TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
MÔN HỌC : MARKETING QUỐC TẾ
CAO HỌC K29
Giảng viên phụ trách : TS. ĐINH TIÊN MINH
Học viên : NGUYỄN NHẬT ĐÌNH DUY - MSHV : 192110006
Ngành : Kinh doanh thương mại – Khóa 29
1
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Phần I : Tóm tắt tình huống “Đạo đức và Airbus”
3-7
Phần II : Tóm tắt lý thuyết sử dụng
8 - 12
Phần III : Trả lời hai (02) câu hỏi bất kỳ trong tình huống
13 - 19
Tài liệu tham khảo
19 - 20
2
Phần I : Tóm tắt tình huống “Đạo đức và Airbus”
Từ khi tham gia vào dịch vụ thương mại năm 1970, hãng sản xuất máy bay Boeing của Mỹ
đã hưởng được 2/3 thị trường với máy bay 747. Tuy nhiên, hãng sản xuất máy bay Airbus của
Pháp đã bắt kịp Boeing. Đối với ngành sản xuất máy bay, nhiều máy bay được mua và bán theo
những cách thông thương nhưng không hẳn tất cả đều như thế. Nhiều hãng hàng không vẫn là
doanh nghiệp nhà nước và không tuân theo những quy tắc kinh doanh thông thường. “Đây là một
ngày ảnh hưởng thực sự bởi tham nhũng ở nước ngoài… lĩnh vực này thật sự dễ bị biến dạng do
việc hối lộ các quan chức nước ngoài.” – Grand Aldonas – thứ trưởng thương mại quốc tế (Mỹ).
Đặc biệt, có nhiều nhóm chống gian lận, cục điều tra trung ương và các cơ quan liên quan
đã tiến hành điều tra Airbus với những tình huống được nêu trong bài viết như sau:
1.
Tại Bỉ, trong việc bán máy bay Airbus cho hãng hàng không Sabena, tháng 11/1997,
Sabena đã chấp thuận đơn đặt hàng 17 máy bay Airbus A320 và đổi thành 34 chiếc vào phút cuối.
Đây là một quyết định kinh doanh khai tử cơng ty vì trên là những chiếc máy bay không cần thiết.
Hãng hàng không này đã sụp đổ vào năm 2001.
Theo điều tra, nhân viên đã từng làm việc tại Sebena khiếu nại cho rằng Peter Gysel, người
từng làm việc tại hãng hàng không khác nay lại làm việc cho Airbus, đã làm vị trí trung gian mang
lại thỏa thuận giữa Sabena và Airbus.
2.
Tại Saudi, cơ quan an ninh Quốc gia Mỹ (NSA) đã kịp thời ngăn chặn giao dịch
mua bán máy bay giữa Airbus và hãng hàng không Saudi Arabian Airlines vào năm 1994, sau khi
họ phát hiện đại lý của Airbus đã đưa hối lộ cho quan chức chính phủ Saudi. Hợp đồng các máy
bay trị giá 6 tỷ $. Chính phủ Mỹ đã phản ứng và “không đối xử tử tế với loại tham nhũng như vậy”
nên thủ tướng Pháp Edouard Balladur đã không thành công trong việc ký kết với Vua Fald.
3.
Tại Kuwait, câu chuyện lịch sử của đơn đặt hàng máy bay Airbus từ hãng hàng
không nhà nước Kuwait Airway Corporation (KAC).
Năm 1990, KAC lên kế hoạch thành lập một đội máy bay với sau chiến tranh. Sau giải
phóng, Boeing và KAC đã gặp nhau và chủ tịch của KAC là ông Mishari đã tạo ấn tượng rằng đơn
đặt hàng sẽ thuộc về Boeing. Điều này tiến triển do các chính phủ mang ơn Mỹ thường kí kết các
hợp đồng tái thiết đến các doanh nghiệp Mỹ nhằm thể hiện lòng thành.
3
Tuy nhiên, vào năm 1991, ông chủ của Airbus – Jean Pierson đã gặp riêng Mishari tại khách
sạn Churchill tại London. Nội dung thảo luận không được công khai nhưng sau đó, Mishari đã hứa
để đơn đặt hàng lại cho Airbus.
Mặc cho Boeing khơng nhận được đề nghị “giảm gía” cho đơn hàng, họ vẫn tự đề nghị mức
giảm cho KAC rẻ hơn 100 triệu $ so với đối thủ nhưng đã quá trễ. KAC đã đặt hàng 15 máy bay
Airbus và Boeing chỉ nhật được đơn đặt hàng thêm là 2 máy bay thân rộng.
Vào năm 1992, Mishari đã thành lập công ty con ALAFCO, công ty này đã mua máy bay và
cho KAC thuê lại. Cuối năm, thông qua ALAFCO, Mishari đã xác nhận sẽ mua chín máy bay và
đặt cọc 2,5 triệu $ - đây là số tiền vượt định mức phê duyệt của chính phủ.
Từ năm 1992 đến năm 1994, Airbus đã bỏ ra 545.000$ để hỗ trợ chi phí thành lập và vận
hành ALAFCO. Vào thánh 12/1992, ALAFCO đã bổ nhiệm El Fekih là cố vấn thương mại bán
thời gian với công việc bán hàng cho Airbus ở Trung Đông. Với hợp đồng làm việc kéo dài trong 3
năm, El Fekih nhận được 5.000$ mỗi thàng và 80.000$ chi trả lại cho “dịch vụ” đã thuê cho
ALAFCO.
Trước năm 1993, khi chín máy bay chở hàng trong hợp đồng quyền chọn đã sẵn sàng được
giao thì Mallalah – Giám đốc điều hành của ALAFCO – đã yêu cầu các giao dịch phải tuân theo
thủ tục chính thức của Kuwait với hình thức đấu thầu. Tuy nhiên, với những thơng tin nội bộ từ
phó chủ tịch “hai mang”, Airbus dễ dàng đề xuất mức giá giống như của Boeing dù cho Boeing đã
đưa ra mức giá rẻ hơn 50 triệu $. Với lý do đội tàu bay hiện tại đa phần là máy bay của Airbus nên
ALAFCO đã chọn Airbus.
