BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
HOÀNG TRUNG TIẾN
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNHDỰ PHÒNG TỔN
THƯƠNG NGHỀ NGHIỆP DO VẬT SẮC NHỌN CỦA ĐIỀU
DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LÂM ĐỒNG
NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
HOÀNG TRUNG TIẾN
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNHDỰ PHÒNG
TỔN THƯƠNG NGHỀ NGHIỆP DO VẬT SẮC NHỌN CỦA
ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LÂM ĐỒNG
NĂM 2019
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ MINH SINH
NAM ĐỊNH – 2019
i
TĨM TẮT
Nghiên cứu mơ tả cắt ngang này được tiến hành trên 149 điều dưỡng đang
thực hiện chăm sóc người bệnh tại 11 khoa lâm sàng của bệnh viện Đa khoa tỉnh
Lâm Đồng năm 2019, nhằm mô tả kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng tổn
thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến
thức, thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn. Kết quả cho
thầy: Về kiến thức,có 80.5% điều dưỡng đạt kiến thức vềTTNN do VSN. Tuy
nhiên, chỉ 20.8 % biết cả 6 nguyên nhân dẫn đến TTNN do VSN, 29.5% điều dưỡng
cho rằng TTNN do VSN có thể ngăn ngừa hồn tồn và 39.6% biết mức chứa tối đa
của thùng đựng VSN là ¾, 45% biết được các bước xử lý khi bịTTNN do VSN và
35.6% biết thời gian tốt nhất để bắt đầu điều trị HIV. Về thái độ, đa số điều dưỡng
đã có thái độ tích cực vềTTNN do VSN, một số rào cản ảnh hưởng đến thực hành
như: có 59.8% điều dưỡng cho rằng thiếu dụng cụ và thiết bị an tồn, xấp xỉ 40%
cho rằng q tải cơng việc, 57% điều dưỡng cho rằng thiếu nhân sự ảnh hưởng đến
thực hành của họ. Về thực hành, chỉ có 36.9% điều dưỡng thực hành đạt 13/13 tiêu
chí. Bên cạnh đó, một số thực hành còn đạt ở mức thấp như chỉ có 45.6% điều
dưỡng dùng bơng, gạc để bẻ ống thủy tinh, 41.6% mang găng khi tiêm và còn
30.2% dùng hai tay đóng nắp sau tiêm.Nghiên cứu đã tìm ra mối liên quan giữa
kiến thức với với nhóm tuổi (p = 0.031), trình độ chun mơn (p = 0.005) và số lần
đào tạo (p < 0.001). Và một số mối liên quan giữa thực hành với giới tính (p =
0.007), kinh nghiệm làm việc (p = 0.018), số lần đào tạo (p < 0.001) và kiến thức (p
= 0.01).Nghiên cứu này chỉ thực hiện tại một bệnh viện cấp tỉnh với cỡ mẫu còn bé
và còn sai số nên các nghiên cứu sau về chủ đề này với cỡ mẫu lớn hơn sẽ đưa ra
được kết quả chính xác hơn.
Từ khóa: Điều dưỡng, tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn, kiến thức,
thái độ, thực hành.
ii
LỜI CẢM ƠN
Với lịng biết ơn sâu sắc, tơi xin gửi lời chân thành cảm ơn tớiBan giám hiệu,
Phòng đào tạo sau đại học và quý thầy, cô Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
đã hết lòng truyền đạt kiến thức, hỗ trợ và giúp đỡ tơi trong q trình học tập,
nghiên cứu tại trường.
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đỗ Minh Sinh, người thầy đã
tận tình dìu dắt, giúp đỡ và dành nhiều thời gian giúp tơi trong suốt q trình nghiên
cứu và hồn thành luận văn cao học.
Tơi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các anh chị Điều dưỡng viên tại
bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng đã giúp đỡ tơi trong q trình thu thập số liệu tại
q bệnh viện.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban lãnh đạo và các giảng viên
khoa Điều dưỡng trường Đại học Yersin Đà Lạt đã tạo điều kiện và hỗ trợ tơi trong
suốt khóa học này.
Cuối cùng, tơi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tơi trong
suốt q trình học tập và nghiên cứu của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Nam Định, ngày 22 tháng 10 năm 2019
Tác giả
Hoảng Trung Tiến
iii
CAM ĐOAN
Tơi là Hồng Trung Tiến, học viên lớp Cao học Khóa IV, trường Đại học
Điều dưỡng Nam Định. Tơi xin cam đoan:
Đây là nghiên cứu do chính tơi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ
Minh Sinh.
Công trình nghiên cứu này khơng trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác
đã được công bố ở Việt Nam và trên thế giới. Các số liệu và thông tin trong nghiên
cứu là trung thực và khách quan. Đã được sự đồng ý thu thập số liệu và xác nhận
của cơ sở nơi mà tôi thực hiện nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này.
