Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

THựC TRạNG BảO ĐảM TIềN VAY tại CHI NHáNH NGÂN HàNG CÔNG THƯƠNG THANH XUÂN.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (179.73 KB, 30 trang )

THựC TRạNG BảO ĐảM TIềN VAY tại CHI NHáNH NGÂN HàNG
CÔNG THƯƠNG THANH XUÂN.
2.1. khái quát hoạt động của chi nhánh.
2.1.1. Vài nét về chi nhánh.
Tháng 4-1997, chi nhánh ngân hàng công thơng Thanh Xuân đợc thành lập
trên cơ sở nâng cấp phòng giao dịch Thợng Đình thuộc chi nhánh ngân hàng công
thơng Đống Đa. Sau 2 năm hoạt động, đến ngày 20-2-1999, chi nhánh đợc tách ra
và chính thức trở thành đơn vị thành viên trực thuộc ngân hàng công thơng Việt
Nam theo Quyết định 13/QĐ-HĐQT/NHCT1 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị
ngân hàng công thơng Việt Nam.
Là một tổ chức tín dụng, chi nhánh tiến hành thực hiện hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng theo quy định của điều lệ về tổ chức và hoạt
động của ngân hàng công thơng Việt Nam, cụ thể nh sau:
- Huy động vốn.
- Cho vay.
- Thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng.
- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong nớc và quốc tế.
- Thực hiện dịch vụ đại lý, uỷ thác, quản lý nguồn vốn đầu t cho các dự
án theo yêu cầu của khách hàng.
- Thực hiện các nghiệp vụ mua bán, chuyển đổi ngoại tệ và các dịch vụ
ngân hàng đối ngoại khác theo quy định của Tổng giám đốc ngân hàng công th-
ơng Việt Nam.
- Làm các dịch vụ cất giữ, bảo quản và quản lý các giấy tờ có giá và các
tài sản quý khác của khách hàng.
Ngoài ra, khi có sự chấp thuận của Tổng giám đốc ngân hàng công thơng
Việt Nam, chi nhánh còn tiến hành các hoạt động sau:
+ Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu trong nớc
và quốc tế.
+ Đầu mối đồng tài trợ các dự án đầu t.
+ Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh cho các tổ chức, cá
nhân ngoài nớc trừ trờng hợp bảo lãnh đối ứng cho các doanh nghiệp nớc ngoài


tham gia dự thầu.
+ Đầu t dới các hình thức đầu t khác ra ngoài ngân hàng công thơng.
+ Thực hiện các hoạt động khác thuộc thẩm quyền.
2.1.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
Tổng kết tình hình hoạt động của chi nhánh
Đến ngày 31/12.2002, kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh nh sau:
- Tổng thu nhập 67.433 triệu đồng, tăng 7.227 triệu đồng so với cùng kỳ
năm trớc .
- Lợi nhuận 10.818 triệu đồng, tăng 3.298 triệu đồng so với năm 2001.
- Tiền lơng bình quân năm 2002: 1.352 ngàn đồng/ ngời.
- Thu nhập bình quân năm 2002: 1.548 ngàn đồng/ ngời.
Thực trạng các mặt hoạt động.
2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn.
Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua các năm.
(đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Huy động vốn
- VNĐ
- Ngoại tệ
659.089
452.667
206.422
749.650
487.011
262.639
1.166.940
819.546
347.394
Tiền gửi dân c
- Tiền gửi tiết kiệm

454.997
454.997
621.168
601.840
817.009
704.183
- Tiền gửi kỳ phiếu
- Tiền gửi trái phiếu
0
0
19.328
0
68.296
44.530
Tiền gửi tổ chức kinh tế 204.092 128.482 349.931
(Nguồn: Báo cáo hoạt động huy động vốn ngân hàng công thơng T. Xuân)
Nh vậy, năm 2002 ngân hàng đã đa dạng hoá các hình thức huy động vốn
hơn so với những năm trớc:
- Huy động kỳ phiếu đạt 68.296 triệu đồng, tăng 48.967 triệu đồng, chiếm
tỷ trọng 5,98% tổng nguồn vốn huy động.
- Huy động trái phiếu đạt 44.530 triệu đồng.
Điều này đã chứng minh rằng khả năng kinh doanh và uy tín của ngân hàng
đợc tăng lên rất nhiều so với các năm trớc.
Mức tăng trởng nguồn vốn huy động năm 2002 đã đạt và vợt chỉ tiêu của
NHCTVN giao. Cũng trong năm 2002 có thời kỳ lãi suất huy động của NHCT
thấp hơn so với lãi suất của một số ngân hàng khác nhng nguồn huy động của
chi nhánh vẫn tăng trởng ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đầu t tín dụng cho các
doanh nghiệp. Tiếp tục mở rộng mạng lới huy động tiết kiệm đến các địa bàn
dân c trong quận Thanh Xuân. Năm 2001, chi nhánh đã khai trơng 2 quỹ tiết
kiệm (số 78 và 79), năm 2002 khai trơng thêm 3 quỹ tiết kiệm (số 80, 81 và 82)

