Tải bản đầy đủ (.pdf) (210 trang)

Một số thành tựu hoạt động khoa học và công nghệ ngành thủy sản (2001 2005) và định hướng phát triển bộ thủy sản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (12.03 MB, 210 trang )

BỘ THỦY SÀN

MỘT SỐ THÀNH TỤU
HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGÁNH THỦY SẢN (2001 - 2005)
VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

NHA XUÃT BAN NÔNG NGHIẼP


BƠ THỦY SẢN

Một sơ thành tựu
hoạt động khoa học và công nghệ
ngành thủy sản (2001 - 2005)
và định hướng phát triển

NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NÔI - 2005


LỜI G IỚ I THIÊU
hững năm vừa qua, ngành thủy sản đã có tốc độ tăng
trưởng rất nhanh và đóng góp quan trọng vào sự phát
triển kinh tế của đất nước, nhất là trong giai đoạn 2001 - 2005.
Một số yếu tố quan trọng góp phần làm nên những thành
cơng của ngành thời gian qua chính là việc triển khai đúng
hướng, mạnh mẽ các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học
và công nghệ thủy sản gắn với thực tiễn sản xuất nghề cá. Khoa
học và công nghệ thủy sản đã thể hiện vai trị khơng thể phủ
nhận và thực tế đã trở thành một động lực thúc đẩy ngành thủy


sản phát triển ổn định và bền vững.
Hội nghị toàn quốc về khoa học và công nghệ ngành thủy
sản (2001 - 2005) được tổ chức ngày 28/3/2005 tại Hà Nội đã
đánh giá đầy đủ các thành tựu, kết quả và hạn chế trong công
tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ thủy sản, cũng
như trong quản lý, thực hiện các cơ chế chính sách của Nhà
nước trong hoạt động khoa học và công nghệ thủy sản, xác định
các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu dể phát triển khoa học và
công nghệ thủy sản đến năm 2010.
Trước khi tổ chức hội nghị này, Bộ Thủy sản đã tổ chức 3 hội
thảo toàn quốc theo chuyên đề: Khai thác - chế biến và dịch vụ
hậu cần nghê cá; Nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công
nghệ trong nuôi trồng thủy sản; Bảo vệ môi trường và nguồn lợi
thủy sản. Tại các hội thảo này, nhiều báo cáo khoa học chuyên
sâu về mỗi lĩnh vực nói trên dã được trình bày. Sau hội thảo, các
báo cáo được chỉnh sửa, biên tập lại thành kỷ yếu và đã được
xuất bản, phát hành rộng rãi.

3


Sau hội nghị, Bộ Thủy sản có chủ trưmig tập hợp, biên soạn
và xuất bản cuốn sách “M ột sô thành tựu hoạt động khoa học
và công nghệ ngành thủy sản (2001 - 2005) và định hướng
phát triển” bao gồm các bài phát biểu, bài viết và báo cáo có
tham luận tại hội nghị của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà
Nước, lãnh đạo ngành thủy sản và một sô' bộ, ngành liên quan;
các nhà quản lý khoa học và công nghệ, quản lý ngành ở địa
phương và một số doanh nghiệp thủy sản.
Bộ Thủy sản trân trọng giới thiệu cuốn sách “M ột sô thành

tựu hoạt động khoa học và công nghệ ngành thủy sản (2001 2005) và định hướng phát triển ”, giúp bạn đọc có thơng tin đầy
đủ về hoạt động khoa học và công nghệ thủy sản giai đoạn 5
năm vừa qua cũng như phương hướng hoạt động khoa học và
công nghệ đến năm 2010 của ngành thủy sản nước ta.
BỘ THỦY SẢN

4


PHẨN I


Một sò' thành tựu hoạt động KH vả CN ngành thủy sản (20Q1 - 2005) vả đinh hưởng phát triển

BAN CHẤP HÀNH TRUNG UƠNG

BAN CÁN SỤ ĐẢNG
BỘ THỦY SẲN

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hù Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2005

SỐ: 16NQ/BCS

NGHỊ QUYẾT
CỦA BAN CÁN SựĐẢNG BỘ THỦY SẢN
về một sô vấn đề khoa học và công nghệ phục vụ
đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hóa ngành thủy sản
và kê hoạch 5 nãm 2006-2010

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung uơng
Đảng (khoá IX) về đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hóa
nơng nghiệp nơng thơn thời kỳ 2001-2010 khẳng định việc tập
trung mọi nguồn lực để thực hiện một bước cơ bản mục tiêu
tổng quát và lâu dài của cơng nghiệp hố, hiện đại hóa nơng
nghiệp, nơng thơn, đó là “xây dựng một nền nơng nghiệp hàng
hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức
cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học và
công nghệ tiên tiến đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu.
Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng,
văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp,
kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển ngày càng hiện đại”.
Đối với ngành thủy sản, ngành đang được Đảng và Nhà
nước quan tâm xây dựng để trở thành một ngành kinh tế mũi
nhọn, bước cơ bản đến năm 2010 thực hiện mục tiêu tổng quát
và lâu dài này lại càng là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt.
Nhiệm vụ đó chỉ đạt được kết quả thông qua thực hiện và vận
dụng các nghị quyết của Đảng về khoa học và công nghệ và
7