Nam Định, ngày 22 tháng 10 năm 2019
Tác giả
Hoàng Trung Tiến
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Tóm tắt .....................................................................................................................i
Lời cảm ơn ..............................................................................................................ii
Cam đoan .............................................................................................................. iii
Mục lục ....................................................................................................................i
Danh mục từ viết tắt ............................................................................................... iv
Danh mục bảng ....................................................................................................... v
Danh mục biểu đồ................................................................................................... vi
Đặt vấn đề ............................................................................................................... 1
Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................ 3
Chương 1: Tổng quan tài liệu .................................................................................. 4
1.1. Tổng quan về vật sắc nhọn và phơi nhiễm với vật sắc nhọn .......................... 4
1.2. Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến dự
phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn ................................................. 17
1.3. Khung nghiên cứu....................................................................................... 24
1.4. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu................................................................. 25
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu ................................................ 26
2.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................. 26
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ............................................................... 26
2.3. Thiết kế nghiên cứu .................................................................................... 26
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ............................................................. 26
2.5. Bộ công cụ và phương pháp thu thập số liệu ............................................... 27
2.6. Các biến số nghiên cứu (chi tiết xem ở phụ lục 2) ....................................... 29
2.7. Khái niệm, tiêu chí và thang điểm đánh giá................................................. 30
2.8. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu .............................................................. 31
2.9. Đạo đức trong nghiên cứu ........................................................................... 32
2.10. Hạn chế, sai số và biện pháp khắc phục .................................................... 32
Chương 3: Kết quả nghiên cứu .............................................................................. 34
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ................................................... 34
3.2. Kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng về dự phòng tổn thương nghề
nghiệp do vật sắc nhọn ...................................................................................... 35
3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của điều dưỡng về dự
phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn ................................................. 48
Chương 4: Bàn luận ............................................................................................... 51
4.1. Kiến thức về tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn của điều dưỡng........ 51
4.2. Thái độ về dự phòng tổn thương nghề nghiệp do VSN của điều dưỡng ....... 55
4.3. Thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn của điều
dưỡng ................................................................................................................ 58
4.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành dự phòng tổn thương nghề
nghiệp do vật sắc nhọn ...................................................................................... 62
Kết luận ................................................................................................................. 67
Khuyến nghị .......................................................................................................... 69
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1: Thang điểm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng tổn
thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn.
Phụ lục 2: Những biến số nghiên cứu
Phụ lục 3: Bộ công cụ
Phụ lục 4: Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu
Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CDC
Trung tâm Kiểm sốt và Phịng ngừa Bệnh tật
HBM
Mơ hình niềm tin sức khỏe
HBV
Vi-rút viêm gan B
HCV
Vi-rút viêm gan C
HIV
Vi-rút gây suy giảm miễn dịch ở người mắc phải
NVYT
Nhân viên y tế
TTNN
Tổn thương nghề nghiệp
VSN
Vật sắc nhọn
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của điều dưỡng ............................................................ 34
Bảng 3.2: Kiến thức đúng về các yếu tố nguy cơ dẫn đến TTNN do VSN ............. 35
Bảng 3.3: Kiến thức về hậu quả của TTNN do VSN .............................................. 36
Bảng 3.4: Kiến thức về các biện pháp dự phòng TTNN do VSN ........................... 36
Bảng 3.5: Kiến thức về cách xử trí khi bị TTNN do VSN ...................................... 39
Bảng 3.6: Tổng hợp kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về TTNN do VSN . 40
Bảng 3.7: Thái độ của điều dưỡng về mức độ nguy hiểm của TTNN do VSN ....... 42
Bảng 3.8: Thái độ của điều dưỡng trong tính nhảy cảm về TTNN do VSN ............ 43
Bảng 3.9: Thái độ của điều dưỡng về tầm quan trọng của các biện pháp dự phòng
TTNN do VSN ...................................................................................................... 44
Bảng 3.10: Thái độ về rào cản để thực hiện các biện pháp dự phòng TTNN do VSN
.............................................................................................................................. 45
Bảng 3.11: Thực hành dự phịng TTNN do VSN ................................................... 46
Bảng 3.12: Mơ hình hồi qui tuyến tính đa biến với biến phụ thuộc là kiến thức ..... 48
Bảng 3.13: Một số yếu tố liên quan đến thực hành dự phòng TTNN do VSN (Kiểm
định Khi bình phương) .......................................................................................... 49
vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu ................................................................................ 24
Biểu đồ 3.1: Đánh giá kiến thức về TTNN do VSN ............................................... 41
Biểu đồ 3.2: Đánh giá kết quả thực hành dự phòng TTNN do VSN của điều dưỡng
.............................................................................................................................. 47
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiệm vụ quan trọng của điều dưỡng là thực hiện chăm sóc thể chất và tinh
thần nguời bệnh, phối hợp và thực hiện y lệnh của bác sĩ, thực hiện các kỹ thuật điều
dưỡng, tư vấn, giáo dục sức khỏe, đảm bảo an toàn người bệnh và một số cơng việc
chun mơn khác nhằm phục vụ q trình chăm sóc sức khỏe cho người bệnh[1].
Trong q trình chăm sóc người bệnh, điều dưỡng phải đối diện với nhiều nguy
cơ nghề nghiệp như: đau xương khớp nghề nghiệp, quá tải công việc và căng thẳng,
các bệnh truyền nhiễm lây lan qua đường máu, tiếp xúc với các hóa chất nguy hiểm và
tình trạng bạo lực tại các cơ sở y tế [51]. Trong đó, phơi nhiễm với các bệnh truyền
nhiễm qua đường máu liên quan đến TTNN do VSN đang là một vấn đề phổ biến và
gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng với nhân viên điều dưỡng.
Theo trung tâm phịng ngừa và kiểm sốt bệnh tật (CDC), ước tính có 385.000
TTNN do VSN liên quan đến nhân viên y tế tại bệnh viện ở Mỹ mỗi năm. Nó có thể
làm lây truyền hơn 20 bệnh truyền nhiễm, trong đó ba bệnh truyền nhiễm phổ biến
nhất là HBV, HCV và HIV[32], [33]. Theo một nghiên cứu phân tích tổng hợp các bài
báo của Cooke C.E và Stephens J.M (2017) cho thấy có14.9% - 69.4% số NVYT bị
TTNN do VSN với phạm vi rộng do sự khác biệt về quốc gia. NVYT có thể gặp các
ảnh hưởng nghiêm trọng về cảm xúc và rối loạn sức khỏe tâm thần sau khi gặp TTNN
do VSN, dẫn đến mất việc và căng thẳng. Trong năm 2015, chi phí trung bình của một
TTNN do VSN là $ 747[35].
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Dương Khánh Vân (2013) khảo sát tại một
số bệnh viện khu vực Hà Nội cho thấy tỷ lệ NVYT có TTNN do VSN gây ra trong 12
tháng là 66.5%[18]. Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Khuê (2015) cho thấy 51.5%
điều dưỡng từng bịTTNN do VSN trong vòng 6 tháng, 44.3% các trường hợp do VSN
đã bị nhiễm bẩn[7]. Và nghiên cứu của Phạm Ngọc Vinh và cộng sự (2018) cho thấy
có 57.1% điều dưỡng khối ngoại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ bịTTNN do VSN,
tần suất 2.9 ±1.7 lần/người/12 tháng[20].
