Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.13 MB, 18 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>N g u y ễ n Th ị Như*</b>
<b>1. </b> <b>MỞ ĐẦU</b>
Ảnh h ư ở n g của N h o giáo ở các thời đại khác n h a u đối với các
tầng lớp khác n h a u là m ộ t vấn đề phứ c tạp cần được n g h iê n cứ u tỉ
mỉ để trán h n h ữ n g kết lu ận đơ n giản và p h iến diện. C h ú n g ta k h ô n g
thể p h ân tích, đ á n h giá n h ữ n g h iện tư ợ n g tư tư ở ng b ằ n g b ản th â n tư
tưởng. C h ú n g ta p h ải tìm hiểu tư tư ở ng N ho giáo gắn liền với n h ữ n g
điều kiện xã hội, tro n g đó nó đã n ả y sinh, p h át triển và suy tàn. K hông
thể có m ột th ứ N ho giáo ch u n g c h u n g cho các thời đại, m ộ t th ứ N h o
giáo n h ấ t th àn h b ất biến, thích ứ n g ở k h ắp mọi nơi, m ọi lúc. Chỉ có
trên cơ sở n g h iên cứu n h ữ n g đ iều kiện xã hội cụ thể, c h ú n g ta m ới
nắm được thực chất nội d u n g của N h o giáo qua các thời kỳ lịch sử. Bài
viết tập tru n g p h â n tích n h ữ n g ả n h h ư ở n g của N ho giáo ở thời kỳ Bắc
thuộc và thời kỳ N gô, Đ inh, Tiền Lê.
<b>2. </b> <b>NHO GIÁOTHỜI BẮC THUỘC</b>
N ăm 179 trước C ông n g uyên, Triệu Đà chiếm được Âu Lạc và sáp
n h ập đ ất đai Âu Lạc vào quốc gia p h o n g kiến N am Việt, chia Âu Lạc
làm hai q u ậ n Giao Chỉ (Bắc Bộ) và C ử u C h ân (Bắc - Trung Bộ), cử q u an
lại, q uân lính sang cai trị và đ ó n g đồn. Khi đ ất đai Âu Lạc bị tổ chức
th àn h q u ận h uyện, ch ín h quyền p h o n g kiến họ Triệu củ n g thi h à n h
m ột chính sách đ ồ n g hóa ráo riết đối với người Việt. Tuy n h iên , b ản
thân việc tổ chức ch ín h q u y ền của họ Triệu với chính sách d u n g d ư ỡ n g
để th ố n g trị khiến xã hội Âu Lạc k h ô n g biến đổi đ á n g kể, ý thứ c hệ
p h o n g kiến chưa xâm n h ậ p được bao n h iê u vào xã hội th u ộ c địa.
2 2 0 N g irễ n ĩh ị Như
Đ ến n ăm 111 trư ớc C ông nguyên, nước N am Việt của Trim Đà bị
n h à H án th ô n tính, v ù n g đ ất Âu Lạc bị đổi th àn h châu G iao "hỉ, bao
gồm dư ớ i đó là bảy quận. Triều đ ìn h p h o n g kiến n h à H án đ ã ip d ụ n g
m ộ t ch ín h sách th ố n g trị m ới tại đây nhằm ra sức khai tháic kinh tế,
củ n g cố ch ín h quy ền cát cứ và ra sức đ ồ n g hóa n h ân d ân Việ t theo văn
hó a T rung Hoa.
Để p h ụ c vụ cho cơng cuộc đ ồ n g hóa, "giai cấp th ố n g trị n ớ i vào
th ay th ế giai cấp th ố n g trị trước m ìn h ... buộc phải làm cho t í tưởng
của m ìn h có h ìn h thức p h ổ biến, phải n ê u nó lên th àn h n h ữ n g tư tưởng
d u y n h ấ t h ợ p lý, d u y n h ấ t có giá trị m ột cách phổ biến"1. T ừ đó, văn
tự T rung H oa cùng với N ho giáo được tru y ền bá m ạnh m ẽ v à) xã hội
Lạc Việt, làm cơ sở cho ý thức hệ p h o n g kiến thống trị. Tuy nhièn, theo
n h ậ n đ ịn h của nhà n g h iê n cứu N g u y ễn Kim Sơn trong H ội thảo về <i>Nho </i>
<i>học Đ ô n g Á: truyền thống và hiện đại</i>, tro n g thái độ của triều đình p h o n g
kiến T rung H oa đối với việc tru y ền bá N ho giáo vào xã hội V ệt N am
lại x u ất h iện m ột n g h ịch lý, m âu th u ẫn . Họ vừa đẩy m ạ n h <i>g.ấo</i> hóa,
th ú c đ ẩ y ản h h ư ở n g của văn hóa N h o giáo tới các v ù n g quận h u y ện
b iên viễn, lại vừa kìm hãm , h ạ n chế sự p h át triển của văn hóa N ho giáo
ở các k h u vực này2. N h o giáo với tư tư ở ng tam cương, n g ũ thường, tư
tư ở n g th iê n m ện h h ế t sức khắc n g h iệ t được coi là hệ tư tường th ố n g
trị của giai cấp p h o n g kiến p h ư ơ n g Bắc, được sử d ụ n g n h ư m ột công
cụ ch ủ y ế u để th ố n g trị, nô dịch n h â n d ân ta. Nó đ óng vai trị thiết yếu
tro n g q u á trìn h h ợ p th ứ c hóa chế độ Bắc thuộc và biến nước ta th à n h
q u ận , h u y ệ n của T rung Quốc, biến văn hóa nước ta p h ụ thuộc và là
m ộ t bộ p h ậ n của v ăn hóa H án. C h ín h vì thế, n h ữ n g viên quan cai trị
n h ư Tích Q u an g , N h â m D iên, Tô Đ ịnh, Mã Viện, Sỹ N hiếp, Đỗ Tuệ
Độ, Cao B iền ... chính là n h ữ n g người tích cực đưa N ho giáo và n h ữ n g
<i>1 Lê Sỹ T h ắ n g (C hủ biên) (1994), Nho giáo tại Việt Nam, N xb Khoa học Xã hội, H à Nội, </i>
tr.368-369.
Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đáu thế kỷ XI 2 2 1
p h o n g tục d ẫn xuất từ N ho giáo vào Việt N am dưới mọi h ìn h thức, từ
truyền bá đ iển lễ h ô n n h ân gia đình, thiết lập p h á p chế, đ ế n cổ đ ộ n g
tín ngưỡng, m ở trư ờng dạy h ọ c ... Tuy nhiên, việc tru y ền bá N ho giáo,
N ho học theo đ ú n g nghĩa của n h ữ n g từ này lại bị h ạn chế. N ền giáo
dục N ho học có được triển khai củng chỉ vì giai cấp th ố n g trị nước
ngoài m u ố n đào tạo cho bộ m áy cai trị của họ m ột số thuộc viên làm tay
sai chứ k h ô n g n h ằm m ục đích giáo hóa cho toàn bộ n h ữ n g ngư ời d ân
Việt b ản xứ. Kinh điển N ho giáo có được đem giảng dạy ở các trư ờ n g
thì theo học các trư ờng này là con em q uan lại địa chủ H án tộc và m ột
số con em tần g lớp trên của xã hội Việt m à lực lư ợ ng ngoại xâm có thể
dựa vào để cai trị. Việc bổ nhiệm , sử d ụ n g q u an lại người gốc Giao Chỉ
tại Trung ch âu cũng n h ư tại chính Giao Chỉ có sự p h â n biệt đối xử so
với người Trung Q uốc cũng tạo ra lực cản cho sự p h á t triển N h o học
tại khu vực này. Thậm chí, với n h ữ n g trí thức người Việt có tâm h u y ết,
hồi bão, thự c lòng m uốn d ân g hiến trí tuệ và tài n ă n g của m ìn h cho
nước cho d ân , thì lại bị triều đ ìn h tru n g ư ơ n g gờm sợ. số người n à y bị
đ án h trư ợt tro n g các kỳ thi, n h ấ t là kỳ thi Tiến sĩ lấy người su n g vào
các cơ q u an chủ chốt. N ếu cho đỗ rồi, thì lại k h ô n g cho p h á t triển, thi
thố h ế t tài n ăn g , m à vùi dập n h ư trư ờng h ợ p của K hương C ông Phụ.
N ăm 845, n h à Đ ư ờng còn đ ặt ra hạn ngạch "sĩ tử An N am thi khoa
Tiến sĩ k h ô n g được quá 8 người, thi khoa M inh k in h k h ô n g được quá
10 người"1 củ n g khiến cho ý chí p h ấn đ ấu và h ứ n g th ú học tập của sĩ tử
nơi đây giảm sút. Đ ưa ra quy đ ịn h đó bởi n h à Đ ư ờ ng sợ lấy đỗ n h iề u
người nước ngoài sẽ có nguy cơ họ coi th ư ờ n g d â n tộc Trung Hoa. Đó
2 2 2 Nguyễn Thị Như
vào nước ta, N ho giáo k h ô n g thể k h ô n g vấp phải sự p h ản k h á n g m ãn h
liệt của n h â n dân. C hống N ho giáo, chống H án hóa đã trở th à n h m ột
bộ p h ận , m ột m ục tiêu q uan trọng trong sự nghiệp đ ấu tra n h chống
q uân xâm lược p h ư ơ n g Bắc, bảo vệ sự sống còn của dân tộc ta trong
suốt thời kỳ Bắc thuộc. Thêm vào đó, trước khi N ho giáo được d u n h ập
vào Việt N am , nước ta đã có m ột n ền văn hóa tư ơ ng đối p h át triển với
ngôn ngữ, p h o n g tục, tập quán, lối sống riêng, được bảo tồn tro n g suốt
quá trìn h d ự n g nước và giữ nước. Vì vậy, N ho giáo nói riêng, các hệ
tư tưởng triết học, tơn giáo nói chung từ b ên ngoài truyền vào k h ô n g
phải dễ d à n g chiếm được chỗ đ ứ n g trong đời sống tinh thần của dân
tộc Việt N am . N ho giáo đã th ất bại tro n g nh iệm v ụ chiến lược là thực
hiện ch ín h sách "đồng hóa" văn hóa bản địa m à chính quyền đô hộ
giao cho.