đa tổng số quỹ tiết kiệm của chi nhánh lên 13 quỹ, đáp ứng nhu cầu gửi tiền
của nhân dân trong quận Thanh Xuân. Từng bớc hiện đại hoá công nghệ, trong
năm chi nhánh đã chuyển 3 quỹ tiết kiệm sang giao dịch tức thời (số 31, 44,
47), rút ngắn thời gian giao dịch, chính xác trong thanh toán, tạo niềm tin đối
với khách hàng đến giao dịch; từng bớc cải thiện công nghệ trong giao dịch,
thực hiện văn minh trong hoạt động ngân hàng. Có thể nói, trong công tác huy
động vốn, mặc dù không tạo cho mình u thế về mặt lãi suất huy động song do
thờng xuyên coi trọng chất lợng dịch vụ kết hợp tốt chính sách khách hàng nên
nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng đều, đảm bảo cân đối vốn, tạo thế chủ
động cho hoạt động kinh doanh.
Công tác quản lý tiền gửi dân c đợc chi nhánh thực hiện thờng xuyên,
nghiêm túc thông qua công tác kiểm tra dới nhiều hình thức. Qua đó đã khắc
phục đợc những sai sót, đảm bảo an toàn tuyệt đối nguồn tiền gửi dân c và các
giấy tờ in quan trọng, nâng cao uy tín của NH đối với khách hàng.
2.1.2.2. Hoạt động kinh doanh đối ngoại.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ năm 2002 gặp rất nhiều khó khăn: nguồn
ngoại tệ khan hiếm, tỷ giá các loại ngoại tệ, đặc biệt là đô la Mỹ thay đổi với biên
độ lớn, cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt. Do đó mục tiêu kinh
doanh ngoại tệ nhằm mục đích đa dạng hoá nghiệp vụ kinh doanh, quan trọng hơn
là tăng trởng d nợ, giữ vững và củng cố quan hệ kinh doanh giữa ngân hàng và
khách hàng, không hoàn toàn lấy lãi kinh doanh làm tiêu chí mà vì hiệu quả
chung của cả chi nhánh. Doanh số mua ngoại tệ năm 2002 đạt 52.980.241 USD và
nhiều loại ngoại tệ khác nh EUR, HKD... tăng gấp 2 lần so với 2001. Doanh số
bán ra 53.832.480 USD, tăng 3.647.368 USD so với năm 2001.
Nghiệp vụ mở và thanh toán L/C nhập khẩu: năm 2002 phát hành 154 L/C
trị giá 30.867.593 USD và ngoại tệ khác quy đổi, bằng 255,3% so với năm 2001,
số món bằng 157% so với năm 2001, giá trị thanh toán 17.699.000 USD và ngoại
tệ khác quy đổi, bằng 148,14% so với năm 2001.
Năm 2002 ngân hàng thực hiện nhờ thu 45 món so với 29 món năm 2001
trị giá 668.946 USD so với 321.755 USD năm 2001. Nh vậy số món tăng gấp rỡi

