Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (178.31 KB, 8 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
Trên suốt chặng đường về q, tơi bâng khng ngắm nhìn từng cảnh vật.
Khung cảnh làng quê tuy vẫn nghèo với những vườn cây vàng võ, những mái
tranh tiêu điều, những mảnh ruộng cằn khô nhưng vẫn cảm nhận được khí thế
cách mạng thể hiện qua nét mặt hân hoan của mọi người. Tôi miên man nghĩ về
thầy tôi, không biết giờ này thầy đang làm gì, mắt đã mờ, chân đã chậm nhiều
chưa? Tơi thấy mình có lỗi vì một phút nơng nổi đã bỏ lại người cha già yếu
mà đi. Bất giác, tôi ước mình có đơi cánh để bay nhanh về ngơi làng nhỏ bé,
thân thuộc, nơi ấy có một người thân u đang ngóng đợi tơi về.
những hồi ức, kỉ niệm của những tháng ngày sống kham khổ với rau chuối, củ
riềng, củ ráy nhưng ấm áp hương vị quê hương lại ùa về nguyên vẹn trong tôi.
Tôi hối hả bước về ngôi nhà tranh với bờ rào râm bụt đỏ quen thuộc, trong lòng
vang lên tiếng gọi tha thiết: “ Thầy ơi! Con đã về rồi!”.
Nhưng đáp lại tiếng kêu thảng thốt của tôi là cảnh im vắng của khu vườn rộng
thênh, cỏ vườn tốt um, căn nhà heo vắng, khơng thấy bóng dáng của thầy, Cậu
Vàng đâu, sao khơng chạy ra đón?... Sự ngạc nhiên cùng tâm trạng bồn chồn lo
lắng cùng lúc xuất hiện trong lịng tơi. Tơi khẽ khàng đẩy cánh cửa. Trời ơi!
Ơng giáo đón tơi với vẻ mặt trầm buồn, rồi ông chậm rãi kể cho tôi nghe những
ngày tháng cuối cùng của thầy tôi trước khi rời xa thế giới này. Thì ra, suốt
những năm qua, thầy tơi sống tằn tiện, chắt chiu, cực khổ, bòn từng hào lẻ để
dành dụm cho tơi. Ơng trời lại khéo trêu cợt khiến thầy gặp phải trận ốm thập
tử nhất sinh, tiền bạc dành dụm bấy lâu cũng đội nón ra đi. Bồi thêm trận bão
làm cho hoa màu trong vườn điêu tàn khiến cuộc sống của thầy tôi lại càng cơ
cực. Cuối cùng thầy đã bán con Vàng - niềm vui tuổi già của thầy trong tột
cùng đau xót và chọn một cái chết tức tưởi, đớn đau nhằm chấm dứt tình trạng
sống mịn để giữ cho tơi chút tài sản cuối. Tai tơi ù đi, lịng tơi tê tái khi nghe
câu nói của ơng giáo: “ Đây là văn tự mảnh vườn mà ông cụ đã cố để lại cho
anh trọn vẹn. Cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào”.
Cầm tờ văn tự trong tay, tôi như người mộng du theo chân ông giáo ra bãi tha
ma cuối làng. Khung cảnh nghĩa địa buồn hiu hắt dưới ráng chiều chạng vạng.
Trên mộ thầy tôi cỏ mọc xanh tốt như thể được chăm chút thường xuyên. Liệu
có phải ông trời thương xót thầy tôi mà độ cho không?
trái gió, ốm đau, một mình thầy chịu đựng mà không một lời trách cứ về con.
Thầy ơi! Con đã hiểu cơng ơn, tình cảm u thương vơ bờ thầy đã thầm lặng
dành cho con bao lâu nay. Thầy đã ngày đêm thương nhớ, lo lắng, mong ngóng
con trở về. Mọi suy nghĩ, việc làm của thầy đều hướng về con. Thầy sống tằn
tiện, kham khổ, làm việc chăm chỉ, chẳng quản nắng mưa cũng là để vun vén
cho con. Thầy đã hi sinh cả điểm tựa tinh thần, niềm vui của tuổi già, cả mạng
sống của chính mình cũng là vì hạnh phúc của con. Con cũng hiểu và căm giận
vô cùng cái xã hội thực dân nửa phong kiến tối tăm, ngột ngạt, bất công đã đẩy
Chợt một bàn tay nhẹ nhàng khẽ đặt trên vai tơi, giọng nói ơng giáo ơn tồn:
“ Thơi! Anh về thế này chắc cụ mãn nguyện rồi. Người chết đã chết. Người
sống vẫn phải sống. Anh phải sống sao cho xứng với sự hi sinh của cụ”.