Ở m ộ t khía cạnh khác, có thể k hẳng đ ịn h N ho giáo đã thâm n h ập
và có n h ữ n g tác độn g tích cực đ ến sự p h át triển của xã hội Việt N am
ngay từ thời Bắc thuộc. Nói n h ư Phó Giáo sư Trần N ghĩa thì: "N ho học
đã có m ặt ở nước Việt N am từ n h ữ n g năm đ ầ u C ông nguyên và từ bấy
đ ến nay, n ế u có thể nói được n h ư vậy, chưa bao giờ vắng bóng trên đ ất
Số người biết chữ H án, qua đó m à tiếp cận đ ế n N ho giáo, n gày
càng đ ô n g đảo chính là n h ờ h ệ th ố n g Phật giáo. K hông thể ph ủ n h ậ n
rằn g tro n g 10 thế kỷ đ ầu C ông n g uyên, P h ật giáo có p h ần chiếm ư u
Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đáu thế kỷ XI <sub>2 2 3</sub>
thế hơ n Nho giáo trong việc th âm n h ập vào đời sống xã hội của người
Việt. N hư ng n h ữ n g trí thức P hật giáo lại chủ yếu thông qua chữ H án
mà đi sâu vào giáo lý nhà Phật. Vì thế h ìn h th à n h m ột tầng lớp trí thức
N ho - Phật. N h ữ n g trí thức ấy khơng chỉ tinh thơng Phật giáo m à cịn
có hiểu biết thâm viễn về N ho giáo. Tầng lớp trí thức N ho - P h ật này
càng trở nên đ ô n g đảo và có ản h h ư ở n g lớn trong xã hội từ thế kỷ VI,
VII trở đi. Khi đó, Phật giáo từ Trung Q uốc vào nước ta đã m an g trong
m ình nó n h ữ n g yếu tố văn hóa p h ư ơ n g Bắc, trong đó có N ho giáo. Họ
nghiên cứu văn hóa Trung Quốc, viết văn và làm thơ b ằng chữ Hán.
Kinh Phật có khi cịn được chú dịch, lý giải theo quan điểm kinh điển
N ho gia và được biện chính bằng lịch sử văn hóa Trung Quốc. C hính vì
thế m à n hữ ng trí thức Phật giáo càng am hiểu sâu sắc N ho giáo. Phật
giáo đã thông qua n h ữ n g nh à trí thức biết đọc chữ H án để p hổ biến
kinh sách của nó. Và do đó, họ khơng chỉ tru y ền đạo Phật, m à còn trở
<b>224</b> Nguyễn Thị Như
đại địa ch ủ có thế lực ở địa phương. N h ư n g d ù trước đây d ò n g dõi của
h ọ có h iển quý thế nào chăng nữa, đ ế n n ay họ củng bị xem là "hàn
m ôn", địa vị th ấ p kém , k h ông thể sán h với sĩ tộc Bắc phư ơng. Đ iều đó
đ ã đ ẩy họ đến gần hơn với n h ữ n g người Việt - H án hóa tro n g các cuộc
nổi d ậy chống chính quyền th ố n g trị, trở th à n h "ứng viên có ư u thế
n h ấ t để n h ữ n g cuộc nổi dậy có tiếng v ang, hoặc đi đ ến th à n h công"1.
N h ư vậy, cả hai th à n h p h ầ n người H án - Việt hóa và người Việt - H án
hóa đã gần gũi với n h a u , kết hợ p th à n h liên m in h chính trị tro n g đấu
tra n h ch ố n g chính quy ền đơ hộ. H ọ ch ín h là n h ữ n g đại diện của tầng
lớp n gư ờ i Việt ư u tú, là nòn g cốt của giai cấp p h o n g kiến Việt N am
đ a n g từ n g bước trư ởng thành. Cho n ê n , tư tư ởng của họ p h ả n án h
xu h ư ớ n g p h á t triển của xã hội c ổ Việt lúc ấy và sẽ chi phối kiến trúc
th ư ợ n g tầ n g ý thức, tư tưởng của quốc gia Đại Việt độc lập sau này, khi
m à giai cấp p h o n g kiến Việt N am đã th ự c sự v ư ơ n lên địa vị làm chủ xã
hội. Giữa họ, sự giao lưu, d u n h ập v ăn hóa N h o giáo k h ô n g còn diễn
ra m ộ t cách cưỡng bức m à đã trở th à n h n h u cầu tự nhiên. Với sự tiếp
th u N h o giáo, tần g lớp ư u tú người Việt ấy đã n ân g ý thức cộng đồng,
ý thức d â n tộc, ý thức độc lập tự chủ lê n m ột tầm lý lu ậ n mới cao hơn.
