Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (310.67 KB, 19 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>I. Mở bài</b>
- Giới thiệu một vài nét chủ yếu nhất về tác giả Ngô Tất Tố: một nhà văn hiện
thực xuất sắc chuyên viết về nông thôn, nông dân
- Giới thiệu về tác phẩm Tức nước vỡ bờ: Một tác phẩm tiêu biểu vạch trần bộ
mặt tàn ác, vô nhân đạo của xã hội thực dân phong kiến đương thời đẩy người
nơng dân vao tình cảnh khó khăn
<b>II. Thân bài</b>
<b>1. Tình thế gia đình chị Dậu</b>
- Nguy ngập, khốn cùng:
+ Thiếu sưu, nhà khơng cịn của cải đáng giá.
+ Đã bán 1 đứa con gái, 1 ổ chó, 2 gánh khoai để nộp suất sưu cho em chồng.
Nhà khơng cịn gì, con đói
+ Anh Dậu bị bệnh, bị đánh trói đến ngất⇒khi chúng trả về, anh mới tỉnh
+ Bọn tay sai đến đốc thúc nộp sưu
⇒<sub>sự thấu hiểu, cảm thông sâu sắc của nhà văn với tình cảnh cơ cực, bế tắc của</sub>
- Thái độ: hống hách.
- Ngôn ngữ: hách dịch, kém văn hố
- Hành động: đi thúc sưu nhưng ln đem theo “roi song, tay thước, dây thừng”,
đánh trói người vơ tội vạ. Đánh cả phụ nữ.
⇒<sub>Nghệ thuật khắc họa nhân vật thông qua ngôn ngữ, hành động: Tên cai lệ</sub>
nổi bật là tên côn đồ, vũ phu
⇒qua việc miêu tả lối hành xử của cai lệ, nhà văn tố cáo bộ mặt tàn ác, bất
nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời
<b>3. Nhân vật chị Dậu</b>
- Là người vợ ln u thương chăm sóc chồng chu đáo: chăm sóc anh Dậu khi
anh Dậu bị đánh ngất
- Vì sự an toàn của chồng, chị đã nhẫn nhục van xin tên cai lệ và người nhà lý
trưởng
- Khi chúng đánh chị và sấn tới để trói anh Dậu, chị đã vùng lên đấu tranh,
đánh ngã bọn này.
- Chị Dậu là một phụ nữ lao động giàu lòng yêu thương, nhường nhịn mà cũng
tiềm tàng tinh thần phản kháng mạnh mẽ.
⇒Qua đây, ta thấy sự phát hiện của tác giả về tâm hồn yêu thương, tinh thần
phản kháng mãnh liệt của người nông dân vốn hiền lành, chất phác
<b>III. Kết bài</b>
- Khái quát những nét nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm: Nghệ thuật tạo tình
huống truyện có tính kịch, xây dựng nhân vật thông qua miêu tả chân thật, sinh
động về ngoại hình, ngơn ngữ, hành động, tâm lí...
Ngô Tất Tố (1893 – 1954), quê ở làng Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh,
nay thuộc Đông Anh, Hà Nội; là một nhà Nho sống ở nông thơn, có vốn hiểu
biết Hán học khá sâu rộng, ơng nổi tiếng trên lĩnh vực báo chí và văn chương
trong giai đoạn đầu thế kỉ XX. Tắt đèn là tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp
sáng tác của Ngô Tất Tố và trong trào lưu văn học hiện thực trước Cách mạng
tháng Tám 1945.
Tác giả lấy đề tài từ một vụ thu thuế hàng năm ở một làng quê Bắc Bộ, qua đó
phản ánh số phận bi thảm của nơng dân và bản chất tàn bạo của giai cấp thống
trị trong xã hội đương thời. Có thể nói tác phẩm Tắt đèn là bức tranh thu nhỏ
của nông thôn Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.
Trong tác phẩm Tắt đèn, bằng ngòi bút tả thực sắc sảo, nhà văn đã vẽ lên chân
dung sinh động của một loạt nhận vật. Từ vợ chồng lão Nghị Quế keo kiệt bất
nhân đến bọn cường hào tham lam hống hách. Từ một quan “phụ mẫu” oai vệ
mà bỉ ổi đến bọn tay sai đầu trâu mặt ngựa. Mỗi đứa một vẻ nhưng đều giống
nhau ở bản chất tàn ác và tư cách đê tiện. Những nhân vật phản diện này tiêu
biểu cho tầng lớp phong kiến thống trị ở nông thôn lúc bấy giờ.
