật rơi vào một tình huống đặc biệt: trong một trận đánh, bị thương nặng phải nằm lại
giữa chiến trường. Anh nhiều lần ngất đi tỉnh lại, tỉnh rồi lại ngất.
- Tình huống truyện đã đem đến cách trần thuật qua dòng hồi tưởng miên man đứt, nối, vì

vậy đem đến cho tác phẩm màu sắc trữ tình đậm đà, tự nhiên. Đồng thời tạo điều kiện để nhà
văn thâm nhập vào thế giới nội tâm nhân vật để dẫn dắt truyện.
4. Truyền thống gia đình
- Các thế hệ trong gia đình chịu nhiều đau thương do tội ác kẻ thù
+ Ông nội bị giặc giết
+ Cha bị chặt đầu
+ Má bị trúng đạn của Mĩ
+ Thím Năm cũng bị giặc bắn chết
 Đau thương mất mát đã hun đúc ngọn lửa căm thù trong tâm hồn những người dân Nam
Bộ mộc mạc.
- Truyền thống yêu nước, đánh giặc ngoại xâm:
+ Người cha là cán bộ Việt Minh anh dũng đến giây phút cuối cùng.
+ Má Việt cũng là hiện thân của truyền thống: dáng người chắc, khỏe, sực mùi lúa gạo và
mồ hôi.
 Sự cần cù sương nắng nuôi con, cắn răng kìm nén đau thương để sống, che chở cho đàn
con, tranh đấu với kẻ thù.
+ Chú Năm: đại diện cho truyền thống, lưu giữ truyền thống (trong câu hò, trong cuốn sổ).
 Truyền thống yêu nước mãnh liệt, căm thù giặc và tinh thần chiến đấu đã gắn kết những
con người trong gia đình với nhau và những đứa con là sự tiếp nối truyền thống của cha mẹ.
5. Hai chị em Chiến và Việt
a. Nét chung:
- Ngoại hình: đều có khn mặt bầu bầu, chóp mũi hơi hếch lên  còn mang nét hồn nhiên
trẻ thơ.
- Cùng sinh ra trong một gia đình chịu nhiều mất mát, đau thương: chứng kiến cái chết của
ba và má.
- Có chung mối thù với bọn xâm lược, có cùng nguyện vọng cầm súng đánh giặc.
- Tình yêu thương ruột thịt là vẻ đẹp tâm hồn của họ. Thể hiện sâu sắc nhất trong cái đêm
giành nhau tòng quân và khi khiêng bàn thờ ba má.
- Đều là những chiến sĩ dũng cảm trong đánh giặc.
- Đều có những nét trẻ con (giành nhau bắt ếch, giành nhau chiến công).

b. Nét riêng
 Chiến:
- Hiện lên qua dòng hồi tưởng của Việt
- Rất giống má: bắp tay tròn vo, sạm đỏ, thân người to và chắc nịch  vẻ đẹp của những con
người sinh ra để gánh vác và để chiến thắng.
- Đặc biệt, trong cái đêm sắp xa nhà đi bộ đội: lo liệu, toan tính việc nhà, lời nói và cử chỉ y
hệt má.
 Người mẹ sống lại trong hình ảnh Chiến.
- Chiến có tính cách người lớn hơn Việt: nhường nhịn em, quan tâm mọi việc của gia đình.
- Vào bộ đội, mang theo tấm gương soi.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 12


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
 Nhân vật Chiến có cá tính đặc sắc, mang vẻ đẹp tâm hồn của người con gái Nam Bộ trong
một thời kỳ nhiều mất mát hi sinh.
 Việt:
- Hồn nhiên, vô tư: lăn kềnh ra cười khì khì, chụp một con đom đóm, thường tranh giành
phần hơn với chị, vào bộ đội mang theo chiếc súng cao su.
- Trước kẻ thù: Việt rất anh hùng.
+ Ngày từ bé đã dám xông vào thằng giết cha mình.
+ Khi bị thương: vẫn quyết tâm sống chết với kẻ thù.
 Nhà văn xây dựng thành cơng hình tượng nhân vật Việt. Trước chị, Việt nhỏ bé hồn
nhiên, trước kẻ thù Việt vụt lớn trở thành anh hùng. Việt tiêu biểu cho những chàng trai
Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
6. Chi tiết hai chị em khiêng bàn thờ ba má gửi chú Năm
- Tạo khơng khí thiêng liêng biến Việt thành người lớn: thương chị, mối thù thằng Mĩ đè

nặng trên vai.
- Hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng thể hiện sự trưởng thành của hai chị em có thể gánh vác
việc gia đình và viết tiếp dịng sơng truyền thống gia đình.
7. Nghệ thuật
- Tình huống truyện độc đáo: truyện kể theo dòng nội tâm của nhân vật khi hồi tưởng.
- Phương thức trần thuật: thuộc ngôi thứ 3, nhưng lời kể và giọng điệu theo ngôi thứ nhất
(Việt).
- Truyện mang chất sử thi rất đậm đà: qua lịch sử một gia đình thấy lịch sử một đất nước.
-----------------------------------------------------------CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA - Nguyễn Minh Châu
1. Tác giả:
- Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989), quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải),
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Là một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, “thuộc trong
số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay” (Nguyên
Ngọc).
- Sau 1975, sáng tác của Nguyễn Minh Châu đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện
đạo đức thế sự.
- Tác phẩm chính: SGK
. Tru ện ngắn “Chiếc thuyền ngồi xa”
a. Xuất xứ:
- Được sáng tác năm 1983, lúc đầu được in trong tập "Bến quê" (1985), sau được in lại trong
tập cùng tên (1987). Là một trong những sáng tác tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì đổi
mới.
b. Tóm tắt:
- Theo lời của trưởng phịng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung
(cũng là nơi anh từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau.
- Sau nhiều ngày “phục kích”, anh đã phát hiện và chụp được cảnh một chiếc thuyền ngoài
xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương.
- Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã kinh ngạc hết mức khi chứng kiến cảnh từ trong
thuyền bước ra một gã chồng vũ phu đánh đập người vợ dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ

đã đánh trả lại cha mình.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 13


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
- Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn và lần này anh phải can thiệp…
- Theo lời mời của chánh án Đẩu (đồng đội cũ của anh), người đàn bà hàng chài đã đến toà
án huyện. Tại đây, người đàn bà đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không
bỏ lão chồng vũ phu.
- Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do cho sự từ chối trên.
- Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, Phùng đã chọn được một tấm ảnh về “thuyền và biển”
cho tờ lịch năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, anh bao giờ cũng thấy hình ảnh
người đàn bà lam lũ, nghèo khổ bước ra từ bước tranh.
c. Bố cục: 2 đoạn:
- Đoạn 1: Từ đầu  “Chiếc thuyền lưới vó đã biến mất”: Hai phát hiện của người nghệ sĩ
nhiếp ảnh.
- Đoạn 2: Phần còn lại: Câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở toà án huyện và tấm ảnh
được chọn.
3. Hai phát hiện của người nghệ sĩ Phùng
a. Phát hiện thứ nhất đầ thơ mộng
- Vẻ đẹp trên mặt biển mờ sương, như "một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ":
+ Thiên nhiên: “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa và
màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào”.
+ Con người: “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc
mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”.
+ Cách nhìn: “tồn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp”, “một
vẻ đẹp thực đơn giản và tồn bích”.

 Đường nét, ánh sáng hài hồ, đẹp. Đó là cảnh “đắt” trời cho.
- Tâm trạng người nghệ sĩ:
+ Bối rối, trái tim bị bóp chặt…
+ “Vừa khám phá thấy cái chân lí của sự hồn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong
ngần của tâm hồn”.
 Cảm thấy hạnh phúc chất ngất, cảm nhận được cái Thiện, cái Mĩ của cuộc đời, cảm thấy
tâm hồn mình như được thanh lọc, trở nên trong trẻo, tinh khiết.
b. Phát hiện thứ hai đầy nghịch lí
- Phùng đã chứng kiến cảnh tượng: một người đàn ông đánh vợ dã man.
+ Người đàn bà: khắc khổ, xấu xí, mệt mỏi và chỉ biết “cam chịu đầy nhẫn nhục”.
+ Lão đàn ông: thô kệch, dữ dằn, độc ác, quật tới tấp vào lưng vợ như một cách để giải toả
uất ức, khổ đau.
+ Th ng b Phác: đánh lại cha vì thương mẹ.
- Thái độ của người nghệ sĩ:
+ “Chết lặng”, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt: “kinh ngạc đến mức, trong
mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn”.
+ Khơng thể chịu được khi thấy cảnh ấy, Phùng đã “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy
nhào tới”.
c. Nghịch lí của hai phát hiện trên:
- Phùng đã cay đắng nhận ra những ngang trái, xấu xa trong gia đình kia đã làm cho những
điều huyền diệu mà anh đã phát hiện hiện hình ra thật khủng khiếp, ghê sợ.
- Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều, không phải bao giờ cũng đẹp, cũng là nghệ thuật, mà
chứa đựng nhiều nghịch lí, mâu thuẫn giữa cái đẹp - xấu, thiện – ác.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 14


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD

- Người nghệ sĩ phải tìm hiểu cuộc đời trong mối quan hệ đa chiều.
4. Câu chuyện của người đàn bà hàng chài toà án hu ện
a. Câu chuyện về người đàn bà hàng chài:
- Ngồi 40 tuổi, thơ kệch, rỗ mặt, “khuôn mặt mệt mỏi”
- Bị chồng đánh đập “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng vẫn cam chịu
“không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn”.
 Gợi lên một cuộc đời nghèo khổ, lam lũ, sẵn sàng chịu đựng tất cả.
- Thái độ của người đàn bà: rón rén, cố thu người lại  Đáng thương và tội nghiệp.
- Lời van xin “Q tồ… đừng bắt con bỏ nó”  Mọi giá quyết khơng bỏ chồng, có thể
đánh đổi tất cả.
- Lời giải thích cho sự chịu đựng khơng thể bỏ chồng:
+ “Các chú không hiểu người làm ăn”  Chưa hiểu hoàn cảnh của con người.
+ Do sinh con nhiều, trên thuyền lại chật  Tù túng, gị bó của cuộc sống nên sinh ra vậy.
+ Cần người đàn ông trên thuyền: “Nỗi vất vả của… đàn ơng”  vì vậy mà cam chịu để
sống.
+ Cũng có khi biển động sóng to  Cuộc sống có khi va chạm, khơng hiểu nhau.
+ “Phải sống cho con chứ khơng thể cho mình”  Đó là sự hi sinh, tình mẫu tử vơ bờ bến.
+ Cuộc sống cũng có lúc hạnh phúc “cũng có lúc sống hồ thuận vui vẻ, hạnh phúc nhìn các
con ăn no”  Chắt chiu hạnh phúc dù nhỏ nhất.
+ “Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, khơng bao giờ
đánh đập tơi”. “Giá tơi đẻ ít đi hoặc chúng tơi sắm một chiếc thuyền rộng hơn...”  Cảm
thông với người chồng.
 Nhân vật có sự đối lập giữa vẻ bên ngoài và tâm hồn bên trong:
+ Người đàn bà thất học nhưng rất hiểu cuộc đời: hiểu thiên chức làm mẹ, hiểu nỗi khốn khổ
và sự bế tắc của người chồng.
+ Giàu đức hy sinh, giàu lòng vị tha, nhân hậu – chắt chiu hạnh phúc đời thường – nhìn đời
một cách sâu sắc
+ Thấp thoáng vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ VN trong quá khứ.
 Quan niệm của nhà văn: cuộc sống con người không đơn giản, người nghệ sĩ khơng thể
dễ dãi, giản đơn khi nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của đời sống.