Thỏa thuận này đã vượt qua sự phê duyệt của hội đồng quản trị KAC và Bộ Tài chính. Tuy
nhiên, Mallalah đã cung cấp mọi thơng tin chi tiết về đơn đặt hàng cho cơ quan giám sát chi tiêu
cơng của Kuwait. Do đó, vào năm 1995, Bộ Tài chính đã u cầu KAC khơng tiến hành đơn đặt
hàng này nữa. El Fekih đã từ chức ở ALAFCO sau khi Mallalah trình báo cáo cho Hội đồng quản
trị KAC.
KAC đã hủy hợp đồng quyền chọn của họ. El Fekih từ chối mội cáo buộc, ơng ta chỉ đóng
vai trị như một nhà tư vấn. Mallah bị Mishari đình chỉ công việc và nhận những lời cáo buộc để
che đậy câu chuyện tham nhũng do chính chủ tịch KAC tham gia.
4
Về sau, khi Mishari bị sa thải từ hãng hàng khơng mà ơng đã dành gần như tồn bộ sự
nghiệp, ông đã sở khối tài sản khổng lồ bị nghi ngờ cho rằng đó là tiền lại quả từ Airbus. Tuy
nhiên, khơng có bằng chứng tham nhũng được đưa ra ánh sáng và cũng khơng có cảnh sát nào ở
Kuwait đã tìm kiếm bằng chứng.
4.
Tại Ấn Độ, năm 1990, cục Điều tra Trung Ương Ấn Độ đã điều tra những cáo buộc
rằng Airbus đã hối lộ những quan chức cao cấp để xúi giục hãng hàng không nhà nước Indian
Airline (IA) đặt máy bay của họ.
Năm 1986, IA đã đặt hàng 19 máy bay Airbus 320 trị giá 952 triệu $ và quyền chọn thêm 12
chiếc mặc cho trước đây Airbus 320 đã từng không được cân nhắc cho việc thay thế cho đội tàu
bay cũ. Theo đó, năm 1984 IA đã nhận được lời chào hàng máy bay Airbus 320 va Gandhi đã
quyết định mua máy bay Airbus 320 trong thời gian gấp rút. Từ sự đồng ý của Gandhi, hội đồng
quản trị IA đã thông qua đơn đặt hàng Airbus vào năm 1985 với việc đánh giá sơ sài các tiêu chí
kỹ thuật. Máy bay của Boeing đã khơng được để mắt tới và cũng khơng có u cầu bổ sung số liệu.
Dù cho Boeing đã gửi thư cho Giám đốc điều hành của IA với đề nghị cung cấp 35 máy bay 737
của họ với giá chiết khấu 5 triệu $ mỗi chiếc. Tổng tiền đầu tư giảm được 140 triệu $ nhưng hội
đồng IA đã gạt đề nghị này sang một bên với lý do cho rằng Beoing đã không thực sự nghiêm túc
trong việc giảm giá từ đầu.
CBI đã gặp khó khăn trong q trình điều tra do Airbus đã không hợp tác trong việc trả lời
các câu hỏi, đặc biệt, luật pháp của Pháp cấm họ trả lời các câu hỏi. Về sau, các nhà chức trách Ấn
Độ liên hệ Airbus nhưng chỉ nhận được phản hồi phải gửi những yêu cầu liên quan đến chính phủ
Pháp. Dù cho CBI đã sử dụng Interpol và các kênh ngoại giao nhưng vẫn không nhận được sự hỗ
trợ nào từ chính phủ Pháp.
Về sau, IA tiếp tục phê duyệt mua 43 chiếc máy bay Airbus trị giá 2 tỷ $ nhưng tịa án Delhi
đã khơng cho chính phủ Ấn Độ phê duyệt đơn đặt hàng nào từ Airbus trừ khi CBI lấy được thông
tin họ cần từ chính phủ Pháp. Kết quả cuối cùng, khơng có câu trả lời chính thức từ CBI rằng
Airbus đã có hối lội cho Gandhi và cộng sự hay không.
5.
Tại Bắc Mỹ, vào năm 1988 Airbus đã ký đơn hàng để bán 34 máy bay cho hãng
hàng không nhà nước Air Canada với giá trị 1,5 tỷ $. Vào năm 1985, Airbus đã ký hợp đồng tư vấn
với công ty cho thuê máy bay quốc tế IAL. Công ty này được tịa án cho rằng là của Schreiber,
người có các mối quan hệ với các chính trị gia ở Đức và Canada. Từ năm 1988 đến 1993, Airbus
5
đã trả tổng cộng 22.540.000$ tiền hoa hồng cho IAL trong đó được chia ra thành 2 khoản gần bằng
nhau và trả vào 2 tài khoản tại Vaduz và Zurich. Năm 1999, Airbus đã thừa nhận những khoản
thanh toán này từ thủ tục dẫn độ. Cảnh sát hoàng gia Canada đã bắt Schreiber. Năm 2000,
Schreiber được đình chỉ thực hiện điều tra. Đến 2001, Schreiber bị buộc tội trốn thuế trên số tiền
nhận được từ giao dịch với Airbus. Tuy nhiên, sau đó tồ án phán quyết với mức hoa hồng từ
Airbus, đây chỉ là một khoản “phí bơi trơn” và khoản này có thể được giảm thuế. Ngồi ra, luật sư
thuế của Schreiber đã báo “phí bơi trơn” này đã không được công khai trả cho người cần bôi trơn
từ Airbus mà được trả thông qua người thứ ba. Vậy người đã nhận được khoản hoa hồng là ai, sau
nhiều năm điều này vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, theo sổ sách ngân hàng của Schreiber, ông đã
chia số tiền này một nửa cho người Canada và một nửa cho người Châu Âu. Và có thể đã có một
nhân viên của Airbus đã nhận được một số tiền. Theo thơng tin tài khoản, nhân viên này chính là
oong Stuart Iddles, phó tổng cao cấp của Airbus từ 1986 đến 1994. Dù cho vợ Iddles đã dùng tiền
để mua nhiều tài sản giá trị cao nhưng Iddles đã từ chối mọi cáo buộc. Và Airbus không bị truy tố
với thoải thuận với Canada Air. Hơn nữa, họ cho rằng đã khơng có điều tra nào tìm ra hành vi phi
đạo đức trong các bộ phận của họ.
