Sở giáo dục & Đào To thanh hóa
TRNG THPT MAI ANH TUẤN – NGA SƠN – THANH HÓA
-----------------*******----------------aa a aa
SÁNG KIẾN kinh nghiƯm
TÍCH HỢP GIÁO DỤC MƠI TRƯỜNG TRONG GIẢNG
DẠY A L THPT.
Ngi thực hiện: Hn Thanh Hnh
Chức v:
Giỏo Viờn
Đơn vị công tác :Trng THPT
Mai Anh Tun
Nga
Sn-Thanh Húa
SKKN thuc mụn : Địa Lí
1
Năm học 2013 2014
A. T VN
I.LI M U
Trong những năm gần đây về tốc độ phát triển các khu công nghiệp, cùng
với tốc độ tăng trưởng kinh tế tồn cầu nói chung, nền kinh tế nước ta nói riêng
phát triển nhanh chóng, khoa học - kỹ thuật, cơng nghệ phát triển giúp người lao
động sử dụng công cụ lao động thủ cơng thay thế bằng những máy móc. Năng
suất lao động tăng nâng mức sống con người ngày càng cao, mức sống của nhân
dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Nhưng bên cạnh kết quả thu được cũng
khơng ít tác hại riêng của nó, đó là những chất thải cơng nghiệp,đơ thị hố ngày
càng tăng,diện tích rừng bị thu hẹp đã gây ảnh hưởng môi trường ngày một cao
và đã trở thành nạn ô nhiễm, gây nhiều hậu quả xấu đối với đời sống con người.
Kinh tế tăng trưởng, xã hội phát triển dân số nhanh, sinh hoạt của con người
đa dạng phong phú dẫn đến chất thải ngày càng nhiều.
Mơi trường trong xã hội có nhiều các chất thải khác nhau. Ở đây tôi chỉ
muốn đề cập đến hai loại chất thải đó là:
Chất thải trong công nghiệp và chất thải trong sinh hoạt hầu như chưa xử lý
gây nạn ô nhiễm môi trường. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu sống con
người càng cao. Chính vì nhu cầu đó con người vận dụng khoa học kỹ thuật cao
để phục vụ mình, thậm chí áp dụng khai thác tàn phá thiên nhiên như chặt phá
rừng hàng loạt, khai thác mỏ vô tổ chức, khai thác nguồn nước ngầm một cách tự
do trái phép, làm cho môi trường sinh thái biến đổi, tài nguyên thêm phần cạn
kiệt, nước biển dâng cao ảnh hưởng không nhỏ đến vùng đất lục địa ven bờ
biển, các đảo và hải đảo trên biển Đông nước ta.
Tất cả những điều kiện trên gây ô nhiễm môi trường dẫn tới tốc độ trong
thiên nhiên ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, có nhiều bệnh lạ, bệnh khó chữa
xuất hiện.
Đứng trước tình trạng này, con người phải có biện pháp làm trong sạch mơi
trường sống, bởi vì mục tiêu đào tạo con người trong giai đoạn mới ở nước ta là
phát triển con người tồn diện “Cao trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú
về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Chính vì thế nhà trường cần làm tốt việc
giáo dục bảo vệ mơi trường, nó có vai trị quan trọng bởi vì lực lượng Đồn viên
thanh, thiếu niên là lực lượng nòng cốt, là tương lai của đất nước, chiếm với lực
lượng khá đông trong xã hội vào khoảng 1/3 nhân loại.
2
Chúng ta phải giáo dục việc bảo vệ môi trường với tồn thể học sinh vì lực
lượng này rất đơng đảo, sẽ là thế hệ tiếp tục xây dựng quê hương, đất nước và
mơi trường sẽ có thể có hai mặt:
Xấu: thiên nhiên ngày càng bị tàn phá, ô nhiễm môi trường làm mất cân
bằng sinh thái.
