Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.67 MB, 96 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------

ĐỖ HỒNG PHƢƠNG

THỰC HÀNH QUYỀN CƠNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------

ĐỖ HỒNG PHƢƠNG

THỰC HÀNH QUYỀN CƠNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số



: 8380104

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hải Ninh

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ cơng trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được
trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tơi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Hoàng Phƣơng


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra


KTVAHS

Khởi tố vụ án hình sự

THQCT

Thực hành quyền công tố

VKS

Viện kiểm sát

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ ............... 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự ............................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ...... 7
1.1.2. Đặc điểm thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ... 11
1.2. Phạm vi, nội dung và vai trò thực hành quyền công tố trong giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự ........................................................................... 13
1.2.1. Phạm vi thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ..... 13

1.2.2. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
......................................................................................................................... 15
1.2.3. Vai trị thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ..... 16
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 18
CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CƠNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH ..................................................................................................... 20
2.1. Pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
......................................................................................................................... 20
2.1.1. Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong việc giải
quyết nguồn tin về tội phạm ............................................................................ 21
2.1.2. Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong việc khởi tố
vụ án hình sự ................................................................................................... 36
2.2. Thực tiễn thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
......................................................................................................................... 39
2.2.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 39
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế .......................................................................... 47


2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế khi thực hành quyền công tố
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ............................................................. 52
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 57
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
......................................................................................................................... 58
3.1. Giải pháp về hoàn thiện pháp luật ............................................................ 58
3.2. Các giải pháp khác ................................................................................... 67
Kết luận chƣơng 3 ......................................................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một cơ quan trong hệ thống tổ chức bộ
máy nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với chức năng được quy
định tại Điều 107 của Hiến pháp năm 2013. Theo đó, "Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp"1. Điều 2 của Luật Tổ chức VKSND
năm 2014 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố,
kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".2
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm cơng tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 đã đề ra những yêu cầu cơ bản về cải cách tư pháp đối với các cơ quan tư pháp
trong đó có VKSND. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh VKSND
phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn cơng tố với hoạt
động điều tra. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố (THQCT)
và kiểm sát quá trình kiểm tra, xác minh và điều tra, thực hiện đúng và đầy đủ chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát (VKS) trong giai đoạn khởi tố, điều
tra, truy tố có ý nghĩa rất quan trọng; là một trong những yếu tố cơ bản để giải quyết
các vụ án hình sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất
việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vơ tội, góp phần đấu tranh phịng chống tội
phạm đạt kết quả, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.
Như vậy, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một nền
cơng tố mạnh. Khi THQCT, VKSND có trách nhiệm phải bảo đảm mọi hành vi phạm
tội và người phạm tội được phát hiện kịp thời, đầy đủ, xử lý nghiêm minh, có căn cứ
pháp luật, khơng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, đồng thời không làm oan người
vô tội. Đây là nhiệm vụ quan trọng của VKSND trong giai đoạn hiện nay.
Trong tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự (KTVAHS) là giai đoạn đầu có
1


Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp năm 2013, Hà Nội.

2

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2014, Hà Nội.


2
vai trị và ý nghĩa quan trọng đối với tồn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự. Giai
đoạn này có nhiệm vụ xác định có sự việc xảy ra hay khơng, nếu xảy ra thì có hay
khơng dấu hiệu của tội phạm để khởi tố hoặc không KTVAHS, nhằm xác định kịp
thời các hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp
phần bảo đảm quyền con người được pháp luật bảo vệ. Sau khi KTVAHS, Cơ quan
điều tra (CQĐT) được tiến hành các biện pháp điều tra, các biện pháp cưỡng chế tố
tụng nhằm nhanh chóng phát hiện tội phạm và người, pháp nhân phạm tội. Nếu
trong giai đoạn KTVAHS, các hoạt động tố tụng khơng được thực hiện đúng trình
tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định sẽ bỏ lọt tội phạm hoặc
quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi liên quan đến vụ án bị xâm phạm
không được bảo vệ, làm oan người vơ tội... Là cơ quan tư pháp có chức năng
THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp nên VKS có vị trí vơ cùng quan trọng trong
giai đoạn đầu tiên này của quá trình tố tụng.
Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và đặc biệt BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi
hành từ 01/01/2018 đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi THQCT.
Với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận, phân
tích làm rõ các quy định của BLTTHS năm 2015 và thực tiễn thông qua hoạt động
THQCT trong giai đoạn KTVAHS; đồng thời, đề xuất một số giải pháp để nâng cao
chất lượng của hoạt động này, tác giả chọn đề tài "Thực hành quyền công tố trong

giai đoạn khởi tố vụ án hình sự" làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nhất là hoạt động tăng cường trách nhiệm
công tố trong giai đoạn KTVAHS, qua nghiên cứu tìm hiểu cho thấy, các cơng trình
khoa học tập trung nghiên cứu theo những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu chung về tổ chức, hoạt động của VKSND, điển hình như:
Nguyễn Minh Đức (2006), Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần
cải cách tư pháp, Tạp chí Kiểm sát số 9/2006; Khuất Văn Nga (2005), Những chủ
trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của
Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ mới, Tạp chí Kiểm sát số 15/2005; Lê Hữu
Thể (2012), Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về Viện kiểm sát trong