b. Các nhân vật trong câu chuyện:
 Người đàn ông:
- Dáng vẻ khắc khổ, lam lũ nhưng mạnh mẽ và dữ dội: “Lưng rộng và cong như một chiếc
thuyền”, “mái tóc tổ quạ”, “chân đi chữ bát”, “hai con mắt đày vẻ độc dữ”…
- Vốn là một anh con trai hiền lành, chỉ vì “nghèo khổ, túng quẫn”, nhiều lo toan, cực nhọc
mà trở thành người đàn ông độc ác, người chồng vũ phu.
- Khi nào thấy khổ là lão đánh vợ: “lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt
lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”, đánh như để giải toả uất ức, để trút sạch tức tối,
buồn phiền.
- Qua cái nhìn của người đàn bà: nạn nhân của hồn cảnh nên đáng được cảm thơng, chia sẻ.
- Qua cái nhìn của chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng và bé Phác: người vũ phu, thủ phạm gây
đau khổ nên đáng căm phẫn, đáng lên án.
 Vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây đau khổ cho những người
thân.
 Phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều về cuộc sống và con người.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 15


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
 Chị em th ng Phác:
- Chị Phác:
+ Một cô bé ốm yếu mà can đảm, phải vật lộn để tước lấy con dao từ tay Phác, khơng cho nó
làm việc trái với ln thường đạo lí.
+ Trong lịng tan nát vì đau đớn: bố điên cuồng hành hạ mẹ, vì thương mẹ mà thằng em định
cầm dao ngăn bố lại…
 Có những hành động đúng đắn, biết lo toan, là chỗ dựa vững chắc cho người mẹ.
- Phác: Thương mẹ theo kiểu trẻ con xốc nổi, theo cách của đứa con trai vùng biển.

+ Nó “lặng lẽ đưa ngón tay lên khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những
giọt nước mắt chứa đầy trong nốt rỗ chằng chịt”
+ Nó “tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó cịn có mặt ở dưới biển này thì mẹ
nó khơng bị đánh”.
 Phản ứng dữ dội, tình thương mẹ dạt dào.
 Tình huống khó xử, nỗi đau khó giải quyết: đứng về ai, làm thế nào để trọn đạo làm con?
 Nhiếp ảnh Phùng:
- Nhạy cảm trước cái đẹp của thiên nhiên, trước vẻ đẹp tinh khôi của thuyền biển lúc bình
minh.
- Xúc động mãnh liệt trước tình trạng con người phải chịu sự bạo hành của cái xấu, cái ác.
- Phát hiện vẻ đẹp tâm hồn con người: đằng sau vẻ xấu xí người đàn bà là một tâm hồn yêu
thương, vị tha…
- út ra chân lí về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống
 Chánh án Đẩu:
- “Vỡ ra” nhiều vấn đề về cách nhìn nhận, đánh giá con người:
+ Cuộc đời người đàn bà này khơng hề giản đơn.
+ Trong hồn cảnh này, cách hành xử của người đàn bà là không thể khác.
+ Giải pháp “bỏ chồng” mà Đẩu áp dụng là không ổn.
5. Tấm ảnh được chọn trong “bộ lịch năm ấ ”
- Mỗi lần nhìn kĩ bức ảnh đen trắng, người nghệ sĩ đều thấy “hiện lên cái mùa hồng hồng của
ánh sương mai”.
 Chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc đời.
- Nhưng nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy “người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm
ảnh”
 Hiện thân của những lam lũ, khốn khó của đời thường, là sự thật cuộc đời đằng sau bức
tranh.
 Quan niệm: nghệ thuật chân chính khơng bao giờ rời xa cuộc đời và phải là cuộc đời,
luôn ln vì cuộc đời.
6. Đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm
a. Xây dựng tình huống truyện:

- Độc đáo, hấp dẫn, mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống.
+ Tình huống 1: Phùng rung động, say mê trước cảnh đẹp “trời cho”.
+ Tình huống 2: Trong giây phút tâm hồn thăng hoa, anh bất ngờ chứng kiến cảnh tượng
người đàn ơng đánh vợ.
+ Phùng cịn chứng kiến cảnh tượng đó thêm lần nữa: người đàn bà nhẫn nhục, hành động
của chị em Phác.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 16