Tốt: Nếu nhận thức của mỗi học sinh có ý thức, thực hiện tốt đó cũng là lực
lượng tốt bảo vệ, khơi phục thiên nhiên, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện
sức khỏe con người.
Ngày 10/01/1994 Chủ tịch Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký
lệnh công bố luật bảo vệ môi trường (Báo Hà Bắc ngày 16/08/1994) nhà trường
là cơ quan giáo dục có vai trị nâng cao sức khỏe, phát triển tốt thể lực. Cho học
sinh nên nhận rõ trách nhiệm của mình đóng góp bảo vệ mơi trường. Nhằm góp
phần tiếng nói chung trong q trình đào tạo thế hệ trẻ. Tơi chọn sáng kiến kinh
nghiệm: “ Tích hợp Giáo dục mơi trường trong giảng dạy Địa lí THPT”.
II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Để làm tốt về bảo vệ môi trường ở trường THPT đặc biệt là học sinh lớp
10,11,12.
- Về nội dung: Giáo dục bảo vệ môi trường của nhà trường
III- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
1. Nhiệm vụ một:
Sơ lược về một số vấn đề lý luận chung về môi trường và công tác giáo dục
bảo vệ môi trường
2. Nhiệm vụ hai:
Phân tích đánh giá việc bảo vệ môi trường.
3. Nhiệm vụ ba:
Các ý kiến đề xuất.
IV-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Kinh nghiệm giáo dục của bản thân trong quá trình giảng dạy
- Trao đổi với các bộ phận môi trường
- Nghiên cứu tài liệu liên quan
V-ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU VÀ ÁP DỤNG ĐỀ TÀI:
- Trường THPT Mai Anh Tuấn
3
- Các trường và các địa phương trong huyện Nga Sơn
VI-ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Nâng cao dần nhận thức và giáo dục ý thức tự giác về môi trường. Để nâng
cao nhận thức và giáo dục các em học sinh có ý thức bảo vệ mơi trường trong
nhà trường, gia đình và xã hội để có mơi trường “xanh- sạch- đẹp”.
B. NỘI DUNG
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1- CƠ SỞ LÝ LUẬN:
a- Mơi trường là gì?
Là tổng hợp các điều kiện tự nhiên bao quanh sinh vật có ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật.
Trong đó các nhân tố sau:
Nhân tố vô sinh như : đất, đá, nước, khơng khí…
Nhân tố hữu sinh như : sinh vật và con người…
b- Giáo dục bảo vệ môi trường là gì?
Là tổng hợp các biện pháp nhằm giáo dục duy trì sử dụng hợp lý, phục
hồi, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường tự nhiên, giúp con người và thiên
nhiên có sự hài hịa tổng thể.
2- CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Môi trường và tài nguyên thiên nhiên hiện nay ngày càng bị suy thối
nghiêm trọng. Muốn bảo vệ mơi trường và phát triển bền vững mỗi cơng dân cần
có nhận thức đúng đắn và biết cách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Khi những vấn đề trên chưa trở thành bức xúc, trong chúng ta tồn tại một số suy
nghĩ chưa thật đúng về vấn đề này.
Trước hết, cho con người là chúa tể của mn lồi. Con người có thể thống
trị, chế ngự mn lồi trên trái đất. Thái độ của con người với mn lồi khơng
phải là thái độ bè bạn, cùng chung sống mà là khai thác, “ bóc lột ”, bắt mn
lồi phục vụ cho đời sống của mình như bắt động vật để chơi, để ăn thịt, dùng
một số bộ phận của động vật để làm thuốc, làm đồ dùng (mật gấu, cao hổ cốt,
cao khỉ, dày da…).…
Con người cho rằng tài nguyên của trái đất là vơ tận, có thể thả sức khai
thác phục vụ lợi ích của mình mà khơng lo cạn kiệt (tài ngun khống sản,
rừng, biển…), khơng cần phải để dành cho thế hệ sau.