Ý thức n ày ngày càng trở th à n h đ ộ n g lực, th à n h chất keo liên kết các
th à n h viên tro n g cộng đ ồ n g Việt đ ấ u tra n h k h ô n g m ệt mỏi vì độc lập
và ch ủ q u y ề n d â n tộc. Ý thức cộng đ ồ n g d ầ n d ầ n p h át triển th à n h tín h
th ầ n y êu nước n ồ n g nàn. Sự tôn trọ n g th ủ lĩn h dần p h á t triển th à n h
lòng tru n g th à n h với vị q uân vương đại d iện cho lợi ích của d â n tộc. Ý
thức độc lập, tự chủ đã được triển khai th à n h các đ ư ờ n g lối chiến lược
đ ấu tra n h và n h ữ n g d ự án xây d ự n g đ ấ t nước n gang tầm với kẻ th ù
Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đáu thế kỷ XI <sub>2 2 5</sub>
N h ữ n g bước p h át triển đó cho thấy, người Việt lúc này k h ô n g chỉ
chống sự xâm lược, đ ồ n g hóa của kẻ thù, m à còn biết tận d ụ n g n h ữ n g
th àn h tựu tư d u y văn hóa của kẻ đi xâm lược, biến nó th à n h vũ khí lý
luận, tinh th ầ n chống lại chính kẻ thù đó. Triều đại Tiền Lý của Lý Bí
chính là được xây d ự n g theo tin h thần của N ho giáo, từ tư tư ở n g của
C hu Công, K hổng Tử. Lý Bí tự xưng đế (Nam Việt Đế), có nghĩa là
n gang h àn g với đế vư ơng p h ư ơ n g Bắc, tổ chức m ột triều đ ĩn h riên g với
hai ban v ăn võ, lấy niên hiệu là "Thiên Đức", có nghĩa là đức ch ín h của
triều Lý có n g u ồ n gốc tự trời, chịu m ệnh ở trời. Đây là m ột việc làm rất
có ý nghĩa, là sự p hủ đ ịn h n g an g nhiên q uyền làm "bá chủ th iê n hạ"
của hoàng đế p h ư ơ n g Bắc, vạch rõ sơn hạ, cương vực và là sự k h ẳn g
đ ịn h d ứ t k h o át rằng d â n tộc Việt N am có quyền tự chủ đối với vận
m ệnh của m ình. Trong m ơ h ìn h triều đại của N am Việt Đế Lý Bí, ta
thấy có b ó n g d án g của tư tưởng "thiên m ệnh", "đức trị" của N h o giáo.
Đây chính là sự th ử n ghiệm đ ầu tiên về việc d ù n g lý th u y ết ch ín h trị
của N ho giáo để cai trị đ ất nước.
Nguyễn Thị Như
sĩ k h ô n g được quá 8 người, khoa M inh kinh k h ông được quá 10 người.
N h ư n g d ù có ra giới h ạn thì cũng chỉ làm giảm chứ k h ô n g chấm d ứ t
Cuối thời thuộc Đ ường, n h ữ n g người thuộc tầng lớp trên của xã hội
Việt, bao gồm n h ữ n g trí thức là người H án - Việt hóa và rất n h iều th ủ
lĩnh địa p h ư ơ n g đã H án hóa ở mức độ n h ất định, n h ư Mai Thúc Loan,
P h ù n g H ư ng, D ương T h an h ... đều đã sinh sống dưới m ột k h u ơ n khổ
chính trị theo chiều h ư ớ n g N ho giáo từ lâu. Cho nên h àn h đ ộ n g của họ
k h ông khỏi bị chi phối bởi lý thuyết về chính trị của N ho giáo. Khi nhà
Đ ường suy sụp, Khúc Thừa D ụ - hào trưởng châu H ồng đã nổi dậy p h ất
cờ tự chủ, giành quyền chính trị trong xứ, xưng là Tiết độ sứ. H ọ Khúc
thực h iện việc cải tổ k hu vực h àn h chính, chia tồn xứ th àn h các lộ, p hủ,
châu, giáp, xã, đ ặt q uan cai trị để kiểm soát tất cả các nơi trong xứ; chính
sự k h o an d u n g thể hiện ở việc sửa lại chế độ điền tô, th u ế m á, tha bỏ
lực d ịc h ... C hính quyền đó là m ầm m ống của n h à nước p h o n g kiến độc
lập sau này, được tổ chức theo khuôn m ẫu của N ho giáo. Liên quan đ ến
vấn đề này, tác giả C hu Đ ình Xương trong cuốn <i>Nho giáo tại Việt Nam</i> đã
có n h ữ n g kiến giải hợp lý. Theo tác giả thì đ ến giai đ oạn này, trong xã
hội Việt, việc học chữ H án và qua đó tiếp n h ậ n văn hóa Trung Hoa, tiếp
n h ậ n N h o giáo đã m an g tính rộng rãi chứ k h ô n g phải chỉ riêng của tầng
lớp th ố n g trị. Ô ng lý giải: "N ếu chính quyền tru n g ư ơng k h ô n g sử d ụ n g
th àn h thạo chữ H án, n ế u thơn xã khơng có người biết chữ H án thì làm
sao n h à nước Khúc H ạo thi h àn h được n h ữ n g biện p h áp trên!"1. Thậm
chí, n gay từ trước thời Khúc Thừa Dụ, nội d u n g và h ìn h thức của các tổ
chức n h à nước qua các thời kỳ "độc lập" n gắn ngủi do Triệu Q u an g Phục,
Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đáu thế kỷ XI
Mai Thúc Loan, P h ùng H ư n g ,... lập nên đã chứng tỏ điều đó, tuy rằng
cái khuôn m ẫu N ho giáo vẫn chưa được áp d ụ n g triệt để và chưa lấn át
được dấu vết của n h ữ n g tư tư ởng bản địa truyền thống.
