Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (238.04 KB, 31 trang )

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP.
I- Đặc điểm sản xuất xây lắp và ảnh hưởng của nó đến công tác hạch toán chi
phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp.
So với ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những nét đặc thù riêng biệt
thể hiện ở sản phẩm và quá trình sản xuất . Điều này có ảnh hưởng đến công tác hạch toán
kế toán của ngành. cụ thể: kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau. Vì vậy mỗi
sản phẩm xây lắp đều có yêu cầu tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công
phù hợp với đặc điểm của từng công trình, có như vậy việc sản xuất mới mang lại hiệu
quả cao. Do sản phẩm có tính chất đơn chiếc như vậy nên chi phí sản xuất cho từng công
trình sẽ khác nhau, do vậy việc tập hợp chi phía sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp cũng được tính cho từng sản phẩm riêng biệt, thông thường sản xuất xây lắp theo đơn
đặt hàng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông.
Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, kết cấu phức tạp thời gian thi công kéo dài. Trong
thời gian này, việc quản lý đòi hỏi phải lập dự toán thiết kế và thi công để theo dõi, kiểm
tra quá trình sản xuất thi công, đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, đảm bảo chất lượng thi
công công trình. Do thời gian thi công công trình dài nên kỳ tính giá thành thường không
xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà xác định theo thời điểm thi công
công trình hạng mục công trình hoàn thành, bàn giao theo hợp đồng. Doanh nghiệp xây
lắp thường có địa bàn rộng, sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất. Các điều kiện để
sản xuất phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm, điều này làm cho công tác quản lý rất
phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết thông thường các doanh nghiệp
xây
Sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ, mỗi sản phẩm có yêu cầu về mặt thiết
kế kỹ thuật, lắp sử dụng lực lượng lao động thuê ngoài tại chỗ, nơi thi công công trình để
giảm bớt chi phí khi di dời.
Sản xuất xây dựng cơ bản thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của thiên
nhiên, thời tiết nên việc thi công xây dựng ở mức độ nào đó mang tính chất thời vụ. Do đặc
điểm này trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật tư chặt chẽ, đảm bảo
thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện môi trường, thời tiết thuận lợi. Trong điều kiện
không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng công trình có thể phá đi làm lại và các thiệt hại


phát sinh do ngừng sản xuất, doanh nghiệp cần có kế hoạch điều độ cho phù hợp nhằm tiết
kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
I. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây
lắp.
1. Chi phí sản xuất.
1.1 Khái niệm và bản chất.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao
động vật hoá cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải chi ra để
tiến hành các hoạt động sản xuất trong một kỳ kinh doanh. Tuy nhiên để hiểu đúng chi phí
sản xuất cần phải phân biệt giữa chi phí và chi tiêu, chi phí là sự dịch chuyển vốn và giá trị
của các yếu tố sản xuất vào đối tượng tính chi phí, do đó chỉ được tính là chi phí của kỳ
hạch toán những chi phí có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ
không phải mọi khoản chi phí chi ra trong kỳ hạch toán. Chi tiêu thể hiện sự giảm vốn,vật
tư, tài sản của doanh nghiệp bất kể nó được sử dụng vào mục đích gì. Tổng số chi tiêu
trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi têu cho quá trình cung cấp, chi tiêu cho quá trình
sản xuất kinh doanh, chi tiêu cho quá trình tiêu thụ.
1.2 Phân loại chi phí sản xuất.
a. phân loại theo yếu tố chi phí.
Đối với các doanh nghiệp xây lắp, toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ được chia
thành các yếu tố:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: xi măng, gạch, đá...
- Chi phí công cụ, dụng cụ sản xuất: quần áo bảo hộ...
- Chi phí nhiên liệu: xi măng,dầu mỡ...
- Chi phí lương và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất trực tiếp và
gián tiếp.
Chi phí khấu hao tài sản cố định
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Chi phí bằng tiền khác.
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế có tác dụng lớn trong việc quản lý
chi phí sản xuất.