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
+ Từ đó, Phùng có cách nhìn đời khác đi. Anh thấy rõ cái ngang trái, hiểu thêm về người đàn
bà, chị em Phác, hiểu sâu thêm bản chất của người bạn Đẩu và hiểu chính mình.
 Tình huống được đẩy lên cao trào và ngày càng xoáy sâu để thể hiện tính cách con người
và cuộc đời.
b. Ngơn ngữ nghệ thuật của tác phẩm
- Ngôn ngữ người kể chuyện: Thể hiện qua nhân vật Phùng, sự hóa thân của tác giả. Chọn
người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng
khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân thật, giàu sức thuyết phục.
- Ngôn ngữ nhân vật: Phù hợp với đặc điểm tính cách của từng người.
-----------------------------------------------------------MỘT NGƯỜI HÀ NỘI - Nguyễn Khải
1. Tác giả:
- Nguyễn Khải (1930 - 2008), tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải, sinh tại Hà Nội nhưng
tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi.
- Nguyễn Khải viết văn từ năm 1950, bắt đầu được chú ý từ tiểu thuyết Xung đột.
- Trước 1975, sáng tác của Nguyễn Khải tập trung về đời sống nông thôn trong quá trình xây
dựng cuộc sống mới: Mùa lạc (1960), Tầm nhìn xa (1963) và hình tượng người lính trong
kháng chiến chống Mĩ: Họ sống và chiến đấu (1966), Hoà vang (1967)…

- Sau năm 1975, sáng tác của ông đề cập đến nhiều vấn đề xã hội - chính trị có tính thời sự
và đặc biệt quan tâm đến tính cách, tư tưởng, tinh thần của con người hiện nay trước những
biến động phức tạp của đời sống: Cha và con, và .... (1970), Gặp gỡ cuối năm (1982)...
2. Tác phẩm:
- Một người Hà Nội in trong tập truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Khải (1990).
- Truyện đã thể hiện những khám phá, phát hiện của Nguyễn Khải về vẻ đẹp trong chiều sâu
tâm hồn, tính cách con người Việt Nam qua bao biến động thăng trầm của đất nước.
3. Nhân vật cơ Hiền:
a. Tính cách, phẩm chất:
 Việc hơn nhân: Thời cịn trẻ cơ xinh đẹp, giao thiệp với nhiều loại người, nhưng cô chọn
bạn trăm năm “là một ông giáo cấp Tiểu học hiền lành, chăm chỉ”
 Không ham danh lợi, nghiêm túc trong hôn nhân.
 Việc sinh con: Sinh đứa con thứ năm thì ngừng hẳn.
 Nhìn xa trông rộng.
 Việc dạy con: Dạy con từ lúc bé,dạy từ những cái nhỏ nhất
 Cách sống làm người Hà Nội lịch sự , tế nhị, hào hoa.
 Việc quản lí gia đình: Ln chủ động, tự tin,hiểu vai trị quan trọng của người phụ nữ
trong gia đình.
 Chiêm nghiệm lẽ đời: Tinh tế,sâu sắc.
 Việc con đi bộ đội: bản lĩnh, trung thực, giàu lòng tự trọng.
 Đất nước trải qua nhiều biến động thăng trầm nhưng vẫn giữ được cốt cách người Hà
Nội.
b. Cô Hiền - "một hạt bụi vàng của Hà Nội":
- Hạt bụi  nhỏ bé, tầm thường.
- Hạt bụi vàng  nhỏ bé nhưng có giá trị q báu.
 Cơ Hiền là một người Hà Nội bình thường nhưng cơ thấm sâu những cái tinh hoa trong
bản chất người Hà Nội.

THẦY VIỆT GUITARLEAD


Page 17


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
4. Các nhân vật khác trong truyện:
- Nhân vật Dũng - con trai đầu của cô Hiền:
+ Anh đã sống đúng với những lời mẹ dạy về cách sống của người Hà Nội. Anh cùng với
660 thanh niên ưu tú của Hà Nội lên đường hiến dâng tuổi xuân của mình cho đất nước.
+ Dũng, Tuất và tất cả những chàng trai Hà Nội ấy đã góp phần tơ thắm thêm cốt cách tinh
thần người Hà Nội.
- Bên cạnh đó, cịn có những người tạo nên “nhận xét không mấy vui vẻ” của nhân vật “tơi”
về Hà Nội.
+ Đó là “ơng bạn trẻ đạp xe như gió” đã làm xe người ta st đổ lại cịn phóng xe vượt qua
rồi quay mặt lại chửi “Tiên sư cái anh già”...
+ Là những người mà nhân vật tơi qn đường phải hỏi thăm...
 Đó là những “hạt sạn”, làm mờ đi nét đẹp tế nhị, thanh lịch của người Tràng An.
5. Ý nghĩa của câu chuyện "cây si cổ thụ":
- Hình ảnh cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão đánh bật rễ rồi lại hồi sinh  nói lên qui luật
khắc nghiệt của tự nhiên, cũng là quy luật vận động của xã hội.
- Cây si là một hình ảnh ẩn dụ về vẻ đẹp của Hà Nội: Hà Nội đẹp đẽ, thanh bình, trải qua
nhiều biến cố dữ dội trong lịch sử nhưng vẫn là một Hà Nội với truyền thống văn hố đã
được ni dưỡng và mãi trường tồn.
6. Giọng điệu trần thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật:
a. Giọng điệu trần thuật:
- Một giọng điệu rất trải đời, vừa tự nhiên, dân dã vừa trĩu nặng suy tư, vừa giàu chất khái
quát, triết lí, vừa đậm tính đa thanh.
b. Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Tạo tình huống gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” và các nhân vật khác.
- Ngơn ngữ nhân vật góp phần khắc hoạ tính cách từng người:
+ Ngơn ngữ nhân vật “tơi”: đậm vẻ suy tư, chiêm nghiệm, lại pha chút hài hước, tự trào.

