Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Sự đại diện căn cước tộc người Chăm qua một lễ hội văn hóa do Nhà nước tổ chức

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.23 MB, 11 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>s ự ĐẠI DIỆN CĂN CƯỚC TỘC NGƯỜI CHĂM </b>



<b>QUA MỘT LỄ HỘI VĂN HÓA </b>

<b>DO </b>

<b>NHÀ Nước Tổ CHỨC</b>



<b>ThS.Lư Thị Thanh Lê*</b>


Người Chăm từng là tộc người chủ thể của vương quốc Chămpa vốn tồn tại ở khu
vực miển Trung V iệt Nam khoảng hơn hai trăm năm vể trước. Qụa các biến chuyển lịch
sử, từ một tộc người là chủ nhân của vương quốc Chămpa, ngày nay, người Chăm đã trở
thành công dân của nước V iệt N am , và là một tộc người thiếu số trong lòng một quốc
gia thống nhất đa dần tộc. Để xác lập các mơ hình căn cước, ý thức thuộc vé của người


Chăm hiện nay, chúng t ô i cho rằng cẩn phải tìm hiểu căn CƯỚC của người Chăm được
đại diện (represented) như thế nào bởi nhà nước và bởi người chính người ch ă m , trong
các bối cảnh khác nhau. Dựa trên quan điểm cho rằng sự đại diện căn cước tộc người
thiểu số được thực hiện bởi nhà nước (đặc biệt là trong các buổi trình diễn nghệ thuật,
các sự kiện văn hóa đại chúng) có ảnh hưởng lớn trong việc tạo nên hình ảnh của tộc
người đó trước cơng chúng, trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu sự đại
diện căn cước của người Chăm trong bối cảnh một lễ hội văn hóa Chăm do nhà nước tổ
chức, cụ thể là trong sự kiện Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào dân
tộc Chăm , gọi tắt là Ngày hội, diẽn ra tại N inh Thuận năm 2012. V ớ i những dữ liệu
thực chứng và các tài liệu truyền thông của nhà nước vế/trong Ngày hội này, chúng tơi
phân tích những xu hướng nhà nước khai thác, huy động căn cước tộc người Chăm cho
những mục tiêu chính trị, kinh tế của mình, đồng thời đưa ra nhận định vế q trình
nhận đồng tộc người (ethnic identiíìcation process) của người ch ă m thể hiện trong bối
cảnh lẻ hội văn hóa do nhà nước tố chức.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>sư ĐAI DIÊN CĂN cước Tỗc NGƯỜI CHẤM QUA MỘT LỄ HÔI VĂN HÓA DO </b>NHÀ <b>N ước </b>Tổ <b>CHỨC</b> 5 6 5


Trước hết; có thể khẳng định rằng tính dân tộc (ethnidty) và chủ nghĩa dần tộc
<b>(nationalism) là những vấn đề gây tranh cãi hàng đầu ở nhiều quốc gia trong thế giới đương </b>


đại. Trong các quốc gia đa tộc người, việc căn cước tộc người được đại diện, thể hiện như thế
nào có vai trị hết sức quan trọng đối với mỗi tộc người, đặc biệt là đối với các tộc người thiểu
số, bởi vì những hình ảnh đại diện này sẽ giúp định hình nhận thức của những người bên
ngoài về tộc người này. Sự đại diện căn cước tộc người thưởng có sự kết hợp của hai quá trình:
quá trình từ trên xuống (top down process) được thực hiện bởi nhà nước và quá trinh từ dưới
lên (bottom up process) bởi chính những người dân thuộc cộng đồng thiểu số.