6.
Tại Syria, hãng hàng không nhà nước Syrianair đã đặt hàng 6 máy bay Airbus 320
trị giá 240 triệu $ vào năm 1996. Tòa án đã tìm ra bằng chứng cáo buộc cựu bộ trưởng Kinh tế, cựu
bộ trưởng bộ giao thông vận tải và người trung gian đã thông đồng để buộc hãng hàng không mua
những chiếc máy bay vã đã gây thiệt hại tài chính cho Syrianair. Tồ án đã phạt họ 268 triệu $ và
án tù với kết luận là đã có sự thiếu cơng bằng và có hối lộ. Tuy nhiên, Syria bị Mỹ xem là người tài
trợ khủng bố, Boeing bị cấm xuất khẩu vào nước này nên việc Airbus phải hối lộ để bán máy bay
cho hãng hàng khơng của Syria là một điều khó hiểu.
Trên thực tế, để nới lỏng các quy định để ngăn chặn hối lộ, các doanh nghiệp đã sử dụng
năng lực vận động hành lang. Airbus đã thuyết phụ bộ trưởng thương mại cho phép họ giữ bí mật
về những người trung gian đã được dùng để đảm bảo các hợp đồng quốc tế. Dù cho cơ quan đảm
bảo Tín dụng Xuất khẩu (ECGD) của chính phủ đã đề nghị các nhà xuất khẩu phải tiết lộ danh tính
của người trung gian để có được các hỗ trợ tài chính từ người trả thuế thì doanh nghiệp đã cho rằng
thơng tin của người trung gian rất nhạy cảm về thương mại. Thông tin này là tài sản xây dựng qua
nhiều năm và tạo ra nhiều lợi thế thương mại quan trọng nên họ có lý do hợp lệ để giữ kín danh tín
những người trung gian.
Việc mua bán máy bay trong nhiều năm và các hãng hàng khơng đã khích tướng Boeing và
Airbus cạnh tranh lẫn nhau. Đặc biệt với các chính sách chiết khấu lớn cho người mua để chiêu dụ,
6
thuyết phục các hàng hàng không mua và sử dụng máy bay của họ. Và do bản chất quy định của
việc vận chuyển hàng khơng quốc tế, chính trị đã đóng vai trị quan trọng trong việc mua bán máy
bay. Dù cho năm 1977, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật thực hành chống tham nhũng ở nước
ngoài (FCPA) nhằm cấm các doanh nghiệp Mỹ hối lộ cho các quan chức chính phủ nước ngồi và
Pháp đã phê chuẩn cơng ước OECD để cấm hối lộ các quan chức nước ngồi vào năm 2000 thì
ngành sản xuất máy bay vẫn là một ngành cơng nghiệp có ảnh hưởng bởi tham nhũng ở nước ngoài,
dễ bị biến dạng thương mại do việc hối lộ các quan chức nước ngoài.
7
Phần II : Tóm tắt lý thuyết sử dụng
1. Hối lộ
Hối lộ là hành vi đưa tiền, hoặc vật phẩm có giá trị, hoặc những thứ khác khiến cho người
nhận cảm thấy hài lòng, để mong muốn người nhận giúp đỡ mình thực hiện hành vi trái pháp luật.
Bản chất đây là hành vi "trao đổi" giữa lợi ích hai bên, dựa trên lý thuyết hành vi trao đổi
hợp lý thì giải thích các mối quan hệ này phát triển có mục đích là cùng mang lại lợi ích giữa hai
bên, quan hệ tạo nên lợi ích càng lớn thì mức độ tương tác xảy ra thường xuyên hơn, mạnh mẽ hơn.
Và nó trở thành kỳ vọng mong muốn từ hai phía. Như vậy trong tương lai chúng sẽ được tiến hành
lặp lại thành thói quen, có hệ thống và chuẩn mực rõ ràng hình thành lên khuân mẫu xã hội, một
hiện tượng.
Hình mẫu hành động dựa trên hợp tác và trao đổi. Người này tự nguyện cho ra một cái gì đó
mà anh ta cho rằng có thể khơng cần đến nó hoặc nó khơng quan trọng bằng thứ mà anh ta có thể
nhận lại từ đối phương, và anh ta đánh giá thứ mà mình mang ra trao đổi có lợi ích cho đối phương
hơn thứ đối phương dùng để trao đổi lại. Quá trình tiến hành trao đổi dựa trên đàm phám, thỏa
thuận và vì lợi ích chung, ích kỷ về quyền lợi cá nhân từ hai phía. Nhưng dưới tác động đa chiều
khi mạng lưới xã hội được trải ra và bao trùm lên cá nhân thì nó khơng cịn đơn thuần là q trình
trao đổi thương lượng thông thường, công khai giữa hai bên. Hay nói cách khác nó bị điều chỉnh
và biến thể hoặc tiềm ẩn đi hành động trao đổi này.