2
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), có nhiều nguyên nhân đưa đến TTNN do
VSN như: lạm dụng mũi tiêm, thiếu vật tư, thiết bị, nhân sự không đáp ứng đủ, thiếu
kỹ năng, thiếu nhận thức và đào tạo[60]. Kiến thức, thái độ đúng về TTNN do VSN và
thực hành đúng an tồn về các biện pháp dự phịng được xem là một yếu tố quan trọng
giúp điều dưỡng giảm nguy cơ phơi nhiễm bệnh truyền nhiễm qua đường máu[41],
[45].
Có sự khác nhau về kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng TTNN do VSN ở
các cơ sở y tế trên thế giới và tại Việt Nam. Một số yếu tố liên quan được đề cập trong
các nghiên cứu chủ yếu là các đặc điểm nhân khẩu học là các yếu tố không thay đổi
được. Khoảng trống tri thức về việc vận dụng các mơ hình học thuyết hành vi để giải
thích cho hành vi của điều dưỡng trong các nghiên cứu vẫn còn tồn tại.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng là bệnh viện hạng II, trực thuộc Sở Y tế
Lâm Đồng. Bệnh viện có khoảng 590 giường bệnh, với 36 khoa/ phịng đơn vị chun
mơn và có gần 700 NVYT, trong đó có hơn 260 điều dưỡng tại các khoa,phịng lâm
sàng. Tuy nhiên thơng tin về kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng TTNN do vật
sắc nhọn của điều dưỡng tại bệnh viện còn thiếu hụt. Vậy, kiến thức, thái độ và thực
hành dự phòng TTNN do VSN của điều dưỡng tại bệnh viện hiện nay như thế nào? Có
những yếu tố nào ảnh hưởng đến vấn đề này? Đáp án của các câu hỏi trên có thể đánh
giá được quy mơ và ngun nhân của vấn đề, từ đó đưa ra được các giải pháp can thiệp
phù hợp. Với mục đích trên việc triển khai nghiên cứu này mang ý nghĩa cấp thiết và
có tính thực tiễn:
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc
nhọn của điều dưỡng bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2019.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành dự phòng tổn thương
nghề nghiệp do vật sắc nhọn của điều dưỡng bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm
2019.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về vật sắc nhọn và phơi nhiễm với vật sắc nhọn
1.1.1. Khái niệm và phân loại vật sắc nhọn
VSN là bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua da[2].
VSN bao gồm: các loại kim tiêm, kim luồn, kim bướm, kim chọc dò, kim châm
cứu thải bỏ; ống pipet, ống mao dẫn, ống xét nghiệm thủy tinh bị vỡ; lưỡi dao mổ, lưỡi
dao cạo dùng cho người bệnh; những VSN khác có dính máu, dịch sinh học người
bệnh[8].
1.1.2. Khái niệm về phơi nhiễm với vật sắc nhọn
Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết chất bài tiết
(trừ mồ hơi) có chứa tác nhân gây bệnh trong khi nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ
dẫn đến nguy cơ lây nhiễm bệnh[2].
TTNN do VSN là vết đâm xuyên thấu từ kim tiêm, dao mổ hoặc VSN khác có
thể dẫn đến tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể khác. TTNN do VSN thường là kết
quả của việc sử dụng thiết bị nguy hiểm trong mơi trường có nhịp độ nhanh, căng
thẳng và khơng được bảo vệ[34].
1.1.3 Yếu tố nguy cơ
Có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến rủi ro TTNN do VSN đó là:[60]
-
Lạm dụng thuốc tiêm và VSN khơng cần thiết;
-
Thiếu vật tư: ống tiêm dùng một lần, thiết bịan tồn hơn và hộp đựng VSN;
-
Thiếu tiếp cận và khơng sử dụng thùng chứa VSN ngay sau khi tiêm;
-
Thiếu thiết bị bảo vệ cá nhân, thiết bị an toàn và thùng xử lý vật sắc nhọn;
-
Nhân sự khơng đầy đủ;
-
Đóng nắp kim sau khi sử dụng;
-
Thiếu các điều khiển kỹ thuật như các thiết bị kim an toàn hơn;
-
Chuyển dụng cụ từ tay này sang tay khác trong quá trình thực hiện;
-
Thiếu nhận thức về mối nguy hiểm và thiếu đào tạo;
5
-
Phản ứng bất ngờ của bệnh nhân.
Theo WHO, ở các nước đang phát triển một số yếu tố góp phần gia tăng việc
lây truyền mầm bệnh bao gồm: tỷ lệ nhiễm cao hơn với các tác nhân gây bệnh trong
máu người bệnh; tiêm khơng cần thiết; tiêm chủng HBV cịn hạn chế ở NVYT; thiếu
kiểm soát kỹ thuật và thiếu thiết bị bảo hộ cá nhân; thực hành công việc khơng an
tồn, bao gồm quản lý chất thải sắc nhọn không đúng cách[58].
1.1.4. Thực trạng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn
1.1.4.1. Trên thế giới
Nhân viên y tế
Kết quả nghiên cứu của Musa S và cộng sự (2014) trên 48 bác sĩ, 132 điều
dưỡng/kỹ thuật viên và 30 nhân viên phụ trợ tại tại bệnh viện đa khoa ở Sarajevo,
Bosnia và Herzegovina cho thấy có 124 (63.3%) NVYT đã báo cáo phơi nhiễm với
máu và chất dịch cơ thể trong sự nghiệp của họ. Tổng cộng, TTNN do kim tiêm
(66.1%) là nguồn phơi nhiễm phổ biến nhất, tiếp theo là tiếp xúc với da nguyên vẹn
(12.1%) và cắt bằng VSN (11.3%)[50].