Một số thành tựu hoạt động KH và CN ngành thủy sán (2001 • 2005) và định hưởng phát triển

các Văn bản nhà nước thể chế hóa các nghị quyết này, đặc biệt
là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 (khoá VIII), các kết luận của
Hội nghị lần thứ 6 (khoá IX) Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Hiện nay chúng ta đang tập trung sức để triển khai xây
dựng và chuẩn bị thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010. Ban
Cán sự Đảng Bộ Thủy sản, từ thực tiễn vừa qua, nhận rõ tầm

quan trọng đặc biệt của khoa học và công nghệ trong giải
quyết các vấn đề bức xúc hiện nay, tiếp tục đưa ngành phát
triển, đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố, thực hiện các
biến đổi tích cực và sâu sắc trong cơ cấu kinh tế ngành nhằm
tạo tính bền vững, hiệu quả và sức cạnh tranh cao. Cũng từ
thực tiễn vừa qua, thời gian tới cần tập trung sức nâng cao tiềm
lực và đổi mới trong quản lý khoa học và công nghệ ngành
thủy sản, thực sự để khoa học và công nghệ trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp gắn với chủ trương đổi mới và phù hợp
với các yêu cầu hội nhập.
Ban Cán sự Đảng Bộ Thủy sản đã thảo luận và đi đến nghị
quyết một số vấn đề phát triển khoa học và công nghệ ngành
thủy sản thời gian tới, đặc biệt cho giai đoạn của kế hoạch 5
năm 2006-2010 với quan điểm chủ yếu được nêu trên đây. Bản
nghị quyết tập trung đánh giá các thành tựu, kết quả cũng như
hạn chế, yếu kém thời gian qua trong khoa học và công nghệ,
trong việc quản lý, thực hiện các cơ chế trong hoạt động khoa
học và công nghệ; xác định mục tiêu và các định hướng lớn,
các nhiệm vụ chủ yếu về nâng cao tiềm lực và tạo bước đột
phá trong cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, đề ra các giải
pháp lớn để thực hiện mục tiêu và định hướng các nhiệm vụ
chủ yếu này.
8


Một sô' thành tựu hoạt động KH và CN ngành thủy sản (2001 - 2005) vả dinh hưởng phát triển

1. Đánh giá hoạt động khoa học và công nghệ ngành thủy sản
thời gian qua
1.1. Vê kết quả hoạt động khoa học và công nghệ ngành thủy sản

a) Các kết quả và thành tựu:
Cùng với các biến đổi sâu sắc của đất nước và của ngành
trong suốt thời kỳ thực hiện chủ trương đổi mới do Đảng ta
khởi xướng và lãnh đạo vừa qua, khoa học và công nghệ thủy
sản đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đóng góp quan
trọng cho việc thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát
triển của ngành. Một số cơng trình khoa học và công nghệ
cũng đã được tôn vinh với các giải thưởng cao quý của Nhà
nước, được đánh giá cao trong cộng đồng doanh nghiệp, ngư
dân trong nước.
Một cách khái qt, có thể khẳng định rằng khoa học và
cơng nghệ đã có những kết quả và thành tựu quan trọng trong
nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngành thủy sản, càng
quan trọng hơn tại những bước phát triển có tính đột phá của
ngành thời kỳ vừa qua. Trong những kết quả và thành tựu vừa
qua, có thể kể đến:
- Tìm tịi, xây dựng và áp dụng các cơng nghệ sinh sản
nhân tạo tơm và một số lồi cá ni, đã đưa nuôi trồng thủy
sản thành một ngành sản xuất hàng hóa có giá trị phục vụ xuất
khẩu và tiêu thụ nội địa.
- Việc giữ giống, di giống, thuần hoá, chọn và lai tạo
giống mới nhiều đối tượng khác nhau về cơ bản đã tạo được và
cho khả năng hoàn thiện tập đồn cá ni Việt Nam tiếp cận
hiện đại, phù hợp với các yêu cầu thị trường, với yêu cầu mơi
trường sinh thái các vùng khắp cả nước, góp phần quan trọng
cho xố đói giảm nghèo.
9


Một sô' thành tựu hoạt động KH vả CN ngành thủy sản (2001 ■2005) vả định hướng phát triển


- Từ tình trạng thơ sơ lạc hậu trước đây của ngành chế
biến, giai đoạn 10 năm qua (kể từ năm 1995 trở lại đây), hệ
thống chế biến thủy sản đặc biệt là chế biến đơng lạnh phục vụ
xuất khẩu đã có bước tiến bộ vượt bậc, với cơng nghệ đạt trình
độ tiên tiến của khu vực và châu lục, đáp ứng các đòi hỏi khắt
khe của các thị trường nhập khẩu về vệ sinh, chất lượng sản
phẩm và thị hiếu tiêu dùng.
- Tuy cịn khơng ít khó khăn và hạn chế, hoạt động điều
tra nghiên cứu, đặc biệt là điều tra nghiên cứu biển đã có đóng
góp đáng kể cho cơng tác quy hoạch, xây dựng các chính sách
phát triển trong quản lý ngành, góp phần làm luận cứ cho phát
triển kinh tế biển, đảo của đất nước.
Đạt được các kết quả và thành tựu thời gian qua là do đóng
góp của tập thể, cá nhân các nhà khoa học trong và ngoài
ngành thủy sản, do sáng tạo trong lao động của bà con ngư
dân và nông dân, những tiến bộ khoa học và công nghệ, đặc
biệt được áp dụng trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu, làm
giống nhân tạo và nuôi công nghiệp được thực hiện nhờ sự
năng động, sáng tạo và quyết tâm đổi mối công nghệ của các
nhà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Khơng ít các
tiến bộ khoa học đến từ nước ngồi thơng qua tiếp thu và cải
tiến các dây chuyền sản xuất tiên tiến từ các dự án viện trợ, hỗ
trợ kỹ thuật.
Tuy nhiên, nguyên nhân bao trùm lên tất cả, các thành tựu
khoa học và cơng nghệ được tìm tịi và áp dụng trong ngành
thủy sản thời gian qua là kết quả thực hiện các chủ trương đổi
mới và hội nhập kinh tế của Đảng, được thể chế hóa bằng pháp
luật và các quy định của Nhà nước, đặc biệt là chính sách phát
triển kinh tế thị trường có sự tham gia của các thành phần kinh

ro


Một sô' thành tựli hoạt động KH và CN ngành thủy sản (2001 ■2005) và đinh hướng phát triển