Nó cho biết kết cấu tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh
giá tình hình thực hiện dự toán chi phí xản suất và lập kế hoạch cung ứng vật tư, quỹ tiền
lương, tính toán nhu cầu vốn định mức. Đối với kế toán nó là cơ sở để tổ chứ việc tập
hợp chi phí sản xuất theo yếu tố, giám đốc tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất
đồng thời là cơ sở tính toán thu nhập quốc dân, đánh giá tình hình tăng lăng suất lao
động.
b. phân loại chi phí trong khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm xây lắp.
Thông thường, chi phí sản xuất được chia thành 3 khoản mục chính : Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp chi phí sản xuất chung, nhưng do đặc
thù của sản xuất xây lắp có chi phí máy thi công lớn và phức tạp nên chi phí sản xuất sản
phẩm xây lắp được chia thành 4 khoản mục:
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
chi phí nhân công trực tiếp
chi phí sử dụng máy thi công
chi phí sản xuất chung
Theo cách phân loại này giúp ta biết được cơ cấu khoản mục tính giá thành sản
phẩm xây lắp trong doanh nghiệp kinh doanh xây lắp đồng thời giúp kế toán sử dụng tài
khoản phù hợp. Ngoài 2 cách phân loại trên, chi phí sản xuất kinh doanh còn được phân
loại theo cách thức kết chuyển chi phí, phân loại theo quan hệ chi phí với khối lượng công
việc, sản phẩm hoàn thành... Tuỳ theo yêu cầu quản lý và đặc điểm sản xuất kinh doanh
của từng doanh nghiệp.
2 Giá thành
2.1 Khái niệm và bản chất.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí, về lao động
sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm, lao vụ đã hoàn
thành. Giá thành sản phẩm xây lắp phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống
và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩn xây lắp.
2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp.
a. Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành.
Theo cách phân loại này giá thành sản phẩm xây lắp được chia thành: Giá thành dự

toán, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế.
Giá thành dự toán : Là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây
lắp công trình.
Giá thành dự toán = giá trị dự toán – lợi nhuận định mức
Giá thành kế hoạch: Là giá thành xác định xuất phát từ điều kiện cụ thể ở mỗi đơn
vị xây lắp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức và đơn giá áp dụng trong đơn vị.
Giá thành kế hoạch = giá thành dự toán – mức hạgiá thành
Giá thành xây lắp thực tế: Là biểu hiện bằng tiền của tất cả chi phí mà doanh nghiệp
bỏ ra để hình thành một đối tượng xây lắp nhất định. Giá thành sản phẩm xây lắp thực tế
không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà còn bao gồm những chi phí thực tế
phát sinh do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan của doanh nghiệp.
Thông thường giá thành thực tế sản phẩm xây lắp được chia thành:
Giá thành công tác xây lắp thực tế
Giá thành hạng mục công trình hoàn thành Về nguyên tắc, mối quan hệ giữa 3
loại giá thành trên phải đảm bảo:
Giá thành dự toán >= giá thành kế hoạch >= giá thành thực tế
b. Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí :
Theo cách phân loại này giá thành được chia thành 2 loại :
Giá thành sản xuất : là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan tới
quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung.
Giá thành sản xuất được tính theo công thức:
Tổng giá thành
sản phẩm xây
lắp
= chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang đầu kỳ
+ chi phí sản xuất
phát sinh trong
kỳ

- chi phí sản xuất
kinh doanh dở
dang c.kỳ
Giá thành tiêu thụ < giá thành toàn bộ >: Bao gồm toàn bộ giá thành sản xuất sản
phẩm xây lắp cộng thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đã được phân
bổ cho sản phẩm đó. Giá thành toàn bộ của sản phẩm chỉ được xác định sau khi khối lượng
sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ đã được thực hiện. Ngoài các cách phân loại trên,
trong xây dựng cơ bản còn sử dụng 2 chỉ tiêu tính giá thành sau:
Giá đấu thầu xây lắp: là loại giá thành sự toán xây lắp do chủ đầu tư đưa ra để
doanh nghiệp căn cứ vào đó tính giá thành sản phẩm của mình.Về nguyên tắc giá đấu thầu
xây lắp chỉ bằng giá dự toán
Giá đấu thầu xây lắp: Là loại giá thành dự toán dây lắp do chủ đầu tư dưa ra để
doanh nghiệp căn cứ vào đó tính giá thành sản phẩm của mình. Về nguyên tắc giá đấu thầu
xây lắp chỉ bằng giá dự toán.
Giá hợp đồng công tác xây lắp: Là loại giá giá thành dự toán xây lắp ghi trong hợp
đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và đơn vị xây lắp, sau khi thoả thuận giao thầu. Về
nguyên tắc, giá thành hợp đồng chỉ được nhỏ hơn hoặc bằng giá đấu thầu xây lắp.
3 - Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp:
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau trong quá trình sản xuất toạ ra sản phẩm, chi phí biểu hiện mặt hao phí còn giá thành
biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất. Đây là 2 mắt thống nhất của cùng một quá
trình, vì vậy chúng giống nhau về mặt chất. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đều
bao gồm các chi phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ
ra trong quá trình thi công. Tuy nhiên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp lại
khác nhau về lượng, được thể hiện qua mô hình sau:
Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ
Chi phí phát sinh trong kỳ
B C
Tổng giá thành sản phẩm