2. Những biến thể của hối lộ
Phí “bơi trơn” bao gồm một khoản tiền mặt nhỏ, một món quà hay một dịch vụ đưa cho
những người có quyền hành nhỏ hơn ở một quốc gia, nơi mà những biểu xén như vậy không bị
pháp luật cấm. Mục đích của những loại quà tặng này để làm thuận tiện hơn hay thúc giục việc
thực hiện các hành động hợp pháp trong nhiệm vụ của người có thẩm quyền đó. Hành động này ở
rất nhiều quốc gia trên thế giới.
Chi phí đại lý có thể xem là hối lộ nhưng cũng có thể khơng phảo là hối lộ. Khi một doanh
nhân không chắc chắn về các quy tắc và quy định của một quốc gia, một đại lý có thể được th để
đại diện cơng ty ở nước đó. Trong khi đây thường là chi phí hợp pháp và thủ tục này hữu ích
nhưng nếu một phần của phí đại lý này được sử dụng để hối lộ, các chi phí trung gian đang được
sử dụng bất hợp pháp. Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài cấm các doanh nghiệp Mỹ chi trả
8
hối lộ hay sử dụng các trung gian như cầu nối để hối lộ khi nhà quản lỹ Mỹ biết rằng một phần của
chi phí trung gian sẽ được sử dụng như là khoản hối lộ.
3. Tham nhũng
Tham nhũng là hành vi trái pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao thực
hiện công vụ, nhiệm vụ nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc công vụ, nhiệm vụ đó để vụ
lợi cá nhân, làm thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân.
Tham nhũng đã gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến đời sống của người dân. Đồng thời, dưới góc độ kinh tế, tham nhũng trong lĩnh vực tư sẽ làm
tăng chi phí và giảm đáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp, làm hình thành những thói quen kinh
doanh thiếu lành mạnh, làm méo mó bản chất các quan hệ kinh tế.
Theo lý thuyết kinh tế, tham nhũng được nhìn nhận trên hai quan điểm đó là: Tham nhũng
là yếu tố ngoại sinh và cũng là nhân tố nội sinh trong chính trị. Nếu áp dụng một trong hai quan
điểm trên, tham nhũng được chia thành ba loại cơ bản như sau: Một là, tham nhũng để đẩy nhanh
tiến độ; hai là, tham nhũng hành chính và ba là tham nhũng nhằm “bẻ cong pháp luật”.
4. Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngồi (FCPA)
Đạo luật này được chính phủ Hoa Kỳ thông qua vào năm 1977, đạo luật này nghiêm cấm
các hành vi hối lộ của các doanh nghiệp cho các cơ quan, tổ chức nước ngồi vì mục đích kinh
doanh. Đạo luật FCPA được ban hành khi có tới hơn 400 doanh nghiệp Hoa Kỳ thừa nhận đã đưa
hối lộ cho các quan chức chính phủ và chính trị gia nước ngoài. Đạo luật FCPA được củng cố vào
năm 1998 với những điều khoản bổ sung về chống tham nhũng đối với các doanh nghiệp và nhà
quản lý nước ngoài tiếp tay cho các hành vi tham nhũng khi đang hoạt động kinh doanh trên đất
Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, khái niệm “hối lộ” chưa thực sự được làm rõ trong đạo luật này. Lấy ví dụ, đạo
luật có sự phân biệt giữa hành vi “hối lộ” và việc thực hiện các khoản “tiếp khách”, được cho là
hợp pháp nếu không vi phạm vào các điều luật của đất nước đó.
Hiện nay vẫn còn rất nhiều quốc gia trên thế giới chưa có những bộ luật chống tham nhũng,
hối lộ đối với các giao dịch thương mại quốc tế. Một số doanh nghiệp Hoa Kỳ cho rằng đạo luật
9
FCPA ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của họ, do các doanh nghiệp cạnh tranh ở các nước khác
không bị hạn chế bởi những điều luật như thế này.
Kể từ khi FCPA có hiệu lực, rất nhiều doanh nghiệp Mỹ phải lựa chọn sự trung thực, gạt bỏ
cách đi tắt bằng hối lộ để chấp nhận tụt lại trong cuộc chạy đua kinh doanh. Song hành với Mỹ,
nhiều nước cũng đã ban hành các luật chống tham nhũng, tạo hành lang pháp lý để hợp tác với
FCPA của Mỹ. Một nghiên cứu do Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) thực hiện với 49 quốc gia cho
thấy tham nhũng khiến đầu tư nước ngoài đối với những nước này giảm 70%. Liên hiệp quốc cho
rằng, vấn nạn này làm thiệt hại 5% kinh tế thế giới mỗi năm. Quay lưng với tham nhũng, hối lộ là
điều mà không chỉ người dân, chính quyền Mỹ mong đợi mà cịn là địi hỏi cho một môi trường
kinh doanh hiện đại, chấm dứt sự bành trướng của tham nhũng, hối lộ, một “vấn nạn” đang làm
đau đầu nhiều lãnh đạo các nước.
5. Công ước chống hối lộ cơng chức nước ngồi (OECD)
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) thông qua Cơng ước Chống hối lộ Cơng
chức Nước ngồi trong Giao dịch Kinh doanh Quốc tế vào năm 1997. Công ước này quy định tất
cả các quốc gia thành viên có trách nhiệm chống hối lộ trong các giao dịch kinh doanh quốc tế và
phải áp dụng các chế tài xử phạt tương tự như trong trường hợp công chức quốc gia mình nhận hối
lộ. Tiếp đến, năm 2003, Cơng ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng được thông qua và
đến thời điểm này (tháng 10 năm 2014) đã có 171 quốc gia tham gia ký Cơng ước. Cơng ước của
Liên hợp quốc về Chống tham nhũng không chỉ quy định về hình sự hóa hành vi hối lộ cơng chức
nước ngồi mà cịn u cầu các quốc gia thành viên tăng cường nỗ lực để đảm bảo minh bạch
trong khu vực công (đặc biệt là liên quan tới mua sắm công và quy tắc ứng xử cho công chức) và
hỗ trợ lẫn nhau trong công tác điều tra và trong các vấn đề về tố tụng tư pháp. Ngồi ra, Cơng ước
này cịn quy định tài sản có được do thực hiện các hành vi phạm tội theo quy định của Công ước
này sẽ bị tịch thu.