Thái độ yêu ghét của Ngô Tất Tố thể hiện rất rõ ràng qua từng trang viết. Tình
cảm yêu mến, trân trọng mà ông dành cho người nông dân khiến ông thật sự là
Đoạn Tức nước vỡ bờ trích từ chương XVIII của tác phẩm, nội dung xoay
quanh những biến động ghê gớm xảy ra với gia đình chị Dậu trong mùa sưu
thuế.
Vụ thuế đang trong thời điểm gay gắt nhất. Quan trên sắp về tận làng để đốc
thuế. Bọn tay sai hung hãn xông vào nhà những người chưa nộp thuế để đánh
trói, bắt bớ và giải ra đình tiếp tục cùm kẹp, tra khảo. Chị Dậu đã phải bán
khoai, bán chó, bán cả đứa con gái lớn để nộp sưu cho chồng, nhưng bọn hào lí
ngang ngược lại bắt anh Dậu phải nộp cả suất của người em đã chết từ năm
ngoái. Thành thử, anh Dậu vẫn cứ là người thiếu thuế, bọn chúng chắc chắn sẽ
không buông tha. Đã thế anh Dậu lại đang ốm rề rề sau trận đòn, tưởng chết
đêm qua. Nếu bị chúng đánh trói lần nữa thì mạng sống của anh khó mà giữ
được. Vấn đề quan trọng nhất đối với chị Dậu giờ đây là làm sao bảo vệ được
chồng trong tình thế nguy ngập này. Đoạn trích tiếp nối câu chuyện trên.
Qua đoạn trích, tác giả phơi bày và lên án bản chất tàn ác bất nhân của chế độ
thực dân phong kiến lúc bấy giờ và phản ánh tình cảnh đau thương của nơng
dân cùng quy luật có áp bức có đấu tranh. Nhà văn giúp chúng ta thấy được vẻ
đẹp tâm hổn và sức sống tiềm tàng của người phụ nữ nông dân nghèo khổ.
Trong đoạn trích có hai nhân vật chính là chị Dậu và tên cai lệ.
mọc: Thầy em cố dậy húp tí cháo cho đỡ xót ruột. Trong ánh mắt và giọng nói
của người vợ nghèo khổ ấy tốt lên một tình cảm tha thiết đến nao lịng.
Chị Dậu đã trở thành trụ cột của cái gia đình đang quẫn bách khốn khổ vì sưu,
vì thuế. Chồng bị đánh đập, gông cùm. Một tay chị chèo chống, chạy vạy, phải
bán tất cả những gì có thể bán được, kể cả đứa con gái đầu lịng ngoan ngỗn,
Chị Dậu đã đương đầu với bọn nha dịch tay sai để bảo vệ chổng như thế nào?
Ban đầu, khi bọn chúng ập vào định lôi anh Dậu đi nhưng chưa hành hung mà
chỉ chửi bới, mỉa mai, đe doạ thì chị Dậu vẫn nhũn nhặn van xin tên cai lệ độc
ác. Bọn đầu trâu mặt ngựa hung hãn nhân danh phép nước, người nhà nước để
ra tay, còn chồng chị là hạng cùng đinh đang có tội (!) cho nên chị phải van xin.
Vả lại, kinh nghiệm lâu đời đã thành bản năng của người nông dân thấp cổ bé
họng là phải biết rõ thân phận mình. Thói quen nhẫn nhục khiến chị chỉ dám
năn nỉ, khơi gợi lòng nhân từ của tên cai lệ: Cháu van ông, nhà cháu vừa mới
tĩnh được một lúc, ông tha cho! Cách xưng hô ông, cháu của chị Dậu là cách
xưng hô của kẻ dưới với người trên, biểu hiện sự hạ mình. Bọn chúng chẳng
thèm nghe mà sầm sập chạy đến chỗ anh Dậu, định bắt trói anh một lần nữa thì
chị Dậu đã giận xám mặt nhưng vẫn cố chịu đựng, níu tay tên cai lệ van nài:
Cháu xin ơng! Mọi lời nói, hành động của chị Dậu đều khơng ngồi mục đích
để bảo vệ chồng.