4
Con người hồn tồn có khả năng chinh phục thiên nhiên. Đặc biệt khi khoa
học - kỹ thuật phát triển và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống sản
xuất, người ta chỉ nghĩ đến sự tiện lợi như: (xe máy, ô tô, máy bay…) đến năng
suất, chất lượng sản phẩm mà ít nghĩ đến ảnh hưởng của nó tới mơi trường sống:
Khói bụi nhà máy xả ra gây ơ nhiễm khơng khí, chất độc từ phân bón, thuốc trừ
sâu trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp làm ô nhiễm nguồn nước sạch, ô
nhiễm không khí, tiêu diệt các sinh vật v.v…
Con người tỏ thái độ bàng quan, thiếu quan tâm cho dù môi trường ô nhiễm
ra sao, tài ngun thiên nhiên cịn hay hết, coi đó là việc của xã hội, của người
khác. Nguy hại hơn, những suy nghĩ trên khơng phải của một số ít người, lại
cũng không phải chỉ ở một quốc gia nào mà ở số đông người, ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới. Vì vậy, cần hiểu lại vấn đề, cần có những hành vi ứng xử thật
đúng đắn với mơi trường và tài nguyên thiên nhiên là vấn đề cấp bách đang đặt
ra, bởi nếu không, những vấn đề trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của
con người trong hiện tại và cả tương lai nữa.
Cho học sinh hiểu biết tổng hợp môi trường nơi đang sống. Hạn chế thải
chất độc hại ra môi trường ảnh hưởng đến nguồn nước uống, sinh hoạt.
Bảo vệ nguồn tài nguyên, thiên nhiên từ đó nhận thức được mối quan hệ,
tương hỗ giữa kinh tế - chính trị - văn hóa - môi trường.
Hiểu biết một cách đầy đủ về sự tác động của con người với môi trường.
II- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở TRƯỜNG HỌC.
1-Thực trạng của nhà trường trong những năm qua.
Vị trí nhà trường: Trường nằm vị trí thuận lợi về giao thơng, xa nhà dân, xa
chợ, số lượng cây xanh nhiều đảm bảo cho bóng mát và mơi trường trong lành.
Số lượng học sinh của nhà trường hơn 1300 em. Số lớp: 32 lớp. Khu vực
xung quanh nhà trường công tác vệ sinh môi trường của nhân dân địa phương
xung quanh nhà trường nhìn chung là tốt, học sinh có ý thức bảo vệ cảnh quan
môi trường và cảnh quan thiên nhiên tương đối sạch sẽ.
*Thuận lợi:
Được sự quan tâm của các cấp chính quyền và tồn xã hội về mơi trường
trong trường học
Đứng dưới góc độ cơng tác giáo dục bảo vệ mơi trường, trường học có
nhiều thuận lợi về sự tuyên truyền hiểu biết về môi trường.
5
Chương trình “xanh- sạch- đẹp” trường lớp đã được đưa vào nhà trường
như các dự án của Bộ GD&ĐT phát động về vệ sinh học đường. Ngoài việc khai
thác các nội dung trong các môn học như : Địa lý; Sinh học; Giáo dục công
dân… Do các giáo viên trên lớp thực hiện. Bên cạnh đó, nhà trường đã được đầu
tư trang thiết bị hệ thống nguồn nước uống sạch, có nhà vệ sinh cho học sinh và
giáo viên, nhà trường luôn giáo dục ý thức bảo vệ môi trường bằng các công việc
hàng năm, hàng ngày như trồng cây, chăm sóc cây, trồng chậu cây cảnh, vệ sinh
trường lớp. Những nội dung đó đã được nhà trường đưa vào danh mục thi đua
của từng lớp, từng tuần, từng tháng cho mỗi lớp.
*Khó khăn:
Bên cạnh thuận lợi cịn có những khó khăn:
Học sinh gần 100% là con em sống vùng ven biển gia đình có hồn cảnh
kinh tế cịn thiếu thốn và khó khăn.
Ý thức của người dân và học sinh về môi trường và bảo vệ môi trường chưa
cao.
