Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (466.98 KB, 14 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Tóm tắt: Bãi lọc trồng cây trong dây chuyền công nghệ XLNT sinh hoạt là giải pháp hữu hiệu </b>
cho vùng ven các đô thị khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Nghiên cứu sinh trưởng của
chuối hoa (Canna generalis) trên các loại BLTC cũng như xác định các hệ số động học loại bỏ
các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt (BOD5, TN, TP,…) trên các các bãi lọc trồng loại cây
này là mục tiêu của nghiên cứu trình bày trong bài báo. Kết quả nghiên cứu trên mơ hình thử
nghiệm cho thấy: trong điều kiện khí hậu miền núi phía Bắc Việt Nam, cây chuối hoa phát triển
<i>tốt trên cả bãi lọc ngầm (HF) lẫn bãi lọc ngập nước (FSW). Dùng Canna generalis làm thực vật </i>
<i>trồng tạo cho bãi lọc trồng cây có hiệu suất xử lý các chất hữu cơ và dinh dưỡng trong nước </i>
<i>thải sinh hoạt tăng lên. </i>
1. GIỚI THIỆU CHUNG
Trong những năm gần đây, cùng với cả nước, tốc độ phát triển kinh tế xã hội khu vực miền núi
phía Bắc Việt Nam tăng lên rõ rệt. Các tác động này tạo nên sức ép đối với môi trường cũng như
hệ thống hạ tầng kỹ thuật các đơ thị trong khu vực. Hệ thống thốt nước (HTTN) và xử lý nước
thải (XLNT) tập trung khơng kịp đáp ứng với q trình đơ thị hóa. Vì vậy việc xử lý nước thải
phi tập trung cho các vùng ven đô thị là phù hợp và cần thiết [1].
Khu vực miền núi phía Bắc có địa hình dốc với khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm quanh năm với hai
mùa rõ rệt hè, đông. Đồng thời hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đơng Bắc và gió mùa
Đơng Nam. Nhiệt độ tăng dần từ phía bắc xuống phía nam, trung bình hàng năm khoảng 250<sub>C. </sub>
Thời tiết mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 nóng ẩm và mưa cho tới khi gió mùa nổi lên. Mùa đơng
từ tháng 11 tới tháng 3 trời lạnh (nhiệt độ từ 15÷260<sub>C), khơ, có mưa phùn. Lượng mưa trung </sub>
bình từ 1,700 đến 2,400mm [2]. Điều kiện tự nhiên này phù hợp cho việc ứng dụng các cơng
trình sinh thái để XLNT sinh hoạt. Bãi lọc trồng cây (BLTC) trong dây chuyền công nghệ XLNT
Dạng BLTC được ứng dụng phổ biến trong XLNT là BLTC ngập nước (FWS) và bãi lọc chảy
ngầm (SSF). Ở Việt Nam có nhiều loại cây có thể sử dụng để làm sạch mơi trường nước tìm thấy
ở Việt Nam. [5]. Các lồi cây này hồn tồn dễ kiếm tìm ngồi tự nhiên và chúng cũng có sức
sống khá mạnh mẽ. Tuy nhiên cây chuối hoa (Canna generalis) là loài cây hợp nước của vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới, có thể tạo cảnh quan sinh thái cho các đô thị, nhất là vùng ven đô.
Nghiên cứu sinh trưởng của chuối hoa trên các loại BLTC cũng như xác định các hệ số động học
loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt (BOD5, TN, TP,…) trên các các bãi lọc trồng
loại cây này là mục tiêu của nghiên cứu trình bày trong bài báo.