đấu tranh. Người đọc xót thương một chị Dậu phải hạ mình van xin bao nhiêu
thì càng đồng tình, nể phục một chị Dậu đáo để, quyết liệt bấy nhiêu.
Lúc đầu, chị cự lại tên cai lệ bằng lí lẽ: Chồng tơi đau ốm, ơng khơng được
phép hành hạ! Thực ra, chị chỉ nói đốn lịng nhân đạo tối thiểu của con người.
Chị khơng cịn xưng cháu và gọi tên cai lệ bằng ông nữa mà xưng là tơi – ơng,
ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào mặt đối thủ.
Từ vị thế thấp hèn của kẻ dưới, chị Dậu vụt trở thành ngang hàng với những kẻ
xưa nay vẫn đè đầu cưỡi cổ mình. Câu nói của chị là lời cảnh cáo cứng rắn mà
vẫn có đủ tình, đủ lí. Nhưng cái ác thường khơng biết chùn tay. Tên cai lệ cứ
sấn tới đánh chị và nhảy vào định lơi anh Dậu đi. Lịng u thương chổng tha
thiết đã thúc đẩy ctìị phải hành động chống trả quyết liệt lũ tay sai tàn ác đang
cố tình phá nát gia đình chị.
Chị khơng chấp nhận để chồng mình bị hành hạ thêm một lần nữa. Hành động
chống trả bọn tay sai diễn ra thật bất ngờ nhưng thực ra mầm mống phản kháng
đã ẩn chứa tử lâu dưới vẻ ngoài cam chịu nhẫn nhục thường ngày của chị. Sự
chịu đựng kéo dài và sự áp bức lên đến tột đỉnh khiến cho thái độ phản kháng
bùng lên dữ dội.
Khi tên cai lệ dã thú ấy tát vào mặt chị một cái đánh bốp rồi cứ hung hăng sấn
tới chỗ anh Dậu, thì chị đã nghiến hai hàm răng thách thức: Mày trói ngay
chồng bà đi, bà cho mày xem! Khơng cịn ơng – cháu, tơi – ơng gì nữa, chị
chuyển phắt sang xưng bà và gọi tên cai lệ là mày. Điều đó thể hiện thái độ
căm giận, khinh bỉ đến cao độ, đồng thời khẳng định tư thế của chị là sẵn sàng
đè bẹp đối phương. Chị Dậu là một lò lửa đang bùng cháy dữ dội. Chị khơng
thèm đấu lí với tên cai lệ bất lương mà thẳng tay trừng trị hắn.
Đoạn văn miêu tả cuộc đối đầu giữa chị Dậu và lũ người độc ác được tác giả
miêu tả thật sinh động và thu vị. Trong xã hội mà tội ác hoành hành, cịn gì hả
hê hơn khỉ mọi người được chứng kiến cái ác bị trừng trị đích đáng?!
Do đâu mà chị Dậu có sức mạnh lạ lùng một lúc quật ngã hai tên tay sai hung
hãn như vậy ? Đó là sức mạnh của lòng căm hờn mà cái gốc của lịng căm hờn
ấy lại chính là tình u thượng và ý thức bảo vệ chồng con của người đàn bà
nghèo khổ. Khi rón rén bưng cháo cho chồng và theo dõi xem chồng ăn có
Tuy vậy, sự phản kháng của chị Dậu mới chỉ là hành động tức nước vỡ bờ của
một cá nhân chứ chưa phải là hành động vùng lên phá vỡ áp bức bất cơng để tự
giải phóng của một giai cấp, một dân tộc. Thế nhưng nó cũng chứng minh cho
quy luật có áp bức, có đấu tranh. Áp bức càng nhiều thì đấu tranh càng quyết
liệt.