3
Hiến pháp năm 2012, Tạp chí Kiểm sát số Xuân tháng 01/2012;… Các nghiên cứu
trên chủ yếu tìm hiểu và phân tích về tổ chức, hoạt động chung của VKSND, tuy có
nhắc đến hoạt động THQCT trong giai đoạn KTVAHS nhưng khơng có sự phân
tích cụ thể, chun sâu và chưa đề cập tới các giải pháp nâng cao chất lượng
THQCT trong giai đoạn KTVAHS.
- Nghiên cứu về quyền công tố và THQCT có: Lê Thị Tuyết Hoa (2002),
Quyền cơng tố ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật,…
Trong luận án, tác giả nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền công tố ở Việt Nam
và một số nước trên thế giới từ đó xây dựng định nghĩa quyền cơng tố, phân biệt
công tố và tư tố và các vấn đề chung về quyền cơng tố, từ đó hồn thiện các vấn đề
pháp lý và thực tiễn về quyền công tố. Trong nghiên cứu có đưa ra các giải pháp để
phát huy chủ động và quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn
chặn trong giai đoạn điều tra; việc bảo đảm quyết định truy tố, quyết định đình chỉ
điều tra, đình chỉ vụ án có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên bài viết chưa đề cập
đến vấn đề THQCT trong giai đoạn KTVAHS.
- Một số cơng trình nghiên cứu về VKSND trong giai đoạn KTVAHS như:

Đặng Văn Thực (2014), Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học
luật Hà Nội; Trần Thị Lê Ngọc (2017), Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự theo
pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật
Hà Nội; Phạm Anh Đức (2016), Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Luận văn thạc sỹ luật học,
Trường Đại học luật Hà Nội… Các tác phẩm nêu trên, đã có nghiên cứu về VKS
trong giai đoạn KTVAHS nhưng có tác phẩm thì chỉ nghiên cứu về việc kiểm sát, có
tác phẩm có đề cập đến THQCT trong giai đoạn KTVAHS và cũng đã nêu ra một số
kiến nghị, giải pháp hoàn thiện trong lĩnh vực này tuy nhiên sau khi tham khảo, tác
giả nhận thấy các tác phẩm trên phân tích trên cơ sở BLTTHS năm 2003 và các văn
bản hướng dẫn đã hết hiệu lực. Nay BLTTHS năm 2015 đã chính thức có hiệu lực và
đã có nhiều văn bản hướng dẫn thay thế thì những nghiên cứu trên đã phần nào khơng
cịn có tính thực tiễn, một số kiến nghị, giải pháp đã được khơng cịn phù hợp.


4
Ngồi ra, cịn có một số bài viết khác của các tác giả đăng trên tạp chí Kiểm
sát, tạp chí Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Tịa án. Những cơng
trình nghiên cứu khoa học, những bài viết trên đây đã tập trung nghiên cứu về tổ
chức, hoạt động của VKSND nói chung và về chức năng chính của VKSND trên
một số hoạt động cụ thể. Cũng đã có cơng trình nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ
nói chung của VKSND trong giai đoạn KTVAHS.
Tuy nhiên, vấn đề “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án
hình sự”, nghiên cứu một cách hệ thống, nghiên cứu sâu, toàn diện về THQCT
trong giai đoạn KTVAHS trên cơ sở BLTTHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn
hiện hành thì hiện vẫn chưa có cơng trình nào. Mặt khác, BLTTHS năm 2015 chính
thức có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018, các quy định pháp luật về vấn đề này có
nhiều thay đổi, chưa ổn định, thống nhất. Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu
về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn THQCT trong giai đoạn
KTVAHS, nghiên cứu pháp luật về THQCT trong giai đoạn KTVAHS và việc thực
thi trên toàn quốc. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị để bảo đảm và
nâng cao chất lượng công tác THQCT trong giai đoạn KTVAHS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải sẽ giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về THQCT trong giai đoạn
KTVAHS;
- Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về THQCT trong giai đoạn
KTVAHS;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thực hiện THQCT trong giai đoạn
KTVAHS trên toàn quốc và xác định nguyên nhân của những hạn chế;
- Xác định các quan điểm, đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện THQCT
trong giai đoạn KTVAHS cho VKSND thời gian tới.