+ Ngôn ngữ của cô Hiền ngắn gọn, rõ ràng, dứt khoát ...
+ Dũng: đã từng vào sinh ra tử nên có những lời thật xót xa.
-----------------------------------------------------------HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT (trích) - Lưu Quang Vũ
1. Tác giả
- Lưu Quang Vũ (1948 - 1988), quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại Phú Thọ trong một gia đình trí
thức, cha là nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, nên thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của
ông đã sớm bộc lộ từ nhỏ.
- Từ 1965 đến 1970 ông vào bộ đội, phục vụ trong qn chủng Phịng khơng - Khơng quân.
- Từ 1970 đến 1978 ông xuất ngũ và làm đủ mọi nghề để mưu sinh.
- Từ 1978 đến khi mất, ơng là biên tập viên tạp chí "Sân khấu", bắt đầu sáng tác kịch nói.
- Với một nguồn sáng tạo đột khởi mạnh mẽ, Lưu Quang Vũ đã cho ra đời những vở kịch
gây xôn xao dư luận như: Lời nói dối cuối cùng, Nàng Xi-ta, Chết cho điều chưa có, Bệnh
sĩ, Lời thề thứ 9, Tơi và chúng ta, Hai ngàn ngày oan trái, Hồn Trương Ba, da hàng thịt,…
- Lưu Quang Vũ không chỉ trở thành một hiện tượng đặc biệt của sâu kịch những năm 80
của thế kỉ XX mà còn được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của văn học
nghệ thuật Việt Nam hiện đại.
- Lưu Quang Vũ còn là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, viết truyện, viết tiểu luận,…
nhưng thành công nhất vẫn là viết kịch.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 18


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
2. Tác phẩm:
 "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" (viết năm 1981 nhưng đến năm 1984 mới ra mắt công
chúng). Là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ đã công diễn nhiều lần
trên các sân khấu trong và ngoài nước.
- Từ một cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng thành một vở kịch nói hiện đại,

đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.
 Đoạn trích học trích từ cảnh VII và đoạn kết của vở kịch.
- Tóm tắt:
Trương Ba là một người đàn ông 60 tuổi, là một người làm vườn tốt bụng, đặc biệt rất cao
cờ. Do tắc trách, thần Nam Tào gạch bừa trúng tên Trương Ba, khiến ông phải chết oan. Vợ
Trương Ba lên Thiên đình kiện. Theo gợi ý của Đế Thích, để sửa sai, Nam Tào cho hồn
Trương Ba nhập vào thể xác hàng thịt ở làng bên vừa mới chết, mới ngoài 30 tuổi, để được
sống lại.
Kể từ khi sống nhờ thể xác hàng thịt, hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiền tối: lí trưởng
sách nhiễu, chị hàng thịt địi chồng; gia đình Trương Ba ngày càng khốn đốn. Đặc biệt, sống
bằng thân xác hàng thịt, Trương Ba dần dà tiêm nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu
vốn xa lạ với ơng. Khó khăn nhất là lúc chị hàng thịt đòi hỏi Trương Ba phải là người đàn
ơng thực sự của chị. Tên Lí trưởng nhân đấy sách nhiễu vòi tiền; con trai Trương Ba ngày
càng đắc ý, lấn lướt, coi thường bố. Ngược lại, vợ, con dâu, cháu nội Trương Ba không thể
chịu nổi và dần dần xa lánh. Trương Ba vô cùng đau khổ.
Trước nghịch cảnh ấy, cuối cùng Trương Ba quyết định trả lại thân xác hàng thịt, cũng
không chấp nhận nhập vào xác cu Tị, kiên quyết chấp nhận cái chết.
- Bố cục đoạn trích:
+ Độc thoại của hồn Trương Ba.
+ Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt.
+ Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và người thân.
+ Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích.
+ Màn kết.
3. Độc thoại của Hồn Trương Ba
- Hành động: "ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi đứng vụt dậy"  biểu hiện:
+ Con người đang ở trạng thái u uất, bế tắc, khơng lối thốt (ơm đầu).
+ Đau khổ, dằn vặt, quẫn bách đến cùng cực, không thể chịu đựng dày vò hơn được nữa
(đứng vụt dậy).
 Trào ra thành những dòng độc thoại đầy nước mắt.
- Lời nói:

+ Phủ định: "Khơng! Khơng! Tơi khơng muốn sống như thế này mãi!".
+ Tâm trạng: "chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi"; sợ, muốn rời xa cái "thân thể
kềnh càng thô lỗ" ngay "tức khắc".
+ Khao khát "tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát!".
 Các câu cảm thán, câu ngắn; lời văn dồn dập, hối thúc  trạng thái căng thẳng, bức bách.
4. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt
 Mơ tả màn đối thoại:
- Xác hàng thịt: xốy vào hiện thực bi kịch của Hồn: “linh hồn mờ nhạt của ông”, “không
tách ra khỏi tôi được đâu”.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 19