D
Chi phí sản xuất
dở dang cuối kỳ
Qua mô hình trên ta thấy: AC = AB + BD – CD
Tổng giá thành sản
phẩm xây lắp
=
Chi phí SXKD dở dang
Đầu kì
+
Chi phí SX
Phát sinh trong kì
-
Chi phí SXKD dở dang
Cuối kì
Hay:
Như vậy nếu chi phí sản xuất là tổng hợp những chi phí phát sinh trong một thời kỳ
nhất định thì giá thành sản phẩm lại là tổng hợp những chi phí chia ra gắn liền với việc sản
xuất và hoàn thành khối lượng công việc xây lắp đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm không
bao gồm những chi phí cho khối lượng dở dang cuối kỳ, những chi phí không liên quan
A
đến hoạt động sản xuất, những chi phí đã chi ra nhưng chờ phân bổ kỳ sau nhưng nó lại
bao gồm những chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ trước chuyển sang, những chi
phí trích trước vào giá thành nhưng thực tế chưa phát sinh và những chi phí kỳ trước
chuyển sang phân bổ cho kỳ này.
Chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm xây lắp chỉ thống nhất về lượng trong
trường hợp đối tượng tập hợp chí phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là công trình,
hạng mục công trình được hoàn thành trong kỳ hoặc giá trị khối lượng xây lắp dở dang đầu
kỳ và cuối kỳ bằng nhau.
4. Sự cần thiết và nhiệm vụ tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành

sản phẩm xây lắp
4.1 Sự cần thiết:
Tổ chức kế toán đúng, hợp lý chi phí sản xuất xây lắp và tính đúng, tính đủ giá
thành công trình có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi pgí, giá thành xây dựng,
trong công việc kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói
chung và ở các tổ, đội nói riêng. Với chức năng là ghi chép, tính toán phản ánh Giám Đốc
thường xuyên liên tục sự biến động của vật tư, tài sản,tiền vốn kế toán sử dụng cả thước đo
hiện vật và thước đo giá trị để quản lý chi phí. Thông qua số liệu do kế toán tập hợp chi
phí, tính giá thành người quản lý biết được chi phí và giá thành thực tế của công trình,
hạng mục công trình. Qua đó có thể phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản
phẩm, tình hình sử dụng vật tư, lao động, vốn tiết kiệm hay lãng phí để từ đó đưa ra những
biện pháp, quyết định phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hạ
giá thành mà vẫn bảo đảm chất lượng là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp cạnh tranh
được trên thị trường.
Việc phân tích đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ có thể
dựa trên giá thành sản phẩm chính xác. Về phần mình giá thành lại chịu ảnh hưởng của kết
quả tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp. Do vậy tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm xây lắp để xác định đúng nội dung phạm vi chi phí cấu thành
trong giá thành là yêu cầu cấp bách trong nền kinh tế thị trường.
Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề để xác định kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tránh tình trạng lãi giả, lỗ thật như một số năm trước
đây khi nề kinh tế còn đang trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung. Các doanh nghiệp hoạt
động theo chỉ tiêu pháp lệnh, vật tư tiền vốn do cấp, trên cấp giá thành là giá thành kế
hoạch định sẵn. Vì vậy công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành chỉ mang hình
thức.
Chuyển sang cơ chế thị trường các doanh nghiệp được chủ động hoạt động theo
phương hướng riêng và phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình do vậy kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phần không thể thiếu được khi thực
hiện chế độ hạch toán kế toán, hơn nữa nó có ý nghĩa to lớn và phối chất lượng công tác kế
toán trong toàn doanh nghiệp.

4.2 Nhiệm vụ.
Để phát huy hết vai trò của mình, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp phải hoàn thành các nhiệm vụ sau:
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản
xuất và phân bổ chi phí sản xuất thích hợp.
- Xác định đúng đối tựơng tính giá thành và lựa chọn phương pháp tính giá thành
thích hợp
- Xây dựng quy tắc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Quy
định trình tự công việc, phân bổ chi phí cho từng đối tượng, từng sản phẩm chi tiết.
5. Trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp:
Chi phí sản xuất của đơn vị xây lắp gồm nhiều loại có tính chất và nội dung kinh tế
khác nhau. Nên việc hạch toán chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp
lý, khoa học mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác kịp thời.
Trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây lắp được thực hiện qua các bước:
+ Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng công
trình, hạng mục công trình.
+ Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của ngành sản xuất kinh doanh phụ có
liên quan trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình trên cơ sở khối lượng lao vụ
phục vụ.
+ Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình có liên
quan theo tiêu thức phù hợp.
+ Bước 4: Xác định chi phí dở dang cuối kỳ từ đó tính giá thành sản phẩm hoàn thành.
III. Tổ chức kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
1 Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
1.1 Đối tượng và căn cứ kế toán chi phí sản xuất
Do đặc thù riêng của ngành xây lắp lên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là từng
công trình, hạng mục công trình cụ thể hoặc theo từng đơn đặt hàng
Để xác định đúng đối tượng hạch toán chi phí sản xuất phải căn cứ vào:
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ của việc sản xuất sản phẩm.

- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh để lựa chọn đối tượng
tính giá thành.
- Căn cứ vào yêu cầu quản lý, trình độ tổ chức hạch toán chi phí.
- Căn cứ vào trình độ nhân viên kế toán.
- Căn cứ vào các phương tiện tính toán áp dụng trong kế toán.
Việc xác định đúng đối tượng hạch toán chi phí, phù hợp với thực tế sản xuất
kinh doanh của đơn vị có ý nghĩa rất lớn giúp kế toán chi phí tổ chức hợp lý từ khâu ghi
chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài khoản và mở sổ chi tiết theo đúng đối tượng đã
xác định.
1.2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
Trong doanh nghiệp xây lắp thường sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình hoặc hạng mục công trình.
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng.
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn vị thi công.
2. Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất trong đơn vị xây lắp
2.1 Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên.
2.1.1 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
a. Nội dung và nguyên tắc hạch toán
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các chi phí về vật liệu chính, vật liệu phụ,
các bộ phận dời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành sản phẩm xây lắp. Chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp không bao gồm các chi phí đã tính vào máy thi công hoặc đã tính vào chi
phí sản xuất chung.
* Nguyên tắc hạch toán:
Các loại vật liệu sử dụng cho công trình, hạng mục công trình nào được tập hợp trực
tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc và số lượng thực
tế đã sử dụng. Trường hợp vật liệu liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không
thể tổ chức hạch toán riêng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ để phân bổ chi phí
cho các đối tượng có liên quan theo tiêu thức thích hợp.
Chi phí vật liệu phân bổ = Tiêu thức phân bổ × Tỷ lệ phân
cho từng đối tượng của từng đối tượng bổ


Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ
Tỷ lệ phân bổ =
Tổng tiêu thức phân bổ của các đối tượng
Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình hoàn thành phải tiến hành kiểm kê số vật liệu
lĩnh về chưa sử dụng hết ở các công trình, đồng thời phải tổ chức và đánh giá đúng số phế
liệu thu hồi theo từng đối tựng sử dụng.
- Trong công tác kế toán, từ việc tổ chức ghi chép ban đầu đến tổng hợp, phân tích chi
phí vật liệu và tình hình sử dụng vật liệu, đế toán sử dụng triệt để hệ thống địng mức
trừ hao vật liệu đã có và phải có tác động tích cực để không ngừng hoàn thiện hệ
thống định mức đó.
- Vật liệu sử dụng phải được tính theo giá thực tế bao gồm giá mua và chi phí thu
mua, không có thuế giá trị gia tăng nếu doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp
khấu trừ.
b.Tài khoản sử dụng:
TK 621: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Tài khoản này được mở trực tiếp theo từng công trình, hạng mục công trình.
Bên nợ: trị giá vật liệu xuất dùng thực tế cho vật liệu xây lắp.
Bên có: trị giá nguyên vất liệu sử dụng không hết đem về nhập kho.
Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng cho sản xuất
kinh doanh.
tài khoản 621:cuối kỳ không có số dư
c. Phương pháp hạch toán:
- Khi mua hoặc xuất nguyên vật liệu sử dụng cho thi công công trình:
+ Trường hợp mua nguyên vật liệu về sử dụng ngay cho hoạt động xây lắp trong kỳ
thuộc đối tượng chịu thuế VAT theo phương pháp trực tiếp
Nợ TK 621:giá có thuế VAT
Có 111, 112, 331, 141:
+ Trường hợp mua nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất xây lắp thuộc đối tượng tính
VAT theo phương pháp khấu trừ

Nợ TK 621: giá trưa có thuế VAT
Nợ TK 1331:Thuế VAT đầu vào được khấu trừ
Có TK 111, 112, 331, 1412
+ Khi xuất vật liệu từ kho sử dụng cho thi công công trình
Nợ TK 621
Có TK 152
- Trường hợp số nguyên vật liệu, công cụ xuất ra không sử dụng hết vào hoạt động
Xây lắp, cuối kỳ nhập lại kho.
Nợ TK 152
Có TK 621

×