Đối tượng nghiên cứu là bãi lọc trồng cây ngập nước (Free Water Surface wetland-FWS) và bãi
lọc trồng cây chảy ngầm (Submerged Surface Flow -SSF) dạng dòng chảy ngang (Horizontal
flow – HF). Nước thải sinh hoạt (NTSH) sử dụng cho các mơ hình nghiên cứu là nước thải sinh
hoạt sau khi qua bể tự hoại từ HTTN chung của khu dân cư ven đô phường Bách Quang thị xã
Sơng Cơng (tỉnh Thái Ngun), thuộc vùng miền núi phía Bắc Việt Nam. Trên cơ sở hai sơ đồ
kết hợp hồ sinh học và BLTC đặt tại hiện trường, nghiên cứu hiệu quả xử lý trên các mơ hình thí
nghiệm (MHTN) FWS đặt sau hồ sinh học tùy tiện (Hình 1a) và HF đặt trước hồ sinh học hiếu
khí (Hình 1b).
Sơ đồ MHTN nghiên cứu XLNT sinh hoạt khu dân cư ven đô thị xã Sông Công.
Cây trồng trên BLTC là cây chuối hoa (Canna generalis), một loài thực vật thuộc chi dong riềng
(Cannas), sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, có thể cao từ 75-300 cm [6]. Đây là loài cây
lâu năm, thân thảo, rễ chùm, một thân rễ phát triển thành bụi; lá phẳng rộng mọc ra từ thân; cây
ưa nắng và sống được cả trong môi trường đất ngập nước và đất khơ [7]. Cây có hoa mười hai
tháng trong năm, hoa màu sắc sặc sỡ như trắng ngà, vàng, hồng, đỏ thẫm, đỏ,… thường được
trồng làm cây cảnh ở đơ thị [6]. Do có tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu thụ nhiều nước, sinh khối
Vật liệu (VL) của BLTC chủ yếu là sỏi và cát. Kích thước các mơ hình BLTC được xây dựng
theo [9], [10] và [11] và thể hiện trong Bảng 1 đối với loại FWS thể hiện và trong Bảng 2 đối với
loại HF.
<b>Bảng 1. Kích thước MHTN loại FWS </b>
<b>Thơng số tính tốn </b> <b>Ký hiệu </b> <b>Đơn vị </b> <b>Kết quả </b>
Lưu lượng nước thải Q m3<sub>/ngày </sub> <sub>0,096 </sub>
Diện tích bề mặt (As = 100Q/HLR) [10] As m2 0,96
Chiều dài bãi lọc L m 1,2
Chiều rộng bãi lọc B m 0,8
Chiều cao của bãi lọc H m 1,45
Chiều cao lớp nước trên bề mặt h1 m 0,2
Chiều cao lớp VL trồng cây (cát f=1÷2 mm) [10] h2 m 0,15
Chiều cao lớp VL lọc (Sỏi f = 2÷3 cm) h3 m 0,9
Chiều cao lớp VL đỡ (Sỏi f=4÷6 cm) [11] h4 m 0,1
<b>Bảng 2. Kích thước MHTN loại HF </b>
<b>Thơng số tính tốn </b> <b>Ký hiệu </b> <b>Đơn vị </b> <b>Kết quả </b>
Số lượng bãi lọc HF A bể 2
Tải trọng thủy lực [9] HLR m3<sub>/m</sub>2<sub>/ngày </sub> <sub>5 </sub>
Diện tích của bãi lọc. As = 100Q/HLR As m2 0,96
Chiều dài bãi lọc L m 1,2
Chiều rộng bãi lọc B m 0,8
Chiều cao bãi lọc H m 0,75
Chiều cao lớp VL lọc (sỏi f=2÷3 cm) [11] h1 m 0,6
Chiều cao VL trồng cây (cát f =1÷2 mm) [10] h2 m 0,15
Cây chuối hoa chuẩn bị trồng.
MHTN khi mới nạp xong VL lọc.
Cây trồng có chiều cao trung bình 20cm, có từ 2 đến 3 lá mầm. Cây trồng cách nhau 20 cm theo
cả chiều dọc và chiều ngang. Thời gian lưu nước (HRT) trên cơng trình BLTC xác định theo
cơng thức: t = V/Q.