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
Hồn: ngạc nhiên vì thể xác cũng có tiếng nói “Mày khơng có tiếng nói, mà chỉ là xác thịt
âm u đui mù”.
- Xác hàng thịt: “ơng đã biết tiếng nói của tơi rồi, đã ln ln bị tiếng nói ấy sai khiến”,
“sức mạnh ghê gớm, lắm khi lấn át cả linh hồn cao khiết”.
Hồn: bất lực, phủ định tiếng nói của Xác: “Mày chỉ là vỏ bề ngồi, khơng có ý nghĩa gì
hết, khơng có tư tưởng, khơng có cảm xúc”.
- Xác hàng thịt: hỏi lại đầy thách thức: “Có thật thế khơng?”.
Hồn: đuối lí, buộc phải dần đồng tình, xác nhận sự ảnh hưởng của Xác “nếu có, thì chỉ là
những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được”.
- Xác hàng thịt: nhận thức sự lợi lí của mình, tiếp tục châm chọc: “Khi ơng ở bên nhà tôi…
Khi ông đứng bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại… Đêm hơm
đó, st nữa thì…”  nhắc lại sinh động, tường tận dục vọng vật chất  bồi thêm nỗi dằn
vặt vì sự thật phũ phàng - Hồn đang xi theo Xác, bị Xác sai khiến.
Hồn: kiên quyết phủ định: “là mày chứ, chân tay mày, hơi thở của mày”.

- Xác hàng thịt: đồng tình nhưng cũng đồng thời hỏi xốy lại: “Chẳng lẽ ơng khơng xao
xuyến”, “Để thỏa mãn tôi, chẳng lẽ ông không tham dự vào chút đỉnh gì?”  Xác dẫn dắt
Hồn vào sự thật khơng thể phủ nhận. Hồn ít nhiều đã bị vấy bẩn, tha hóa bởi dục vọng của
thân xác  lí lẽ của Xác khơi trúng điểm đen mà lâu nay vì trú ngụ trong Xác hàng thịt, Hồn
Trương Ba trong khiết đã hóa màu.
Hồn: bất lực: “Ta… ta… đã bảo mày im đi!”  lời văn ngập ngừng như lí lẽ bị hụt hơi 
Hồn bị dồn vào chân tường để buộc phải công nhận sự chế ngự của thể xác.
- Xác hàng thịt: xác nhận lại thái độ của Hồn “ õ là ông không dám trả lời”, khẳng định một
lần nữa “Hai ta đã hòa với nhau làm một rồi!”  nhấn vào sự thật đau đớn mà Hồn đang
muốn trốn chạy, muốn phủ nhận, đẩy tình huống kịch lên cao trào.
Hồn: Cố gắng cứu vãn: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng
thắn…”
- Xác hàng thịt: mỉa mai “Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những địi hỏi của tơi, mà
cịn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!”.
Hồn: bịt tai lại  nỗ lực chối bỏ tuyệt vọng.
- Xác hàng thịt: tiếp tục dùng lời lẽ hiểm hóc sắc lẹm như dao mổ, phanh trần nỗi đau đang
tấy mủ trong Hồn: sức mạnh của Xác đã giúp Hồn thêm để làm việc vũ phu “tát thằng con
ơng tóe máu mồm máu mũi”.
Hồn: chối bỏ “sức mạnh làm ta trở thành tàn bạo”.
- Xác hàng thịt: biện minh cho mình bằng những lí lẽ: “là hồn cảnh” buộc Hồn phải qui
phục, “Tơi cũng đáng được q trọng”, khơng có tội.
Hồn: phản ứng yếu ớt: “Nhưng... Nhưng…”
- Xác hàng thịt: “tôi rất biết cách chiều chuộng linh hồn”.
Hồn hỏi: “Chiều chuộng”?
- Xác hàng thịt: đưa ra giao kèo thỏa hiệp để chung sống: Xác sẽ “ve vuốt” Hồn bằng cách
thơng cảm với “những trị chơi tâm hồn”, nhận hết mọi điều xấu miễn là Hồn vẫn “làm đủ
mọi việc để thỏa mãn thèm khát” của Xác.
Hồn: nhận thức “lí lẽ ti tiện” của Xác.
- Xác hàng thịt: khẳng định sự thắng thế của mình.
Hồn than bất lực, tuyệt vọng "Trời".

- Xác hàng thịt: an ủi  kết thúc cuộc đối thoại.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 20


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
 Tương quan lượt lời: Xác: dài, dày đặc; Hồn: ngắn, thưa thớt  sự lấn át, thắng thế của
Xác và sự đuối lí, bất lực của Hồn.
 Hồn bị đẩy vào đường cùng, buộc phải xuôi theo những sự thật và lí lẽ hiển nhiên mà
Xác chỉ ra.
 Xung đột ngày càng đẩy lên cao trào, Xác tung ra những lí lẽ sắc bén như dao mổ, khoét
sâu vào nỗi đau bị tha hóa của Hồn.
 Ý nghĩa của đoạn đối thoại:
- Trương Ba được trả lại cuộc sống nhưng lại là một cuộc sống đáng hổ thẹn vì phải sống
chung với sự dung tục và bị sự dung tục đồng hoá.
- Tác giả cảnh báo: khi con người phải sống trong dung tục thì tất yếu sẽ bị dung tục ngự trị,
lấn át và sẽ tàn phá những gì trong sạch, đẹp đẽ, cao quý trong con người.
5. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và người thân
 Với vợ:
- Vợ:
+ Trách móc "Ơng bây giờ cịn biết đến ai nữa…".
+ Có ý định đi biệt để Trương Ba được thảnh thơi "Có lẽ tơi phải đi".
+ Chỉ ra lí do: “Ơng đâu cịn là ơng, đâu cịn là ơng Trương Ba làm vườn ngày xưa”.
 Người vợ vị tha, nhẫn nhịn, hết mực yêu thương chồng.
 Mang tâm trạng đau khổ tột cùng vì chứng kiến sự đổi thay của chồng. Nỗi đau hiện tại
còn kinh khủng hơn giây phút bà tiễn thân xác chồng khỏi thế gian.
- Hồn Trương Ba:
+ Lời thoại ngắn, toàn câu hỏi  biểu hiện: sự ngơ ngác, thảng thốt và trạng thái thẫn thờ, tê