Căn cước tộc người, mà ở nước ta thường được gọi là bản sắc tộc người hay bản sắc
dân tộc, không thê’ chỉ được xem như một tập hợp của những yếu tố tĩnh tại, bất biến, mà
căn cước này phải được xem xét như một cấu trúc động, gắn với những q trình, có thể
được gọi là <i>quá trình nhận đổng</i> <i>( iảentiỊication proccess</i>). Căn cước của tộc người thiểu số có
tính chất “tình huống” (<i>situational</i>) và “tương quan” <i>(relational).</i> Nó thích ứng với từng bối
cảnh cụ thể và biến đổi theo các quan hệ cụ thể. Sự tạo dựng căn cước tộc người thiểu số


được thực hiện trong các sự kiện do Nhà nước tổ chức có vai trị quan trọng tạo nên hình
ảnh của tộc người đó trước cơng chúng bên ngồi, và đồng thời cũng ảnh hưởng tới sự tự
nhận thức về mình của các thành viên thuộc cộng đồng thiểu số. Sự đại diện căn cước tộc
người và sự nhận đổng tộc người luôn là những sự thương lượng (negotiation) trong những
bối cảnh khác nhau, giữa tộc người thiểu số và tộc người đa số, giữa tộc người thiểu số và
nhà nước, chính thể đại diện. K h i nghiên cứu vé các khuynh hướng nhận đồng tộc người
của người dân thiểu số trong một cộng đổng chủ thể, Phinney cho rằng người dân tộc thiểu
số có những xu hướng nhận đổng hoặc là về tộc người của mình; hoặc là vể tộc người đa số
(thường cũng chính là chính thể đại diện cho cộng đồng quốc gia mà những người thiểu số
này tham gia vào) với những mức độ mạnh, yếu khác nhau.


<b>Khuynh hướng nhận đồng về </b>
<b>tộc người cùa mình</b>


<b>Khuynh hướng nhận đồng </b>
<b>về tộc người đa số</b>



<b>Mạnh</b> <b>Yếu</b>


M ạnh Tích hợp


(In te g ra te d )


Bị đồng hóa (A ssim ilated )


Yếu T ách b iệ t(S e p a r a te d /
D isso ciated )


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

5 6 6 Lư Thị Thanh Lê


Theo Phinney, nếu người dân tộc thiểu số có khuynh hướng nhận đổng vế tộc
người mình một cách mạnh mẽ, đổng thời cũng nhận đổng mạnh mẽ với tộc người đa
số thì người đó có căn cước thuộc dạng “tích hợp” (integrated). Nếu người đó có
khuynh hướng nhận đồng vế tộc người mình mạnh mà ít nhận đồng vế phía tộc người
đa số thì anh ta có căn cước “tách biệt”. Nếu anh ta có xu hướng nhận đổng vế phía tộc
<b>người chủ thể mạnh mà ít nhận đổng về phía tộc người của mình thì anh ta có căn CƯỚC </b>
“bị đồng hóa”. Nếu khuynh hướng của anh ta không thuộc vế cộng đổng tộc người,
cũng không thuộc về cộng đồng đa số thì anh ta có căn cước thuộc loại “ở ngồi rìa” của
cả cộng đổng tộc người củng như cộng đống chủ thế.


Những cơ sở lý thuyết ở trên là nến tảng đê’ chúng tôi tiếp cận căn cước, sự nhận
đổng tộc người của người Chăm V iệt Nam. Những khảo sát, phân tích của chúng tôi là
nhâm xác định những khuynh hướng nhận đổng tộc người của người Chăm trong bối
cảnh của sự kiện văn hóa có sự chi phối, chỉ đạo trực tiếp của nhà nước. M ục tiêu mà
chúng tôi hướng tới là tìm hiểu xem: Sau hơn hai trăm năm sau khi nước Chămpa chính
thức biến mất trên bản đỗ, sau một quãng thời gian người Chăm từ một cộng đổng đa số,