5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, pháp luật và
thực tiễn về THQCT trong giai đoạn KTVAHS.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu về lý luận về THQCT ở Việt
Nam trong giai đoạn KTVAHS; nghiên cứu pháp luật liên quan đến THQCT trong
giai đoạn KTVAHS quy định tại BLTTHS năm 2015 có so sánh với BLTTHS năm
2003, các văn bản hướng dẫn thi hành và quan điểm trong các nghiên cứu về quyền
công tố, THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn KTVAHS; thực tiễn
THQCT trong giai đoạn KTVAHS của VKND không bao gồm VKS quân sự các
cấp trong 05 năm 06 tháng, từ năm 2013 đến 06 tháng đầu năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, các quan điểm của Đảng cộng
sản Việt Nam về cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành,
trong đó đặc biệt chú trọng các phương pháp:
- Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn nhằm giải quyết một số vấn
đề lý luận về THQCT nói chung và THQCT trong giai đoạn KTVAHS nói riêng;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp sẽ được sử dụng trong việc phân tích
các quy định của BLTHHS năm 2015 về THQCT trong giai đoạn KTVAHS; ngoài
ra các phương pháp này cịn giúp phân tích, tổng hợp những ưu điểm, nhược điểm
và chỉ ra nguyên nhân. Tạo cơ sở cho việc đưa ra những kiến nghị, giải pháp.
- Phương pháp lịch sử cụ thể; phương pháp thống kê, so sánh nhằm tổng hợp
số liệu, đưa ra đánh giá, so sánh hiệu quả thi hành giữa các quy định của BLTTHS
năm 2003 và BLTTHS năm 2015 về THQCT trong giai đoạn KTVAHS.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học:
Luận văn góp phần làm rõ, bổ sung, hoàn thiện thêm một số vấn đề lý luận


6
cơ bản về quyền công tố, THQCT trong giai đoạn KTVAHS. Ngồi ra, luận văn
cũng sẽ góp phần vào việc tổng hợp, phân tích rõ hơn các quy định pháp luật về
THQCT trong giai đoạn KTVAHS trên cơ sở của BLTTHS năm 2015 và các bản
hướng dẫn thi hành mới nhất về vấn đề này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở đánh giá khái quát thực trạng THQCT trong giai đoạn KTVAHS
trên toàn quốc trong thời gian qua; đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm bảo
đảm THQCT trong giai đoạn KTVAHS cho ngành kiểm sát nhân dân. Ngoài ra, kết
quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho Kiểm sát viên, Điều

tra viên các cấp nghiên cứu vân dụng trong thực tiễn công tác. Đồng thời có thể
giúp các nhà quản lý, lãnh đạo ngành kiểm sát định hướng công tác quản lý, quy
hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ; trong xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp lật,
quy chế nghiệp vụ liên quan đến THQCT trong giai đoạn KTVAHS. Luận văn có
thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy của các cơ
sở đào tạo, nghiên cứu khoa học luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự.
Chương 2: Pháp luật về thực hành quyền công trong giai đoạn khởi tố vụ án
hình sự và thực tiễn thi hành.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền cơng trong giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự.


7
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CƠNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Pháp luật phát huy được vai trị và những giá trị của mình trong việc điều
chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội khi được tôn
trọng và thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm minh. Trong đó, thực hiện pháp luật là
quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống
thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu và “trên cơ sở nhận thức của mình chuyển
hóa một cách sáng tạo quy tắc xử sự chung mà nhà nước đã quy định vào tình

huống cụ thể thơng qua hành vi thực tế hợp pháp của mình”3. Từ nguyên tắc chung
này, có thể nhận định hoạt động thực hiện pháp luật của VKSND chính là q trình
VKSND chuyển hóa các quyền năng mà pháp luật quy định nhằm giải quyết các
vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chức năng của mình, đó chính là hoạt động
THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong đó "cơng tố" là một từ ghép Hán
- Việt được hình thành bởi hai từ đơn cơng và tố, "tố" có nghĩa là "nói cơng khai
cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác, cịn "cơng" có
nghĩa là "thuộc về Nhà nước chung cho mọi người, khác với tư"; "công tố" là "điều
tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án"4.
Tại Việt Nam, trong các sách báo pháp lý, khái niệm "cơng tố" vừa nêu được
xem xét dưới các góc độ khác nhau và được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, như:
"là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội" 5 là

3

Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, tr.151.
4

Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.200.

5

Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2009), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà

Nội, tr.188.