xót.
+ Hành động: "ngồi xuống, tay ơm đầu"  đau khổ, dằn vặt, tuyệt vọng.
 Với Cái Gái:
- Cái Gái: u thương gắn bó với ơng hết mực: "Đêm nào nó cũng khóc thương ơng… Nó
cất giữ nâng niu từng chút kỉ niệm của ông…" nhưng nghĩ thân xác đó khơng phải là ơng nội
nên dẫn tới phản ứng dữ dội: Lời lẽ tàn nhẫn, phũ phàng, chối bỏ, xua đuổi Hồn Trương Ba
"Ơng nội tơi chết rồi", "Ơng xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!".
 Phản ứng quyết liệt của một đứa trẻ. Tâm hồn trẻ thơ vốn trong trẻo, chỉ có hai màu sáng
tối, kiên quyết không chấp nhận cái xấu, cái ác.
- Trương Ba: ấp úng, "run rẩy"  những lời nói của cháu nhỏ thêm một lần nữa xoáy khoét
vào nỗi đau sâu thẳm của ông, để ông cảm nhận thấm thía bi kịch bị chính những người thân
yêu chối bỏ.
 Với con dâu:
- Con dâu:
 Thấu hiểu và cảm thông: biết “thầy khổ hơn xưa nhiều lắm”, thương thầy hơn xưa.
 Nhận thức một sự thật đau đớn: “làm sao để giữ thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như
thầy của chúng con xưa kia”.
- Trương Ba: Trước những lời lẽ chân thực của con dâu  “mặt lặng ngắt như tảng đá” 
hoàn toàn tuyệt vọng.
 3 lượt đối thoại đã đẩy bi kịch của Hồn Trương Ba lên tới chót đỉnh. Những người thân
thiết nhất cũng khơng chấp nhận nổi tình trạng hồn xác bất nhất của chồng, cha, ơng mình.
 Con người Phương Đơng vốn coi mái nhà và quan hệ ruột thịt là nền tảng tinh thần. Mất
nó, con người gần như mất tất cả, rơi vào trạng thái đơn độc, chống chếnh.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 21


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD

Đối thoại với những người thân mới cho nhân vật nhận cảm thấm thía tình trạng của bản
thân, để đi đến hành động giải thốt quyết liệt. Nhà văn khơng đưa đối thoại với người con
trai (lúc này đã bị đồng tiền cám dỗ, sinh ra thói con bn vụ lợi) vào mà để Hồn đối thoại
với vợ, cháu gái, con dâu – những người yêu thương, gắn bó với Trương Ba nhất để dẫn dắt
Trương Ba đến nhận thức sâu sắc về tình trạng tuyệt vọng khơng lối thốt của bản thân
mình.
 Độc thoại: "Mày đã thắng thế rồi đấy…Khơng cần!".
- Ý thức, công nhận sự thắng thế của Xác.
- Tự vấn: “lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?”.
- Phản lại lí luận của Xác: “có thật là khơng cịn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống
do mày mang lại! Không cần!”  Thái độ kiên quyết, dũng cảm.
 Nếu độc thoại ở màn đầu tiên, Trương Ba hiện lên trong trạng thái dằn vặt đau khổ thì ở
màn độc thoại này, nỗi đau càng xót xa nhưng nhân vật khơng cịn trăn trở về tình trạng Hồn
– Xác bất nhất mà đã có một thái độ chủ động dứt khốt.
6. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích
- Gửi gắm những quan niệm của tác giả về hạnh phúc, sự sống, cái chết.
- Đế Thích:
+ Đưa ra đề xuất để Trương Ba được sống: nhập xác Cu Tị  một cách tồn tại “dễ thở” hơn,
“dễ chịu” hơn.
+ Khẳng định một hiện thực không phân biệt trần gian hay thượng giới: khơng ai được tồn
vẹn cả "Thế ơng ngỡ… Dưới đất, trên trời đều thế cả".
+ Không hiểu được những suy nghĩ của Trương Ba “con người dưới hạ giới các ơng thật kì
lạ”.
 Vị thần tiên quyền phép biến hóa, yêu mến Trương Ba nhưng rốt cuộc vẫn mang tầm
nhìn, điểm nhìn xa lạ, khơng thể thấu hiểu những suy nghĩ trần thế.
- Hồn Trương Ba:
+ “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tơi muốn được là tơi tồn vẹn”
 quan niệm:
 Hồn và Xác ln thống nhất hài hịa trong một con người. Khơng thể có linh hồn thanh
khiết trong một thể xác dung tục, tội lỗi.