N h ư vậy, thời Bắc thuộc, tu y Nho giáo chưa xâm n h ậ p được vào
mọi tầng lớp xã hội, n h ư n g từ thế kỷ VI trở đi (nửa cuối thời kỳ Bắc
thuộc), N ho giáo đã từ n g bước đi vào đời sống tư tưởng người Việt trên
p h ư ơ n g diện m ột n h ãn q uan chính trị - xã hội, cung cấp cho tầ n g lớp
trên của xã hội Việt n h ữ n g tri thức và kinh nghiệm h ữ u ích về lịch sử,
về cách thức tổ chức xã hội, nh à nước. Với tư cách là lớp người ư u tú
của xã hội, có quyền bính, có th â n thế, họ chính là lực lượng m à q uần
ch ú n g n h â n d â n phải dựa vào n ếu m uốn n h ữ n g cuộc nổi d ậy chố n g
chính quyền đơ hộ đi đ ế n th àn h công. Tư tưởng của họ tuy chưa chiếm
địa vị phổ biến trong đời sống tinh thần người Việt đ ư ơ n g thời n h ư n g
nó lại đ ú n g với trào lư u hiện h àn h , p h ả n ánh xu thế p h á t triển của
xã hội Việt N am là xây d ự n g m ột quốc gia p h o n g kiến độc lập theo
khuôn m ẫu Trung Hoa với tư tư ởng cốt lõi là N ho giáo chứ k h ô n g phải
là quay về với chế độ Lạc hầu, Lạc tướng xưa kia. N h ư vậy là, vư ợ t ra
ngoài m ong m u ố n của kẻ đi xâm lược, n h ư m ột công cụ vô thứ c của
lịch sử, N ho giáo đã tạo ra m ột số điều kiện vật chất và tinh th ầ n cho sự
chuyển biến xã hội, văn hóa Việt Nam. Dân tộc Việt N am nổi lên chống
lại sự xâm lược của p h o n g k iến p h ư ơ n g Bắc, tiến tới k h ô i p h ụ c lại
n ề n độc lập của m ìn h b ằ n g cách vận d ụ n g ch ín h các tri th ứ c v ăn
hóa và th ể chế ch ín h trị N h o giáo m à ngư ời T rung Q uốc đ ã m a n g
đ ến đ ể áp đ ặt h ò n g k h u ấ t p h ụ c ngư ời Việt N am .
<b>3. </b> <b>NHOGIÁOTHỜI NGỔ,ĐINH,TIẾN LÉ</b>
Nguyễn Thị Như
tư ơ ng q u a n với chính quy ền Trung Hoa. Điều kiện lịch sử - địa lý của
hai xứ Việt - Trung củng n h ư áp lực chính trị quân sự đã khiến v ă n hóa
H án, tro n g đó có N ho giáo, vẫn ản h h ư ở n g vào phư ơng N am n g ay cả
trong thời độc lập.
Bên cạnh đó, nước Việt thoát thai từ cả ngàn năm Bắc thuộc, n ên
các thủ lĩn h trong nước vẫn thừa hưởng trong tay cơ chế xã hội m à chính
quyền đơ hộ đã dày cơng xác lập. Trong khi tổ chức chính quyền độc lập,
các triều đại Việt vần h ư ớ n g theo k h uôn m ẫu phư ơng Bắc. Ngô Q uyền,
Đ inh Bộ Lĩnh, Lê H oàn là ba thế hệ kế tiếp n h au chối bỏ quyền u y H án
tộc, m uốn xây d ự n g m ột n ề n văn hóa độc lập của riêng m ình, n h ư n g họ
lại vẫn bị ràn g buộc vào áp lực văn hóa từ p h ư ơ n g Bắc đưa xuống.
H à n h độn g của N gô Q uyền chứ ng tỏ ông chịu ảnh hư ởng nhiều
của văn hó a H án. Ô ng bỏ d an h hiệu Tiết độ sứ của quá khứ lệ thuộc còn
đeo đ ẳn g họ Khúc, họ D ương để xưng V ương (năm 939). M ột th ủ lĩnh
tập tru n g quyền bính trong tay khi đã xư ng vương hiệu thì phải chấp
n h ậ n sự rà n g buộc của d a n h xưng, có nghĩa phải là m ột ông vua theo
q uan niệm N ho giáo - ít ra là trên m ột ch ừ n g m ực nào đó. Ơng cịn "đặt
trăm quan, chế đ ịn h triều nghi, p h ẩm p h ụ c"1. N hà nước mà Ngô Q uyền
lập ra là m ộ t nh à nước p h o n g kiến độc lập m à tính chất căn bản của nó
là m ột n h à nước p h o n g kiến tru n g ương tập quyền. Sử thần Ngô Sĩ Liên
n h ậ n xét: "N h à Tiền N gô nổi lên được, k h ô n g n h ữ n g là chỉ có cơng chiến
th ắn g m à thôi, việc đ ặt trăm quan, chế đ ịn h triều nghi phẩm phục; có
thể thấy được quy m ô của đế vương"2. N gô Xương Văn từng nói: "Đức
của tiên v ư ơ n g ta thấm k hắp lòng dân, p h àm n h ữ n g chính lệnh b an ra
không ai là k h ơ n g vui lịng n ghe theo; k h ô n g m ay m ất đi, Bình V ương
tự làm việc bất nghĩa, cướp ngôi của an h em ta, tội khơng gì to b ằ n g ''3.