8

"hoạt động của Kiểm sát viên và những người khác được luật định (cơng tố viên xã
hội) có nhiệm vụ vạch mặt kẻ phạm tội, xác định căn cứ để kết tội và áp dụng hình
phạt đối với người phạm tội..."6. Mặc dù có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng
các quan điểm nêu trên đều cho rằng "quyền công tố ln gắn liền với việc truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội"7. Do đó, THQCT thực chất là hoạt
động của VKSND trong việc chuyển hóa quyền năng truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội trong những hoạt động cụ thể để giải quyết vụ án hình sự cụ
thể nào đó. Tuy nhiên về vấn đề quyền công tố hiện nay, trong khoa học pháp lý
cũng cịn có nhiều ý kiến khác nhau.
Có quan điểm cho rằng: “Quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối
với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật”8 . Với tư cách là một quyền năng của
Nhà nước, quyền công tố được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi
phạm pháp luật, bao gồm tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Như
vậy, sự tồn tại quyền công tố trong các hoạt động tố tụng nêu trên là do nhu cầu
khách quan. Bởi vì, Nhà nước khơng thể khơng thể hiện quyền lực của mình trong
việc giải quyết các vi phạm pháp luật, và sự hiện diện cơng tố như một điều kiện bảo
đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi phạm pháp luật của cơ quan tài phán.
Có quan điểm cho rằng: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu
trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội”9. Như vậy, theo
quan điểm này, quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Thực tế, những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng không chỉ được xác lập
và bảo vệ bằng luật hình sự, luật tố tụng hình sự mà cịn cả các lĩnh vực pháp luật
khác như luật dân sự, luật hành chính... Do đó những hành vi phạm tội và những
hành vi vi phạm pháp luật khác liên quan đến lợi ích chung, lẽ tất nhiên nó xâm
phạm đến một hay một số cá nhân trong cộng đồng. Điều này thể hiện rõ nhất ở
6

Viện Khoa học pháp lý (1986), Thuật ngữ pháp lý phổ thông, Nxb Pháp lý, Hà Nội, tr. 94.

7


Nguyễn Tiến Sơn (2012), Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự,

Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 32.
8

Lê Hữu Thể (Chủ biên) (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều

tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.28.
9

Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Bàn về quyền công tố, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 40.


9
hành vi phạm tội nên quyền công tố được thể hiện rõ nét nhất, đậm nét trong tố tụng
hình sự, còn trong các lĩnh vực tố tụng khác như dân sự, hành chính, lao động thì
“quyền cơng tố dường như nhường chỗ cho quyền tự định đoạt của các đương sự”10.
Như vậy, cơng tố là một trong những hình thức cáo buộc người khác thực
hiện hành vi sai trái hoặc vi phạm pháp luật. Trong công tố người thực hiện sự cáo
buộc ấy là Nhà nước, đối tượng bị Nhà nước cáo buộc không chỉ là một con người
cụ thể mà cịn có thể là một pháp nhân tùy theo pháp luật mỗi nước và việc cáo
buộc này không hạn chế trong một lĩnh vực nào mà nó được thể hiện và tồn tại
trong nhiều lĩnh vực khác nhau tùy theo hành vi vi phạm được thực hiện đã xâm
phạm tới quan hệ pháp luật nào.. Cơng tố, vì vậy có thể được hiểu là sự cáo buộc
của Nhà nước đối với người đã có hành vi vi phạm pháp luật trước Tịa án. Quyền
cơng tố là quyền của Nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan (ở Việt Nam
là cơ quan VKS) thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm
tội. Để thực hiện điều này, cơ quan cơng tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập
đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Hay nói cách

khác, quyền cơng tố - bản chất của nó được thể hiện là quyền nhân danh quyền lực
công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Ở nước
ta, quyền công tố là quyền của Nhà nước được giao cho cơ quan VKS để thực hiện
việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong lĩnh vực hình sự.
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND 2014,
VKSND thực hiện hai chức năng là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tuy
nhiên, hiện nay vẫn còn sự nhầm lẫn hoặc nhận thức sai lầm giữa quyền công tố và
THQCT, giữa thẩm quyền của VKSND với các quyền năng pháp lý để thực hiện
thẩm quyền đó, hay hành vi nào là THQCT, hành vi nào là thực hiện chức năng
kiểm sát hoạt động tư pháp. Việc xác định quyền cơng tố và theo đó là THQCT có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải quyết được rõ ràng mạch lạc vấn đề
này giúp cho việc nhận thức đầy đủ, chính xác vị trí vai trò của VKSND trong hệ
thống các cơ quan tư pháp, cũng như chức năng nhiệm vụ của VKSND, đặc biệt là
10

Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp

luật, Hà Nội, tr. 30.