Theo nghiên cứu của Varsha P và cộng sự (2015) trên các chuyên gia nha khoa
của Bangalor, Ấn Độ cho thấy có 81.5% chuyên gia nha khoa đã được tiêm vắc-xin
chống viêm gan B. Tổng cộng có 27.5% người bị TTNN do VSN trong 12 tháng trước
đó. Khoảng 41.8% TTNN do VSN xảy ra trong q trình đóng nắp thiết bị, có 29.09%
khơng báo cáo sự cố vì nỗi sợ bị đổ lỗi hoặc gặp rắc rối khi báo cáo[57].
Một nghiên cứu của Bekele T và cộng sự (2015) trên 362 NVYT tại bệnh viện
ở vùng Bale, Đông Nam Ethiopia cho thấy gần 58.7% NVYT bị TTNN do VSN đã
không báo cáo cho cơ quan liên quan. Những lý do chính cho việc khơng báo cáo các
TTNN này là hạn chế về thời gian (35.1%), các VSN gây ra thương tích khơng được
sử dụng cho bất kỳ người bệnh nào (27.0%), người bệnh nguồn khơng có bệnh đáng lo
ngại (20.3%)[29].
Theo nghiên cứu của Dilie A, AmareD, Gualu T (2016) trên 193 NVYT ở vùng
Awi, bang Amhara, Tây Bắc Ethiopia cho thấy những NVYT thực hành bị căng thẳng
6
liên quan đến cơng việc lần lượt có nguy cơ phải đối mặt vớiTTNN do kim tiêm và
chấn thương mạnh gấp 21.3 và 7.3 lần [36].
Kết quả nghiên cứu về mức độ phổ biến của TTNN do kim tiêm của NVYT tại
một bệnh viện chăm sóc đại học của Assam của Jurimoni Gogoi và các cộng sự (2017)
cho thấy tỷ lệ TTNN do kim tiêm trong số các NVYT được tìm thấy là 21.1%[38].
Một nghiên cứu của Motaarefi H và cộng sự (2016) tiến hành phân tích các bài
báo liên quan đên TTNN do VSN được xuất bản từ tháng 1 năm 1998 đến tháng 5 năm
2015 chỉ ra rằng tỷ lệ bị TTNN do VSN cao nhất được thấy ở các điều dưỡng viên và
các yếu tố liên quan là tuổi tác, trình độ học vấn, số ca mỗi tháng và lịch sử đào tạo
liên quan. Tỷ lệ TTNN do VSN cao nhất có liên quan đến việc chuẩn bị dụng cụ, sau
đó tiêm và đóng nắp kim tiêm đã sử dụng [49].
Theo nghiên cứu của Cooke C.E và Stephens J.M (2017) thực hiện đánh giá các
bài báo liên quan đến TTNN do VSN cho thấy tỷ lệ TTNN do VSN ở NVYT là 14.9%
- 69.4% trong phạm vi rộng do sự khác biệt về quốc gia[35].
Nghiên cứu Sharew N.T và cộng sự (2017) trên 195 NVYT tại các bệnh viện
khu vực Ethiopia. Kết quả cho thấy tỷ lệTTNN do VSN là 32.8%. Không được đào tạo
nghề tại cơ sở có khả năng bịTTNN do VSN gấp 4.7 lần so với những người được đào
tạo tại cơ sở (p <0.001, OR = 4.7, 95% CI = 2.05-10.56)[54].
Kết quả nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp bài báo được
chọn được xuất bản từ năm 2003 đến năm 2016 của Ghanei Gheshlagh R và cộng sự
(2018) ở các bệnh viện Iran cho thấy tỷ lệ NVYT bịTTNN do VSN là 42.5%. Hơn
nữa, tỷ lệ bị TTNN do VSN nhiều hơn ở phụ nữ 47% so với nam giới 42% [39].
Một nghiên cứu của Akbari H và cộng sự (2018) tại 5 bệnh viện ở Tehran chỉ ra
rằng động lực an tồn và sự mệt mỏi đóng góp quan trọng nhất cho TTNN do VSN.
Thái độ của người giám sát đối với an toàn và giờ làm việc mỗi tuần là những yếu tố
quan trọng nhất trong danh mục khơng an tồn. Sự quản lý và phân bố nhân sự là yếu
tố quan trọng nhất ở cấp độ tổ chức ảnh hưởng đến việc TTNN do VSN[24].
Kết quả nghiên cứu của Joukar F và cộng sự (2018) trên 1010 NVYT cho thấy
có tới 580 người (57.42%) từng bịTTNN do VSN với tổng số lần là 914. Thiết bị chủ
7
yếu là kim tiêm chiếm 34.47%. TTNN do VSN xảy ra thường xun nhất trong q
trình đóng nắp kim và tiêm thuốc tương ứng là 37.10% và 16.10%. Chỉ 10.07% NVYT
báo cáo đến đơn vị kiểm soát nhiễm trùng của bệnh viện. Và lý do không báo cáo
TTNN do VSN là công việc quá bận rộn tại thời điểm bị thương (140; 27.58%)[44].
Điều dưỡng
Theo nghiên cứu của Honda M và cộng sự (2011) trên 250 điều dưỡng bệnh
viện khu vực Thái Lan. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc TTNN do VSN trong 12 tháng là
55.5%, trong đó có 91.1% là có máu. Thái độ được coi là yếu tố dự báo mạnh nhất của
TTNNdo VSN, người có thái độ tiêu cực đối với việc phòng ngừa TTNN do VSN có
khả năng có TTNN cao gấp gần hai lần so với những người có thái độ tích cực [41].
Kết quả nghiên cứu của Zhang X và cộng sự (2015) trên 402 điều dưỡng làm
việc tại một bệnh viện giảng dạy của Trung Quốc cho thấy có 261 (64.9%) điều dưỡng
bịTTNN do VSN, phổ biến hơn ở nữ giới, điều dưỡng trẻ, điều dưỡng phòng mổ. Tuổi
tác và bộ phận làm việc là các yếu tố rủi ro độc lập với tỷ lệ TTNN do VSN. Kim tiêm
chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả các TTNN do VSN (59%), tiếp theo là các vật phẩm
thủy tinh (22%) và dây lõi/ ống thông trocar (4%)[62].