tế. Từ đó phát huy mạnh mẽ tính chủ động và sáng tạo, tạo ra và
áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh.
b) Các hạn chế và tồn tại
Trong các hạn chế, tổn tại, cần nhấn mạnh:
- Sự gắn kết giữa khoa học và công nghệ với các khoa học
khác như: khoa học kinh tế, khoa học xã hội và nhân văn chưa
đủ đồng bộ để giải quyết các vấn đề rộng ỉớn và toàn diện của
ngành trong từng giai đoạn phát triển nhằm đáp ứng các đòi
hỏi liên quan đến chất lượng phát triển ngành. Một số lĩnh vực
nghiên cứu về kinh tế xã hội chưa được coi trọng đúng mức,
với ít ỏi kết quả nghiên cứu lĩnh vực này đã làm hạn chế tính
khả thi của nhiều hoạt động trong thực hiện các chương trình
phát triển ngành.
- Hiểu biết về nguồn lợi tự nhiên và môi trường sinh thái
liên quan đến thủy sản cũng như các biến động của chúng còn
chưa đáp ứng được yêu cầu và tốc độ phát triển ngành. Một số
kết quả điều tra nghiên cứu còn rời rạc-, chưa đủ độ tin cậy,
hạn chế tính đúng đắn của một số quyết sách, đặc biệt tại
những thời điểm quan trọng cho ngành phát triển.
- Do nhiều khó khăn khách quan và chủ quan, khoa học và
công nghệ phục vụ khai thác hải sản còn yếu, chưa đảm đương
được vai trò làm cơ sở cho tổ chức khai thác tiên tiến, hiệu quả.
1.2. Vê quản lý và cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
a) ư u điểm
Công tác quản lý và tổ chức hoạt động khoa học và công

nghệ của ngành trong thời gian qua đã từng bước được đổi mới
theo tinh thần của Luật Khoa học và công nghệ. Cơ chế xác
11


Một số thành tựu hoạt động KH vả CN ngành thủy sản (2001 - 2005) vả định hưởng phát triển

định nhiệm vụ, tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện
nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được áp dụng dần đi đến
đảm bảo công khai, dân chủ, khách quan. Đã phần nào gắn
nhiệm vụ nghiên cứu - triển khai với công tác đào tạo cán bộ
khoa học. Đẩy mạnh hoạt động khuyến ngư. Công tác khuyến
ngư thực sự trở thành cầu nối chuyển giao các kết quả nghiên
cứu vào sản xuất. Một số kỹ thuật tiến bộ về các lĩnh vực sản
xuất của ngành đã được tổng kết và xây dựng thành các tiêu
chuẩn, quy định kỹ thuật phổ biến kịp thời cho sản xuất áp
dụng. Nguồn vốn đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ
của ngành không ngừng tăng lên (từ ngân sách và viện trợ).
Các nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu
khoa học và công nghệ thủy sản được khun khích và ngày
càng đơng đảo.
b) Các hạn chế, khuyết điểm chủ yếu
- Gắn kết chưa cao giữa hoạt động nghiên cứu phát triển
khoa học và công nghệ và hoạt động kinh tế, giữa các cơ
quan/cán bộ khoa học và các đơn vị/cá nhân sản xuất kinh
doanh. Trong các nguồn quan trọng tạo ra tiến bộ kỹ thuật,
chưa coi trọng đúng mức các nguồn sáng tạo từ thực tiễn sản
xuất luôn diễn ra sinh động hàng ngày, chưa tổng kết thường
xun các mơ hình tiên tiến, các cải tiến kỹ thuật từ địa
phương và doanh nghiệp để phổ biến, nhân rộng, hoàn thiện

trở thành tiến bộ kỹ thuật và kết quả khoa học chung của cả
nước. Việc đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất còn chậm,
chưa thực hiện tốt việc đánh giá áp dụng các kết quả nghiên
cứu sau khi đưa vào sản xuất.
- Năng lực khoa học và cơng nghệ của ngành tuy có tiến
bộ song chưa đủ mạnh và chưa được đầu tư đồng bộ để đủ
sức giải quyết các vấn đề đặt ra cho phát triển ngành. Cơ cấu

12


Một số thành tựu hoạt đông KH và CN ngành thủy sản (2001 - 2005) và định hướng phát triển

nguồn nhân lực cho khoa học và công nghệ cũng như cơ cấu
năng lực vật chất kỹ thuật cho nghiên cứu tuy có tiến bộ,
song chưa đủ tập trung giải quyết các vấn đề quan trọng và
bức xúc của ngành trong phạm vi toàn quốc hoặc từng vùng
quy hoạch, từng lĩnh vực trọng đ'ểm. Đặc biệt, khoa học va
công nghệ trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản chưa
được chú trọng đúng mức để nâng cao tiềm lực hoạt động,
đáp ứng các yêu cầu, khắc phục các khó khăn đang gặp phải
hiện nay của sản xuất trên biển.
Chưa có bước đột phá đáng kể về cơ chế hoạt động khoa
học và công nghệ, phát huy tối đa các nguồn lực nội sinh trong
nước cho phát triển thủy sản, chưa có các bước chuẩn bị đi đến
thiết lập thị trường khoa học và công nghệ cho ngành thủy sản
để khoa học và cồng nghệ và sản xuất kinh doanh gắn kết với
nhau trên cơ sở cùng đạt lợi ích trong hoạt động, đồng thời
giúp các doanh nghiệp, ngư dân chủ động tích cực trong hoạt
động khoa học và cơng nghệ, cho việc thu hút hơn nữa các nhà