chủ thể của một vương quổc trở thành một cộng đồng thiểu số trong đất nước Việt Nam
thống nhất đa dân tộc (m à chủ thể là người K in h ) thì sự nhận đồng của họ về tộc người
và về quốc gia được thể hiện như thế nào? Họ mang căn cước tích hợp, riêng rẽ; bị đổng
hóa, hay ở ngồi rìa? T u y nhiên, đây không phải là bức tranh tồng thê’ vé quá trình nhận
đồng tộc người của người Chăm, mà chì là một góc nhìn vể nó, dựa trên những gì mà
chúng tơi quan sát thực tế trong sự kiện công cộng do nhà nước tổ chức ở vùng của


người Chăm.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<b>s ư ĐẠI DIỆN CẨN CƯỚC T ỏ c NGƯỜI CHĂM QUA MỘT LẺ HỘI VĂN HÓA DO NHÀ N ư ớ c Tố CHỨC</b> S67


lễ hội truyền thống, Nhà nước Việt Nam củng sử dụng các lể hội vân hóa như một
phương tiện chiến lược để bảo tồn, phát huy vàn hóa truyển thống, củng cố nhận thức
mang tính chính thống của N hà nước về căn cước của các tộc người thiểu số. Các lễ hội
văn hóa là nơi biểu đạt sự đại diện vé căn cước tộc người được cơng nhận, hợp thức hóa
bởi Nhà nước. Các lẽ hội này thường góp phần tuyên truyền tư tưởng về một quốc gia
“thống nhất đa dân tộc”, trong đó các dân tộc thiểu số và đa số được xem như là những
người “anh em”, “đổng bào”. Ngày hội Văn hóa, thể thao, du lịch vùng đồng bào Chăm
- N inh Thuận 2012 thể hiện rất rõ diẻn ngôn về tư tưởng xây dựng quốc gia thống nhất
đa dần tộc của cộng dồng các dân tộc Việt Nam. Theo thông cáo báo chí của Bộ Vãn
hóa - Thê’ thao - D u lịch, việc tổ chức Lẻ hội này là nhằm “xây dựng, phát triển nền văn
hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc” và “bảo tổn, phát huv văn hóa của các dân tộc
thiểu số ở V iệt N am ”; và “góp phấn tăng cường tình đồn kết, giao lưu, học hỏi, trao đổi
kinh nghiệm bảo tổn, phát triển văn hoá, thể thao và du lịch vùng đồng bào dần tộc
C hăm ”. N hà nước cũng có quy định rằng việc tổ chức lẽ hội này “phải thiết thực, tiết
kiệm, phù hợp, tôn trọng phong tục tập quán của các dân tộc, không áp đặt; kết hợp hài
hoà giữa bảo tồn, phát huy văn hoá dân tộc chăm và phát triển du lịch, kinh tế-xã hội
của địa phương; có sự tham gia trực tiếp của chủ thê’ văn hoá, đặc biệt là các nhà nghiên
cứu văn hoá chăm , nhân sỹ, trí thức dân tộc Chăm. Các hoạt động phải thể hiện rõ nét
bản sắc văn hóa của đồng bào C hăm ...” 1. Nhìn chung, qua các diễn ngơn của Nhà nước,


có thể nhận thấy rõ nỗ lực của các cơ quan, ban ngành trong việc bảo tổn bản sắc văn hóa
dân tộc Chăm và mong muốn huy động những giá trị văn hóa Chăm đê’ phát triển kinh tế;
du lịch ở địa phương cũng như của cả nước.