Địa bàn có khí hậu mưa nhiều quanh năm, có mùa đơng lạnh và ẩm ướt.
Diện tích quy hoạch sân chơi trong trường chưa có khu vực chun biệt và
hình thức phong phú, trồng cây xanh chỉ mang tính tạo cảnh quan.
Đồ dùng dạy học của mơn Địa lí nói riêng, liên mơn giáo dục mơi trường
nói chung hầu như khơng có, việc dạy chủ yếu là dạy chay, học chay.
Ngồi việc cơ sở vật chất còn thiếu thốn ra hiện nay công tác giáo dục môi
trường của chúng ta gặp nhiều gian nan khác. Đó chính là bài tốn giáo viên đào
tạo về ngành này hoặc trong chương trình học chuyên nghiệp đưa việc học giáo
dục môi trường cũng chỉ sơ lược mang tính chất thơng báo.
Hạn chế nữa mà chúng ta khơng thể bỏ qua đó là: Thơng tin về giáo dục mơi
trường đã có nhưng chưa đồng bộ, chưa đến được nhiều với học sinh, khi có vi
phạm về mơi trường chưa có biện pháp xử lý kịp thời và có hiệu quả.
2- Những cơng việc đã làm:
Nhằm nâng cao hiệu quả cho công tác giáo dục môi trường trong trường
học. Mơn Địa lí và nhà trường đã làm được những việc như sau:
a- Tác động môi trường:
a.1- Mơi trường khơng khí:
- Sân trường:
6
Phát động phong trào trồng chăm sóc cây xanh, các lớp học, hàng tuần học
sinh có tổ chức chăm sóc, vun sới khu vực mình phụ trách (bồn hoa cây cảnh).
Trong q trình chăm sóc cây các lớp nên sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng, sử
dụng phân hoai mục.
Hàng tuần chào cờ, bên cạnh biểu dương những lớp, những học sinh có
thành tích giữ gìn vệ sinh trường lớp sạch sẽ, ý thức bảo vệ cây, bảo vệ môi
trường tốt, cịn có hình thức phê bình các cá nhân, các lớp chưa thực hiện tốt.
Vận động phụ huynh học sinh trồng cây cảnh cho nhà trường và các điểm
trường; vận động các chi đoàn, đoàn thanh niên phát động phong trào thi đua tạo
quang cảnh môi trường trong nhà trường.
Nhà trường đã được trang bị bình nước lọc hợp vệ sinh cho học sinh trong
quá trình sử dụng nước uống, khâu vệ sinh trường lớp luôn được coi trọng; có
sọt đựng rác, có hố đổ rác cho học sinh.
- Khu lớp học:
Mỗi lớp trồng một cây cảnh để tạo không gian “xanh” trong trường học và
cũng tạo ý thức bảo quản cho học sinh; trong mỗi lớp đều thực hiện tốt cơng tác
vệ sinh chung có nội quy, quy ước rõ ràng.
Mỗi lớp đều có ý thức giáo dục học sinh trong vệ sinh hàng ngày, đổ rác
thải đúng nơi quy định.
- Tác động của cây xanh tạo được mơi trường “xanh- sạch- đẹp”.Tạo được
khơng khí thống mát, có bóng râm mát, cản bụi do tác động của các phương
tiện xe cơ giới, tạo lượng ôxy cho con người
- Mơn địa lí giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ cây xanh và trồng cây xanh
trong nhà trường ở gia đình và ngồi xã hội.
a.2- Mơi trường nước:
Hệ thống thốt nước (khơng tự động) khơng liên hồn nhưng không gây ách
tắc, không ứ đọng
Nước sử dụng: nước suối hợp vệ sinh, nước giếng đào, hay nước lọc để đảm
bảo vệ sinh sức khỏe học đường cho học sinh, mỗi học sinh đều được sử dụng
nguồn nước sạch hợp vệ sinh.
a.3 - Mơi trường đất, chất thải rắn:
Bón cây cảnh, không sử dụng phân hữu cơ tươi, không sử dụng phân hóa
học(thuốc trừ sâu).Chủ yếu dùng phân vi sinh hoặc dùng phân ủ hoai mục.