Theo nghiên cứu của Jahangiri M và cộng sự (2016) trên 168 điều dưỡng tại
một bệnh viện đại học Shiraz, Iran cho thấy tỷ lệ TTNN do VSN trong tổng số năm
kinh nghiệm làm việc và trong vòng 1 năm lần lượt là 76% và 54%. Kim tiêm rỗng là
thiết bị phổ biến nhất liên quan đến TTNN(85.5%). Phần lớn TTNN do VSN xảy ra
trong ca sáng (57.8%) và hoạt động phổ biến nhất dẫn đến TTNN do VSN là đóng nắp
kim tiêm lại (41.4%). Tỷ lệ khơng báo cáo là 60.2% và lý do chính cho việc khơng báo
cáo là lịch trình lâm sàng nặng (46.7%) và nhận thức về nguy cơ nhiễm trùng thấp
(37.7%). Một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê đã được tìm thấy giữa sự xuất hiện của
TTNN do VSN và giới tính, số giờ làm việc/ tuần và tần suất thay đổi/ tháng [42].
Một nghiên cứu của KasatpibeN và cộng sự (2016) trên 2031 điều dưỡng phòng
mổ tại 247 bệnh viện Thái Lan cho thấy rằng tỷ lệ bị TTNNdo kim tiêm, VSN lần lượt
là 23.7%, 9.8%. Các yếu tố rủi ro gây TTNN do kim tiêm là đào tạo mà không thực
hành (OR, 1.67; 95% CI, 1.29-2.17), vội vàng (OR, 4.81; 95% CI, 3.41-6.79), thiếu
8
nhận thức (OR, 1.36; 95% CI, 1.04 -1.77), nhân sự không đầy đủ (OR, 1.60; 95% CI,
1.21-2.11) và các hướng dẫn lỗi thời (OR, 1.69; 95% CI, 1.04-2.74)[45].
Theo nghiên cứu của Yi Y và cộng sự (2018) trên 548 điều dưỡng thực hành tại
6 bệnh viện thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc cho thấy 100% những
người tham gia đều trải qua TTNN do VSN ít nhất một lần trong suốt sự nghiệp của
họ; 65.88% người tham gia đã tiếp xúc với máu ba lần/chất dịch cơ thể và 31.2% trải
qua 1-5 lần phơi nhiễm nghề nghiệp trong tháng qua. Tuy nhiên, chỉ có 14.6% người
tham gia nộp báo cáo phơi nhiễm máu/chất dịch cơ thể cho người giám sát/ quan chức
sau mỗi sự cố. Phơi nhiễm chất lỏng trong máu/cơ thể có liên quan đến việc khơng sử
dụng các biện pháp an toàn. Hầu hết những người tham gia (73.5%) báo cáo khơng có
hỗ trợ tâm lý sau chấn thương (p<0.01) [61].
Nghiên cứu của Abebe A.M, Kassaw M.W, Shewangashaw N.E (2018) trên
151 điều dưỡng tại bệnh viện Dessie khu vực Amhara, Ethiopia cho thấy tỷ lệTTNN
do VSN là 43%, điều dưỡng làm việc trong khoa cấp cứu có nhiều khả năng gặp chấn
thương kim và VSN hơn 11 lần so với các điều dưỡng làm việc ở khoa ngoại trú P =
0.004 (OR = 11.511, 95% CI, 2.134 - 62.09). Những người làm việc ở khoa sức khỏe
người lớn có khả năng bị TTNN do VSN hơn 10 lần so với những người tham gia làm
việc ở khoa ngoại trú P = 0.006 (OR = 9.742 95% CI 1.904 - 49.859) [21].
1.1.4.2. Tại Việt Nam
Nhân viên y tế
Theo nghiên cứu độc lập cấp nhà nước về NVYT ở Việt Nam Nguyễn Thị
Hồng Tú và cộng sự (2006) cho thấy điều dưỡng bịTTNN do VSN chiếm tỷ lệ cao
nhất: 64.3% và cao hơn hẳn các nhóm chức danh khác có ý nghĩa thống kê (p<0.01).
Tỷ lệ NVYT bị kim tiêm gây tai nạn thương tích cao nhất (31.7%), tiếp theo là kim có
cánh (19.2%), vật sắc nhọn khác (16.1%), kim khâu (16.0%) và kim lấy máu tĩnh
mạch (15%). Nơi xảy ra TTNN do VSN chủ yếu là: khoa Ngoại, Gây mê hồi sức là
78.5%, Sản là 69.9%, Hồi sức cấp cứu là 63.7% và Nhi là 63.2%[19].
Kết quả nghiên cứu của Dương Khánh Vân (2013) trên 3462 NVYT tại một số
bệnh viện khu vực Hà Nội. Kết quả cho thấy tỷ lệTTNN do VSN trong 12 tháng là
9
64.8%. Tần xuất ở điều dưỡng là 19/100 người/năm, bác sĩ 11/100 người/năm, nhóm
khác 9/100 người/năm. Trong đó, 46% trường hợp xảy ra trong quá trình tiêm, 14.9%
trong quá trình rửa dụng cụ. Vị trí tổn thương 94.5% ở bàn và ngón tay. Và vết thương
xuyên thấu da là 77.8%, xước da 19.6%. TTNN do VSN chủ yếu xảy ra vào buổi sáng
46.6%, chiều 22.3%, tối 19.8%. Thiết bị: Kim tiêm 31.7%, kim cánh bướm 19.2%,
VSN khác 16.1%, kim khâu 16% và kim lấy máu tĩnh mạch 15%[18].
Điều dưỡng
Một nghiên cứu của Đào Thu Thủy (2012) trên 50 điều dưỡng bệnh viện Da
liễu Trung ương 92% điều dưỡng bịTTNN do VSN trong vòng một năm[14].
Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Khuê (2015) trên 272 điều dưỡng
bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang cho thấy có 51.5% điều dưỡng bị TTNN trong vòng
6 tháng trước thời điểm nghiên cứu, tần suất TTNN là 2 ±1.4 lần/người/6 tháng. Kim
tiêm là loại thiết bị gây TTNN nhiều nhất chiếm 52.1%, trong khi đó địa điểm xảy ra
nhiều nhất là buồng bệnh (61.4%). Tỷ lệ báo cáo sau khi bị tổn thương thấp, chỉ có
24.3%. Các yếu tố liên quan với tỷ lệ TTNN do VSN là trực đêm (OR = 2.2), tình
trạng q tải trong cơng việc (OR = 6), thâm niên công tác (OR = 2.25)[7].
Theo nghiên cứu của Trần Thị Minh Phương, Phan Văn Tường và Bùi Thị Mỹ
Anh (2017) trên 109 điều dưỡng bệnh viện Hà Đông. Kết quả cho thấy rằng có 37.6%
điều dưỡng bịTTNN do VSN, trong đó 36.6% bị thương 2-3 lần. Nguyên nhân xác
định là do thực hiện sai quy trình 75.5%, sự di chuyển bất ngờ của người bệnh 17.1%
và do sơ suất 7.3%. Vị trí tổn thương vùng tay chiếm 97.6%, thời điểm vào buổi sáng
68.3%, tối chiếm 14.6% và chiều là 9.8% [52].
Một nghiên cứu của Phạm Ngọc Vinh và cộng sự (2018) ở 198 điều dưỡng tại
Khối ngoại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ cho thấy có 57.1% đối tượng bịTTNN,
tần suất 2.9 ±1.7 lần/người/12 tháng, tỷ lệ báo cáo thấp 17.9%[20].
Như vậy, TTNN do VSN đã và đang là một vấn đề phổ biến đáng báo động ở
các cơ sở y tế trên tồn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.Tỷ lệ trung bình có
sự khác nhau giữa các nước và các vùng trên thế giới. Đặc biệt các nghiên cứu trên chỉ
ra rằng điều dưỡng là đối tượng có nguy cơ cao nhất gặp những TTNN do VSN. Các
10
nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều yếu tố liên quan đến dẫn đến TTNN do VSN như: tuổi,
giới tính, trình độ chuyên môn, khoa làm việc, lịch sử đào tạo, sự phân bố nhân sự,
thái độ, kiến thức, kỹ năng thực hành, thời gian làm việc…
Và một thực trạng đáng báo động nữa là tỷ lệ báo cáo sau khi gặp TTNN do
VSN với phịng ban có trách nhiệm cịn rất thấp. Lý do phần lớn được đưa ra là: cơng
việc bận rộn nên khơng có thời gian báo cáo, nhận thức về nhiễm trùng còn thấp, sợ bị
đổ lỗi hoặc gặp rắc rối khi báo cáo… Chính vì vậy, sẽ càng làm tăng nguy cơ phơi
nhiễm những bệnh nguy hiểm từ những tổn thương đó cho NVYT.
1.1.5. Hậu quả của tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn
Theo CDC, tại Mỹước tính nguy cơ lây nhiễm HIV từTTNN do VSN cho
NVYT là 0.3% (tức cứ 300 trường hợp chấn thương sẽ có nguy cơ 1 trường hợp bị
nhiễm HIV). Trong 57 trường hợp ghi nhận HIV từ năm 1981 đến 2006 của NVYT thì
có 48 trường hợp có liên quan đến thương tích qua da. Và có khoảng 400 NVYT bị
nhiễm HBV trong năm 2001. Con số này giảm 95% so với 17.000 ca nhiễm mới ước
tính năm 1983. Sự suy giảm này phần lớn là do tiêm chủng rộng rãi vắc- xin viêm gan
B và sử dụng biện pháp phòng ngừa phổ quát. Và khoảng 1% đến 2% NVYT có nguy
cơ nhiễm HCV, tỷ lệđang ngày càng gia tăng[32].
Kết quả nghiên cứu Ước tính gánh nặng bệnh tật toàn cầu do tổn thương VSN ở
những NVYT của Annette Prüss Üstün và cộng sự (2005) cho thấy có khoảng 16.000
ca nhiễm HCV, 66.000 ca nhiễm HBV và 1.000 ca nhiễm HIV có thể xảy ra trong năm
2000 trên tồn thế giới trong số các NVYT do phơi nhiễm nghề nghiệp của họ đối với
các tổn thương qua da. Tỷ lệ nhiễm HCV, HBV và HIV ở NVYT do phơi nhiễm nghề
nghiệp với phần thương tích qua da đạt lần lượt là 39%, 37% và 4.4%. Trong số
NVYT bị phơi nhiễm đó, WHO ước tính đến năm 2030, sẽ có 142 NVYT chết vì
HCV, 261 NVYT chết vì HBV và 736 NVYT chết vì HIV [26], [58].
Theo một nghiên cứu phân tích tổng hợp của Cooke C.E và Stephens J.M
(2017), TTNN do VSN đã đượcbáo cáo bởi 14.9% -69.4% số NVYT với phạm vi rộng
do sự khác biệt về quốc gia. NVYT có thể gặp các ảnh hưởng nghiêm trọng về cảm
xúc và rối loạn sức khỏe tâm thần sau khi gặp TTNN do VSN, dẫn đến mất việc và
11
căng thẳng sau tổn thương. Trong năm 2015, chi phí trung bình của một TTNN do
VSN là $ 747 [35].
Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư (2010) trên NVYT
bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy từ 2/2000-6/2009, tổng số NVYT bị tai nạn nghề nghiệp
làm phơi nhiễm với các bệnh nguyên trong máu trong khi thao tác là 327, trong đó
phơi nhiễm trên bệnh nhân HIV dương tính là 65 trường hợp. Chủ yếu các trường hợp
xảy ra là do kim hoặc dao đâm (244; 74.8%) hoặc do máu và dịch tiết bắn vào mắt (53;
16.2%), một NVYT dương tính với HBV [15]. Kết quả nghiên cứu của Dương Khánh
Vân (2013) tại một số bệnh viện khu vực Hà Nội, ước tính nhiễm khuẩn do VSN gây
ra ở NVYT đối với HBV và HIV lần lượt là 32.16% và 0.52%[18]. Nghiên cứu của
Nguyễn Thúy Quỳnh và cộng sự (2009) cho thấy tỷ lệ NVYT có HBV dương tính là
6.9%; gần 40% các trường hợp nhiễm HBV dương tính thuộc nhóm tuổi từ 40 – 49.
Điều dưỡng bị nhiễm HBV với tỷ lệ cao nhất 61.9%, tiếp theo là bác sỹ 17.5%, hộ lý
và y công chiếm 9.5% [9].
1.1.6. Các biện pháp phòng ngừa và xử lý tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn
1.1.6.1. Các biện pháp phòng ngừa tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn
Dự phòng tai nạn nghề nghiệp cho NVYT cần quan tâm đến những việc sau: Khi
thực hiện các thủ thuật có liên quan đến các VSN như kim tiêm, kim khâu NVYT cần
chú ý đề phòng bịTTNN do VSN. Cần tuyệt đối tuân thủ các hướng dẫn về thao tác an
toàn trong khi thực hiện các thủ thuật và các quy định về xử lý VSN [2], [3]:
Thao tác an toàn với kim tiêm, kim khâu và các VSN khác
-
Thực hiện đúng các quy trình tiêm theo hướng dẫn;
-
Xắp xếp nơi làm việc sao cho tất cả các dụng cụ đều trong tầm với của cả hai tay
và phải có thùng thu gom VSN được để sát bên đểloại bỏ các VSN nhanh và an
tồn;
-
Tập trung vào cơng việc, khơng nói chuyện và khơng nhìn đi chỗ khác;
-
Khơng tháo, đậy, hoặc bẻ cong kim tiêm sau khi dùng. Không đậy kim bằng hai
tay. Trường hợp kỹ thuật đòi hỏi tháo, lắp kim tiêm tách biệt khỏi bơm tiêm thì
phải dùng panh. Áp dụng kỹ thuật “múc nắp” đậy kim để sẵn trong khay (trước
12
tiên để nắp kim lên trên một mặt phẳng sau đó dùng một tay đưa đầu kim vào
miệng nắp kim và từ từ luồn sâu kim vào nắp. Dùng tay kia siết chặt nắp kim);
-
Không dùng tay trực tiếp bẻ ống thuốc thủy tinh, sử dụng gòn, gạc bao xung quanh
rồi mới bẻ;
-
Trong khi thao tác với kim tiêm không để tay trước mũi kim;
-
Không đi lại trong khi cầm kim tiêm, kim khâu trong tay. Nếu cần di chuyểnthì
kim phải được để trong khay;
-
Trong khi tiêm, khâu phải đảm bảo rằng người bệnh biết cách giữ yên, khônggiãy
dụa. Nếu người bệnh là trẻ em cần có người giúp đỡ giữ n người bệnh;
-
Trong khi tiêm khơng dùng tay dị tĩnh mạch phía trên da, bên ngồi mũi kimtrong
khi tay kia đang đẩy kim tìm mạch máu;
-
Lấy bệnh phẩm tập trung để tránh phải lấy máu lại nhiều lần;
-
Không khâu bằng tay mà phải dùng kẹp mang kim và panh để đón kim;
-
Khi VSN (kim tiêm, kim khâu, dao mổ...) rơi, nên để chúng tự rơi, khơng cố đón;
-
Khơng chuyển kim tiêm, kim khâu, dao mổ cho người khác trực tiếp bằngtay, nên
chuyển qua khay;
-
Khơng giữ bình chứa, phiến kính,… bằng tay khi nhỏ dịch thể/máu của ngườibệnh
vào. Nên để vật chứa bất động trong khay hay trên bàn, ghế,… Khơng dùng tay để
cạo vào phiến kính có mẫu xét nghiệm;
-
Có thể sử dụng các dụng cụ tiêm có đặc tính bảo vệ trong trường hợp nguy cơ bị
kim đâm cao (ví dụ người bệnh kích thích, giãy dụa…).
Thao tác an toàn khi huỷ bỏ kim tiêm
-
Bỏ kim tiêm ngay tại nơi tiến hành tiêm;
-
Huỷ kim tiêm với một động tác dứt khoát, huỷ từng cái một bằng máy huỷ kim
tiêm;
-
Thả toàn bộ kim tiêm vào hộp an toàn đựng VSN, không nên ấn kimtiêm vào
thùng chứa;
-
Nếu cần phải đậy nắp kim (khơng có thùng đựng VSN tại thời điểm bỏ kim), dùng
kỹ thuật xúc một tay để phòng ngừa tổn thương;
13
-
Không được vứt bỏ bơm kim tiêm vào thùng đựng rác thải sinh hoạt;
-
Ở những nơi khơng có điều kiện huỷ bỏ bơm kim tiêm nên sử dụng bơm kim tiêm
tự huỷ.
Quản lý chất thải sắc nhọn
-
Thùng thu gom VSN phải không bị xuyên thủng, đủ lớn để chứa các VSN, có nắp
và bố trí ở nơi thích hợp để tiện lợi khi loại bỏ VSN;
-
Không được để kim tiêm vương vãi ở ngồi mơi trường. NVYT khi thấy các kim
tiêm trên sàn nhà hoặc trên mặt đất trong bệnh viện cần phải dùng kẹp gắp và bỏ
vào thùng thu gom chất thải sắc nhọn;
-
Khi thu gom và xử lý các thùng thu gom VSN, cần quan sát kỹ xem có q đầy và
có các VSN chĩa ra ngồi hay không. Tránh để tay quá gần chỗ mở của các thùng
chứa các VSN, không nên thu gom các thùng đựng vật sắc nhọn bằng tay khơng
có găng bảo hộ. Vận chuyển thùng bằng xe đẩy và mang găng bảo hộ.