<i>Xác định sinh khối khô của thực vật: Thực vật sau khi thu hoạch được vận chuyển đến phịng thí </i>
nghiệm, cân trọng lượng trước khi sấy, sau đó cắt nhỏ thành những đoạn dài khoảng 20 ¸ 30 cm,
sấy khơ đến khối lượng khơng đổi ở 1030<sub>C ¸ 105</sub>0<sub>C, để nguội trong bình hút ẩm và cân lại trọng </sub>
lượng khô sau khi sấy. Chênh lệch trọng lượng tươi và trọng lượng khô là độ ẩm của sinh khối.
Chênh lệch sinh khối khô ban đầu (trước khi trồng) và khi thu hoạch là độ tăng sinh khối của cây
trên BLTC.
Để xác định các hệ số động học phân hủy các chất ô nhiễm của các loại BLTC khi trồng Canna
<i>generalis, coi bãi lọc như là các bể phản ứng sinh học bám dính với mơ hình dịng đẩy phản ứng </i>
bậc 1 cho tất cả các chất ơ nhiễm, trong đó có BOD5, TN, NH4+-N, NOx-N, TP, ….. Hằng số tốc
trong đó: As: diện tích xử lý của BLTC (m2); Xe: nồng độ chất ô nhiễm ở dịng ra (mg/L); Xi:
Nồng độ chất ơ nhiễm ở dịng vào (mg/L); X*: nồng độ nền của chất ơ nhiễm, mg/L; k: hằng số
tốc độ phản ứng bậc 1 (m/ngày); q: tải trọng thủy lực (m3<sub>/m</sub>2<sub>.ngày hoặc m/ngày); và Q: tốc độ </sub>
dịng chảy trung bình qua bãi lọc (m3<sub>/ngày). </sub>
Các thông số chất lượng nước như BOD5, NH4+-N, NO3--N, PO43-P,… được phân tích trong
phịng thí nghiệm của trường Đại học Xây dựng và Trung tâm Quan trắc môi trường Thái
Nguyên theo các phương pháp chuẩn như: TCVN 6001-1995 (ISO 5815-1989) - Chất lượng
nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hoá sau 5 ngày (BOD5) - phương pháp cấy và pha loãng [13],
TCVN 5988-1995 (ISO 5664-1984) - Chất lượng nước - Xác định amoni - Phương pháp chưng
cất và chuẩn độ [14], TCVN 6180-1996 (ISO 7890-3-1988) - Chất lượng nước – Xác định nitrat
- Phương pháp trắc phổ dùng axit sunfosalixylic [15].
2. <b>KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN </b>
3. <i>Sự sinh trưởng của cây trồng trên các mơ hình thí nghiệm BLTC </i>
Kết quả theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của cây chuối hoa trong thời gian thí nghiệm cho
29/3/2015 (sau 3 tháng 22 ngày). Như vậy, thời gian khởi động mơ hình cho cây trồng thích nghi
và sinh trưởng là khá dài. Do thời điểm này vào mùa đơng trời rét, nhiệt độ trung bình khơng khí
thấp (18÷230<sub>C) nên cây trồng sinh trưởng chậm hơn so với điều kiện thời tiết nóng ấm của mùa </sub>
hè.
Hình 5. Sinh khối trung bình/cây theo thời gian thu hoạch tại bãi lọc HF và FWS
Đối với bãi lọc HF, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2015 sinh khối thu hoạch ở các thời điểm có xu
hướng tăng dần sau đó giảm xuống trong tháng 6 và tháng 7. Sang tháng 8 và tháng 9 sinh khối
lại tăng dần lên so với các tháng trước đó rồi lại giảm xuống ở tháng 10 và tháng 11 và lại tăng
lên ở tháng 12. Trong năm 2016 sinh khối của các tháng biến động nhẹ và khá ổn định từ tháng 1
đến tháng 5. Sinh khối thu hoạch được đạt giá trị max là 526,15g vào ngày 17/5/2015 và đạt giá
trị min là 95g vào ngày 29/3/2015. Sinh khối trung bình/cây dao động trong khoảng từ 12,53 –
42,76 g, trung bình đạt 29,81 g. Chiều cao trung bình của toàn bộ cây đã thu hoạch của bãi lọc
HF đạt mức 1,44m. Trong thời gian nghiên cứu cây chuối hoa ở bãi lọc HF phát triển khá ổn
định, có nhiều mầm mới.