C ụ thể hóa mục tiêu nói trên, đê’ tăng tính xác thực (<i>authenticitỵ</i>) của bản sắc
Chăm trong Ngày hội, các nhà tổ chức đã chọn địa điểm tổ chức lẻ hội ở dưới chân tháp
Po Klong G irai, một trong những tháp Chăm nổi tiếng gắn bó mật thiết với đời sống
của người Chăm ở N inh T h u ận ; sử dụng các bài hát và các nhạc cụ truyển thống của
người Chăm ; sử dụng tiết mục múa vũ nữ Apsara - hình ảnh rất hay gặp trong điêu khắc
Chăm, và quy định những nghệ sĩ biểu diẻn phải là người Chăm.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

5 6 8 Lư Thị Thanh Lê


<b>Ảnh 1. Sân khấu của Ngày hội Văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào Chăm - Ninh Thuận </b>
<b>2012 dưới chân tháp Poklong Girai (Ảnh của tác giả bài viết, 2012)</b>


Theo lời ông Đ inh Trung Cẩn - đạo diễn chương trình khai mạc và bế mạc ngày
hội: “H ơn 1000 nghệ sĩ và các chức sắc tôn giáo Chàm tham dự vào lễ hội này, nhầm tái
hiện rõ nét bản sắc văn hóa của đổng bào ch ăm và đồng thời thể hiện các hoạt động
văn hóa tốt đẹp và tiến bộ của cộng đồng”1. Như vậy, việc đại diện căn cước Chăm trong
ngày hội này chịu đồng thời hai áp lực: miêu tả “nét Chăm ” chân thực, chính xác nhất,
và đồng thời cũng phải hướng tới những mục tiêu quốc gia vé phát triển kinh tế, du lịch,
củng cố cộng đồng thống nhất đa dân tộc. Diễn ra vào cùng thời điểm với L ễ Ka tê -
một trong những lễ hội truyển thống lớn nhất của người chăm , ngày hội văn hóa này được


các nghệ sĩ, các nhà văn hóa huy động từ Trung ương và địa phương. Cấu trúc gồm ba
phần: “T ỉn h N inh Thuận và Lẻ hội K a tê chào đón bạn bè”; Niểm vui ngày hội”; “Sắc màu
Chăm và những sắc màu văn hóa”. Cấu trúc chương trình đã thể hiện rõ mục tiêu huy
động căn cước, bản sắc văn hóa tộc người phục vụ cho các mục tiêu kinh tế, chính trị
của Nhà nước. Đ ây là một chương trình được công diễn để phục vụ du khách và thu


hút du khách đến với vùng văn hóa của người Chăm , và được phát sóng trực tiếp trên
các đài truyển hình Trung ương và địa phương, để giới thiệu vùng văn hóa Chăm tới
người dân khắp cả nước. Qua phát biểu của ông Phan Quốc Anh, Giám đốc Sở Văn hóa,


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

s ự ĐAI DIÊN CĂN CƯỚC TÕC NGƯỜI CHĂM QUA MỠT LỄ HỠI VÃN HÓA DO NHÀ <b>Nước </b>Tổ CHỨC <b>569</b>


<b>T h ể Thao và D u lịch N in h Thuận ( 2012) 1, có thê’ nhận thấy việc giới thiệu những nét </b>
văn hóa Chăm nhằm hướng tới bảo tồn ở đây thực chất là một sự “bảo tổn có chọn lọc”


<i>( selcctive preservation),</i> theo những tiêu chí của Nhà nước, với những nét được xem là
“thuần phong mỹ tục”, “tiến bộ”, “lành mạnh” theo quan điềm của Nhà nước. Những
“nét đẹp” trong văn hóa của người Chăm được xác định và được quảng bá qua chương
trình đó là: những tháp ch ă m , những tiết mục biểu diễn văn nghệ dân gian, sản phẩm


<b>g ố m truyền thống, nghế dệt thổ cẩm, và những nét Chăm này đ ư ợ c huy động để trở </b>


thành các sản phẩm thương mại, sản phẩm dịch vụ phục vụ cho việc phát triển du lịch
của địa phương. Nhà nước kỳ vọng rằng văn hóa Chăm có thê’ là động lực cho sự phát
triển của ngành công nghiệp du lịch, và ngược lại, sự phát triển của ngành này có thể là
dộng lực đê’ bảo tổn và phát huy văn hóa chăm . Sự đại diện căn cước tộc người Chăm
của nhà nước trong lễ hội này nổi lên mấy vấn để:


<b>Xu hướng hợp nhất lịch sử Chăm vào lịch sử quốc gia</b>


Tro ng các tiết mục biểu diẽn của Ngày hội thê’ thao văn hóa du lịch vùng đổng bào


Chăm, xu hướng hợp nhất lịch sử Chăm vào lịch sử quốc gia được thể hiện qua việc kiến


tạo nhận thức mới về Lẻ hội K a tê và việc kiến tạo lớp nghĩa mới cho huyển thoại nguồn
gốc của dân tộc. T rư ớ c hết, về Lẽ hội Ka tê, theo nhà nghiên cứu Sakaya (người Chăm ),


lễ hội này thường được tổ chức mỗi năm một lần, vào tháng Bảy lịch Chăm, nhằm
tưởng nhớ các vị nam thẩn, như Po Klaung Girai, Po Rome và các vị tổ tiên người
Chăm 2. Khai thác sự kiện văn hóa truyền thống - Lẽ Ka tê của người Chăm, các nhà tổ
chức củng huy động mối liên hệ giữa lẻ hội truyền thống của tộc người này với những
lớp nghĩa mới được gán ghép mang tính dân tộc chủ nghĩa (nationalism ). Chẳng hạn
như lời bài hát “ Ngày hội Katê” được biểu diễn ở đầu chương trình có lời hát khơng chi
ca ngợi ngày hội vui, khơng khí nơ nức của người ch ăm với những tiếng trống gi năng,
tiếng kèn saranai dưới tháp Po Rome, với hoa Tagalau nở hương thơm ngát và đoàn
người Chăm hành hương về các đển tháp mà còn cho biết trong hội Ka tê, người dần


<b>1 H ổ n g T r a n g , “”P h ỏ n g v á n ô n g P h a n Q u ố c A n h , G iá m đ ố c S ở V ă n h ó a - T h ế th ao - D u lịc h N in h T h u ặ n vé </b>
<b>N g à y h ộ i v ă n h ó a - th ế th a o - d u lịc h v ù n g đ ổ n g b à o C h ă m : N g à y h ộ i sẽ là c ơ h ộ i đ ể th u h ú t k h á c h d u lị c h ”, </b>
<b>h t t p :/ / v h t t d l] c v 3 .g o v .v n / N g a y - h o i- V H T T D L - C h a m / P h o n g - v a n - o n g - P h a n - ( ^ o c - A iứ i- G ia m - d o c - S o - V H T T D L - </b>
<b>N in h - T h u a n - v e - N g a y - h o i- V H T T D L - v u n g - d o n g - b a o - d a n - t o c - C h a m - N g a y - h o i- s e - la - C o - h o i- t h u - h u t - k h a c h - d u - </b>
<b>lic h - t i.2 8 0 7 .d e t a il.a s p x</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

5 7 0 Lư Thị Thanh Lẽ


“mừng chiến công vang lừng núi sông” 1. Như vậy, từ chỗ H ội Kate vốn là dịp đê’ người
Chăm tưởng nhớ các bậc tiến nhân người ch ăm , một ý niệm mới đã được hình thành,
nhằm gắn kết truyền thống của Chăm với truyền thống đấu tranh cách mạng của
V iệ t Nam. Huyền thoại nguồn gốc của người Chăm cũng được tái tạo với những lớp
nghĩa mới. Theo truyện kê’ dân gian Chăm, người Chăm được sinh ra bởi mẹ Po Inư Nưgar
- nữ thẩn xứ sở. T h ế nhưng ngay trong tên gọi của lễ hội văn hóa này: “Ngày hội văn
hóa vùng đổng bào Chăm ”, nguổn gốc của người Chăm đã được thâu nạp vào trong
huỵển thoại nguồn gốc của người V iệt, được xem như là một trong những người anh em
cùng được sinh ra từ bọc trăm trứng của mẹ Â u Cơ. Huyến thoại vê' bọc trăm trứng vốn
khơng xa lạ với người Việt, nhưng nó đã được kiến tạo những lớp nghĩa mới, để củng cố
ý thức thuộc về quốc gia V iệt N am của người Chăm. Do cách dùng gọi đồng bào đã trở
nên phố biến, bản thần người Chăm cũng dần quen với nó. Nhiếu người Chăm tự nói