khoa học từ bên ngoài các cơ quan khoa học thuộc Bộ quản lý.
Các hạn chế và khuyết điểm nêu trên có các nguyên nhân
khách quan và chủ quan khác nhau thấy được ở nhiều khâu và
nhiều cấp trong hệ thống quản lý khoa học và công nghệ của
ngành. Tuy nhiên về nguyên nhân chủ quan trước hết phải kể
đen trách nhiệm trong lãnh đạo của Ban Cán sự và Đảng uỷ
các đơn vị trong ngành. Ban Cán sự và các cấp uỷ Đảng tuy
thấy tầm quan trọng của khoa học và công nghệ, nhưng chưa
tập trung trí tuệ và cơng sức lãnh đạo và chỉ đạo việc quán triệt
và triển khai cẩc nghị quyết của Trung ương Đảng, Luật Khoa
học và công nghệ và các văn bản thể chế khác của Nhà nước
vể khoa học va cồng nghệ. Một sô cấp uỷ kể cả Đảng uỷ các
cơ quan khoa học con chưa thực sự coi phát triển khoa học và
công nghệ là quốc sách hàng đầu, hạn chế vai trò lãnh đạo
trong phát triển khoa học và công nghệ tại đơn vị.
13


Môt sỏ' thành tưu hoat đông KH vả CN ngành thủy sản (2001 • 2005) và djnh hưởng phát triển

2. Mục tiêu và định hướng về các nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động
khoa học và công nghệ ngành thủy sản thời kỳ 2006-2010
2.1. Mục tiêu
- Khoa học và công nghệ thủy sản phải phục vụ thiết
thực và gắn kết với thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội ngành
thủy sản, làm cơ sở xây dựng và triển khai kế hoạch 5 năm
2006-2010, cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và kinh tế
thủy sản trong nông lâm ngư nghiệp, cho đẩy m ạnh cơng
nghiệp hố, hiện đại hóa nơng nghiệp nơng thơn nói chung,
cho thủy sản nói riêng, tạo tiền đề vững chắc cho thời kỳ

phát triển sau năm 2010.
- Thông qua hoạt động khoa học và công nghệ, tạo bước
chuyển biến cơ bản trong xây dựng và đồng bộ hóa tiềm lực
khoa học và cơng nghệ, chú ý xây dựng đội ngũ cán bộ khoa
học đủ sức chủ động giải quyết các vấn đề phát triển thủy
sản trong nước và thích ứng với các yêu cầu hội nhập, có
được chuyên gia hàng đầu trong khu vực. Trong 5 năm tới,
lựa chọn để tập trung xây dựng m ột vài phịng thí nghiệm có
trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á.
- Triển khai cơ chế mới quản lý khoa học và công nghệ, tạo
một bước đột phá trong quản lý khoa học và công nghệ, thu hút
đông đảo các nhà khoa học, các cơ sở đào tạo, các doanh
nghiệp và các nhà sản xuất tham gia để giải quyết các vấn đề
bức xúc liên quan đến luận cứ phát triển ngành, tham gia tìm
kiếm, nghiên cứu và áp dụng các công nghệ, các giải pháp quản
lý tiên tiến, phù hợp. Thực hiện được các chính sách của Nhà
nước khuyến khích và hỗ trợ các thành phần kinh tế tham gia
nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ thủy sản và thực
hiện xã hội hóa để mở rộng hệ thống chuyển giao công nghệ và
14


Một số thành tựu hoạt dộng KH và CN ngành thủy sản (2001 • 2005) và đinh hướng phát triển

khuyến ngư đến cơ sở. Có bước đi ban đầu và chuẩn bị đầy đủ
để phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ, đề xuất
và thực hiện các cơ chế chính sách để sản phẩm khoa học thực
sự trở thành hàng hóa như đã nêu tại Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX).
2.2. Định hướng về một số nhiệm vụ chủ yếu trong khoa học và

công nghệ
- Tập trung đầu tư phát triển vào công nghệ sinh học, coi
đây là mũi nhọn nhằm đi tắt đón đầu tạo ra các cơng nghệ tiên
tiến, tạo tập đồn giống có chất lượng sinh học cao, phù họp
với điều kiện Việt Nam, đáp ứng các đòi hỏi về số lượng và
chất lượng của thị trường, cho an ninh thực phẩm, cho xố đói
giảm nghèo và cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các loại
mặt nước và vùng sinh thái khác nhau.
- Thông qua ứng dụng công nghệ sinh học, giải quyết các
vấn đề bức xúc hiện nay trong nuôi trồng và bảo quản thủy
sản, đặc biệt trong giải quyết các vấn đề dịch bệnh, các tác
động giữa nuôi thủy sản với môi trường sinh thái, loại bỏ được
các hóa chất, thuốc bị cấm trên thị trường, từ đó xây dựng
cơng nghệ tiên tiến cho ni hàng hóa một số đối tượng thủy
sản chủ lực hiện nay.
- Nâng cao năng lực chọn lọc, tiếp thu, ứng dụng và cải tiến
các công nghệ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới để có các
cơng nghệ tiên tiến, phù họp cho khai thác, nuôi trồng và chế
biến thủy sản nước ta, đặc biệt các công nghệ đó phải đáp ứng
được các yêu cầu về bảo đảm vệ sinh an tồn thực phẩm và thân
thiện mơi trường. Tăng tỷ lệ các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
kinh doanh và quản lý ngành, rút ngắn thời gian và nâng cao
hiệu quả áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất. Chú trọng
việc lựa chọn để nhập khẩu một số công nghệ cao, các giống tốt
15


Một sô' thảnh tựu hoạt động KH và CN ngành thủy sán (2001 - 2005) và djnh hưởng phát triển