Ơ ng đ á n h ú p D ư ơng Tam Kha, khôi p h ụ c lại cơ nghiệp, n h ư n g ô ng
Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đầu thế kỷ XI
Dương Tam Kha để lên ngôi vua chính là h àn h động chính d a n h của
m ột vị hồng đế nối lại chính thống. Việc tha lỗi cho D ương Tam Kha là
thẻ hiện lòng nhân. Xương N gập cậy p h ận đích trưởng, chuyên quyền
làm oai. N h ư n g Xương Văn vẫn d u n g thứ cho h à n h động đó là thể hiện
lịng cung. N h ư vậy, ở m ột mức độ n h ất đ ịn h có thể coi đấy là khí khái
của m ột bậc vương giả m ang trong m ình tư tưởng N ho giáo.
Tiếp sau nhà Ngô, Đ inh Bộ Lĩnh xưng Đế, để con m ình xưng vương,
riều đình có quan văn giữ ngơi cao (Nguyễn Bặc), có chức trư ởng ngành
tư pháp coi tồn cõi (Lưu Cơ), có tướng cầm qn (Lê Hồn), có h ệ thống
tơn giáo giúp sức trong việc tăng cường tính tập tru n g của triều đình
phong kiến. Cả m ột hệ thống p h o n g kiến theo k h uôn m ẫu Trung Quốc
được hình thành trên lãnh thổ Đại Việt. Tư tưởng chủ đạo của việc tổ
chức các chính quyền ấy chính là H án Nho.
Nguyễn Thị Như
N h ữ n g biểu hiện ảnh hưởng của văn hóa Hán, của N ho giáo dưới
thời Lê H ồn khiến Ngơ Thì Sĩ phải ngạc nhiên vì đời Lê H ồn "khơng
thấy có nhắc gì tới học hiệu và khoa cử" thế m à "lá thư xin tập vị lời nói
uyển chuyển và đắc th ể ... ca khúc tiễn sứ th ần tình ý lanh lẹ đầy đ ủ tình
tứ, văn n h â n củng không thể hơn được"1. N h ữ n g hiểu biết văn chương,
nghĩa lý điển cố tinh tường trong các bài th ơ của sư Đỗ P háp Thuận, sư
K hng Việt chính là bằng chứng cho thấy H án học, N ho giáo vẫn được
du y trì <i>tr o n g</i> xã hội. C hẳng hạn n h ư trường hợp sư Đỗ P háp Thuận, tuy
Q u a n niệm về "vô vi" trong câu trả lời của ông có n h ậ n thức lu ận
của P h ật giáo làm n ền tảng, có triết lý của Đạo giáo làm cơ sở và h ư ớ n g
tới h à n h vi của N ho giáo làm cứu cánh3. Cái vô vi m à N ho giáo h ư ớ n g
tới đó ch ín h là biểu h iện của đ ư ờ n g lối đức trị: th á n h n h â n lấy đức
th ịn h m à cảm hóa d ân n ên k h ông cần làm gì hơn, vô vi m à vẫn b ìn h
trị; đạo làm vua m à biết người, đạo làm tôi m à biết việc thì trong việc
b ìn h trị th iên hạ k h ô n g cần ra lệnh m à m u ô n việc vẫn thành; trị nước
b ằn g đứ c th ì vơ vi m à th iên hạ theo về4.
Cuối đời Lê, Lê Long Đ ĩnh củng n h ận thấy rõ ữào lưu chính đ an g
ngự trị ở H oa Lư. Đó là trào lưu xây d ự n g triều đại theo khuòn m ẫu
p h ư ơ n g Bắc. Vì vậy, ngay sau khi lên ngôi, Lê Long Đ ĩnh đã "sửa đổi
q uan chế và triều p hục cho các quan văn võ, tăn g đạo đ ều theo đúng n h ư
nh à Tống"5, tổ chức cai trị bám sâu vào địa p h ư ơ n g hơn, đ ặ t thêm q u ân
địa p h ư ơ n g "sương quân" n h ư của nhà Tống. Long Đ ĩnh n â n g thần thổ
<i>1 N gơ Thì Sĩ (1960), Việt sử tiêu ấn (Bùi Lương dịch), N xb Sài Gòn, Sài G òn, ti9 7.</i>
<i>2 Viện V ăn h ọ c (1977), Thơ văn Lý - Trần, t.l, N xb K hoa học Xã hội, H à N ội, ti204.</i>
3 h ttp s://th u v ierứ io asen.org /auth or/po sự 248 8/l/ng uy en-h un g-v y.
<i>4 C h u H y (1998), Tứ thư tập chú (N guyễn Đức Lân dịch và chú giải), N xb Văn h5a T h ôn g </i>
tin, H à N ội, tr.566.
Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đẩu thế kỷ XI
địa đất Đ ằng Châu, nơi thực ấp của m ình lên chức thành hoàng. N h ư
vậy, lần đ ầu tiên trong tài liệu để lại ta gặp chuyện m ột ông vua p h o n g
tước cho thần theo đ ú n g quyền h à n h của m ột vị Thiên tử. C hính n h ữ n g
đổi thay theo mơ h ìn h Tống trong triều Lê đã giúp cho ý thức về quân
quyền ngày càng tăng tiến ở các triều đại về sau.
Tuy nhiên, do phải giằng co với n h ữ n g yếu tố bản địa tru y ền th ố n g
m à khơng phải dễ d àng gì để N ho giáo khẳng định vị thế của m ìn h trên
bình diện xã hội trong buổi đầu độc lập. Sự p h át triển của N ho giáo ở
thế kỷ thứ X vì thế m à có n h ữ n g diễn tiến phức tạp.
2 3 2 Nguyễn Thị Như
là H ạn g Lang. Các sử thần đời sau chê ô ng bỏ trưởng lập thứ, gây m ầm
rối loạn. N h ư n g thực chất, tính chất trư ở n g thứ đã thể hiện rất rà n h rẽ
trong quyết đ ịn h của ông. C ũng theo nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường
tro n g tác p h ẩ m <i>N h ữ n g bài dã sử Việt,</i> "H ạn g Lang" là chuyển âm H án Việt
của từ "C hàng Lớn", n h ư vậy, H ạng Lang mới chính là con trư ởng của
họ Đ in h tín h theo dịn g chính. Vì vậy, Đ inh Tiên H ồng đã tru y ền ngôi
đ ú n g với n g u y ên tắc của N ho giáo. N g u y ên tắc ấy, qua thời Lê sang đến
thời Lý m ới thực sự th ắn g thế.
Việc N h o giáo khó xác lập vị thế ch ín h th ố n g trong thời kỳ n à y còn
xuất p h á t từ chỗ ý thức thời đại cũng chưa sẵn sàng cho n h ữ n g k h u ô n
m ẫu của nó. Khi tổ chức ch ín h quy ền p h o n g kiến, Đ inh Bộ L ĩnh đã
thực h iệ n n h iề u biện p h áp củ n g cố q u y ền lực tích cực n h ằm tăng cường
tín h tậ p tru n g , xóa bỏ yếu tố p h ân li. H ọ Đ inh đã th u p hục các cự u sứ
q u ân h ay d ò n g dõi của họ b ằn g cách đ ư a họ vào trong bộ m áy chính
q u y ền , lấy d a n h vị, chức tước triều đ ìn h m u a chuộc, xoa dịu để đổi lấy
Bên cạn h đó, n h à Đ inh còn áp d ụ n g n h ữ n g biện p h á p thu p h ụ c
d â n c h ú n g gián tiếp, đó là n h ờ vào tơ n giáo. Trong tổ chức tôn giáo lúc
ấy, P h ậ t giáo có vị th ế nổi bật h ơ n cả. N g ay từ thời Bắc thuộc, ý thức
P h ật giáo đ ã n gày càng th ắ n g thế tro n g xã hội, ản h h ư ở n g sâu đậm đ ến
sinh h o ạ t tư tư ở ng và thế giới q uan của người Việt. N h iều cuộc tra n h
luận, đ ụ n g độ giữa N ho giáo và P h ật giáo đã diễn ra. N h ư n g N ho giáo
Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đáu thế kỷ XI 2 3 3
tuy được giới cầm quyền bảo hộ, vẫn không bước lên được địa vị độc
tơn. Từ đó trở đi, N ho học Việt N am đã phải náu m ình vào đạo Thiền
để khả dĩ tồn tại và chờ cơ hội p h á t triển. Bởi thực tế lịch sử ấy, giai cấp
p h o n g kiến Việt N am buổi đ ầ u độc lập k h ông thể không đề cao và sử
d ụ n g Phật giáo m ột cách tích cực. K hơng phải n gẫu n h iên m à tìn h h ìn h
tổ chức tơn giáo vào lúc đ ư ơ n g thời (năm 971) đi đơi với tổ chức chính
quyền tru n g ương, lại còn đư ợc ghi n h ận với tước vị q uan trọ n g tro n g
hệ th ố n g thế tục. <i>Đại Việt sử k ý toàn thư</i> chép: "Tân Mùi, năm th ứ 2 (971)
(Tống, Khai Bảo năm th ứ 4). Mới đ ịn h ra giai p h ẩm cho các q u an văn
võ và tăng đạo. Cho N g u y ễn Bặc làm Đ ịnh Q uốc công, Lưu Cơ làm Đô
T ăng sĩ được quý trọ n g k h ô n g n h ữ n g vì vai trị quan trọ n g về m ặt
tơn giáo m à cịn vì tín h chất đại diện thời đại của họ. N hà sư k h ô n g chỉ
am tư ờ ng giáo lý nhà P h ật m à còn am hiểu cả N ho giáo. H ọ được các
triều đại p h o n g kiến trọ n g d ụ n g để giúp việc nước, trở th à n h n h ữ n g
người Cố vấn trong chính q u y ề n n h à nước với lư cách là n h ữ n g trí thức
tinh th ơ n g cả N ho - Phật - Đ ạo. Tuy n h ờ đó m à N ho giáo có th êm cơ hội
m ở rộ n g tầm ảnh hư ở ng n h ư n g cũng chính vì thế m à tín h cách d u y lý
của N ho giáo m ờ n h ạt đi. Đ ồ n g thời với đó, thân p h ận tăn g đồ lại gắn
liền với quy ền lợi chức vụ, ru ộ n g đất. Tăng q uan trụ trì tại các tự viện
của n h à nước đều được cấp ru ộ n g . Tự viện là điền trang của tập đ oàn
p h o n g kiến P hật giáo. Đ iều đó là m ột trong n h ữ n g lý do khiến cho
nhiều người học N ho quay san g làm tăng. C hẳng h ạ n n h ư sư K huông
Việt, "lúc bé học đạo N ho, lớn lên đi tu "2. Sự n h ập n hòa giữa N h o giáo
và P h ật giáo khiến cho cả h ai đ ề u k h ô n g giữ được tín h chất th u ầ n túy
của học th u y ết m ình.