vể mình, vé cộng đồng mình bằng cách gọi “đồng bào C hăm ”, có nghĩa là họ hoặc là
thỏa hiệp, hoặc là vô thức, hoặc là tự nguyện, nhưng đều biểu lộ xu hướng đơng hóa
mình vào chỉnh thê’ của quốc gia dân tộc.


<b>Sân khấu hóa di sản Chăm, thương mại hóa biểu tượng văn hóa Chăm</b>


Trong khn khổ Ngày hội, có một tiết mục biểu diễn mang tên “Sân khấu hóa Lẽ
hội Ka tê”. Lẻ K a tê cổ truyền vốn được diễn ra trong nhiểu ngày liên tiếp ở nhiểu địa
điểm khác nhau, nhưng khi được sân khấu hóa thì tồn bộ diên biến của nó được gói
gọn trong khoảng thời gian tẩm 15 phút. Các diễn viên trong trang phục người Chăm và
người Raglai đi ra từ phía cánh gà, khiêng kiệu đi vào sân khấu, trong tiếng kèn kanhi.
Những lời thuyết minh và hình ảnh trình chiếu trên sân khấu hỗ trợ rất ăn khớp với quá
trình diễn xuất của diẽn viên. Phần trình diỗn sân khấu hóa bao gồm nhiểu tiết mục,
như: những người con gái ch ă m múa quạt, các chức sắc tôn giáo Chăm thổi kèn, đánh
trống, hát, bà bóng làm lễ tắm tượng, v.v... Lờ i cùa vị chủ lỗ hát bài ca nghi lễ hòa cùng
với tiếng kèn kanhi, và hòa cùng vào lời thuyết minh tiếng Việt của người dẫn chương
trình, cùng với những hiệu ứng ánh sáng sân khấu tạo nên một cảnh tượng khá ấn tượng
đối với những người quan sát.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

<b>s ư ĐAI DIÊN CĂN CƯỚC T õ c NGƯỜI CHẪM QUA MỊT LẼ HỘI VẪN HĨA DO NHÀ Nước </b>Tổ CHỨC 5 7 1


<b>Ảnh 2. Sân khấu hóa lễ hội Chăm: cành Lễ tắm tượng trong Ngày hội văn hóa, thể thao, du </b>
<b>ljch vùng đồng bào dân tộc Chăm - Ninh Thuận 2012 (Ảnh: Phunuonline.net1)</b>


Thự c tế,trong quá khứ, những nghi lễ mở cửa tháp, tắm tượng, khấn cúng... này
vốn chỉ được thực hành bởi các chức sắc tôn giáo Chăm, đặc biệt là lẽ tắm tượng chi
được diẻn ra trong lòng tháp Chăm , nơi ngay cả người Chăm không phải ai cũng có thể
dược vào. Những điểu vốn là “bí ẩn”, hạn chế đối với nhiểu người, nay lại được công bố
ở nơi công cộng, như một nét đặc sắc ch âm . Ở đây, chúng ta thấy tính hai mặt của vấn
để: một mặt, cái bí <i>in ,</i> cái độc đáo, đặc sắc trở thành điểm nhấn hấp dẫn đối với du


khách; mặt khác, tính thiêng của những nghi lễ mang tính nội bộ đã bị xâm phạm và bị
khai thác phục vụ cho hoạt động giải trí, du lịch. Những nghi lễ này được trình diễn
khơng phải với tính thiêng vốn có trong đời sống tơn giáo của nó; mà là một kiểu trình
diễn đê’ giới thiệu “nét C hăm ” ra bên ngoài.