và giá trị tăng gấp đôi.
Chuyển tiền đi nớc ngoài năm 2002 là 240 món, trị giá 868.220 USD.
Chi trả kiều hối năm 2002 đạt 232 món trị giá 2.486.000 USD, năm 2001
là 145 món trị giá 2.315.933 USD.
Có thể nhận thấy trong những năm gần đây, ngân hàng đã tăng dần các ph-
ơng thức thanh toán quốc tế khác làm tăng thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng.
Điều đó cũng chứng tỏ ngân hàng đang hoà nhập với quốc tế và niềm tin của
khách hàng dành cho ngân hàng ngày càng cao.
Công tác t vấn, hớng dẫn khách hàng áp dụng và thực hiện các phơng tiện
thanh toán thơng mại quốc tế có lợi cho khách hàng và an toàn vốn đợc chi nhánh
đặc biệt quan tâm.
Công tác thanh toán quốc tế không ngừng đợc nâng cao, kiểm tra các bộ
chứng từ nhanh chóng, chính xác, thờng xuyên t vấn tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng, phong các giao dịch văn minh lịch sự.
2.1.2.3. Công tác kế toán tài chính.
Với công nghệ hiện đại, phong cách giao dịch tận tình, trong năm 2002 số
lợng khách hàng đến giao dịch và chuyển tiền tăng 426 khách hàng so với năm
2001, khối lợng luân chuyển qua ngân hàng 21.643.145 triệu đồng, tăng
3.384.333 triệu đồng so với năm 2001, tơng đơng 119.45%.
Công tác kế toán tài chính chấp hành tốt chế độ, pháp lệnh kế toán quy
định; đảm bảo kịp thời, chính xác, trung thực, việc ghi chép kế toán hợp lệ, hợp
pháp. Phối hợp với nghiệp vụ tín dụng thu nợ, thu lãi kịp thời, chính xác. Thực
hiện nghiêm túc các quy chế về quỹ, bảo đảm thanh toán và ký quỹ bắt buộc, tiết
kiệm chi tiêu theo nội dung và kế hoạch của ngân hàng cấp trên.
Công tác quyết toán năm hoàn thành tốt, các báo biểu kế toán thực hiện
báo cáo về ngân hàng công thơng Việt Nam trớc giờ quy định. Phong cách thái độ
tiếp khách đợc chú trọng nâng cao, do đó lợng khách hàng về giao dịch với chi
nhánh tăng 156 tài khoản so với năm 2001.
Công tác thông tin điện toán đã triển khai kịp thời chế độ hạch toán dự thu,
dự trả từ tháng 3/ 2001, triển khai chơng trình mới báo cáo tức thời về ngân hàng

Nhà nớc, thực hiện chơng trình chuyển đổi 12 loại ngoại tệ về đồng EUR. Đặc
biệt đã có sự nghiên cứu phối hợp giữa các phòng Kế toán tài chính Quản lý
tiền gửi dân c Kinh doanh giúp khách hàng giao dịch tiện lợi hơn.
2.1.2.4. Hoạt động tín dụng.
Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn qua các năm.
Chỉ tiêu Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
Tổng các khoản đầu t, cho
vay
- VNĐ
- Ngoại tệ
Tổng các khoản đầu t, cho
vay
- Đầu t trái phiếu Chính phủ
- Uỷ thác cho vay
- Cho vay nền kinh tế:
+ Cho vay trung, dài hạn
+ Cho vay ngắn hạn
- Cho vay nền kinh tế:
+ Cho vay ngoài quốc doanh
+ Cho vay quốc doanh
436.115
382.672
53.443
436.115
5.532

0
430583
77.608
352.975
430583
18.730
411.853
750.649
657.649
93.000
750.649
18
87.924
662.707
151.650
511.057
662.707
24.020
638.687
1.034.922
2
958.594
76.328
1.034.922
2
3.589
80.649
950.684
257.594
693.090