Chứng kiến cảnh xơ xát giữa vợ mình với tên cai lệ và người nhà lí trưởng, anh
Dậu sợ quá muốn dậy can vợ, nhưng mệt lắm, ngồi lên lại nằm xuống, vừa run
lại vừa kêu: – u nó khơng được thế! Người ta đánh mình khơng sao, mình đánh
người ta là phải tù, phải tội. Anh Dậu cố nhắc cho vợ nhớ cái sự thật phổ biến
trong xã hội lúc bấy giờ, nhưng chị Dậu không chấp nhận điều vô lí đó. Chị
phẫn uất hét lên : Thà ngồi tù, để chúng nó làm tình làm tội mãi thế tơi chịu
khơng được… Câu nói này khẳng định chị Dậu khơng muốn cúi đầu cam chịu
mãi cảnh áp bức, bất công.
nhưng nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận xét rằng Ngô Tất Tố, với Tắt đèn đã “xui
người nông dân đấu tranh cách mạng…”.
Bằng cảm quan hiện thực mạnh mẽ, Ngô Tất Tố đã cảm nhận được xu thế “tức
nước vỡ bờ” và sức mạnh to lớn khôn lường của nó. Cố thể nói đoạn trích này
đã dự báo cơn bão táp của quần chúng nông dân nổi dậy dưới sự tập hợp, lãnh
Nhân vật cai lệ trong đoạn trích tiêu biểu chọ lũ tay sai chuyên nghiệp, là công
cụ đàn áp đắc lực của giai cấp thống trị. Để khẳng định vai trị của mình trong
vụ thuế, hắn đánh người, trói người vô tội vạ. Trong bộ máy thống trị ở nông
thôn, tên cai lệ này chỉ là một gã tay sai mạt hạng. Hắn hung dữ, sẵn sàng gây
tội ác mà khơng chùn tay vì khơng hề bị ai ngăn chặn. Hắn vênh váo tự cho
mình là đại diện cho nhà nước. Hắn nhân danh phép nước để làm những điều
tàn ác đối với người nghèo. Vì vậy, có thể nói, tên cai lệ vơ danh đó là hiện
thân đầy đủ nhất của cái guồng máy “nhà nước” bất nhân lúc bấy giờ. Tuy chỉ
xuất hiện trong một đoạn văn ngắn nhưng nhân vật cai lệ được ngòi bút tả thực
của tác giả khắc họa nổi bật, có giá trị khái quát cao.
Đoạn trích Tức nước vỡ bờ là một đoạn văn hay, tiêu biểu cho bút pháp tả thực
tài tình của Ngơ Tất Tố. Ngơn ngữ kể chuyện, miêu tả và đối thoại của nhân
vật rất đặc sắc. Đó là lời ăn tiếng nối bình dị, tự nhiên của đời sống hằng ngày.
Mỗi nhân vật đều có ngơn ngữ riêng. Ngơn từ của tên cai lệ thì thơ lỗ, đểu cáng.
Lời lẽ của chị Dậu khi thì thiết tha mềm mỏng, khi đanh thép quyết liệt. Lời lẽ
của bà cụ hàng xóm thì thật thà, hiền hậu… Lời ăn tiếng nói của nơng dân được
tác giả sử dụng nhuần nhuyễn, rất hợp cảnh, hợp tình.
Nhà văn Ngơ Tất Tố đã dành cho nhân vật chính là chị Dậu tình cảm u
thương, thơng cảm và trân trọng. Những tình tiết sinh động và đầy kịch tính
trong đoạn trích đã góp phần hồn thiện tính cách của người phụ nữ nơng dân
đẹp người, đẹp nết.
đã vùng dậy chống trả quyết Hệt. Đó là thái độ cứng cịi, bất khuất, dám đối
đầu với cái ác trong xã hội.
Tức nước vỡ bờ là chương XVIII của tiểu thuyết Tắt đèn. Nếu đặt vào mạch
chung của cuốn tiểu thuyết thì đây là chương truyện có kịch tính rất cao. Mười
bảy chương truyện trước đó đã thuật lại khơng biêt bao nhiêu là cảnh cùng cực,
khốn đốn của vợ chồng chị Dậu trong những ngày sưu thuế.