để tiếp tục nâng cấp cơng nghệ và tập đồn giống cho nuổi

trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước biển.
- Cải tiến mạnh mẽ công tác điều tra nghiên cứu. Gắn điều
tra nghiên cứu nguồn lợi, điều kiện tự nhiên với điều tra kinh
tế xã hội. Đầu tư hợp lý cho điều tra biển, kết hợp và lồng
ghép để sử dụng hiệu quả nhất các hợp tác quốc tế song
phương và đa phương thuộc lĩnh vực này. Cải tiến trong cập
nhật, xử lý các số liệu điều tra phục vụ kịp thòi, chuẩn xác cho
dự báo ngư trường, làm cơ sở khoa học cho triển khai các công
nghệ khai thác hợp lý đi đôi với bảo vệ nguồn lợi các vùng
biển Việt Nam và cải tiến công nghệ khai thác. Hoàn chỉnh hệ
thống thống kê thủy sản.
- Chú ý nhiều hơn đến các nghiên cứu để áp dụng khoa
học quản lý, khoa học kinh tế và các ngành khoa học xã hội
nhân văn khác, làm cơ sở cho sự phát triển bền vững về kinh tế
xã hội và môi trường sinh thái. Tranh thủ hợp tác nhiều hơn
của các cơ quan, các nhà khoa học hoạt động trên các lĩnh vực
này. Xây dựng các mơ hinh thốt nghèo ở nơng thơn ven biển.
- Chú trọng đúng mức và có bước chuyển biến rõ rệt trong
việc triển khai và áp dụng các công nghệ khai thác biển tiên
tiến hiệu quả, các giải pháp khoa học cho bảo vệ nguồn lợi
thủy sản, cho công tác dịch vụ hậu cần, thông tin quản lý hoạt
động thủy sản trên biển để khai thác tốt nhất tiềm năng hải sản
trong vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam, quản lý tốt nhất
tàu thuyền khai thác trên biển.
3. Các giải pháp thực hiện
Để thực hiện mục tiêu và định hướng về các nhiệm vụ chủ
yếu nêu trên, trong quản lý khoa học và công nghệ ngành thủy
16



Một sô' thảnh lựu hoạt động KH vả CN ngành thủy sản (2001 ■2005) vả định

hướng phát triển

sản cần tập trung triển khai thực hiện các giải pháp sau đây.
Các giải pháp này phù hợp với các chủ trương đổi mới trong
hoạt động khoa học và công nghệ của Đảng và Nhà nước, một
số giải pháp đã có áp dụng trong quản lý khoa học và công
nghệ ngành nhưng chưa đổng bộ và ở mức độ còn thấp.
3.1. Các giải pháp để nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ
- Cải tạo, nâng cấp, đưa vào sử dụng rộng rãi và hiệu quả
hệ thống thông tin phục vụ ngành, trong đó có thơng tin và
thống kê về khoa học và công nghệ, tạo điều kiện tốt nhất để
các nhà sản xuất kinh doanh tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật từ
mọi nguồn, các nhà khoa học tiếp cận được với các yêu cầu
của thị trường - lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
- Tập trung nguồn vốn trong nước, tranh thủ viện trợ quốc
tế để xây dựng 1 phịng thí nghiệm sinh học có trình độ tiên
tiến, sớm đưa vào hoạt động trong kỳ kế hoạch 5 năm 20062010. Phòng thí nghiệm này phục vụ cho các nghiên cứu đón
đầu, đổng thời cùng với các cơ sở phân tích hiện có của Cục
Quản lý chất lượng, an tồn vệ sinh và thú y thủy sản, các
Trung tâm Giống quốc gia và cảnh báo môi trường, phục vụ
các yêu cầu trước mắt trong phát triển, quản lý con giống về
chất lượng sinh học và thương mại cho nuôi thủy sản, giúp
quản lý việc sử dụng các thuốc, hóa chất, quản lý được ảnh
hưởng của dịch bệnh và tác động của phát triển nuôi thủy sản
đến môi trường sinh thái.
- Đánh giá và quy hoạch lại cán bộ khoa học và công nghệ
trong các cơ quan khoa học và công nghệ trực thuộc Bộ và các
đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc Bộ, các địa phương,

nhất là cán bộ khoa học và công nghệ đầu ngành chuyên môn
17


Mót sỏ' thảnh tưu hoat động KH và CN ngành thủy sản (2001 • 2005) và định hưởng phát triển

và cán bộ kỹ thuật tại cơ sở trực tiếp với ngư dân tại địa
phương, từ đó có các giải pháp đào tạo bồi dưỡng, tập huấn để
nâng cao trình độ, tăng cường khả năng hoạt động của cán bộ
khoa học và công nghệ. Chọn lựa các cán bộ khoa học có năng
lực, triển vọng tại một số lĩnh vực phát triển trọng điểm cử đi
đào tạo quốc tế tại các môi trường khoa học tiên tiến.
- Tăng cường hợp tác quốc tế và sử dụng có hiệu quả
nguồn viện trợ quốc tế cho nâng cao tiềm lực khoa học và
công nghệ ngành thủy sản.
- Ngay trong năm 2006, tổ chức đánh giá tổng thể về trình
độ khoa học và cơng nghệ sản xuất trong ngành, tiềm lực khoa
học và công nghệ phục vụ thủy sản, để có các việc làm và
bước đi cụ thể cho việc nâng cao năng lực khoa học và công
nghệ ngành giai đoạn tới.
3.2. Các giải pháp để có bước đột phá đáng kê về cơ chê quản lý
- Đổi mới cơ chế về quản lý tài chính và nhân sự trong
hoạt động khoa học và công nghệ theo chủ trương của Đảng
và Nhà nước để nâng cao hiệu quả nghiên cứu và chuyển giao
công nghệ cho sản xuất. Xây dựng và triển khai thực hiện các
quy định phát huy dân chủ trong tham gia xây dựng các nội
dung hoạt động khoa học và công nghệ ưu tiên của ngành và
trong lựa chọn đúng cơ quan và các nhà khoa học để chủ trì
các vấn đề khoa học đặt ra với hiệu quả và trách nhiệm cao
nhất, nhanh nhất đến sản xuất kinh doanh, áp dụng kịp thời

cho quản lý phát triển ngành.
- Xây dựng cơ chế để có thơng tin nhiều hơn và hợp tác
hiệu quả hơn giữa các cơ quan khoa học thuộc Bộ Thủy sản và
các cơ quan khoa học, đào tạo trong và ngoài ngành thủy sản.
18