950.684
72.515
878.169
(đơn vị: triệu đồng)
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh ngân hàng công thơng T.Xuân)
Các khoản đầu t và cho vay năm 2002 đã đạt đợc mục tiêu tăng trởng của
ngân hàng công thơng Việt Nam, vừa đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn phục vụ sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vừa đáp ứng yêu cầu đặt ra của ngân
hàng, hoà chung bớc tiến của cả nền kinh tế trong công cuộc công nghiệp hoá-
hiện đại hoá đất nớc.
Các khoản đầu t và cho vay năm 2002 tăng 284.273 triệu đồng so với năm
2001, tơng đơng 161.85%.
Trong đó:
- Các khoản đầu t đạt 80.684 triệu đồng, chủ yếu là uỷ thác cho vay
đối với Công ty tài chính công nghiệp tàu thuỷ, một dịch vụ mới lần đầu tiên đ-
ợc Ngân hàng Nhà nớc và ngân hàng công thơng Việt Nam cho phép chi nhánh
Thanh Xuân đợc thực hiện từ năm 2001. Thông qua Công ty tài chính công
nghiệp tàu thuỷ, ngân hàng đã đầu t đóng 2 con tàu 6.300 tấn và một tàu 11.500
tấn. Vốn vay thực sự đáp ứng kịp thời, hiệu quả góp phần nâng cao năng lực và
hiện đại hoá ngành vận tải biển Việt Nam theo đúng chủ trơng chỉ đạo đã đợc
Thủ tớng Chính phủ phê duyệt và yêu cầu triển khai khẩn trơng.
- Cho vay nền kinh tế đạt 950.684 triệu đồng, tăng 287.977 triệu đồng so
với năm 2001, tơng đơng 164,27%. Trong đó cho vay bằng VNĐ đạt 874.357
triệu đồng, chiếm tỷ trọng 91,86% tổng d nợ cho vay nền kinh tế, tăng 303.645
triệu đồng so với năm 2001, tơng đơng 134.82%.
+ Cho vay ngắn hạn đạt 693.090 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 72,9% tổng d
nợ cho vay nền kinh tế, tăng 182.033 triệu đồng so với năm 2001, tốc độ tăng
135,61%.
+ Cho vay trung và dài hạn 257.594 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 27,1% tổng
d nợ cho vay nền kinh tế, tăng 105.944 triệu đồng so với năm 2001, tơng đơng

169,85%.
Trong năm 2002, tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt, quyết liệt và
diễn ra từng ngày giữa các ngân hàng thơng mại về lãi suất cho vay, phí chuyển
tiền, nới lỏng điều kiện tín dụng nhằm lôi kéo khách hàng, tăng thị phần đầu t tín
dụng. Ngân hàng công thơng Thanh Xuân với nhiều biện pháp chủ động, đoán tr-
ớc thời cơ, linh hoạt trong việc vận dụng chính sách khách hàng đã giữ vững và
không ngừng tăng thị phần đầu t tín dụng, tập trung xử lý triệt để các khoản nợ
quá hạn khó đòi. Nợ khó đòi năm 2001 là 199 triệu VNĐ, đã giảm xuống nhiều
so với 1274 triệu VNĐ năm 2000 và 4267 triệu VNĐ năm 1999. Đến năm 2002
thì nợ khó đòi chỉ còn là 0.
Tỷ lệ nợ quá hạn năm 2000 là 0,29%, đến năm 2001 chỉ còn là 0,0265 trên
tổng d nợ và năm 2002 còn 0%. Điều này cũng có thể lý giải bởi ngân hàng mới
thành lập đợc 5 năm nên phát sinh nợ khó đòi còn ít, song cần phải nói ở đây
chính là khả năng giải quyết rất tốt các khoản nợ khó đòi phát sinh từ khi còn là
phòng giao dịch Thợng Đình thuộc chi nhánh Đống Đa. Với kết quả này, chi
nhánh đã dần khẳng định vị thế, uy tín, chứng tỏ sức cạnh tranh to lớn của mình
trên thơng trờng.
Công tác điều hành vốn kinh doanh luôn đợc quan tâm, định mức tồn tiền
gửi tại ngân hàng Nhà nớc vừa đủ nhu cầu thanh toán cho khách hàng, vừa đáp
ứng nhu cầu sử dụng vốn một cách triệt để, không để tình trạng thừa hoặc thiếu
vốn.
2.2. Thực trạng bảo đảm tiền vay tại chi nhánh ngân
hàng công thơng Thanh xuân.
2.2.1. Cơ sở pháp lý của bảo đảm tiền vay trong cho vay của chi nhánh.
Với đặc trng của một ngân hàng thơng mại, chi nhánh ngân hàng công th-
ơng Thanh Xuân cũng phải vận hành trong một môi trờng pháp lý chặt chẽ do các
cơ quan pháp quyền của Nhà nớc đặt ra. Mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam đ-
ợc hình thành từ khá lâu nhng pháp luật về bảo đảm tiền vay vẫn còn khá trẻ. Điều
này cũng đợc lý giải bởi đòi hỏi của từng giai đoạn lịch sử. Trớc tháng 7/1989, với
đặc trng của một nền kinh tế còn nặng về bao cấp, các biện pháp bảo đảm tiền vay