 Khi con người bị vấy bẩn bởi những dục vọng bản năng thì đừng chỉ đổ lỗi cho xác thân, tự
vỗ về, ngụy biện bằng linh hồn cao khiết siêu hình.
 Thái độ sống cần có của con người: dũng cảm, dám đối mặt, thừa nhận những sai lầm của
bản thân, để không bao giờ trốn chạy.
+ “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân
tơi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ơng chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như
thế nào thì ơng chẳng cần biết!”.
 Quan niệm: Cuộc sống thật đáng quí nhưng sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khơng
được là mình thì thật vơ nghĩa. “Sống” đơn thuần chỉ là đời sống thực vật, “sống như thế
nào” – sống “toàn vẹn” mới là đời sống của một con người. Để có được ý nghĩa chân chính
đó quả khơng dễ dàng.
+ Khi Đế Thích so sánh: khơng thể "đổi tâm hồn đáng quí của bác lấy chỗ cho cái phần hồn
tầm thường của anh hàng thịt"  Phản ứng:
 Thấu hiểu: tầm thường nhưng chúng sẽ sống hòa thuận với nhau.
 Thương người vợ anh hàng thịt.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 22


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
- Chi tiết: Cu Tị chết  đẩy bi kịch đến chỗ “mở nút”:
Trương Ba tưởng tượng ra giả cảnh khi nhập xác đứa bé  bao nhiêu phiền toái khác do sự
vênh lệch hồn xác sẽ xảy ra, nỗi đau của người thân cu Tị  nhận thức tỉnh táo  quyết
định sáng suốt: xin cho cu Tị sống lại, để mình chết hẳn.
 Nhận xét:
- Lời của Trương Ba dày đặc  khơng cịn cái ngập ngừng, yếu thế như trong đối thoại với
Xác, mà tự tin, chủ động bày tỏ.
- Q trình đưa ra quyết định dứt khốt “chết hẳn”, Trương Ba đã thực hiện cuộc phục sinh

tâm hồn mình. Người ta lại thấy một Trương Ba nhân hậu, vị tha, giàu tình thương.
- Nhận thức được ý nghĩa đích thực của cuộc sống: Cuộc sống đáng quí biết bao (Ơng tưởng
tơi khơng ham sống hay sao?), nhưng sống mà khơng được là mình (sống giả tạo) thì chẳng
có lợi cho ai ngoài “bọn khốn kiếp” đục nước béo cò.
7. Màn kết
- Khung cảnh:
+ Vườn cây rung rinh ánh sáng  Không gian quen thuộc gắn với con người Trương Ba,
tinh thần Trương Ba  nơi lưu dấu những hồi ức tươi đẹp về Trương Ba trong lòng người
thân vẫn được vun xới, để lại chan hòa, ấm áp.
+ Cu Tí hồi sinh và mẹ con đồn tụ  hạnh phúc trong trẻo, cảm động.
+ Sự xuất hiện của Trương Ba:
 Qua lời văn: "chập chờn xuất hiện"  chỉ là cái bóng.
 Qua lời Trương Ba: “Tơi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh
lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà giẫy cỏ… Không
phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của
cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu…”  lời văn thấm đẫm cảm xúc, giàu chất thơ
 chất trữ tình trong kịch Lưu Quang Vũ.
+ Qua đối thoại của cái Gái và cu Tị: "Cây na này, ông nội tớ trồng đấy!"; qua hành động
vùi hạt na xuống đất: “Cho nó mọc thành những cây mới. Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ
nối nhau mà lớn khơn. Mãi mãi”  hình ảnh biểu tượng: đứa trẻ ngây thơ, trong trắng gieo
trồng hạt giống mới biểu trưng cho sự nối tiếp, sinh sôi bất tử của Hồn Trương Ba, vẻ đẹp
Trương Ba – thanh khiết, vẹn nguyên.
 Cái chết hẳn về thể xác là sự hồn ngun kì diệu cho tâm hồn. Trương Ba đang sống
một cuộc sống khác: sự sống bất diệt trong trái tim những người thân.
 Nghịch lí lơ-gic: Mặc dù giờ đây Hồn Trương Ba khơng có thân xác trú ngụ, chỉ là bóng
chập chờn mờ ảo, vơ hình lại là lúc sự hiện diện của Trương Ba nhiều nhất, thường trực
nhất.
 Tiếp tục khái quát triết lí nhân sinh:
- Ý nghĩa sự sống nhiều khi không phải ở sự tồn tại sinh học mà ở chính sự hiện diện của ta
trong suy nghĩ, nỗi nhớ của những người thương yêu.

- Vẻ đẹp tâm hồn có đời sống dài lâu và bất tử so với thể xác. Tâm hồn cao khiết của Trương
Ba vẫn cịn có mặt trong mỗi hồi niệm, mỗi cuộc đời đang sống.
8. Nội dung: Qua đoạn trích và vở kịch, tác giả muốn khẳng định:
- Được sống làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn, hài hồ
giữa thể xác và tâm hồn cịn q hơn.
- Con người phải ln ln đấu tranh với nghịch cảnh, chống lại sự tầm thường, dung tục để
hoàn thiện nhân cách.

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 23


HỌC VĂN LÀ HỌC LÀM NGƯỜI - VIỆT GUITARLEAD
9. Nghệ thuật:
- Những đoạn đối thoại được xây dưng giàu kịch tính, đậm chất triết lí, tạo chiều sâu cho vở
kịch.
- Hành động của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh, tính cách, góp phần phát triển tình huống
truyện.
- Những đoạn độc thoại nội tâm góp phần thể hiện rõ tính cách nhân vật và quan niệm về lẽ
sống đúng đắn.
------------------------------------------------------------

THẦY VIỆT GUITARLEAD

Page 24




×