Xây dựng cơng trình vệ sinh cho học sinh đúng tiêu chuẩn quy tắc vệ sinh,
thường xuyên vệ sinh sạch sẽ.
7
Hàng tuần xử lý các hố rác được thu gom trong quá trình vệ sinh trong tuần
bằng biện pháp thu đốt.
Khu rác thải được bố trí đổ riêng ở một vị trí khác, phát động thường xuyên
phong trào vệ sinh trường lớp vệ sinh nơi công cộng; nhà trường phân cơng địa
điểm vị trí rõ ràng.
b- Giảng dạy:
b.1- Trên lớp:
- Thực trạng:
Như chúng ta đã biết Địa lí là một bộ môn khoa học xã hội và khoa học tự nhiên
thực nghiệm,nhiều khái niệm ta tưởng dễ dàng và đơn giản với học sinh. Nhưng
trong thực tế thì học sinh lại rất lúng túng, nhiều học sinh không thể nắm chắc
được các khái niệm cơ bản dẫn đến không vận dụng được kiến thức vào học tập
để nâng cao hiểu biết trao dồi kiến thức…
- Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
Trong năm học 2012 – 2013 tôi đã giảng dạy trực tiếp và kiểm tra đánh giá
khảo sát chất lượng của 02 lớp 12A và 12D kết quả như sau:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu kém
12A
47
10%
35%
51%
4%
12D
48
16%
30%
49%
5%
Qua kết quả trên tơi nhận thấy để học sinh học được bộ mơn và có hứng thú
tìm tịi, khám phá, chủ động trong học tập nâng cao nhận thức hiểu biết hơn về
môi trường tài nguyên của đất nước ta, việc giáo dục môi trường được gắn với
các bộ môn liên quan đưa vào ngành giáo dục:
- Địa lý
: 50%
- Sinh học: 30%
- Các môn khác : 20%
* Tích hợp kiến thức giáo dục mơi trường trong chương trình học mơn Địa lí lớp
10, 11 và lớp 12 THPT:
- Kiến thức về thành phần môi trường gồm khơng khí, nước, cây cối, đất
đai, động thực vật… học sinh có ý thức bảo vệ và được tuyên truyền giáo dục
nâng cao nhận thức đúng đắn toàn diện về vị trí, vai trị, ý nghĩa to lớn của giáo
dục môi trường và học sinh phải hiểu nếu những thành phần trên bị ơ nhiễm thì
cuộc sống của loài người sẽ kéo theo nhiều bất ổn, ảnh hưởng đến sức khỏe con
người liên quan đến việc xóa đói giảm nghèo. Trồng cây trên đất trống, đồi trọc
8
tăng thu nhập kinh tế cho nhân dân được lồng ghép trong các bài học địa lí ở lớp
10, 11 và lớp 12.
- Học sinh phải hiểu những thành phần của môi trường do thiên nhiên ban
tặng song không phải là vĩnh hằng tồn tại mà có lúc sẽ hết và cạn kiệt, nên phải
có ý thức tơn tạo, phục hồi và phát triển.
- Kiến thức về sử dụng tài nguyên: Hợp lý đúng khoa học tránh khai thác
bừa bãi ồ ạt, khai thác phải gắn liền với phần quy hoạch (trồng rừng, cải tạo đất,
giữ nguồn nước ngầm, chống xói mịn…).
- Giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
nhằm phát triển bền vững, chúng ta cần có những nhận thức đúng đắn về các vấn
đề này. Một môi trường trong lành hết sức cần thiết cho con người để sống và
phát triển bình thường. Sống trong mơi trường khơng khí ơ nhiễm mất cân bằng
sinh thái, con người và mọi sự sống trên trái đất sẽ dần dần bị hủy diệt. Học sinh
hiểu tài nguyên thiên nhiên nhiều nhưng không phải là vô tận. Ta cần khai thác
để phát triển kinh tế, song cần khai thác có quy hoạch, gắn kết với tái tạo tài
nguyên nhằm sự ổn định môi trường cho thế hệ mai sau. Các thế hệ tương lai rất
cần tài nguyên và họ có quyền được hưởng một mơi trường tốt đẹp như chúng ta.
Trong q trình sử dụng tài nguyên, chúng ta cần có ý thức tiết kiệm, khai thác
đúng mực, đúng cách và nên tận dụng nguyên liệu tái chế.
- Để bảo vệ môi trường, chỉ có nhận thức chưa đủ mà cịn phải có kiến thức.
Có kiến thức mới bảo vệ có hiệu quả: Ví như, rừng khơng chỉ cho gỗ mà rừng
cịn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước,ổn định cần bằng
khơng khí, cân bằng sinh thái…. ta mới khơng phá rừng, chặt gỗ bừa bãi; không
đốt nương làm rẫy tùy tiện làm cho núi trống, đồi trọc. Có hiểu bảo vệ đàn cá,
bảo vệ các loài động vật quý hiếm ta mới không săn bắn bừa bãi, không dùng
thuốc nổ, hố chất để đánh bắt cá, khơng làm ơ nhiễm sông, suối, ao, hồ v.v…
b.2- Giáo viên dạy ngoại khố:
- Giáo viên dạy mẫu
- Chọn bài có kiến thức mơi trường
*Phương pháp giảng dạy:
- Tích hợp lồng ghép giữa kiến thức bộ môn với kiến thức bảo vệ môi
trường một cách hài hịa.
- Tích hợp tổng hợp các nội dung quan trọng trong việc giáo dục cho học
sinh ý thức và trách nhiệm của mình với mơi trường mình đang sống, sử dụng
nó.
- Qua các giờ dạy đó có nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm cụ thể.
9
b.3-Học sinh hoạt động ngoại khóa:
- Học sinh được tham gia cắm trại, thăm khu di tích lịch sử, thăm các cơng
trình vui chơi giải trí.
- Mời các chun gia môi trường trong huyện về trao đổi và hướng dẫn
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về mơi trường.
3-Những việc chưa làm được:
- Công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức rất hạn chế trên địa bàn vì nhà
học sinh ở theo các xã khác nhau trong huyện và theo cụm rải rác khơng tập
trung.
- Việc bố trí cho học sinh tham gia vệ sinh nơi cơng cộng cịn q ít, các
chun gia về mơi trường hầu như khơng có để mời nói chuyện.
- Quy hoạch của nhà trường chưa hợp lý về các cơng trình vệ sinh do đó
việc bảo vệ mơi trường khi giáo dục cho học sinh gặp nhiều khó khăn.
- Chưa cho các em tham quan những nơi có tác động xấu như khí thải của
nhà máy, nước thải của các khu công nghiệp, bãi rác lớn của khu đông dân
cư…….
4- Những kinh nghiệm giáo dục bảo vệ môi trường
- Hoạt động dạy học bảo vệ mơi trường được tích hợp đưa vào kế hoạch từ
đầu năm học thông qua bộ môn và hội nghị của tổ chun mơn.
- Thơng qua việc tích hợp vào giảng dạy mơn Địa lí, qua đồn thanh niên,
qua các đợt phát động thi đua đã giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường và
qua các buổi sinh hoạt của giáo viên chủ nhiệm đã lồng ghép sinh hoạt theo chủ
điểm.
- Liên hệ bàn bạc với địa phương các ý kiến đề xuất kịp thời.