thu hoạch được ở bãi lọc ở các đợt dao động trong khoảng từ 22,84-1182,96 g, đạt giá trị cao
nhất vào ngày 12/4/2016 và giá trị thấp nhất ngày 29/3/2015. Sinh khối trung bình/cây dao động
trong khoảng từ 22,84 - 71,69g, trung bình đạt 41,49 g/cây. Chiều cao trung bình của toàn bộ cây
đã thu hoạch của bãi lọc FWS đạt mức 1,58m. Trong thời gian nghiên cứu cho thấy, cây chuối
hoa ở bãi lọc FWS có sự phát triển khá ổn định, cây lên nhiều mầm mới.
So sánh sự tăng trưởng cây chuối hoa ở hai BLTC thể hiện trong Bảng 3.
<b>Bảng 3</b><i><b>.</b></i> Tổng hợp sinh khối cây chuối hoa ở bãi lọc HF và FWS trong thời gian nghiên cứu<i><b>.</b></i>
<b>BLTC </b> <b>Tổng sinh khối </b>
<b>(g) </b>
<b>Độ ẩm trung bình </b>
<b>(%) </b>
<b>Sinh khối trung </b>
<b>bình/cây (g) </b>
<b>Chiều cao trung </b>
<b>bình/cây (m) </b>
HF 8196,69 86,96±0,30 29,81±7,58 1,44±0,19
FWS 11908,96 88,84±1,33 41,49±13,13 1,58±0,21
Các giá trị tổng sinh khối, sinh khối trung bình/cây và chiều cao trung bình/cây ở bãi lọc FWS
luôn lớn hơn so với ở bãi lọc HF trong toàn bộ thời gian nghiên cứu, với các mức cao hơn tương
ứng là 31,17%; 28,17% và 8,63%. Cây chuối hoa có khả năng sinh trưởng trong cả bãi lọc FWS
và HF. Tuy nhiên, nó phát triển tốt hơn trong điều kiện đất ngập nước của bãi lọc FWS. Cây phát
triển cao hơn và hình thành sinh khối lớn hơn nhiều so với điều kiện khô trong bãi lọc HF. Khi
sinh trưởng trong môi trường đất ngập nước độ ẩm của cây cũng cao hơn so với sinh trưởng
trong môi trường khô hạn.
1. <i>Hệ số phân hủy các chất ô nhiễm đặc trưng trong nước thải sinh hoạt của các BLTC qua </i>
<i>hai MHTN </i>
Trên cơ sở số liệu thu được từ các đợt thí nghiệm, dựa vào phương trình (1) và (2), sử dụng
NO3--N) của các BLTC trên MHTN. Từ đó, xác định được các hệ số phân hủy các chất ô nhiễm.
<i>Các hệ số phân hủy chất hữu cơ (kBOD) </i>
Kết quả xác định các hệ số phân hủy chất hữu cơ (kBOD) trong NTSH của các BLTC trên MHTN
được tính theo (1), (2) và tổng hợp trong Bảng 4.