10
trong tố tụng hình sự, nó càng có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang
tích cực triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng về cải cách các cơ quan tư pháp.
Như đã phân tích ở phần trên, “quyền công tố” là quyền nhân danh quyền lực
cơng thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đối tượng
tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Phạm vi quyền này bắt
đầu từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực
pháp luật. Để đảm bảo việc thực hiện quyền đó, Nhà nước ban hành các văn bản
pháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền cơng tố mà cơ
quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người

phạm tội, cơ quan được giao thẩm quyền truy tố đưa vụ án ra toà để xét xử và thực
hiện việc buộc tội đó gọi là cơ quan THQCT. Việc quy định cơ quan THQCT ở mỗi
nước khác nhau, tuỳ thuộc vào chế độ chính trị của mỗi nước. Ở nước ta, Nhà nước
giao cho VKSND thực hiện chức năng này và chỉ có VKSND mới có chức năng
THQCT mà khơng có cơ quan nào có được. “Thực hành” là “làm để áp dụng lý
thuyết vào thực tiễn”11. Như vậy, VKSND thực hành quyền công tố thực chất là một
hoạt động thực hiện pháp luật trong việc nhân danh Nhà nước truy tố người phạm
tội và tội phạm ra trước Tòa án, kết quả của hoạt động này được Toà án dùng làm
căn cứ để xét xử người phạm tội. Để đảm bảo thực hiện quyền công tố trong thực tế
đấu tranh chống tội phạm, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy
định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố mà cơ quan có thẩm
quyền được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Các
quyền năng đó được giao cho VKSND thực hiện để phát hiện và truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Như vậy THQCT là cách thức mà cơ quan
VKS tổ chức thực hiện quyền công tố.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: “Thực hành quyền công tố
là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc
buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
11

Hồng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 973.


11
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn do các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản
chất vụ án. Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những u cầu
khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định.
KTVAHS là giai đoạn đầu tiên trong tố tụng hình sự12. Giai đoạn này bắt đầu từ khi
cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
của cơ quan tổ chức, công dân hoặc tin báo trên các phương tiện thông tin đại
chúng, khi người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc do các cơ quan có thẩm quyền trực
tiếp phát hiện tội phạm.
Trên cơ sở phân tích, làm rõ các nội dung về quyền công tố, THQCT và xác
định tiếp cận KTVAHS là một giai đoạn của q trình tố tụng, có thể đưa ra khái
niệm THQCT trong giai đoạn KTVAHS như sau: “Thực hành quyền công tố trong
giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự thơng qua việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội
dung của quyền công tố do nhà nước quy định để xác định một sự việc có dấu hiệu
tội phạm hay khơng được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố
hoặc khơng khởi tố vụ án hình sự.”
1.1.2. Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Khái niệm THQCT trong giai đoạn KTVAHS được xây dựng trên cơ sở các
nội dung về quyền công tố, THQCT và tiếp cận KTVAHS là một giai đoạn của q
trình tố tụng. Từ đó, ta có thể đưa ra một số đặc điểm của THQCT trong giai đoạn
KTVAHS như sau:
Thứ nhất, về chủ thể tiến hành, cũng như các giai đoạn khác THQCT ở giai
đoạn KTVAHS chỉ do VKS tiến hành. Công tố là chức năng hiến định, được giao
cho một chủ thể duy nhất là VKSND. Một số cơ quan khác cũng có các hoạt động
liên quan như: CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
12

Đặng Văn Thực (2014), Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ

án hình sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, tr.6.



12
điều tra và Tịa án cũng có thẩm quyền KTVAHS. Tuy nhiên, các hoạt động này chỉ
là giai đoạn ban đầu nhằm khởi động quyền công tố nên hoạt động của các cơ quan
trên chỉ là bổ trợ cho quyền công tố của VKS.
Thứ hai, THQCT trong giai đoạn KTVAHS của VKS được tiến hành theo
thủ tục tố tụng chặt chẽ nhằm áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và tố tụng
hình sự vào các trường hợp cụ thể. Mục đích của hoạt động này là xác định một sự
việc được tiếp nhận từ tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố có dấu hiệu tội
phạm hay khơng, việc truy cứu trách nhiệm hình sự chưa đặt ra trong hoạt động
THQCT trong giai đoạn này. Đối với thực hiện pháp luật trong THQCT ở giai đoạn
KTVAHS, VKS phải tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng các quy định của pháp
luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của mình để giải quyết các vấn đề đặt ra.
Loại quy phạm được lựa chọn áp dụng tuy chủ yếu là quy phạm hình thức như quy
định của luật tố tụng hình sự, luật tổ chức VKSND, luật tổ chức CQĐT hính sự, các
quy chế của ngành… bằng các thao tác, hành vi cụ thể của Viện trưởng, Phó viện
trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên nhưng những quy phạm tố tụng này được đưa
vào thực tế lại ln có mối quan hệ chặt chẽ với việc nghiên cứu và thực hiện các
quy định của pháp luật nội dung - chính là Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng
dẫn thi hành.
Thứ ba, THQCT trong giai đoạn KTVAHS thể hiện mối quan hệ gắn bó chặt
chẽ vừa mang tính phối hợp, vừa mang tính chế ước của VKS với CQĐT, Cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà chủ yếu chính là mối
quan hệ giữa VKS với CQĐT. Sự phối hợp giữa CQĐT và VKS trong giai đoạn
KTVAHS được thực hiện từ khi CQĐT tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố; thể hiện bằng sự phối hợp trong từng chế định tố tụng hình sự và
xun suốt tồn bộ q trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm. Sự phối hợp
này chính là sự "liên kết theo chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm giữa VKS với
CQĐT"13 nhằm mục đích xác định có tội phạm hay khơng có tội phạm xảy ra là cơ
sở để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định khơng KTVAHS. Bên cạnh đó, VKS

13

Nguyễn Tiến Sơn (2014), "Thực hành quyền công tố - kiểm sát điều tra trong điều kiện cải cách tư pháp",

Tạp chí Khoa học Kiểm sát, tr. 15-16.