Nhà đã nghèo "lên đến bậc nhì, bậc nhất trong hạng cùng đinh", đến vụ thuế,
anh Dậu lại ốm liệt giường. Cho nên, vì suất sưu của anh Dậu mà chị Dậu phải
bán chó, bán con, phải chịu đựng những lời rủa sả cay độc của vợ chồng Nghị
Quế và cũng từng phải "nếm" cả những "quả phật thủ'* của bọn lính tráng và
người nhà lí trường. Cũng vì suất sưu ấy mà anh Dậu bị đánh, bị trói giữa lúc
ốm đau. Chế độ thực dân, phong kiến chẳng những đánh thuế vào người sống,
mà còn dựng cả người chết dậy mà đánh thuế. Cho nên, nộp xong suất sưu của
anh Dậu, chị Dậu những tưởng đã trả được "món nợ nhà nước", nào ngờ, bọn
hào lí cho biết chị cịn phải nộp suất sưu của "chú Hợi" đã chết từ năm ngoái.
Thế là chị Dậu bị đẩy tới chỗ cùng đường. Anh Dậu lại tiếp tục bị đánh, bị trói
cho đến ngất xỉu đi như chết. Nửa đêm, người ta đem anh Dậu rũ rượi như một
cái xác trả về cho chị Dậu. Nhờ có hàng xóm đổ đến giúp, chị Dậu đã cứu sống
được chồng. Nhưng trời vừa sáng, cai lệ và người nhà lí trưởng "đã sầm sập
tiến vào với những roi song, tay thước và dây thừng", Tính mạng của anh Dậu
bị đe dọa nghiêm trọng. Thế là "tức nước vỡ bờ", chị Dậu đã vùng lên chống
trả một cách quyết liệt. Đặt nhân vật vào tình huống đầy kịch tính ấy, chương
truyện vừa phơi bày bộ mặt tàn ác, bất nhân của lũ tôi tớ sai của bọn thực dân,
phong kiến, vừa làm nổi bật những phẩm chất, tính cách tốt đẹp của người phụ
nữ nông dân Việt Nam.
quan huyện ngày xưa. Người nhà lí trưởng thì tuyệt nhiên khơng có chức quyền
gì. Y đúng là đầy tớ của bọn thơn xóm. Thậm chí y có thể là một người nghèo.
Có lần chị Dậu từng năn nỉ hắn: "Bạn nghèo với nhau, bác nói khéo với ơng Lí
van xin nào cùa người đàn bà ấy. "Cai lệ khơng để cho chị Dậu được nói hết
câu...! Hắn chỉ một mực thúc giục: "Nộp tiền sưu! Mau!". Rồi hắn đe dọa "Nếu
khơng có tiền nộp sưu cho ơng bây giờ, thì ơng sẽ dỡ cả nhà mày đi". Thái độ
của hắn ngày càng hung hãn. Hắn sai người nhà lí trưởng trói anh Dậu. Thấy
tên này "hình như khơng dám hành hạ một người ốm nặng, sợ hoặc xảy ra sự
gì" hắn "đùng đùng" "giật phắt cái thừng", "chạy sầm sập" đến chỗ anh Dậu...
"Sầm sập tiến vào", "sầm sập đến", "sấn đến", "nhảy vào"; "gõ đầu roi xuống
đất", "thét", "quát", "mỉa mai", "hằm hè", "đùng đùng" "bịch luôn vào cái ngực
chị Dậu mấy bịch", "tát cả vào mặt chị một cái đánh đốp", chân dung của cai lệ
và người nhà lí trưởng được khắc họa bằng những chi tiết điệu bộ, giọng nói và
hành vi như vậy. Ngơ Tất Tố khơng dùng bất kì một chi tiết nào để miêu tả suy
nghĩ của chúng. Đó chính là sự sắc sảo, tinh tế của ngòi bút nhà văn. Bởi vì, lũ
đầu trâu, mặt ngựa, xem việc đánh người như là việc tự nhiên, chẳng bao giờ
thấy động lòng trắc ẩn, thì làm gì biết suy nqhĩ. Bỏ đi những chi tiết miêu tả nội
tâm, Ngô Tất Tố vừa làm nổi bật bản chất bất nhân, thất đức, bản chất cầm thú
của bọn đầy tớ, tay sai, vừa tạo ra kịch tính căng thẳng cho mạch truyện.
Trước thái độ hung hăng, những lời hách dịch của cai lệ, chị Dậu "run run".