Trong các tiết mục biểu diễn của lễ hội, tiết mục múa V ũ nữ Apsara được xem là
một tiết mục quan trọng, là điểm nhấn tạo ra sự cuốn hút đối với du khách. Các vũ nữ
Apsara vốn là những nữ thần nổi tiếng vế tài múa hát. Phù điêu hình các vũ nữ Apsara
vốn rất quen thuộc trong các tác phẩm điêu khấc C h ăm .Tiết mục múa “”V ũ nữ Apsara”
trong Ngày hội được kết hợp bởi thơ; nhạc và vũ đạo: bài thơ vốn của Inrasara, sau đó
được nghệ sĩ A m ư Nhân phổ nhạc (có chỉnh sửa lờ i), và được nghệ sĩ Đặng Hùng
(người K in h ) biên đạo múa. T iế t mục múa này được dàn dựng dựa trên việc khai thác
các đường nét; cử chỉ, động tác múa thường thấy ở các phù điêu Apsara, và thường được


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

5 7 2 <sub>Lư Thị Thanh Lê</sub>


giới thiệu là “múa c h ă m ”. Trong màn trình diễn “V ũ nữ Apsara” tại Ngày hội, các diễn
viên người ch ăm trong các trang phục rất gợi cảm múa uyển chuyển nền âm nhạc có
âm hưởng Chăm và trong những hiệu ứng ánh sáng, khói lửa đã tạo nên sức hấp dẫn, sự
tò mò lớn đối với du khách. T u y nhiên, liệu đầy có thực sự là một truyền thống Chăm
hay là một truyền thống được mới được kiến tạo <i>( invented tradition</i>) thì điểu này vẫn
gấy nhiểu tranh cãi. M ột số người Chăm tự hào về điệu múa nàỵ, hoặc chấp nhận nó
như một sự đại diện cho nghệ thuật múa Chăm. Ở T h án h địa M ỹ Sơn, mảnh đất linh
thiêng của người Chăm , điệu múa cùa những vũ nữ gợi cảm này cũng là một phẩn
không thê’ thiếu trong các màn biểu diễn thường xuyên của người Chăm phục vụ du
khách. T u y nhiên lại cũng có nhiều người Chăm đã phản ánh bức xúc khi thấy con em
mình mặc quần áo hở hang, múa điệu vũ rất xa lạ với truyền thống của dân tộc mình.


<b>Ảnh 3: Tiết mục múa Vũ nữ Apsara trong Ngày hội Văn hóa, thể thao, du lịch vùng đồng bào </b>
<b>dân tộc Chăm - Ninh Thuận 2012 (ảnh của tác giả bài viết).</b>



</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

<b>sự ĐẠI DIÊN CÀN </b>

<b>cư ớ c </b>

<b>ĩồ c NGƯỜI CHĂM QUA MỐT LẼ HỘI VÂN HÓA DO </b>

<b>NHẢ Nước </b>

<b>Tổ CHỨC</b>

5 7 3


tổ chức cần có sự cân nhắc đê’ những mụ c tiêu của quốc gia không vi phạm, mâu thuần
với những chuẩn mực văn hóa của cộng đổng thiểu số.