C - KẾT LUẬN;
1- Kết quả nghiên cứu:
Qua giảng dạy bộ mơn Địa lí từ năm học 1996 – 1997 đến nay, nhất là
những năm gần đây tơi đã chú trọng bài giảng, tìm tịi, học hỏi… hướng dẫn học
sinh học tập hứng thú.có nhiều kiến thức trong cuộc sống. Đây là bước cải tiến
và đã có kết quả nhất định qua q trình học tập của học sinh. Cụ thể với đối
chứng sau:
Đối chứng
10
• Năm học: 2012 – 2013 tôi được phân công giảng dạy 2 lớp 12E và 12M
lúc này đã đổi mới giáo dục, bộ môn cũng tiến hành đồng thời cải cách,
đổi mớicăn bản và tồn diện. Tơi đã vận dụng theo chỉ đạo của chuyên
môn và thu được kết quả theo bảng số liệu sau:
Lớp
Sĩ số
Điểm Giỏi
Điểm khá
Điểm TB
Điểm yếu kém
12A
47
10%
35%
51%
4%
12D
48
16%
30%
49%
5%
Với kết quả trên tôi nhận thấy kết quả giảng dạy chưa cao chưa hiệu quả,
học sinh đạt điểm khá, giỏi cịn q ít và yếu kém cịn nhiều. Vì vậy để học
sinh đạt điểm cao và u thích mơn Địa lí, bản thân tơi phải làm gì? Tơi tự
đặt câu hỏi và trăn trở tự tìm hướng giải quyết kể cả tham khảo các đồng
nghiệp nhiều kinh nghiệm, cũng như rút kinh nghiệm qua các đợt tập huấn,
chấm thi, bản thân nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. Giáo dục môi
trường trong các trường học cần phát triển hơn nữa xứng đáng với tầm cao
chiến lược của đất nước ta là đào tạo con người phát triển tồn diện, vì học
sinh các trường THPT là những học sinh là con em địa phương ý thức về vệ
sinh mơi trường cịn hạn chế. ý thức tự giác của các em chưa cao, nhận thức
còn hạn chế, nên để nâng cao dần nhận thức và giáo dục các em ý thức bảo
vệ môi trường phải đi từ những việc làm rất nhỏ, rất cụ thể từ biết giữ gìn vệ
sinh chung, biết thu gom rác; bỏ vào nơi quy định, biết chăm sóc bảo vệ cây
xanh… chắc chắn cùng với sự lớn dần của các em sẽ ý thức ngày càng rõ về
môi trường và biết tham gia bảo vệ mơi trường.
• Năm học 2013 – 2014:
Tơi tiếp tục giảng dạy bộ mơn Địa Lí ở 2 lớp 12E và 12M. Với kiến thức và
kinh nghiệm sẵn có, với sự học hỏi đúc kết kinh nghiệm không ngừng qua cải
tiến phương pháp giảng dạy, tơi cịn mạnh dạn cải tiến cách dạy. Tôi nhận thấy
để đạt được kết quả cao trong giảng dạy cần phải hướng dẫn học sinh cách học,
tìm toì và khám phá về tri thức thực tế trong cuộc sống hàng ngày mà ta đang
phải gánh chịu hậu quả về môi trường…Tôi đã thử nghiệm giảng dạy ở 2 lớp
12E và 12M có kết quả cao hơn so với cách làm cũ là:
Qua kiểm tra học tập tổng kết năm học đạt như sau:
Lớp
Sĩ số
Điểm Giỏi
Điểm khá
Điểm TB
Điểm yếu kém
12E
50
37%
41%
21%
1%
11
12M
46
38%
42%
20%
0%
Qua kết quả trên tôi nhận thấy nếu trong giảng dạy mơn Địa lí tích hợp
giảng dạy lồng ghép mơi trường vào giảng dạy địa lí THPT thì kết quả sẽ cao
hơn, có chất lượng, cịn nếu khơng thường xun thì kết quả học tập của học sinh
sẽ thấp kém nhiếu hơn, ý thức về mọi vấn đề sẽ kém hơn…
Từ đó tơi ln chú trọng thực hiện và mạnh dạn trao đổi hướng dần học sinh
cách học, cách tìm tịi và khám phá,tơi trao đổi với học sinh chi tiết mọi vấn đề
dù nhỏ hoặc lớn trongquá trình học, để làm sao đó đạt kết quả cao nhất mà mình
có thể đạt được.