cha đợc quy định. Hai pháp lệnh ngân hàng ra đời sau đó đã tạo cơ sở pháp lý cho
ngân hàng thu hồi nợ.
Chi nhánh ngân hàng công thơng Thanh Xuân chính thức thành lập từ ngày
20/2/1999. Giai đoạn này công tác bảo đảm tiền vay chịu sự điều chỉnh trực tiếp
của Nghị định 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và
Thông t số 06/TT-NHNN1 ngày 04/4/2000 của Ngân hàng Nhà nớc hớng dẫn thực
hiện nghị định 178/1999/NĐ-CP. Đây có thể nói là trọng tâm của các văn bản
pháp luật liên quan đến bảo đảm tiền vay hiện nay.
Nghị định 178/1999/NĐ-CP đợc Thủ tớng Chính phủ ban hành ngày
29/12/1999, gồm 7 chơng, 39 điều về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
Đây là một văn bản pháp luật rất quan trọng nhằm thực hiện các quy định của
Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật dân sự, Luật đất đai và các văn bản pháp luât
khác có liên quan. Sau một thời gian thực hiện đã bộc lộ những điểm cha phù hợp
với thực tế nên Chính phủ đã bổ sung một số giải pháp về bảo đảm tiền vay tại
Nghị quyết số 11/2000/NQ-CP ngày 31/7/2000 trong đó quy định về thế chấp giá
trị quyền sử dụng đất của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
Nghị định 178/1999/NĐ-CP và các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay
đợc ban hành trong năm 2000, 2001, 2002 là bớc đổi mới căn bản so với trớc đây,
thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, tạo hành lang pháp
lý cho hoạt động của ngân hàng. Theo đó các biện pháp bảo đảm tiền vay đợc quy
định phù hợp với điều kiện thực tế đầu t, sản xuất kinh doanh và đời sống trong n-
ớc, tiếp cận thông lệ quốc tế; quyền chủ động của các tổ chức tín dụng và trách
nhiệm của khách hàng vay trong giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm đợc
quy định cụ thể, tạo điều kiện cho việc mở rộng tín dụng an toàn, hiêu quả.
Tuy nhiên, một thực tế là hiện nay có một số văn bản quy phạm pháp luật
đợc các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền ban hành, thậm chí kể cả các Bộ luật, sau
một thời gian thực hiện cần phải bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế. Nghị
định 178/1999/NĐ-CP cũng không nằm ngoài thực tế đó. Việc tổ chức thực hiện
cha có sự đồng bộ, cha có sự trao quyền chủ động và sự tự chịu trách nhiệm cao
cho các tổ chức tín dụng, một số quy định về bảo đảm tiền vay cha phù hợp với

điều kiện thực tế. Hơn thế nữa, thời gian gần đây các cơ quan Nhà nớc có thẩm
quyền ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật, ký kết hiệp định quốc tế,
trong đó có quy định liên quan đến bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng cần
đợc bổ sung vào Nghị định 178/1999/NĐ-CP nh: Luật sửa đổi bổ sung một số
điều của Luật đầu t nớc ngoài tại Việt nam, Hiệp định thơng mại Việt- Mỹ
Trong thời gian sắp tới, có thể Nghị định 178/1999/NĐ-CP sẽ đợc thay thế
bởi một văn bản quy phạm pháp luật mới. Nhng cho đến nay chúng ta có thể thấy
đợc những u điểm của Nghi định này đã phát huy tác dụng và đã thực sự trở thành
cơ sở cho việc thực hiện công tác bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thơng mại
nói chung, ngân hàng công thơng Thanh Xuân nói riêng.
2.2.2. Thực trạng các loại bảo đảm tiền vay của khách hàng.
2.2.3.1. Các khoản vay có tài sản bảo đảm.
Để thực hiện đợc trọn vẹn nguyên tắc hoàn trả, ngoài việc thẩm định dự án,
thẩm định khách hàng một cách chặt chẽ, xây dựng quy trình cho vay khoa học,
ngân hàng còn chú trọng áp dụng các biện pháp phòng ngừa, trong đó cho vay có
bảo đảm bằng tài sản đợc xem là một yếu tố quan trọng.
Xét về mặt lý thuyết, biện pháp này là an toàn trong hoạt động cho vay bởi
ngoài nguồn thu có đợc do kết quả của dự án mang lại, trong một số trờng hợp,
khoản vay còn đợc bảo đảm bằng các tài sản dới hình thức thế chấp, cầm cố hoặc
bảo lãnh bằng tài sản của ngời thứ ba. Ngân hàng có quyền đem bán, chuyển nh-
ợng các tài sản này trên thị trờng để thu hồi lại tiền cho vay nếu ngời vay không
trả nợ đúng hạn. Trên thực tế, trong những năm gần đây, khi tài sản và vốn tích
luỹ từ nội bộ doanh nghiệp và hộ gia đình thấp, hoạt động của thị trờng bất động
sản có nhiều biến động gây khó khăn cho công tác bảo đảm bằng tài sản của ngân
hàng, các định chế pháp lý về quyền sở hữu đang từng bớc đợc hoàn thiện và cha
đợc triển khai trên diện rộng, thì việc phòng ngừa nói trên không còn phát huy
hiệu quả nh mong muốn thậm chí còn gây tác động không tốt.
Trong quá trình đó, việc ra đời của một loạt các văn bản về bảo đảm tiền
vay đã từng bớc phá bỏ những rào cản, tạo điều kiện để đề cao tính tự chủ, tự
quyết định, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng công thơng