V ớ i những quan sát và phân tích trên đây, đối chiếu vào mơ hình càn cước tộc
người mà Phinney đưa ra (như trình bày ở trên), chúng tôi nhận thấy trong bối cảnh
Ngày hội văn hóa, thê’ thao, du lịch do Nhà nước tổ chức, người ch ă m biểu hiện sự
nhận đổng tộc người theo khuynh hướng “tích hợp” văn hóa c h ă m<i>,</i> căn cước ch ăm với
văn hóa, căn cước của quốc gia, tuy nhiên căn cước của họ có phần nào “bị đồng hóa”
khi đế văn hóa quốc gia lấn áp văn hóa tộc người (chẳng hạn như trường hợp lịch sử
hlnh thành tộc người Chăm bị nhất thê’ hóa trong lịch sử hình thành tộc người V iệt, tính
thiêng của nghi lễ Chăm được phá bỏ phục vụ cho nhu cầu phát triển du lịch; quảng bá
văn hóa, v . v . . . ). Điều đó gợi ý rằng trong việc bảo tổn văn hóa các tộc người thiểu só,
các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý văn hóa cẩn đề cao hơn nữa sự độc lập
tương đối vể lịch sử, truyền thống của tộc người, chứ không chỉ hợp nhất một cách tuyệt
đối những di sản lịch sử của tộc người vào quốc gia, và khai thác một cách tùy ý những
truyền thống của tộc người dựa trên “động cơ chính đáng” là phục vụ cho những mục
tiêu phát triển của quốc gia.


<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b>


1. Brown, RichardHarvey. 1996. Cultural representation and <b>S ta te </b> íormation:
Discourses of ethnicity, nationality, and political community. <i>Dialect Anthropol </i>
<i>Diaỉectical Anthropology</i> 21 (3-4):3-4.


2. Cohen, Anthony p. 2000. <i>The symboỉic construction o f communitỵ.</i> London; New
Y o rk: Routledge.



3. Eriksen, Thom as Hylland. 2010. <i>Ethnicity and nationalism.</i> London: Pluto Press.


4. H all, Stuart, and Ưniversity Open. 1997. <i>Representation : cultural representations </i>
<i>and signijỳing practices.</i> London; Thousand Oaks, Calif.: Sage in association with
the Open ưniversity.


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

5 7 4 Lư Thị Thanh Lẽ


6. Lafont, P-B. 2007. <i>Champa: Geography - Population - History [L e Chatnpa: Géographie - </i>
<i>Population - Histoire].</i> Translated by H . Poklaun. Paris: Les Indes Savantes


7. Lévi-Strauss, Claude. 1979. <i>M yth and meanitig.</i> N ew York: Schocken Books.


8. Lockard, Craig A . 1998. <i>Dance o f life : popular music and politics in Southeast Asia. </i>


Honolulu, H I: U niversity of Haw ai' i Press.


9. Phinney, J. s. 1990. Ethn ic identity in adolescents and adults: review of research.


<i>Psychological bulỉetin</i> 108 (3):499-514.


10. Smith, Anthony D . <i>M yths and memories ofthe nation.</i> Oxford Ư niversity Press 1999.


11. Taylor, Philip, and Australia Asian Studies Association of. 2007. <i>Cham M uslim s of </i>
<i>the M ekong Delta : place and mobility in the cosmopolitan pcriphery.</i> [Nathan, Q ]d.];
Honolulu: Asian Studies Association of Australia ; In Association with ưniversity
o fH a w a i'i Press.


12. Tran K y, Phuong, and Bruce Lockhart. 2011. <i>The Cham ofV ietnam : history, societỵ </i>



<i>and art.</i> Singapore: N ư s Press.


13. Vietnam ưpdate Coníerence and Taylor, Philip. 2006. <i>M inorities at large: new </i>
<i>approaches to minority ethnicitỵ in Vietnam. Paper read at Vietnam </i> <i>update </i>


</div>

<!--links-->
<a href='http://vhtt%c4%91lkv3.gov.vn/PrintVersion.aspx?i=2685'>h t t p :/ / v h t t đ lk v 3 .g o v .v n / P r in t V e r s io n .a s p x ? i= 2 6 8 5</a>
<a href=' hoi /7HTTDL Cham/NS Dinh Trung '>h t t p :/ / v h t t d lk v 3 .g o v .v n / N g a y h o i \ 7H T T D L C h a m / N S D i n h T r u n g </a>

×