Vâng! Cháu hiểu lời ơng nói: " Trong cuộc đời cũ, hạnh phúc chỉ là cái chăn
quá hẹp. Người này co thì người kia hở ". Và thầy cháu, vì tình thương con sâu
nặng đã chấp nhận giá lạnh của cuộc đời để nhường chút hơi ấm của tấm chăn
hạnh phúc cho người con xa nhà. Vì thế cháu quyết sẽ khơng bao giờ để thầy
cháu phải hổ thẹn vì cháu.
và để về quê cưới vợ. Cảnh vật quê hương vẫn thân thuộc như ngày nào. Trong
tâm trí tơi vẫn nhớ như in từng đường thơn ngõ xóm, từng dịng sông, ngọn đồi
nhưng dường như cảnh vật dần dần tiều tụy, xơ xác hơn so với ngày tôi bỏ làng
ra đi. Bỗng nhiên, một cảm giác lạnh lẽo bao trùm khắp không gian khi tôi đặt
chân đến mảnh vườn của cha. Cây cỏ thì khơ héo, cây cối xung quanh tiêu điều,
trơ trụi như rất lâu rồi chưa có người đặt chân đến chăm sóc. Ngơi nhà bằng
rơm của cha tơi thì siêu vẹo, tưởng chừng như sắp đổ. Tơi vội vàng ngó vào
trong nhà nhưng chẳng thấy cha tơi đâu. Tôi gọi lớn: “Cha ơi, cha ơi con đã về
rồi đây cha ơi, cha ơi!...” nhưng mãi khơng có một tiếng trả lời. Tôi bỗng đâm
ra lo sợ. Bất chợt, có một người hàng xóm đi qua, đã nhận ra tơi là con trai lão
Hạc liền nói: “ơ, cháu đã về rồi à, nhưng bây giờ về thì đã quá muộn rồi, cha
Vừa đến nơi, ông giáo đã nhận ra tôi ngay, ông “à”, lên một tiếng rồi mời tôi
vào nhà. Ngay lập tức tơi vào thẳng vấn đề chính:
- Ơng giáo ơi, ông giáo cho cháu biết chuyện gì đã xảy ra với cha cháu, à và
còn về mảnh vườn nữa, chuyện cha cháu bán mảnh vườn cho ông giáo là như
thế nào vậy?
- Cậu cứ từ từ đã, chuyện còn dài lắm, trước tiên tôi dẫn cậu đến mộ của cha
cậu trước đã. Ông giáo từ từ đáp lại. Đến mộ của cha, ông giáo và tôi thắp vài
nén hương khấn cha tơi và ơng giáo nghẹn ngào nói:
- Lão Hạc ơi, cuối cùng con trai lão cũng đã trở về rồi đây, đã đến lúc tôi thực
hiện lời hứa là trao trả mảnh vườn mà lão đã hi sinh cuộc đời để giữ lại cho con.
Bây giờ thì lão có thể yên nghỉ dưới suối vàng rồi chứ?
Nghe đến đây, chưa rõ chuyện gì xảy ra nhưng tơi vơ cùng xót xa, ân hận nói:
- Cha ơi, con quả là đứa con bất hiếu phải không cha, trong lúc cha cần có một
bờ vai để nương tựa nhất thì con lại khơng có ở bên. Con chỉ mải mê lo kiếm
tiền để hai cha con có thể sơng một cuộc sống đầy đủ hơn sau này, con thật có
lỗi quá - Tơi tự dằn vặt bản thân mình.
để nói chuyện tiếp. Ơng giáo rót nước mời tơi uống rồi từ từ kể lại toàn bộ câu
chuyện cho tơi nghe. Từ lúc mùa màng đói kém, cha tơi day dứt về chuyện bán
cậu Vàng đến lúc ân hận, xót xa đã nỡ lừa một con chó. Cha tơi đã phải tự giải
thoát cuộc đời bằng cách ăn bả chó xin được của Binh Tư để khơng tiêu vào số
tiền dành dụm cho tôi và giữ lại mảnh vườn cho tôi. Cha tôi đã nhờ ông giáo
Nghe xong câu chuyện mà ông giáo kể, tôi khơng thể nào kiềm chê được nỗi
xúc động, hai dịng nước mắt cứ thế chảy ra. Tôi ân hận lắm, xót xa lắm, chỉ vì
tơi mà cha đã nhịn đói, chỉ vì tơi mà cha đã phải tự tìm đến cái chết thảm khốc
để giải thốt bản thân. Đầu óc tơi chống váng, tơi cảm thấy mình thật đáng
chết, mình là người con bất hiếu, việc gì mà cha phải hi sinh cuộc đời cho một
người con như tôi chứ. Trong lịng tơi tràn đầy cảm giác tội lỗi, ân hận. Tôi
thương cha vô cùng. Thực ra ngày ấy phần vì nơng nổi sau khi người u đi lấy
chồng do tơi nghèo khó khơng có đủ tiền cưới vợ, phần vì thấy cha đã già mà
phải làm việc vất vả tơi mới bỏ làng ra đi để kiếm chút ít tiền vừa để có chút
vốn liếng lập nghiệp về sau, vừa để cho cha an hưởng lúc về già, ai ngờ sự việc
lại xảy ra như thế này. Tôi chỉ nghĩ vùng đất ấy là một vùng đất đầy hứa hẹn,
có thể kiếm được nhiều tiền để sau này về biếu cha rồi lập nghiệp và cưới vợ.