Thanh Xuân trong quá trình thực hiện công tác bảo đảm tiền vay do đó cũng gặp
nhiều thuận lợi song cũng vấp phải một số khó khăn nhất định xét trên quan điểm
bảo đảm tiền vay.
Hiện nay chi nhánh đang áp dụng cả 4 biện pháp bảo đảm bằng tài sản
theo quy định của Nghị định 178/1999/NĐ-CP là cầm cố, thế chấp, bảo
lãnh bằng tài sản của ngời thứ ba và bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Theo quy định hiện nay quyền chủ động có áp dụng bảo đảm bằng tài sản
hay không là thuộc về ngân hàng. Chi nhánh đã chủ động áp dụng bảo đảm bằng
tài sản đối với tất cả các khách hàng ngoài quốc doanh, ngoài ra chi nhánh cũng
áp dụng cả đối với một số doanh nghiệp quốc doanh khi cần thiết.
Có thể nói đối tợng khách hàng chủ yếu của chi nhánh là các doanh nghiệp
quốc doanh, bên cạnh đó ngân hàng cũng đang hớng tới đối tuợng khách hàng
tiềm năng là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đó cũng là xu thế phát triển tất
yếu của nền kinh tế thị trờng, điều này đợc thể hiện rõ qua mức cho vay ngày
càng tăng đối với các doanh nghiệp này.
Bảng 3: Tình hình cho vay phân theo các biện pháp bảo đảm bằng tài sản năm
2002:
Chỉ tiêu D nợ cho vay
Doanh số Tỷ trọng(%)
Tổng 164.619
Bảo đảm bằng tài sản của khách hàng 121.552 73,84
Bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba 4.127 2,51
Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ
vốn vay
38.940 23,65
(đơn vị: triệu đồng)
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh ngân hàng công thơng T. Xuân)
(Các khoản cho vay trên đều là những khoản vay trên 50 triệu đồng).
Nh vậy trong cho vay có bảo đảm bằng tài sản thì cho vay có bảo đảm
bằng tài sản của chính khách hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn cả. Đây là điều dễ

hiểu và có thể đợc lý giải nh sau:
Thứ nhất: Các biện pháp cầm cố, thế chấp tỏ ra thông dụng hơn cả. ở Việt
Nam, cầm cố, thế chấp đã tồn tại từ rất lâu trong các giao dịch kinh tế và dân sự.
Chính vì vậy mà thế chấp và cầm cố tỏ ra gần gũi hơn với các chủ thể kinh tế, đặc
biệt trong quan hệ đi vay với ngân hàng. Mặt khác, cũng đã có các quy định từ lâu
về thế chấp và cầm cố, còn bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay mới chỉ đ-
ợc quy định cụ thể, rõ ràng hơn kể từ Nghị định 178- NĐ/CP.
Thứ hai: Sự phát triển tất yếu của nền kinh tế.
Hiện nay Nhà nớc hầu nh không còn bao cấp hay chỉ định đối với ngân
hàng phải cho vay nh trớc kia nữa, do đó ngân hàng hoàn toàn có thể lựa chọn
biện pháp bảo đảm. Đối với các doanh nghiệp quốc doanh thì cầm cố và thế chấp
đã trở nên rất phổ biến do yếu tố lịch sử để lại. Còn đối với các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh thì tài sản của họ thờng là đất đai, máy móc thiết bị, nhà xởng,

×