<b>Bảng 4. Hệ số tốc độ phân hủy chất hữu cơ trong NTSH của các BLTC trên MHTN </b>
m3<sub>/m</sub>2<sub>/ngày </sub> <sub>kg/ha/ngày </sub> <b><sub>quan R</sub>2</b>
m/năm m/ngày
HF
0,050 41,73 27 0,073 0,87
0,075 63,08 35 0,097 0,80
0,088 72,86 43 0,118 0,89
0,100 81,95 48 0,131 0,90
FWS
0,100 46,91 64 0,175 0,97
0,125 41,11 54 0,148 0,98
0,150 39,47 62 0,171 0,97
0,175 57,14 63 0,174 0,93
0,200 60,80 69 0,189 0,86
Hệ số tốc độ phân hủy chất hữu cơ (kBOD) của bãi lọc HF ở các đợt thí nghiệm và có xu hướng
tăng dần khi tăng HLR từ 0,05- 0,10 m3<sub>/m</sub>2<sub>/ngày với tải trọng chất hữu cơ vào bãi lọc HF dao </sub>
động trong khoảng từ 41,73-81,95 kg/ha/ngày. Hệ số kBOD của bãi lọc HF dao động trong khoảng
từ 0,073-0,131 m/ngày, đạt cao nhất ở HLR cao nhất là 0,10 m3<sub>/m</sub>2<sub>/ngày. Giá trị này phù hợp với</sub>
các kết quả đã công bố về hệ số kBOD trung bình đối với các bãi lọc HF của Kadlec R.H. (2009),
Jan Vymazal (2008), Ngô Diễm Thùy Trang và các tác giả của Đại học Cần Thơ (2010) với các
giá trị tương ứng là 0,101; 0,123; 0,060-0,260 m/ngày (hay 37; 45 và 22-95 m/năm) [12], [16] và
[17].
Hệ số kBOD của bãi lọc FWS dao động trong khoảng từ 54-69 m/năm (0,148-0,189 m/ngày). Giá
bậc 2 và bậc 3 và của Kadlec R. H. (2009) là 41 và 33 m/năm (hay 0,112 và 0,090 m/ngày tương
ứng)[16]. HLR vào bãi lọc từ 0,05- 0,10 m3<sub>/m</sub>2<sub>/ngày với tải trọng chất hữu cơ dao động trong </sub>
khoảng từ 39,47-60,80 kg/ha/ngày.
<i>-Các hệ số chuyển hóa NH4+<sub>-N, NO3</sub>-<sub>-N (kNH4+-N , kNO3--N ) ở các BLTC </sub></i>
Kết quả xác định hệ số phân hủy NH4+-N, NO3--N trong NTSH của các BLTC trong mơ hình thí
nghiệm được tính theo (1), (2) và tổng hợp trong Bảng 5 và Bảng 6.
<b>Bảng 5. Các hệ số chuyển hóa NH</b>4+-N trong NTSH của các BLTC trên MHTN
<b>BLTC </b>
<b>HLR, </b>
m3<sub>/m</sub>2<sub>/ngày </sub>
<b>Tải trọng ô nhiễm, </b>
g/m2<sub>/ngày </sub>
<b>KNH4-N </b>
<b>Hệ số tương </b>
<b>quan R2</b>
m/năm m/ngày
HF
0,050 11,77 15 0,040 0,95
0,075 25,41 10 0,028 0,89
0,088 29,65 11 0,029 0,87
0,100 43,67 8 0,023 0,99
FWS
0,100 5,24 79 0,216 0,90
0,125 18,51 54 0,147 0,94
0,150 16,73 49 0,134 0,84
0,175 36,02 41 0,112 0,89
<b>Bảng 6. Các hệ số phân hủy NO</b>3--N trong NTSH của các BLTC trên MHTN
<b>BLTC </b>
<b>HLR, </b>
m3<sub>/m</sub>2<sub>/ngày </sub>
<b>Tải trọng ô nhiễm, </b>
g/m2<sub>/ngày </sub>
<b>KNO3-N </b>
<b>Hệ số tương </b>
<b>quan R2</b>
m/năm m/ngày
HF
0,050 12,55 26 0,071 0,90
0,075 10,28 18 0,050 0,88
0,088 19,69 16 0,044 0,89
0,100 24,30 11 0,029 0,93
FWS
0,100 53,00 97 0,266 0,84
0,125 34,38 95 0,259 0,86
0,150 48,00 85 0,233 0,90
0,175 73,85 65 0,178 0,81
0,200 117,80 50 0,137 0,88
Hệ số kNH4+-N của bãi lọc HF có sự khác biệt khơng đáng kể ở các đợt thí nghiệm và có xu hướng
giảm dần khi tăng HLR vào các bãi lọc từ 0,05-0,10 m3<sub>/m</sub>2<sub>/ngày, dao động trong khoảng từ </sub>
0,023÷0,040 m/ngày tương ứng. Giá trị này phù hợp với kết quả công bố về hệ số kNH4+-N của bãi
lọc HF của các tác giả Kröpfelová và Vymazal (2008), Kadlec R.H. (2009) với các giá trị tương
ứng là 0,024 và 0,031 m/ngày (11,4 m/năm) [7], [19]. Tuy nhiên kết quả này thấp hơn so kết quả
công bố của Kadlec and Knight (1996) với giá trị kNH4+-N = 0,093 m/ngày[12].