Anh phê chuẩn Cơng ước chống hối lộ cơng chức nước ngồi trong các giao dịch thương
mại quốc tế của OECD từ năm 1998. Kể từ đó Anh đã xác định hối lộ cơng chức nước ngồi là
hành vi phạm tội trên cơ sở tham chiếu Luật Ngăn ngừa Tham nhũng năm 1906, Luật chống các
Hành vi tham nhũng của các Thiết chế công năm 1889 cũng như án lệ về các tội hối lộ. Tuy nhiên
có thể nhận thấy rằng khơng có bất kỳ tội danh nào trong các đạo luật trên phản ánh một cách rõ
ràng hành vi hối lộ cơng chức nước ngồi cho đến khi có Luật về An ninh, chống Tội phạm và
Khủng bố năm 2001 và việc xác định trách nhiệm của pháp nhân đối với các vụ án hối lộ nước
10
ngoài căn cứ theo luật án lệ. Tháng 4.2010, xứ sở sương mù ban hành Luật chống Hối lộ, trong đó
đưa ra một tội danh riêng về hối lộ cơng chức nước ngồi. Ngồi ra, Anh cịn có Luật về Tài sản do
phạm tội mà có (2002), Luật Cung cấp thơng tin vì lợi ích cơng (1998)…
6. Chiến lược kinh doanh tồn cầu, mục đích và các đặc thù của chiến lược
Chiến lược kinh doanh toàn cầu là sự mở rộng thị trường ra ngoài biên giới quốc gia bằng
cách tiêu chuẩn hóa các sản phẩm và dịch vụ. Mục đích là để mở rộng thị trường, sản xuất được
nhiều hàng hóa, có nhiều khách hàng và kiếm được lợi nhuận cao hơn. Bên cạnh đó, việc thực hiện
chiến lược tồn cầu giúp cơng ty khai thác và phát triển lợi thế cạnh tranh của mình.
Chiến lược tồn cầu là chiến lược doanh nghiệp coi thị trường toàn cầu như một thị trường
thống nhất nên doanh nghiệp sản xuất và cung cấp những sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, đồng
nhất và giống nhau. Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược này có những sản phẩm tồn cầu, sản
xuất trên quy mơ tồn cầu tại một số ít các địa điểm phân xưởng hiệu quả cao và thực hiên tiếp thị
sản phẩm thơng qua một số ít kênh phân phối tập trung.
Tồn cầu hóa cho phép các cơng ty vượt qua giới hạn của tăng trưởng trong thị trường nội
địa để thâm nhập vào các thị trường mới bên ngoài lãnh thổ với tham vọng bành trướng kinh doanh
ra toàn cầu, xây dựng vị thế công ty trên thị trường thế giới. Các cơng ty thực hiện chiến lược bành
trướng tồn cầu có thể giành được lợi nhuận tương tự như đa dạng hóa sản phẩm trong các ngành
cơng nghiệp mới đồng thời họ vẫn có thể giữ được đà tăng trưởng và kéo dài lợi thế cạnh tranh của
mình sang các thị trường mới. Tồn cầu hóa cịn cho phép các công ty hoạt động tốt hơn các đối
thủ cạnh tranh nội địa địa phương trong thị trường nước mình. Bởi khi cơng ty định hướng phát
triển ra tồn cầu, nó sẽ phát triển một cách nhìn mới sáng suốt và nhận dạng được các cơ hội sản
phẩm mà đối thủ cạnh tranh theo định hướng nội địa không thể nắm bắt được.
Sản phẩm mang tính tiêu chuẩn hóa cao : việc tiêu chuẩn hóa các thiết kế sản phẩm là một
đặc trưng nổi bật của ngành công nghiệp hàng không thương mại. Mặc dù các hãng sản xuất máy
bay có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm khác nhau nhưng mỗi dòng sản phẩm đều được sản
xuất và lắp ráp trên những chi tiết, bộ phận cấu thành cá biệt và tiêu chuẩn hóa. Hơn nữa, yêu cầu
về máy bay thương mại có xu hướng đồng nhất về hình thức giữa những người mua. Mặc dù từng
máy bay có thể thể bộc lộ một số điểm khác nhau nhỏ như phù hiệu của mỗi quốc gia, lớp sơn bên
ngồi, cabin điều khiển nhưng sự khác nhau này khơng làm phương hại tới năng lực sản xuất máy
bay với mức chi phí thấp do thiết kế được tiêu chuẩn hóa. Danh tiếng hãng sản xuất máy bay về
11
sản phẩm ưu việt bền vững, có kỹ thuật lắp ráp tinh tế trình độ cao và cam kết dịch vụ toàn cầu sẽ
nâng cao triển vọng của hãng mở ra thêm những thị trường máy bay khác nữa.
Nỗ lực marketing khắp thế giới: Các hãng sản xuất máy bay chú trọng rất nhiều đến vai trị
của marketing tồn cầu và coi đội ngũ marketing của mình là niềm kiêu hãnh của cơng ty. Để có
thể marketing hiệu quả máy bay, hãng đòi hỏi lực lượng bán hàng phải được đào tạo kỹ, có kiến
thức chun mơn sâu và độ tinh tế cao. Để có thể giữ chân các đối thủ mới xuất họ phải cố gắng
tiếp cận khách hàng tiềm năng trước những đối thủ cạnh tranh của nó. Không kém phần quan trọng,
các hãng sản xuất phải làm việc chặt chẽ với từng và mọi khách hàng trong việc làm thỏa mãn
khách hàng, đàm phán giá bán và các chi phí liên quan cũng như các yêu cầu dịch vụ. Đối với
Boeing, thế mạnh của họ là việc tiến hành các hoạt động marketing toàn cầu là các dịch vụ cung
cấp tài chính hàng khơng, dịch vụ cung cấp phụ tùng, bảo hành bảo trì quy mơ tồn cầu kịp thời,
nhanh chóng. Boeing với vị thế của mình trên thị trường hàng không thế giới cùng với những đối
tác khơng vận tồn cầu như British Airways, Lufthansa, Japan Airlines thiết lập nên các chi nhánh
văn phòng vệ tinh quanh trụ sở chính của các hãng hàng khơng này để đảm bảo các đối tác, khách
hàng sẽ nhận được sản phẩm có cơng nghệ mới nhất với dịch vụ hàng khơng thuận tiện nhanh
chóng.