Một sô' thành

tựu hoạt động KH và CN ngành thủy sản (2001 - 2005) và định hướng phái triển

- Kiên quyết triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa
hoạt động khoa học và công nghệ. Sớm thu hẹp bao cấp, có
các hướng dẫn và thực thi hướng dẫn để các viện, trung tâm
khoa học hoạt động theo cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm về
kết quả và hiệu quả hoạt động của mình theo quy định của
pháp luật. Có bước chuyển các cơ quan này sang cơ chế tự
trang trải kinh phí để hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp.
Nghiên cứu từ thực tiễn hiện nay để hình thành đầy đủ doanh
nghiệp công nghệ thủy sản. Coi dịch vụ công nghệ là một lĩnh
vực quan trọng trong dịch vụ hậu cần nghề cá.
- Cụ thể hóa và áp dụng từng bước cơ chế chính sách
khuyến khích đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho khoa học và
cơng nghệ từ các thành phần kinh tế. Khuyến khích và tổ chức
lại một cách có hệ thống các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên
cứu, ứng dụng, đổi mới cơng nghệ.
- Tích cực tham gia các hội chợ khoa học và công nghệ
trong nước để sản phẩm khoa học và công nghệ thủy sản được
tiếp thị rộng rãi, bước đầu tạo dựng để chuẩn bị cho thị trường
khoa học và công nghệ trong ngành thủy sản và giữa ngành

thủy sản với các ngành khác.
4. Tổ chức thực hiện
Nhận thức tầm quan trọng của khoa học và công nghệ và
đổi mới cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ trong phát
triển thủy sản trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 và thời kỳ tiếp
theo, Ban Cán sự Đảng yêu cầu các Đảng uỷ và thủ trưởng các
đơn vị quán triệt tinh thần và nội dung nghị quyết này trước
khi bắt tay vào xây dựng kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm 20062010 và kế hoạch kinh tế xã hội ngành thủy sản năm 2006.
19


Một sỏ' thảnh tựli hoạt động KH vả CN ngành thủy sản (2001 - 2005) vả định hướng phát triển

Đảng uỷ và thủ trưởng các tổ chức khoa học và công nghệ
thuộc Bộ Thủy sản căn cứ vào định hướng về các nhiệm vụ và
các nhóm giải pháp tại nghị quyết này, xây dựng chương trình
hành động thực hiện nghị quyết tại đơn vị mình, báo cáo về Bộ
chậm nhất là 30/6/2005. Vụ Khoa học và cơng nghệ có trách
nhiệm tập hợp các chương trình hành động này, xử lý tổng hợp
để có chương trình hành động tổng thể khối các cơ quan khoa
học Bộ Thủy sản, nòng cốt thực hiện nghị quyết này trình Bộ
trưởng Bộ Thủy sản ra quyết định phê duyệt, làm cơ sở cho
xây dựng chi tiết kế hoạch khoa học và công nghệ giai đoạn
2006-2010.
Vụ Kế hoạch - Tài chính chủ trì tổng kết các đổi mới về
quản lý tài chính trong khoa học và công nghệ vừa qua, căn cứ
vào các quy định hiện hành, trình cơ chế quản lý tài chính cho
khoa học và cơng nghệ nói chung, cho việc thực hiện các đề
tài, dự án khoa học và cơng nghệ nói riêng, đặc biệt xây dựng
cơ chế về các hoạt động khoa học ngoài ngân sách nhà nước.

Vụ Tổ chức Cán bộ chủ trì nghiên cứu để có bước hồn
thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy hệ thống tổ chức
khoa học và công nghệ thủy sản, kể cả các phân viện, chi
nhánh, trạm nghiên cứu của các đơn vị này, các tổ chức hay bộ
phận về khoa học và công nghệ trong các tổng công ty nhà
nước thuộc Bộ. Đề xuất để có bước chuyển biến về tổ chức gắn
kết hệ thống khuyên ngư với hệ thống các cơ quan khoa học và
công nghệ mà không chồng chéo giữa hai hệ thống này. Vụ chủ
trì tham mưu để Bộ có đề án nhân lực cho khoa học và công
nghệ thủy sản và thực hiện các chính sách tơn vinh và đãi ngộ
xứng đáng với các nhà khoa học có đóng góp.

20


Một sỏ' thảnh tựu hoạt động KH vả CN ngành thủy sản (2001 - 2005) vả định hưởng phát triển

Vụ Khoa học và công nghệ căn cứ vào các chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước, trình đề án cụ thể triển khai
đổi mới cơ chế hoạt động khoa học và cơng nghệ, trong đó có
cơ chế để các hội nghề nghiệp tham gia các hoạt động khoa
học và công nghệ ngành và thu hút các nguồn nhân lực khác
nhau trong việc giải quyết các vấn đề khoa học và cơng nghệ
thủy sản, trình lộ trình và điều kiện để nâng cấp tiềm lực khoa
học và công nghệ của ngành trong 5 năm 2006-2010 tới đây.
Lãnh đạo các Sở Thủy sản, các Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn có quản lý thủy sản, căn cứ nghị quyết này,
tham mưu cho cấp uỷ và chính quyền tỉnh, thành phố về khoa
học và công nghệ phát triển thủy sản tại địa phương để có phối
họp chung trong việc triển khai thực hiện nghị quyết đến tận

cơ sở.
Ban Cán sự giao Vụ Khoa học và công nghệ giúp kiểm tra,
đôn đốc các đơn vị, định kỳ báo cáo Ban Cán sự về việc thực
hiện các công việc được phân công.
TM. Ban Cán sự Đảng Bộ Thủy sản
Bí thư
Đ ã ký: Tạ Quang Ngọc