Chị sợ thì ít, mà lo cho chồng thì nhiều. Chị gọi cai lệ "ơng", tự xưng là cháu.
Chị van xin, cầu khẩn bẳng giọng "cố tha thiết": "Hai ơng làm phúc nói với ơng
lí hãy cho cháu khất...", "Khốn nạn! Nhà cháu đã khơng có, dẫu ông chửi mắng
cũng thế thôi. Xin ông trông lại!". Đến khi thấy tính mạng của chồng bị đe
dọa, thái độ của chị Dậu thay đổi hoàn toàn. Chị vẫn cố van xin, nhưng vội
Nguyễn Tn gọi chân dung chị Dậu trong "Tắt đèn" là "bức chân dung lạc
quan". Nguyễn Tuân quả quyết rằng ông đã gặp chị Dậu trong "một đám đơng
phá thóc của Nhật trong những ngày huyện kì Tổng khởi nghĩa". Dưới ngịi bút
của Ngơ Tât Tố đã khẳng định tài năng miêu tả nhân vật chị Dậu vừa hiện lên
sống động giống như người có thật, vừa thể hiện quy luật tất yếu cùa đời sống
hiện thực. Cho nên, chị Dậu trong tiểu thuyết "Tắt đèn" của Ngơ Tất Tố có khả
năng bước ra khỏi trang văn để đến với cuộc đời và sống mãi trong đời sống
tinh thần của chúng ta.
Đây là đoạn văn hay và rất tiêu biểu cho bút pháp tiểu thuyết trong tác phẩm
Tắt đèn của Ngơ Tất Tố. Có thể nêu lên mọi khía cạnh nổi bật:
Khắc họa nhân vật: các nhân vật trong đoạn văn đều rõ nét, nhất là hai nhân vật
Cai Lệ và chị Dậu. Cai Lệ chỉ là một tên tay sai vô danh, nhưng ở đoạn văn này
đã nổi bật lên thật đậm nét. Từ giọng quát mắng thị oai thô lỗ, trắng trợn, đến
những hành động hung hãn, tàn ác, cho đến cả “cái giọng khàn khàn vì hút
nhiều xái cũ”, cái thân hình “lẻo khoèo” vì nghiện ngập, cả cái tư thế thảm hại
rất hài hước: “ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói"
đều đã tập trung làm nổi bật cái nhân cách vừa tàn ác, vừa đểu cáng, đê tiện của
cái hạng “đầu chày đít thớt” đó.
nghiến răng quật ngã bọn lay sai - được thể hiện thật tự nhiên, đúng với lơgic
tính cách chị Dậu, tuy dường như rất đột ngột. Như vậy, bản chất tính cách của
nhân vật chị Dậu - dịu dàng, chịu đựng mà ngang tàng, bất khuất - được thể
hiện vừa đa dạng, vừa thống nhất, nhất quán. Có thể nói mọi lời lẽ, động lực
của chị Dậu trong đoạn văn đều đúng là “chị Dậu”. Hơn bất cứ chỗ nào khác,
đoạn Tức nước vỡ bờ đã cho thấy “sừng sững hiện ra cái chân dung lạc quan
của chị Dậu” (Nguyễn Tn).
Ngịi bút Ngơ Tất Tố tả những cảnh hoại động rất hay Vũ Ngọc Phan nhận xét:
“Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với Cai Lệ là một đoạn tuyệt khéo, rất đúng với
tâm lý của dân quê” (Sđd). Đó là một bức ký họa với những nét bút thật linh
hoạt, sắc sảo, pha chút biếm họa tài tình. Cảnh hoạt động dồn dập, rộn rịp mà
vẫn rõ nét, không rối mắt, mỗi chi tiết đều đắt. Với vốn sống nơng thơn phong
phú và với “óc quan sát rất tinh tường, rất chu đáo” (lời Vũ Trọng Phụng trong
bài Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đăng báo Thời vụ, 1939), ngịi bút Ngơ Tất Tơ" ở
đây vừa giàu chất sống, vừa rất sắc sảo.