12
Phần III : Trả lời hai (02) câu hỏi bất kỳ trong tình huống
Câu hỏi 1: Trong mỗi trường hợp được mô tả ở trên, ai được hưởng lợi và ai chịu thiệt
hại từ các cáo buộc về sai phạm phi đạo đức và phi pháp lý của Airbus.
Trả lời:
1.
Tại trường hợp bán máy bay Airbus cho hãng hàng không Sabena (Bỉ), người
được hưởng lợi trực tiếp khi Airbus bán máy bay cho Sabena chính là bản thân Airbus, việc tăng
số máy bay mua từ 17 lên 34 chiếc đã giúp Airbus mang về doanh thu lớn cho công ty thơng qua
giao dịch.
Bên cạnh đó, người trung gian đem lại thỏa thuận giữa Sabena và Airbus – Van Espen – là
người đã hưởng được nhiều lợi ích cá nhân với những khoảng lại quả từ Airbus mặc dù ông ta có
phủ định mọi cáo buộc.
Hãng hàng khơng Sabena được chính phủ Bỉ kiểm sốt nhưng được điều hành bởi cơng ty
mẹ của SwissAir, SairGroup với 49,5% cổ phần là bên chịu thiệt hại nhiều nhất vì đã tốn nhiều chi
phí đầu tư để mua máy bay mà họ không cần. Điều này chính là nguyên nhân lớn cho sự sụp đổ
của Sebena.
2.
Tại trường hợp hối lộ để bán máy bay Airbus ở Saudi, mặc dù chính phủ Mỹ đã
ngăn chặn giao dịch nhưng trước đó Airbus đã đưa hối lộ cho quan chức chính phủ Saudi để hiện
đại hóa tàu bay của hãng bằng máy bay Airbus. Do đó, với mục đích cá nhân, những quan chức
chỉnh phủ Saudi là những người hưởng lợi ích cá nhân trực tiếp từ việc hối lộ.
Tuy hợp đồng máy bay 6 tỷ $ đã khơng được ký kết, nhưng trước đó Airbus cũng đã có hối
lộ cho các quan chức chính phủ để giành thị phần tại Saudi, bằng những hành động sai phạm đạo
đức và pháp lý trong kinh doanh, Airbus đã mang lại những điều lợi cho chính cơng ty mình.
Với sự nỗ lực của chính phủ Mỹ trng việc ngăn chặn tham nhũng của người châu Âu, có thể
hãng sản xuất máy bay Boeing sẽ được hưởng lợi trong việc bn bán máy bay nếu có những kế
hoạch và chiến lược bán hàng thu hút khách hàng mục tiêu của họ.
3.
Với trường hợp Kuwait lại quả, người hưởng lợi lớn nhất từ các khoản lại quả chính
là ơng Ahmed al Mishari, chủ tịch của KAC khi ông đã vừa thực hiện tham nhũng vừa bịa đặt các
cáo buộc chống lại những thành phần đã ngăn cản con đường hối lộ của mình.
13
Cụ thể, Mishari đã gặp gỡ, thảo luận và có thể đã nhận lại quả trực tiếp từ Airbus để thay
đổi việc mua máy bay từ Boeing sang mua máy bay của Airbus. Ngồi ra, ơng cịn thành lập cơng
ty ALAFCO để thực hiện giao dịch mua máy bay Airbus và cho KAC thuê lại, điều này đã giúp
ông dễ dàng đưa ra các quyết định mà không cần thông qua sự phê duyệt chính thức của chính phủ
cũng như hội đồng quản trị của KAC.
ALAFCO nhận được các khoản tiền hỗ trợ vận hành từ Airbus, đây là một hình thức nhận
hỗ trợ từ nhà cung cấp một cách phi đạo đức trong kinh doanh của ALAFCO với sự hướng dẫn chỉ
đạo của Mishari. Do bản thân gần như có tồn quyền trong việc đưa ra các quyết định trong công
ty nên ông dễ dàng biết được các thông tin nội bộ và cung cấp cho Airbus để dễ dàng thực hiện các
hành vi bất chính và đem lại lợi ích cá nhân cho mình.
Mohamed Habib El Fekih – cố vấn thương mại bán thời gian của ALAFCO là người trung
gian, đã thi hành các hoạt động kết nối giao dịch giữa ALAFCO và Airbus, người cũng đã nhận
được rất nhiều lợi ích cá nhân về cho bản thân với mức lương và mức phí cao ngất ngưỡng.
Với những hành động phi đạo đức của mình, chính Airbus đã mang lại lợi nhuận cho công
ty nhiều nhất. Dù cho đã phải trách một phần chi phí để phục vụ thực hiện các hành động tham
nhũng của mình nhưng đó chỉ là phần nhỏ, phần được nhận về của Airbus cịn nhiều hơn vậy thơng
qua việc thổi phịng giá của máy bay để bù cho các khoản tiền lại quả.