21


Một sô' thành tựu hoạt động KH và CN ngành thủy sản (2001 - 2005) và định hưởng phát triển

CẦN NHẬN THỨC SÂU SẮC VÀ ĐẶT ĐÚNG vị TRÍ
CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾĐỂ ngành thủy sản
THỰC Sự TRỎ THÀNH NGẰNH KINH TỂ MŨI NHỌN
(Bài phát biểu của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm
tại Hội nghị tồn quốc về khoa học và cơng nghệ giai đoạn 2001-2005
của ngành thủy sẩn)
Thưa các đồng chí,
Tơi rất vui mừng đến dự và đánh giá cao việc Bộ Thủy sản
tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm hoạt động khoa học và công
nghệ của ngành - một ngành kinh tế - kỹ thuật đang phát triển
rất nhanh và có thể nói là đang có sự nhảy vọt, đóng vai trị rất
quan trọng cho sự phát triển kinh tế của nước nhà.
Trở lại thòi gian của những năm 80, 90 của thế kỷ trước,
khi đóng góp của ngành thủy sản cịn khiêm tốn, nếu khơng
muốn nói là nhỏ bé, chúng ta đã từng trăn trở về vai trò của
ngành thủy sản đối với nền kinh tế của một đất nước có tiềm

năng “rừng vàng, biển bạc” với trên 3.000 cây số bờ biển.
Giai đoạn 5 năm 1991 - 1995, trung bình mỗi năm xuất
khẩu thủy sản chỉ được khoảng 200 triệu đô la. Từ năm 2000
trở đi mới tạo ra được sự đột phá. Ngành thủy sản đã trở thành
thành viên của câu lạc bộ 1 tỷ đô la xuất khẩu và chỉ hai năm
sau đó - năm 2002 đã xuất khẩu 2 tỷ đơ la. Đến năm 2004 thì
đạt 2,4 tỷ đô la, chiếm gần 10% tổng giá trị xuất khẩu cả nước.
Những con số đó đã đánh dấu quá trình phấn đấu để đạt thành
tựu kỳ diệu của ngành, là một trong những yếu tố quan trọng
thúc đẩy tốc độ tăng trưởng 7,7% của nền kinh tế đất nước, góp

22


Một số thành tựu hoạt động KH và CN ngành thủy sản (2001 - 2005) và đinh hướng phát triển

phần tạo đà mà Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đề ra. Tôi nghĩ
rằng, mục tiêu của hội nghị lần này là đánh giá đúng vai trò của
khoa học và công nghệ trong sự phát triển của ngành thủy sản.
Đánh giá vai trò của hoạt động khoa học và công nghệ
trong ngành thủy sản như thế nào? Khoa học và cơng nghệ đóng
góp được bao nhiêu cho sự tăng trưởng kinh tế trong những năm
qua? Đó là những câu hỏi chúng ta cần làm sáng tỏ.
Hội nghị chúng ta mới nghe báo cáo của cơ quan quản lý
nhà nước là Bộ Khoa học và Công nghệ, của địa phương là
tỉnh Hải Dương, của 3 doanh nghiệp và tham luận của đồng
chí Nguyễn Lân Hùng - một nhà sinh học rất gắn bó với ngành
thủy sản, đã thấy khá rõ vai trị của khoa học và cơng nghệ
trong sự phát triển của ngành thủy sản.
Nguyên nhân ngành thủy sản phát triển nhanh trong 5

năm vừa qua là gì? Theo tơi, yếu tố quan trọng đầu tiên là do
ngành ta đã thực hiện đúng đường lối phát triển kinh tế của
Đảng. Đó là phát triển mạnh đồng thời các thành phần kinh
tế. Bên cạnh vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh thì kinh
tế hợp tác xã cũng đã tạo ra những thành tựu có thể nói là rất
đáng khích lệ. Vấn đề đổi mới cơ chế chính sách, đặc biệt là
các chính sách trong hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng thị
trường cũng là nguyên nhân, là động lực rất quan trọng để tạo
ra sự tăng trưởng vượt bậc của ngành.
Một yếu tố quan trọng nữa không thể phủ nhận được, đó là
vai trị của khoa học và cơng nghệ. Tuy chưa lượng hóa được,
nhưng phải khẳng định sự cố gắng, sự nỗ lực to lớn của toàn
thể cán bộ khoa học thủy sản đã ngày đêm lãn lộn với biển cả,
với sông nước để nghiên cứu, để ứng dụng, tạo ra những sản
phẩm có giá trị rất cao đáng trân trọng.

23


Mịt sơ thành tưu hoat đơng KH và CN ngành thủy sản (2001 - 2005) và định hưởng phát triển

Cũng giống như khi đánh giá về sự phát triển của ngành
nông nghiệp, chúng ta đã ghi nhận: Do đổi mới tư duy trong
quản lý, với chính sách “khốn 10”, đồng thời đẩy mạnh
nghiên cứu và ứng dụng khoa học và cơng nghệ, hai yếu tố đó
đã đem lại thành tựu kỳ diệu cho ngành nông nghiệp Việt
Nam ở những thập kỷ 80, 90 của thế kỷ 20, đưa nước ta từ chỗ
thiếu ăn trở thành một nước xuất khẩu gạo, có thời kỳ đứng
thứ nhất, thứ nhì thế giới.
Tại Hội nghị tổng kết cơng tác khoa học và cơng nghệ