<b>234</b> Nguyễn Thị Như
Cuối đời Tiền Lê, để tập tru n g q u y ền h à n h cho bản th ân , Lê Long
Đ ĩnh m uốn n h a n h chóng đưa N ho giáo lên địa vị chủ đạo tro n g đời
sống tư tưởng của xã hội. H ành đ ộ n g vua róc mía trên đ ầu n h à sư
Q uách N gang, cố tình lỡ tay làm chảy m áu rồi cười, đ ặt vào giai đ oạn
tăn g sĩ có q uan chức cao trong hệ th ố n g triều đ ìn h p h o n g kiến n h ư
ta đã thấy thì đó là chứ ng cớ của sự đ àn áp m ột lực lượng, m ột tập
N h ư vậy, thời N gô, Đ inh, Tiền Lê, tu y vai trò của N ho giáo tro n g
xã hội chưa nổi bật, n h ư n g vẫn được d u y trì ở m ột m ức độ nhất đ ịn h
và là tiền đề cho sự khởi sắc của nó ở giai đ o ạn lịch sử tiếp theo.
<b>4. </b> <b>KẾT LUẬN</b>
Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đáu thế kỷ XI <b>235</b>
người Việt trên p h ư ơ n g d iện m ột n h ãn q uan chính trị - xã hội, cung
cấp cho tầng lớp trên của xã hội Việt n h ữ n g tri thức và kinh nghiệm
h ữ u ích về lịch sử, về cách thứ c tổ chức xã hội, nhà nước. N ho giáo đã
cung cấp kiến thức cho n h ữ n g người Việt yêu nước đ ấu tran h cho độc
lập dân tộc, cho q uyền tự chủ của quốc gia. Đ úng là N ho giáo không
dạy người Việt N am yêu nước, n h ư n g n h ữ n g m ện h đề, khái niệm của
Tóm lại, từ thời Bắc thuộc cho đ ế n đ ầu thế kỷ XI, N ho giáo chưa có
lúc nào có thể vươn lên địa vị ch ủ đạo, chi phối toàn bộ đời sống tinh
th ần của d ân tộc Việt Nam . Tuy n h iên , nó đã tạo n ên m ột d ò n g chảy
liên tục trong văn hóa, tư tư ở n g người Việt đ ư ơ n g thời, đ ồ n g thời tạo
n h ữ n g tiền đề cần thiết để tiếp tục p h á t triển m ạn h m ẽ h ơ n trong các
giai đ oạn lịch sử về sau.
<b>TÀI LIÊU THAM KHẢO</b>
1. Chu Hy (1998), <i>Tứ thư tập chú</i> (Nguyễn Đức Lân dịch và chú giải), Nxb
Văn hóa Thơng tin, Hà Nội.
2. Ngơ Sĩ Liên (2004), <i>Đại Việt sử ký toàn thư,</i> t.l, Nxb Văn hóa Thơng tin, Hà Nội.
3. Trần Nghĩa (2005), "Thử bàn về thời điểm du nhập cùng tính chất, vai trò
của Nho học Việt Nam thời Bắc thuộc", Tạp chí <i>Hán nơm,</i> số 1-68.
4. Ngơ Thì Sĩ (I960), <i>Việt sử tiêu án</i> (Bùi Lương dịch), Nxb Sài Gòn, Sài Gòn.
5. Nguyễn Kim Sơn (2015), "Đề cương nghiên cứu đặc điểm việc tiếp nhận
2 3 6 Nguyễn Thị Như
6. Lê Tắc (1961), <i>An Nam chí lược</i>, Nxb Viện Đại học Huế, Huế.
<i>7.</i> Lê Sỹ Thắng (chủ biên) (1994), <i>Nho giáo tại Việt Nam</i>, N x b Khoa học Xã h ộ i,
Hà Nội.
8. Tạ Chí Đại Trường (2014), <i>Những bài dã sử Việt,</i> Nxb Tri thức, Hà Nội.
9. Viện Văn học (1977), <i>Thơ văn Lý - Trằn,</i> t.l, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
10. />
11. http://w w w .vanhoanghean.com .vn/chuyen-m uc-goc-nhin-van-hoa/
n h u n g -g o c -n h in -v a n -h o a /.