Hãng hàng khơng nhà nước KAC chính là đơn vị chịu thiệt hại nặng nề nhất từ các sai phạm
phi đạo đức và phi pháp lý của Airbus. Bằng việc hối lộ của chủ tịch, chắc chắn KAC cũng như
nhà nước Kuwait đã thất thoát rất nhiều tiền để thực hiện giao dịch mua máy bay của Airbus để rồi
những khoản lại quả đó lại quay trở về túi của vị chủ tịch này.
Boeing là đơn vị tiếp theo phải chịu thiệt hại từ việc tham nhũng của Airbus. Từ việc mất thị
phần vào tay Airbus, Boeing đã không được cạnh tranh một cách công bằng trong đấu thầu. Dù
cho Boeing đã có hành động giảm giá cực sâu 100 triệu $ cho KAC nhưng họ vẫn khơng đạt được
mục đích bán máy bay của mình. Ngồi ra, thơng tin đấu thầu của Boeing cũng đã không được bảo
mật mà bị cơng khai cho đối thủ, từ đó, đối thủ cạnh tranh là Airbus dễ dàng bắt thóp và đề nghị
mức giá nhằm đạt được mục đích của mình.
Một cá nhân khác chịu thiệt tại tiếp theo đó chính là Bader Mallalah – giám đốc tài chính
KAC và giám đốc điều hành của ALAFCO. Dù cho ơng đã đứng về phía chính nghĩa, cung cấp
đầy đủ chi tiết đơn đặt hàng và các thông tin liên quan đến cơ quan giám sát chi tiêu công của
14
Kuwait cũng như ơng đã đấu tranh để trình báo cáo cho Hội đồng quản trị KAC nhưng cuối cùng
ông vẫn bị đình chỉ cơng việc bởi tay chủ tịch nhằm che đậy việc tham nhũng mà mình đã tham gia.
4.
Với trường hợp “Vết mực ở Ấn Độ”, Airbus đã hối lộ những quan chức cao cấp để
xúi giục hãng hàng không nhà nước Indian Airline (IA) đặt máy bay của họ. Gandhi là người nhận
nhiều lợi ích cá nhân trong việc gián tiếp kết nối giao dịch giữa IA và Airbus. Ngồi ơng ra cịn có
các cộng sự như giám đốc điều hành IA cũng đã ra tay gây khó dễ cho Boeing hồng giúp cho
Airbus thuận tiện trong việc thắng thầu và bán máy bay cho IA.
Trong báo cáo FIR, CBI cũng đã nêu tên các cán bộ công chức và quan chức IA là những
người thực hiện những hành vi tham nhũng nhằm mang lại lợi ích nhóm. Ngồi ra cịn những
người khơng được nêu tên như Thủ tướng Ấn Độ cũng bị nghi ngờ có hành vi khơng trái đạo đức.
Airbus lại chính là đơn vị nhận được nhiều lợi nhất trong tất cả các hoạt động tham nhũng
được nhắc đến. Airbus đã rất dễ dàng trong việc thắng thầu và đạt được thoả thuận bán máy bay
cho IA, mang lại doanh thu và lợi nhuận cho công ty. Đồng thời, giành được thị phần từ tay
Boeing.
Với trường hợp tại Ấn Độ, nhà nước Ấn Độ cùng hãng hàng không IA là đơn vị chịu nhiều
thất thốt về tiền bạc nhất để có thể chi trả cho những khoản chi phí mua máy bay từ Airbus. Dù
cho, nhẽ ra nếu họ thực hiện mua máy bay từ Boeing với chất lượng đảm bảo hơn thì họ đã có thể
tiết giảm được chi phí đầu tư với 140 triệu $ nhưng điều đó đã khơng diễn ra.
Boeing cũng là người phải chịu nhiều thiệt hại trong trường hợp này. Vừa mất thị phần bán
máy bay vào tay Airbus dù cho Boeing đã đề nghị giảm mức giá bán máy bay 140 triệu $ nhưng đề
nghị trên đã bị gạt phang với lý do đáng nhẽ ra họ phải đề nghị sớm nếu có lịng thành.
5.
Tại trường hợp Airbus bán máy tại ở Bắc Mỹ, người trung gian là Kardlheinz
Schreiber cũng như công ty của ông IAL đã hưởng lợi ích từ các khoản hoa hồng được thanh toán
bởi Airbus nhờ vào việc kết nối và mua bán máy bay giữa Airbus và Air Canada.
Ngồi Schreiber cịn có Stuard Iddles, phó tổng giám đốc cao cấp của Airbus cũng đã có
một sự gian lận nhỏ hơn trong vụ gian lận lớn. Ơng đã nhận số tiền bơi trơn từ Schreiber. Bằng số
tiền đó, vợ ơng đã mua căn biệt thự giá 1,5 triệu $ dù cho không biết giá căn nhà cũng như không
biết tiền để mua nhà từ đâu mà có. Do đó, vợ của Iddles cũng là người được nhận lợi ích từ các
hành động phi pháp của Airbus.
15
Từ việc trích những khoản hoa hồng co IAL, Airbus đã mang về cho mình hợp đồng bán
máy bay ở Bắc Mỹ giúp đem về doanh thu và lợi nhuân cho cơng ty. Dù cho phó giám đốc điều
hành cao cấp của mình cũng có hành vi tham nhũng trong chính nội bộ cơng ty nhưng Airbus đã
khơng xử lý mà cịn cho qua, họ đã che đậy hồn tồn vì đã khơng có điều tra nào tìm ra các hành
vi phi đạo đức trong công ty của họ.
Chịu thiệt hại nhiều nhất trong trường hợp này chính là hãng hàng khơng nhà nước Air
Canada. Họ đã thất thốt tiền đầu tư trong việc mua máy bay nhờ vào dẫn dắt của người trung gian
Schreiber. Và vì đây là hãng hàng khơng nhà nước nên việc thất thốt tiền từ nhà nước và túi cá
nhà là không điều thể tránh khỏi.
6.