Có người nhận xét tiểu thuyết Tắt đèn giàu tính kịch. Hồn tồn đúng. Tính
kịch, đó là “tính hành động chặt chẽ và quán triệt”, xung đột thể hiện tập trung
là sự căng thẳng đối với nhân vật do tình huống tạo ra. Đồng thời, nếu kịch yêu
cầu tính cách nhân vật tự thể hiện bằng lời nói và hành động, “ngơn ngữ của
nhân vật đều có tính đặc thù rõ rệt, có sức biểu hiện tối đa” thì đoạn văn Tức
nước vỡ bờ, ngơn ngữ đối thoại của các nhân vật quả là như vậy, Ngơ Tất Tố
rất thuộc lời ăn tiếng nói của từng hạng người ở nơng thơn nên nhân vật nào
cũng có “ngơn ngữ” riêng. Khẩu khí hống hách đểu cáng của cai lệ, giọng điệu
và lời lẽ khi thiết tha lễ phép khi đanh đá ngỗ nghịch của chị Dậu, đều rất “hột”
đã khiến cho nhân vật “tự thể hiện tính cách” đầy đủ, nổi bật. Khẩu ngữ nông
thôn đã vào văn của Ngô Tất Tố thật tự nhiên, nhuần nhuyễn, khiến cho câu
văn sinh động, đậm đà, có hơi thở của đời sống và đoạn văn rất có khơng khí.
Sức mạnh nghệ thuật của Ngô Tất Tố, xét đến cùng là sức mạnh của chủ nghĩa
hiện thực, đồng thời là sức mạnh của một ngịi búi gắn bó máu thịt với nơng
dân, của một trái tim u ghét rạch rịi, mãnh liệt và nhất quán.
Ngô Tất Tố là một nhà văn hiện thực trước cách mạng tháng tám nhiều tác
phẩm của ơng nhằm có giá trị tố cáo sâu sắc chúng ta đã thấy được những hình
ảnh đó qua những nhân vật nổi bật trong tác phẩm tức nước vỡ bờ.
Những đề tài tiêu biểu mà Ngô Tất Tố thể hiện qua những tác phẩm của mình
đó là sự nghèo khổ của những người nông dân, họ bị bần cùng hóa và lâm vào
một con đường khó khăn, họ bị xã hội trà đạp, bị cái đói bao vay. Nhưng nhân
dân đói khổ đó một phần là do chiến tranh gây ra một phần là do những thế lực
cầm quyền tàn ác đã bòn rút hết những của cải của nhân dân, chúng ta đã thấy
trong tức nước vỡ bỡ hình ảnh người nơng dân nghèo khổ ln bị áp bức bóc
lột, bị nộp sưu cao thuế nặng đã làm cho mỗi người đều cảm thấy phẫn uất
trước những hiện tượng đó. Trong tác phẩm này ta thấy xuất hiện nhân vật vợ
chồng chị Dậu là nổi bật cho những người nông dân bị áp bức.
Cái nghèo đói đã bao vay trong cuộc sống của nhân dân rồi, lại thêm những áp
lực khác đó là hình ảnh những người nông dân bị bắt nộp sưu cao thuế nặng,
khơng có đủ cơm để ăn nhưng người nơng dân lao động đến đâu lại phải nộp
hết tiền sưu thuế đến đấy đói khổ ngày càng trở nên nặng nề hơn, áp lực từ cái
đói cái khổ làm cho người nơng dân bị bần cùng hóa, hình ảnh đó đã mang
những giá trị tố cáo sâu sắc khi người nông dân luôn phải chịu những đớn đau
cả về thể xác lẫn tinh thần hình ảnh đó vang vọng trong trái tim của mỗi người,
chúng ta đã thấy trong tác phẩm này người nông dân bị áp bức đến tận xương
tủy nếu khơng nộp đầy đủ sưu thuế thì cũng bị đánh chết. Chúng ta đã bắt gặp
những hình ảnh rất đau thương khi chồng chị Dậu bị bắt vì khơng nộp đủ sưu
thuế.
tiền của của nhân dân, cái đói đó làm cho người nơng dân kiệt sức, họ lâm vào
đường lợ lần vì sưu thuế cao, anh Dậu bị ốm nặng nhưng bọn chúng đến và bắt
nộp sưu thuế đầy đủ, chi tiết chị Dậu xin bọn chúng đã để lại những day dứt
trong lòng người đọc.