Với những cố gắng giảng dạy học sinh học tích hợp về mơi trường đạt mục tiêu
cao nhất về ý thức và trách nhiệm, theo kinh nghiệm của bản thân tôi, cuối năm
học nhiều học sinh đã đạt kết quả cao trong học tập và kết quả cao hơn chính là
các em có ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường: “ Xanh – Sạch – Đẹp ” khơng
chỉ đối với nước ta mà cịn cả tồn Thế Giới. Nhiều học sinh đat học sinh giỏi
cấp trường và cấp tỉnh:
1. Em Nguyễn Thị Mơ – 12M – Giải nhất trường
2. Đào Thị thủy - 12M – Giải nhì trường .V.V.v
2- KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT:
Bảo vệ mơi trường là trách nhiệm xã hội và là hành vi đạo đức, hai vấn đề
này gắn với nhau. Nếu môi trường trong lành tạo điều kiện để học sinh phát triển
toàn diện. Học sinh có thể phát huy mọi năng lực sáng tạo của mình, n tâm,
phấn khởi học tập cịn nếu mơi trường xung quanh ơ nhiễm và xấu nó ảnh hưởng
đến học sinh về mọi mặt, học sinh thấy chán trường dẫn đến các mặt giáo dục sẽ
hạn chế. Chính vì vậy nội dung giáo dục mơi trường do Bộ giáo dục đưa vào hệ
thống giáo dục quốc dân là rất đúng, kịp thời nhất là trong giai đoạn hiện nay
môi trường đang bị tàn phá bởi tốc độ đơ thị hố nhanh, sự tăng nhanh của các
khu cơng nghiệp...,sự thiếu ý thức của con khi tác động vào tự nhiên và sự biến
đổi bất thường của thiên nhiên.
*Kiến nghị với UBND các xã và thị trấn:
+ Địa phương cần có kế hoạch bố trí các bảo vệ cho các nhà trường để học
sinh khi trồng cây các em có ý thức bảo vệ khơng phá cây đã trồng
+ Các cơng trình vệ sinh cần có sự quan tâm và cải tạo, xây mới đảm bảo đủ
số lượng và chất lượng các cơng trình.
+ Vận động, tun truyền các ban, ngành, đồn thể và nhân dân có ý thức
bảo vệ môi trường. Không chặt phá rừng bừa bãi và có kế hoạch xây dựng khu
12
dân cư sạch, chuồng trại trâu bò hợp vệ sinh, có nơi đổ rác thải, nước thải, đảm
bảo cơng tác vệ sinh môi trường thường xuyên cho nhân dân nhất là xử lý các
chất thải vơ cơ khó tiêu.
*Kiến nghị với sở giáo dục:
+ Cần tăng cường kiểm tra đánh giá các trường thường xuyên về công tác
bảo vệ môi trường các trường học.
+ Coi công tác vệ sinh môi trường là một trong các điều kiện để đánh giá
xếp loại thi đua của các nhà trường trong năm học.
Qua thực tế tôi đã cố gắng trong việc giảng dạy địa Lí lồng ghép tích hợp
giáo dục mơi trường trong trường THPT đã có kết quả nhất định với các đối
tượng học sinh. Nên tơi đã mạnh dạn trình bày trước các đồng nghiệp.
Tuy nhiên trong nội dung trình bày, sự sắp xếp cách trình bày có nhiều thiếu
sót, có những ý chưa nổi bật hoặc cịn khó hiểu. Vậy tơi rất mong sự góp ý, phê
bình của đồng nghiệp và các bậc Cha, anh, chị, em.
Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm này là của tôi, nếu không phải tơi
xin hồn tồn chịu trách nhiệm.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Nga sơn, ngày 20 tháng 04 năm 2014
Người thực hiện
Hàn Thanh Hạnh
13