tồn quốc vào năm 2000, đồng chí Nguyễn Cơng Tạn, hồi đó
là Phó Thủ tướng Chính phủ, đã khẳng định rằng: Sau cơ chế
“khốn 10” thì khoa học và cơng nghệ là động lực thứ 2 để tạo
nên thành tựu kỳ diệu của ngành nơng nghiệp. Khoa học và
cơng nghệ đóng góp khoảng 30 - 40% sự tăng trưởng của
ngành nơng nghiệp. Tơi cho rằng, vai trị của khoa học và
cơng nghệ trong ngành thủy sản cũng giống như trong ngành
nông nghiệp. Chúng ta hãy phân tích sâu sắc hơn để xác định
cho đúng vị trí quan trọng của khoa học và cơng nghệ, để có
lịng tin, tiếp tục đi lên xây dựng ngành thủy sản thực sự là
ngành kinh tế mũi nhọn trong tương lai.
Báo cáo vừa trình bày của Bộ Thủy sản và ý kiến của đồng
chí Bùi Mạnh Hải, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã
đánh giá khá đầy đủ và toàn diện những thành tựu của khoa
học và công nghệ thủy sản, Tôi xin nhấn mạnh thêm 4 điểm
nổi bật sau đây:
Thứ nhất là, sự chỉ đạo sát sao của Bộ đối với các hoạt
động khoa học và cơng nghệ, trong đó rất chú ý đến công tác
điều tra, nghiên cứu cơ bản và đánh giá tác động mơi trường.
Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Thông qua điều tra
24


Một số thảnh

tự u hoạt động KH và CN ngành thủy sản (2001 - 2005) vả định hưứng phát triển

nguồn lợi thủy sản và nghiên cứu đánh giá tác động môi
trường của hoạt động khai thác, đã tạo ra những cơ sở dữ liệu
quan trọng, giúp cho việc hoạch định chiến lược phát triển của

ngành thủy sản, xây dựng quy hoạch, kế hoạch khai thác hải
sản, đánh bắt xa b ờ,....
Thứ hai là, các đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển giao
cơng nghệ mang tính thực tiễn cao. Báo cáo của Bộ đã đề cập
cụ thể những thành tựu, tơi xin nêu một ví dụ nổi bật nhất, đó
là việc tạo ra giống mới có chất lượng, năng suất cao và phòng
được dịch bệnh. Đây là khâu “đột phá” để phát triển theo
hướng nuôi trồng thủy sản là chủ yếu, góp phần tăng sản lượng
ni trổng từ 31% lên 44% tổng sản lượng thủy, hải sản trong
năm 2004. Đó là hướng đi đúng, không những phát huy được
tiềm năng tự nhiên, mà còn tạo ra thế chủ động về sản lượng
thủy sản.
Cùng với nuôi trồng thủy sản, ngành ta đã rất chú ý đến
việc áp dụng công nghệ mới, sử dụng vật liệu mới, nâng cao
trang thiết bị cho tàu thuyền đánh cá, tìm hướng đánh bắt hải
sản, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, đánh cá ngừ đại dương... Việc
làm này khơng chỉ có ý nghĩa về kinh tế, mà cịn có ý nghĩa về
an ninh, quốc phịng, bảo vệ chủ quyền đất nước.
Thứ ba là, nhận thức sâu sắc về vấn đề đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm trong nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, bảo
quản các sản phẩm thủy sản, nhất là những sản phẩm xuất
khẩu. Hiện nay, 2/3 tổng giá trị sản phẩm thủy sản được xuất
khẩu, chỉ có 1/3 phục vụ cho tiêu dùng nội địa. u cầu có
tính quyết định để đảm bảo sức khỏe nhân dân và xuất khẩu
là chất lượng sản phẩm. Ngành ta đã rất chú ý đến vấn đề xây
dựng tiêu chuẩn, kiểm tra chất lượng, đáp ứng nhu cầu của
25


Một sô' thành tựu hoạt động KH và CN ngành thủy sản (2001 ■2005) và định hưởng phát triển


thị trường trong nước và quốc tế. Trong số 332 cơ sở chế biến
thực phẩm thủy sản thì đã có 237 cơ sở đạt các điều kiện vệ
sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam; có 237 cơ
sở đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang Hàn Quốc, 255 cơ sở đạt
tiêu chuẩn Thuỵ Sỹ và Canada, 248 đơn vị đạt tiêu chuẩn Hoa
Kỳ, 152 cơ sở đạt tiêu chuẩn EU. Mặc dù tiêu chuẩn của EƯ
rất cao, nhung có nhiều doanh nghiệp của ta đã thoả mãn yêu
cầu đó. Đây là một thành tựu rất đáng biểu dương.
Điểm cuối cùng là, công tác quản lý khoa học và công
nghệ của Bộ Thủy sản trong những năm gần đây đã có nhiều
tiến bộ và đổi mới theo chủ trương hướng mạnh về cơ sở. Báo
cáo của đại diện Cơng ty Agiíish (An Giang) là một minh
chứng cho điều đó. Các doanh nghiệp đã ứng dụng khoa học
và cơng nghệ trong tồn bộ các khâu như đánh bắt, nuôi
trồng, chế biến, xúc tiến thương mại... . Nhiều thí nghiệm
khoa học đã được tổ chức ngay tại doanh nghiệp.
Đúng như ý kiến của đồng chí Bộ trưởng Bộ Thủy sản:
“khoa học và cơng nghệ phải đưa về với nhân dân và về với
đời sống thực tiễn”. Trước hết là nghiên cứu khoa học và cơng
nghệ gắn với thực tiễn sản xuất thì sẽ có hiệu quả rất cao. Khi
đề tài nghiên cứu thành công, được nhân rộng ngay từ cơ sở
sản xuất thì vừa nhanh, lại vừa tránh được quan liêu, lãng phí.
Hai là, huy động được sức mạnh của nhân dân tham gia làm
khoa học, nên nhiều đề tài khoa học đã tiết kiệm cho ngân
sách nhà nước tới 30-40% kinh phí. Đó là hướng đi rất đúng
trong hoạt động khoa học và cơng nghệ thủy sản nói riêng và
cho hoạt động khoa học và cơng nghệ nói chung.
Bốn vấn đề nói trên đã chứng minh rằng, khoa học thủy
sản ngày càng trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển

ổn định và bền vững của ngành.
26


×