Khi chị Dậu xin bọn chúng còn bị bọn chúng đánh đập cho, chị bị bọn chúng
tát vào mặt những hình ảnh đó đã mang giá trị tố cao sâu sắc những tên quan
lại chỉ biết lo ăn chơi không lo nghĩ cho cuộc sống của người nông dân, khi anh
Dậu chưa chết bọn chúng bắt nộp đầy đủ sưu thuế, những hình ảnh đó đã
chứng tỏ rằng bọn chúng là những tên rất độc ác, chị Dậu xin khất và sẽ trả đủ
nhưng bọn chúng khơng nghe, những hình ảnh đó đã mang những giá trị lớn
cho chúng ta, khi chúng ta hiểu được nỗi khổ của những người nông dân đó và
thấu hiểu đồng cảm với số phận của họ.
Những tên quan lại là những tên độc ác, còn những tên lính đi thu sưu thuế chỉ
là những tên đầy tớ làm theo sự chỉ đạo của những tên quan kia, đó là một cơng
cụ để nó thực hiện tội ác của mình, những hình ảnh khi anh Dậu bị đánh, chị
Trong tác phẩm đã thể hiện được nỗi khổ của những người nông dân trước cách
mạng họ chịu bao cực khổ, và cái nghèo đói đã đang bủa vay lấy cuộc đời của
họ, nhưng chị Dậu là một sức mạnh biểu hiện đã biết đứng lên đấu tranh chống
lại cái ác cái xấu để bảo vệ cuộc sống của họ, họ là những con người đại diện
cho những sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam, có áp bức có đấu tranh,
chống lại những sự tàn bạo của bọn chúng.
Tắt đèn”là bản tố khổ chân thật, sâu sắc, chan hoà nước mắt và lịng căm phẫn
của người nơng dân nghèo bị bóc lột, đàn áp. Có lẽ chính nhà văn Ngơ Tất Tố
cũng không cầm được nước mắt. Cái đáng quý ở nhà văn này là thái độ phẫn
nộ với giai cấp bóc lột và lịng thương người mênh mơng. “Tức nước vỡ bờ”
vốn là câu tục ngữ mang tính quy luật tự nhiên (nước đã dâng lên cao thì bờ
ngồi vỡ nhưng cũng có ý nghĩa xã hội sâu sắc…, Người ta đã vận dụng câu
tục ngữ này làm tiêu đề, tên gọi của một đoạn trích hết sức điển hình trong tiểu
thuyết Tắt đèn.
Năm đó là năm mất mùa, gia đình chị Dậu vốn nghèo khó phải đi làm thuê lại
càng khó khăn hơn. Để đóng tiền sưu cho chồng, chị đã phải bán gánh khoai,
bán đàn chó và đến cái Tí- con gái lớn của chị cũng bán cho ông bà Nghị Quế
mới đủ tiền nộp sưu cho anh Dậu. Nhưng bọn chúng đã không tha cho gia đình
ác thú của tên này thể hiện cả ra ngôn ngữ: khàn khàn, quát, thét, hầm hè, nham
nhảm… Tiếng của hắn đâu phải là tiếng người! Nếu là người thì hắn đã phải
mủi lịng trước cảnh một người ốm nặng, đã động lòng trước những lời van xin
tội nghiệp của chị Dậu, hắn đã biết thương hại… Đằng này, dường như hắn
khơng có khả năng hiểu được ngôn ngữ của con người, hắn đáp lại những lời
van vỉ của chị Dậu bằng chửi, đánh. Thật táng tận lương tâm!
cứng cỏi của một con người chân chính: Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình
làm tội mãi thế, tơi khơng chịu được. Tuy vậy, hành động phản kháng của chị
Dậu hoàn toàn mang tính manh động, tự phát. Đó mới chỉ là cái thế tức nước
vỡ bờ của một cá nhân mà chưa phải là cái thế của một giai cấp, một dân tộc
vùng lên phá tan xiềng xích áp bức bất cơng. Có áp bức, có đấu tranh, áp bức
càng nhiều thì đấu tranh càng quyết liệt và hành động của chị Dậu đã chứng
minh cho chân lí ấy.