Hệ số kNH4+-N của bãi lọc FWS cao hơn nhiều so với bãi lọc HF và giảm dần khi tăng HLR vào
hơn so với kết quả cơng bố về giá trị trung bình hệ số kNH4+-N của bãi lọc FWS của Kadlec R.H.
(2009) với giá trị là 0,0403 m/ngày (14,7 m/năm) [16].
Hệ số kNO3--N của bãi lọc HF khơng có sự khác biệt đáng kể ở các đợt thí nghiệm và có xu hướng
giảm dần khi tăng tải trọng thủy lực vào các bãi lọc, dao động trong các khoảng 0,029÷0,071
m/ngày tương ứng. Giá trị này phù hợp với kết quả công bố về hệ số kNO3--N của bãi lọc HF của
các tác giả Kröpfelová and Vymazal (2008) với giá trị kNO3--N = 0,039 m/ngày [19]. Tuy nhiên kết
quả này thấp hơn so với giá trị kNO3--N theo công bố của Kadlec & Knight (1996), Kadlec R.H.
(2009) với các giá trị tương ứng là; 0,137 và 0,115 m/ngày (42 m/năm) [12], [16]. Hệ số kNO3--N
của bãi lọc FWS cao hơn nhiều so với bãi lọc HF và giảm dần từ đợt 1 đến đợt 5, dao động trong
khoảng từ 0,137-0,266 m/ngày và đạt giá trị cao nhất ở đợt 1 với HLR là 0,10 m3<sub>/m</sub>2<sub>/ngày. Giá </sub>
trị này cao hơn so với kết quả công bố về giá trị trung bình hệ số kNO3--N của bãi lọc FWS của
R.H.Kadlec (2009) với giá trị là 0,074 m/ngày (27 m/năm) [16].
3. <b>KẾT LUẬN </b>
Cây chuối hoa Canna generalis là loại thực vật thân thảo, rễ chùm, có hoa sinh trưởng tốt trên
<i>đất ngập nước. Khi trồng trên BLTC, Canna generalis đóng vai trị là lồi thực vật chính tạo </i>
<i>điều kiện chuyển hóa các chất ơ nhiễm trong nước thải sinh hoạt . Kết quả nghiên cứu trên </i>
<i>MHTN các loại BLTC trong điều kiện khí hậu miền núi phía Bắc Việt Nam, thấy rằng cây chuối </i>
<i>hoa phát triển tốt trên cả bãi lọc HF lẫn bãi lọc FSW. Tuy nhiên sinh khối khơ trung bình Canna</i>
<i>generalis trên FSW là 41,49 g/cây lớn hơn so với 29,81 g/cây trên HF. Là loại thực vật chịu </i>
<i>nước, khả năng sinh trưởng và phát triển của Canna generalis trên BLTC cao. Ngồi ra với hình</i>
<i>dáng đẹp và có hoa nhiều màu, Canna generalis là loại thực vật thích hợp cho các cơng trình </i>
<i>Khi trồng Canna generalis trên các loại BLTC, các hệ số phân hủy các chất ô nhiễm như: hệ số </i>
phân hủy chất hữu cơ (kBOD), hệ số chuyển hóa NH4+-N(kNH4+-N ) và hệ số chuyển hóa NO3—N
(kNO3--N ) trên MHTN bãi lọc HF có giá trị tương đương như trong các BLTC theo nghiên cứu của
nhiều tác giả khác. Tuy nhiên đối với MHTN bãi lọc FSW giá trị các hệ số này cao hơn so với
các nghiên cứu trước đây ở nhiều vùng khí hậu khác nhau. Dùng Canna generalis làm thực vật
<i>trồng tạo cho bãi lọc FSW có hiệu suất xử lý các chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng trong nước</i>
<i>thải sinh hoạt tăng lên. </i>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
1. Quyết định Số: 589/QĐ-TTg ngày 6/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều
chỉnh Định hướng phát triển thốt nước đơ thị và khu cơng nghiệp Việt Nam đến năm
2025 và tầm nhìm đến năm 2050.