Yêu cầu của dụng cụ chứa chất thải sắc nhọn như sau[8], [3]: Phương tiện đựng
chất thải sắc nhọn phải phù hợp với phương pháp tiêu huỷ cuối cùng. Hộp đựng chất
thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn: thành và đáy cứng khơng bị xun thủng;
có khả năng chống thấm; kích thước phù hợp; có nắp đóng mở dễ dàng; Miệng hộp đủ
lớn để cho VSN vào mà không cần dùng lực đẩy; có dịng chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT
THẢI SẮC NHỌN” và có vạch báo hiệu ở mức 3/4 hộp và có dịng chữ “KHƠNG
ĐƯỢC ĐỰNG Q VẠCH NÀY”; màu vàng; có quai hoặc kèm hệ thống cố định;
khi di chuyển VSN bên trong khơng bị đổ ra ngồi.
Đối với các cơ sở y tế sử dụng máy huỷ kim tiêm, máy cắt bơm kim tiêm, hộp
đựng chất thải sắc nhọn phải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng có thể tái sử
dụng và phải là một bộ phận của máy huỷ, cắt bơm kim;
Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái sử dụng,
hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ y tế. Hộp
nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải cịn đủ các tính năng ban đầu.
14
Loại bỏ nguy cơ [59]
Loại bỏ hoàn toàn mối nguy hiểm khỏi khu vực làm việc là cách hiệu quả nhất
để kiểm soát các mối nguy hiểm; phương pháp này nên được sử dụng bất cứ khi nào
có thể. Các ví dụ bao gồm:
-
Loại bỏ VSN và kim tiêm khi có thể;
-
Loại bỏ tất cả các mũi tiêm khơng cần thiết;
-
Loại bỏ các VSN khác không cần thiết như kẹp khăn.
Các biện pháp hành chính
-
Phân bổ các nguồn lực phù hợp;
-
Thành lập phòng quản lý phòng chống TTNN do VSN;
-
Xây dựng một kế hoạch kiểm soát phơi nhiễm;
-
Loại bỏ tất cả các thiết bị khơng an tồn;
-
Đào tạo phù hợp về việc sử dụng các thiết bị an toàn.
Các biện pháp dự phòng khác[6]
-
Cung cấp đầy đủ các phương tiện tiêm thích hợp (xe tiêm, bơm kim tiêm, kim lấy
thuốc, cồn sát khuẩn tay, hộp đựng VSN...).
-
Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin công cộng về nguy cơ của tiêm và
khuyến khích giảm số lượng mũi tiêm khơng cần thiết. Sử dụng thuốc bằng đường
uống khi có thể, lấy bệnh phẩm tập trung để tránh lấy máu nhiều lần.
-
Sử dụng các thiết bị thay thế không kim để nối các phần của hệ thống đường
truyền tĩnh mạch, hoặc sử dụng các loại kim luồn an toàn (đã và đang được sử
dụng ở một số cơ sở y tế).
-
Đào tạo NVYT cập nhật các kiến thức, thực hành tiêm an toàn và thận trọng khi
làm các thủ thuật liên quan đến tiêm và xử lí các VSN khác.
-
Trao quyền cho người bệnh lên tiếng với NVYT khi không thực hiện đúng các quy
định về vô khuẩn hoặc dùng lại bơm kim tiêm chưa qua xử lý an toàn.
-
Đưa các tiêu chí đánh giá tiêm an tồn vào kiểm tra chất lượng bệnh việnhàng
năm.
-
Khuyến khích mọi NVYT tiêm phịng vacxin viêm gan B.
15
1.1.6.2. Xử lý khi bị phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường máu
liên quan đến tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn
Xử lý tình huống TTNN do VSN [8]:
Bước 1: Xử lý vết thương tại chỗ
-
Rửa vết thương ngay bằng xà phòng và nước dưới vịi nước chảy;
-
Khơng sử dụng nước khử khuẩn trên da;
-
Khơng cọ hoặc chà xát, nắn bóp khu vực bị tổn thương.
Bước 2: Báo cáo người phụ trách và làm biên bản
-
NVYT bị phơi nhiễm cần báo cáo ngay cho người chịu trách nhiệm để xử trí và
thực hiện điều trị dự phòng sau phơi nhiễm theo quy định;
-
Khai báo theo mẫu thông báo tai nạn nghề nghiệp: Do VSN, văng bắn máu và dịch
cơ thể tại phụ lục 7 của Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27/ 9 /2012 của Bộ Y
tế, về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn [1];
-
Giấy chứng nhận bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp (Quyết định số
120/2008/QĐ-TTNNg ngày 29/8/2008)[13].
Bước 3: Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm: Đánh giá theo 3 mức độ
-
Khơng có nguy cơ: Máu và chất dịch của người bệnh bắn vào vùng da lành;
-
Nguy cơ thấp: Tổn thương da xây xát nông và không chảy máu hoặc chảy máu ít;
máu và chất dịch chất thải của người bệnh bắn vào niêm mạc không bị tổn thương
viêm loét;
-
Nguy cơ cao: Tổn thương qua da sâu, chảy nhiều máu do kim tiêm cỡ to; Tổn
thương qua da sâu, rộng chảy máu nhiều do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa
máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải.
Bước 4: Đánh giá nguồn gây phơi nhiễm
-
Nguồn từ máu và dịch của người bệnh cần được đánh giá tình trạng nhiễm vi rút
viêm gan B, C và HIV: thu thập thông tin từ bệnh án và người bệnh (kết quả xét
nghiệm, chẩn đoán khi vào viện, tiền sử bệnh);
-
Trong trường hợp khơng rõ tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B, C và HIV của
bệnh nhân là nguồn phơi nhiễm → cần được thông báo về tai nạn nghề nghiệp và