13
còn thực hiện hoạt động chế ước các hành vi, quyết định của CQĐT. Kể cả các
quyết định của CQĐT nếu không cần sự phê chuẩn của VKS như quyết định khởi tố
vụ án, quyết định giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ thì cũng
đều đặt dưới sự kiểm sát chặt chẽ của VKS thông qua nghĩa vụ thông báo, gửi các
quyết định này để đảm bảo các quyết định đó trong việc tuân thủ các quy định của
pháp luật. Đối với các lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm
giữ của CQĐT chỉ có hiệu lực thi hành sau khi có sự phê chuẩn của VKS. Căn cứ
vào chức năng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp, VKS có quyền và trách
nhiệm huỷ bỏ các lệnh, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, nếu các lệnh, quyết
định đó khơng có căn cứ, trái pháp luật và thay vào đó VKS có quyền ra các lệnh,
quyết định tố tụng giao cho CQĐT thực hiện và VKS chịu trách nhiệm về các quyết
định của mình, vì vậy có thể nói "pháp luật quy định thẩm quyền phê chuẩn của
VKS đối với các lệnh, quyết định của CQĐT không có nghĩa là để VKS "chứng
thực" các lệnh, quyết định tố tụng của CQĐT mà pháp luật đã chuyển vai trò quyết
định, chuyển trách nhiệm từ cơ quan điều tra sang VKS"14. Hơn nữa theo quy định
của BLTTHS, CQĐT dù khơng nhất trí với các u cầu, quyết định của VKS nhưng
vẫn phải chấp hành và có quyền kiến nghị lên VKS cấp trên trực tiếp.
1.2. Phạm vi, nội dung và vai trị thực hành quyền cơng tố trong giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự
1.2.1. Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Xuất phát từ việc hiểu quyền cơng tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS
để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thì quyền này phát sinh từ khi

có hành vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi cơ quan tài phán tuyên phạt đối với người
đã thực hiện tội phạm ấy. “Quyền công tố luôn treo trên đầu đối với tất cả những
người đã thực hiện hành vi tội phạm những chưa bị phát hiện khởi tố, điều tra”15.
Chính vì vậy, phạm vi quyền cơng tố bắt đầu từ khi có tội phạm được thực hiện.

14

Viện Khoa học kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2006), Sổ tay kiểm sát viên hình sự, tập 1, Nxb

Tư pháp, Hà Nội, tr. 89.
15

Lê Hữu Thể (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra,

NXB Tư pháp, tr. 59.


14
Tuy nhiên, như đã phân tích, khơng thể đồng nhất quyền cơng tố trong tố
tụng hình sự với THQCT, bởi vì THQCT là việc sử dụng các biện pháp do luật định
để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Trên thực tế khơng ít
những trường hợp mặc dù tội phạm xảy ra nhưng không được khởi tố; điều này do
nhiều nguyên nhân khác nhau, trong khoa học pháp lý gọi là “Tội phạm ẩn” (tức là
những tội phạm trên thực tế xảy ra nhưng chưa được khởi tố để điều tra) 16 cho nên
Cơ quan tố tụng không áp dụng được bất kỳ biện pháp THQCT nào. Qua đó có thể
thấy phạm vi THQCT hẹp hơn so với phạm vi của quyền cơng tố, nó chỉ bắt đầu từ
khi có cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và kết
thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị đình chỉ).
Phạm vi THQCT được nhận thức khác nhau ở các giai đoạn lịch sử và được
phản ánh trong quy định của pháp luật về vần đề này cũng khác nhau. Theo quan