Ông giáo liền đưa cho tơi xem văn tự mảnh vườn và nói: “Giờ đây, văn tự này
chẳng cịn ý nghĩa gì nữa” rồi ơng giáo liền xé nó đi và đưa trả lại tôi cả mấy
chục đồng bạc mà cha tôi nhờ ông giáo cất giữ. Trước khi ra về, tôi có đưa cho
ông giáo mấy đồng bạc nhưng ông giáo nhất quyết khơng nhận, ơng bảo khơng
có lí do gì để nhận số tiền ấy cả.
Về tới đầu làng, anh thấy cảnh xóm làng tuy vẫn cịn xơ xác, tiêu điều vì trận
đói khủng khiếp vừa qua nhưng khí thế cách mạng của bà con nơng dân thì sơi
nổi lắm. Tiếng trống, tiếng mõ vang rền. Các kho thóc của phát xít Nhật bị phá
tung, cán bộ Việt Minh chia thóc cho dân chúng. Từng đoàn, trai tráng kéo
nhau đi rầm rập trên con đê chạy dọc bờ sông, miệng hô to những khẩu hiệu đả
Quả là một cảnh tượng anh chưa từng được chứng kiến trong đời. Tim anh đập
rộn lên khi đặt chân về đến rặng tre đầu ngõ. Khu vườn quen thuộc đây rồi! Ba
gian nhà tranh cũ kĩ, xiêu vẹo, im lìm đứng giữa vườn cây xơ xác. Lối vào nhà
và miếng sân đất um tùm cỏ dại.
Anh cất tiếng gọi cha, không một lời đáp lại. Nhấc chiếc cửa liếp ra, anh ngó
vào trong:
Ơng giáo Tri, người hàng xóm thân cận pha nước mời anh uống rồi khun anh
hãy bình tĩnh nghe ơng kể về những ngày cuối đời của người cha tội nghiệp:
- Từ hôm anh đi, ông cụ buồn lắm! Sớm tối chỉ có con chó Vàng quanh quẩn
bên ơng cụ mà thơi. Cả tổng đói, cả làng đói. ơng cụ đứt bữa thường xun,
Thơi thì kiếm được cái gì ăn cái nấy cho qua ngày. Thỉnh thoảng sang bên tôi
chơi, ông cụ cứ tự trách mình vì nghèo mà khơng cưới được vợ cho con, để con
phải lưu lạc tha phương kiếm sống. Một buổi chiều, ông cụ nhờ tôi trông coi hộ
mảnh vườn ba sào để sau này anh về thì có sẵn đất đấy mà làm ăn. Ơng cụ cịn
gửi tôi giữ giùm ba mươi đồng bạc dành dụm từ việc bán hoa lợi thu được từ
mảnh vườn suốt mấy năm qua và tiền bán con chó Vàng. Khốn khổ! Nhắc đến
chuyện phải buộc lịng bán nó vì khơng ni nổi nữa, ơng cụ cứ khóc vì ân hận
là đã lừa nó. Ơng cụ bảo thà chết chứ khơng bán mảnh vườn của mẹ anh để lại
cho anh.
Tơi có ngờ đâu ông cụ lại chọn cái chết, ông cụ xin Binh Tư ít bả chó. Lúc thấy
ồn ào, tơi chạy vội sang thì ơng cụ đang quằn quại. Chẳng thể làm thế nào cứu
được nữa! Số tiền ông cụ gửi, tơi chỉ một ít lo ma chay, chơn cất ơng cụ; số cịn
lại, tơi vẫn giữ đây chờ anh về. Lát nữa, tôi sẽ dẫn anh ra thăm mộ ông cụ. Ơi
Chao! Trên đời này, thật hiếm có người cha nào thương con như thế!
Anh con trai lão Hạc ngồi lặng đi, hai hàng nước mắt lăn dài trên má. ông giáo
lấy văn tự nhà đất cùng túi tiền cất ở trên bàn thờ xuống, đưa cho anh. Anh run
run đưa tay ra đón lấy rồi nghẹn ngào thốt lên hai tiếng: “Cha ơi!”.