2. Nguyễn Khanh Vân. Phân vùng khí hậu các tỉnh miền núi Bắc Bộ và Tây Thanh
Nghệ.Tạp chí Các khoa học về trái đất, số 37(3) năm 2015, 204-212.
4. Vi Thi Mai Huong, Tran Duc Ha. A study on domestic wastewater treatment ability in
Bach Quang ward by the hybrid model of stabilisation pond and constructed wetland,
<i>Internetional workshop on environmental & architectural design for sustainable </i>
<i>development, Đại học Xây dựng, 2017; ISBN: 978-604-82-2169-0, pp.73-82. </i>
5. Đặng Đình Kim, Lê Đức, Trần Văn Tựa, Bùi Thị Kim Anh, Đặng Thị An. Xử lý ô nhiễm
<i>môi trường bằng thực vật. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2011. </i>
6. Tjia B. and Black R. J. Cannas for the Florida Landscape, Circular 424, Florida
Cooperative Extension Service, Institute of Food and Agricultural Sciences, University of
Florida,1991.
7. Vymazal J., Constructed wetlands for wastewater treatment: A review, ENKY.o.p.s.
andInstitute of System Biology and Ecology, Czech Acedamy of Science, Dukenska
145-379 01 Czech Republic, 2008.
8. PROTA. Plant Resources of Tropical Africa. African ornamentals. Proposals and
<i>examples, PROTA Foundation, Wageningen, Netherlands, 2011. </i>
9. Watson J. T., Reed S. C., Kadlec R. H., Knight R. L. and Whitehouse A. E. Constructed
<i>Wetlands for Wastewater Treatment, Ed. DA Hammer, Lewis Publishers, CRC Press, </i>
Boca Raton, FL, 1989.
10. Kayombo S., Mbwette T., Katima J., Ladengaard N., & Jorgensen S., Waste Stabilization
<i>Ponds and Constructed Wetlands Design Manual. Dar es Salaam, TZ/Copenhagen, DK: </i>
UNEP-IETC/Danida, 2004.
11. USEPA. Manual Constructed wetlands treatment of municipal wastewaters- Nationsl
Rist management research laboratory office of research and development
U.S.environmental Protection Agency Cincinati, Ohio 45268-EPA/625/R-99/010, 2000
12. Kadlec R. H, Knight R. L. Treatment wetlands, Boca Raton, Florida: CRC Press, 1996,
893 pp.
13. TCVN 6001-1995 (ISO 5815-1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hoá
sau 5 ngày (BOD5) - phương pháp cấy và pha loãng.
14. TCVN 5988-1995 (ISO 5664-1984) - Chất lượng nước - Xác định amoni - Phương pháp
chưng cất và chuẩn độ.
15. TCVN 6180-1996 (ISO 7890-3-1988) - Chất lượng nước – Xác định nitrat - Phương pháp
trắc phổ dùng axit sunfosalixylic.
16. Kadlec R. H. ‘Comparison of free water and horizontal subsurface
treatment wetlands’, Ecological Engineering 35 (2009), pp. 159–174.
17. Ngo Thuy Diem Trang, Dennis Konnerup, Hans-Henrik Schierup, Nguyen Huu Chiem,
Le Anh Tuan, Hans Brix ,“Kineritcs of pollutant removal from domestic wastewater in a
tropical horizontal subsurface flow constructed wetland system: Effects of hydraulic
loading rate”, Ecological Engineering 36 (2010), pp. 527–535.