điểm được quy định trong BLTTHS năm 2003 và văn bản pháp luật liên quan, thời
điểm bắt đầu THQCT là từ khi khởi tố vụ án. Tuy nhiên đến BLTTHS năm 2015 thì
phạm vi THQCT đã được xác định rộng hơn bắt đầu từ khi Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm thì những hoạt động thuộc
nội dung THQCT đã được thực hiện. Và quyền cơng tố trong tố tụng hình sự là
quyền địi trừng phạt người phạm tội một cách công khai bằng con đường Tịa án,
do đó khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì quyền tài phán chấm dứt, quyền
công tố bị triệt tiêu và hoạt động THQCT cũng kết thúc.
Từ phân tích nêu trên, có thể kết luận, phạm vi THQCT nói chung bắt đầu
từ khi Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và kết
thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tịa án khơng bị kháng nghị.
Về phạm vi của THQCT trong giai đoạn KTVAHS theo BLTTHS năm
2015 gần như đã được ghi nhận tại Điều 1 của Quy chế tạm thời công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố (Ban hành kèm theo Quyết định số 169/QĐ-VKSTC ngày 02 tháng
5 năm 2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) như sau: “Công tác
thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
16

Lê Thị Tuyết Hoa (2001), ”Bàn về Quyền công tố”, Viện Nhà nước và pháp luật, tr. 62-67.


15
phạm và kiến nghị khởi tố bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, đến khi ra quyết định khởi
tố hoặc quyết định khơng khởi tố vụ án hình sự và thơng báo kết quả giải quyết theo
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự”. Có thể thấy phạm vi THQCT trong giai đoạn
KTVAHS của VKS gần như tương đồng với phạm vi tiến hành hoạt động tiếp nhận,
giải quyết nguồn tin về tội phạm của CQĐT, đó là bắt đầu ngay từ khi giải quyết
nguồn tin về tội phạm và kết thúc khi ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không

KTVAHS và thông báo kết quả giải quyết theo quy định của BLTTHS.
Hoạt động THQCT trong giai đoạn KTVAHS được bắt đầu sớm như vậy
nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện và khởi
tố kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội,
không để lọt tội phạm và người phạm tội.
1.2.2. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Nội dung THQCT dễ bị nhầm lẫn với các hoạt động thực hiện chức năng
kiểm sát hoạt động tư pháp vì hai hoạt động này gắn bó mật thiết với nhau, thường
được VKS cùng thực hiện trong các giai đoạn tố tụng. Vì vậy, việc xác định rõ nội
dung của hoạt động THQCT có ý nghĩa rất quan trọng. Theo quan điểm của tác giả,
nội dung THQCT là việc VKS sử dụng tổng hợp những quyền năng tố tụng để thực
hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Trên cơ sở xác định phạm vi THQCT trong giai đoạn KTVAHS là bắt đầu
từ khi Cơ quan có thẩm quyền tiến tố tụng tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và kết
thúc khi ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không KTVAHS và thông báo kết
quả giải quyết theo quy định của BLTTHS thì nội dung THQCT trong giai đoạn
KTVAHS bao gồm:
- Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT, cơ quan được
nhiệm vụ giao tiến hành một số hoạt động điều tra;
- Hủy bỏ các quyết định khơng có căn cứ hoặc trái pháp luật của CQĐT, Cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;


16
- Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền
thực hiện yêu cầu của VKS;
- Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong các
trường hợp do BLTTHS năm 2015 quy định;

- Yêu cầu CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra khởi tố vụ án hình sự hoặc thay đổi, bổ sung quyết định KTVAHS;
- Quyết định việc gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố;
- Trực tiếp khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định KTVHAS trong các trường
hợp do BLTTHS quy định;
- Tiến hành một số hoạt động khác trong việc THQCT trong giai đoạn
KTVAHS quy định của pháp luật.
1.2.3. Vai trị thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Cơng tố là một biện pháp chuyên chính trong bất cứ Nhà nước nào. Khơng
có cơ quan nhà nước nào có thể thay ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố.
Bắt, giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay
khơng, có đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước hay khơng, điều đó
chính là VKS phải trơng nom, bảo đảm làm tốt.17 .
Như vậy, VKSND thực hành quyền công tố trong giai đoạn KTVAHS nhằm
bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ
chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất. Điều này là cơ sở để bảo đảm đảm các nội dung và cũng thể hiện rõ nét
vai trò THQCT trong giai đoạn KTVAHS của VKSND như sau:
Thứ nhất, đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát
hiện và khởi tố kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người
vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội. Các biện pháp công tố của VKS
trong giai đoạn khởi tố có quan hệ chặt chẽ với hoạt động kiểm tra, xác minh của
17

Trần Công Phàn (2012), Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn cơng tố với điều

tra, Tạp chí Kiểm sát, tr. 2-6.



17
CQĐT, của Điều tra viên. VKS sẽ xét phê chuẩn hoặc tự mình ra các quyết định tố
tụng trên cơ sở kết quả xác minh của CQĐT. VKS thực hiện quyền công tố nhằm
đảm bảo chất lượng hoạt động kiểm tra, xác minh phản ánh đúng những gì xảy ra
trong hiện thực và sự tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật, là bảo đảm vững
chắc để hoạt động kiểm tra, xác min được chính xác, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân, không làm oan người vô tội.
Cụ thể mỗi hành vi, quyết định công tố trong giai đoạn khởi tố (khởi tố, bắt, giữ)
trên cơ sở, căn cứ vững chắc và hợp pháp thông qua việc Kiểm sát viên phân tích kỹ
sự việc, kết luận đầy đủ và đúng đắn về các vấn đề CQĐT đã tiến hành sẽ đảm bảo
cho hiệu quả của đường lối xử lý. Khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của
CQĐT, Kiểm sát viên nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc, làm rõ các căn cứ thực tế và căn
cứ pháp luật. Vì vậy, thơng qua việc THQCT trong giai đoạn này sẽ giúp VKS đưa
ra kết luận có hay tội phạm xảy ra hay không.
Thứ hai, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, bị hạn chế quyền
con người, quyền công dân trái luật. Trong giai đoạn khởi tố, VKS và CQĐT có vị
trí, chức năng, nhiệm vụ khác nhau. CQĐT có trách nhiệm tiến hành các hoạt động
kiểm tra, xác minh để chứng minh có hay khơng tội phạm xảy ra. VKS có trách
nhiệm THQCT, kiểm sát các hoạt động của CQĐT. Trên thực tế, CQĐT vẫn còn
trường hợp lạm dụng việc bắt, tạm giữ, thay thế các biện pháp ngăn chặn. Thực tế
đó đã đặt ra trách nhiệm của từng cấp kiểm sát, của từng Kiểm sát viên là phải áp
dụng mọi biện pháp theo quy định của pháp luật một cách chủ động, kịp thời, bảo
đảm việc bắt, tạm giữ, khởi tố có đủ căn cứ và hợp pháp; thể hiện đúng đắn chính
sách của Đảng và Nhà nước không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm
oan người vô tội; yêu cầu chấm dứt và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật
trong hoạt động kiểm tra, xác minh.
Thứ ba, là tiền đề quan trọng để đảm bảo hiệu quả trong các hoạt động tố
tụng tiếp theo. Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình xuyên suốt và đòi hỏi hiệu
quả và hiệu lực một cách thống nhất. Kết quả của hoạt động này là tiền đề để thực

hiện các hoạt động tiếp theo với một mục tiêu chung là phát hiện và xử lý kịp thời,


18
đúng pháp luật hành vi phạm tội. Do đó, nếu THQCT trong giai đoạn KTVAHS tốt
sẽ là cơ sở vững chắc để điều tra, truy tố và xét xử tốt, đạt hiệu quả cao.
Kết luận chƣơng 1
Quyền công tố và THQCT là các khái niệm khác nhau. Nếu “quyền công tố”
là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội thì THQCT thực chất là một hoạt động thực hiện pháp luật trong
việc nhân danh Nhà nước truy tố người phạm tội và tội phạm ra trước Tòa án. Từ đó
xác định: “Thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là hoạt
động của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự thông qua việc sử
dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của quyền công tố do nhà
nước quy định để xác định một sự việc có dấu hiệu tội phạm hay không được thực
hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc
khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự”.
THQCT trong giai đoạn KTVAHS có một số đặc điểm sau: VKS là chủ thể
duy nhất tiến hành THQCT trong giai đoạn này với mục đích hướng xác định một
sự việc có dấu hiệu tội phạm hay không để làm căn cứ ra quyết định khởi tố hay
không KTVAHS; hoạt động này thể hiện mối quan hệ gắn bó chặt chẽ vừa mang
tính phối hợp, vừa mang tính chế ước của VKS với CQĐT từ khi CQĐT tiếp nhận
nguồn tin về tội phạm; thể hiện bằng sự phối hợp trong từng chế định tố tụng hình
sự và xun suốt tồn bộ q trình kiểm tra, xác minh.
Phạm vi THQCT trong giai đoạn KTVAHS của VKSND bắt đầu từ khi Cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và
kết thúc khi ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không KTVAHS và thông báo
kết quả giải quyết theo quy định của BLTTHS. Với đặc điểm và phạm vi về
THQCT trong giai đoạn KTVAHS của VKSND, nội dung của hoạt động này bao
gồm: Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; Hủy bỏ các quyết

định khơng có căn cứ hoặc trái pháp luật của CQĐT; Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác
minh; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Yêu cầu
CQĐT khởi tố vụ hoặc thay đổi, bổ sung quyết định KTVAHS; Quyết định việc gia


19
hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Trực tiếp
khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định KTVAHS;...
VKSND thực hành quyền công tố trong giai đoạn KTVAHS nhằm bảo vệ
Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Thông qua hoạt động THQCT trong giai đoạn này sẽ giúp VKS đưa ra kết luận
có hay tội phạm xảy ra hay khơng. Và đây cũng là tiền đề quan trọng để đảm bảo
hiệu quả cho việc THQCT trong các giai đoạn tiếp theo điều tra, truy tố và xét xử.


×