Với trường hợp tại Syria, ba người gồm 2 quan chức chính phủ và 1 người trung
gian chính là người hưởng lợi ích cá nhân nhiều trong việc hối lộ để mua máy bay. Họ nhận được
hối lộ từ Airbus, tuy nhiên, họ cũng đã bị Tòa án phạt tù cùng số tiền phạt 268 triệu $.
Nhưng dù vậy Airbus cũng đã thực hiện được hành vi hối lộ để bán máy bay của mình.
Airbus đã đạt được mục đích và mang lại lợi ích cho mình.
Hãng hàng khơng Syrianair đã phát sinh các khoản thiệt hại tài chính lớn từ việc bị ép mua
những chiếc máy bay trị giá 240 triệu $. Và đây cũng là một hãng hàng không nhà nước nên giao
dịch này đã ảnh hưởng, gây ra thất thoát ngân sách nhà nước một khoản tiền khơng nhỏ.
Câu hỏi 2: Bạn có nghĩ rằng Airbus và Boeing đã hành động khác biệt trong việc
marketing máy bay của họ trên toàn cầu? Làm cách nào và tại sao?
Trả lời:
Trong việc marketing máy bay của Airbus và Boeing, với chiến lược kinh doanh tồn cầu,
họ đã có những chiến lược tương đồng nhau. Với mục tiêu rõ ràng muốn mở rộng thị phần trên
toàn thế giới, vượt qua giới hạn của tăng trưởng trong thị trường nội địa để thâm nhập vào các thị
trường mới bên ngoài lãnh thổ và tham vọng mở rộng kinh doanh ra toàn cầu, xây dựng vị thế của
hãng trên thị trường thế giới.
Về sản phẩm máy bay, họ có đa dạng hóa sản phẩm máy bay theo từng kích cỡ nhưng
khơng thực hiện chiến lược sản xuất theo nhu cầu của từng thị trường mục tiêu. Họ sản xuất máy
bay theo một tiêu chuẩn chung và phân phối ra toàn thế giới.
16
Bên cạnh đó, Airbus và Boeing đã tự xây dựng cho mình hình ảnh cực tốt thơng qua truyền
thơng nhằm luôn đầu tư vào yếu tố thương hiệu. Cả 2 hãng đều tỉ mỉ đến từng chi tiết, và định vị
mình là thương hiệu cực kỳ cao cấp trong mắt khách hàng, khiến họ phải “cảm thán” mỗi khi nhắc
đến thương hiệu của mình.
Tuy nhiên, khi theo dõi cận cảnh hơn về hành động marketing của Airbus và Boeing, ta
nhận thấy họ có những khác biệt trong cách thức thực hiện.
Tuy tham gia vào thị trường sau nhưng Airbus đang cạnh tranh ngang ngửa với Boeing
Nguồn : Company data
Theo số liệu, từ năm 1975, số lượng giao máy bay của Boeing chiếm số lượng nhiều hơn so
với số lượng không đáng kể của Airbus. Đồng thời thị phần của Airbus so với Boeing hồn tồn
khơng thể so sánh vì chênh lệch quá nhiều. Tuy nhiên, thời gian càng về sau, Airbus đã dần vươn
lên chiếm thị phần nhiều hơn và tăng dần số lượng giao máy bay lên. Cho đến 2005, số lượng giao
máy bay thương mại lớn của Airbus đã vượt hẵn so với số lượng máy bay được giao của hãng
Boeing, đồng thời Airbus đã hoàn toàn làm chủ và giành được thị phần, vượt trội hơn hẵn so với
Boeing.
Để cạnh tranh với Boeing trên thị trường, hãng Airbus luôn tập trung vào công nghệ như là
một thế mạnh của mình. Vào những năm 70, hãng Airbus đã từng cho ra mắt dịng máy bay A300
có sử dụng vật liệu tổng hợp, loại vật liệu chưa từng được dùng trong ngành sản xuất máy bay dân
dụng. Đến thập niên 80, Airbus tiếp tục lại giới thiệu hệ thống điều hành không dây mới lần đầu
tiên xuất hiện trong ngành máy bay dân dụng.
17
Trong khi Airbus tập trung vào các yếu tố chất lượng, kỹ thuật, số lượng hành khách có thể
chuyên chở trên mỗi chuyến bay để tạo nên ưu thế cạnh tranh thì Boeing lại nhắm đến hiệu suất
cho các cơng ty hàng không. Chiến lược của Boeing vô cùng rõ ràng khi tập trung đến mục tiêu tiết
kiệm nhiên liệu, giảm thiểu giá thành bảo trì, bảo dưỡng, cũng như gia tăng tối đa lợi ích cho các
hãng hàng khơng sau mỗi chuyến bay.
Ngoài những yếu tố cạnh tranh về sản phẩm để mang đi bán ra thị trường toàn về, theo nội
dung tình huống “Đạo đức và Airbus”, hãng sản xuất máy bay này đã sử dụng các chiến lược
marketing phi đạo đức kinh doanh để thực hiện các hành vi hối lộ các cơ quan nhà nước của từng
nước sở tại để kinh doanh máy bay. Phần nhiều hãng hàng không trên thế giới vẫn là hãng hàng
không nhà nước, nên việc thực hiện hành vi tham nhũng của Airbus đã khiến cho nhiều quốc gia
đã bị thất thoát tiền ngân sách vào việc mua máy bay giá đắt nhưng chất lượng lại không đạt được
như trị giá bỏ ra. Hối lộ ở nước ngoài, đặc biệt là hối lộ với quy mô lớn, thường mang đến những
tác động nguy hiểm và tàn phá đối với những quốc gia nơi nhận hối lộ. Các Chính phủ phải trả giá
cao hơn và nhận về sản phẩm với chất lượng thấp hơn, hoặc khơng đầy đủ cho hàng hóa, dịch vụ
mà họ đã đặt. Thậm chí, họ có thể bị lãng phí rất nhiều tiền cho những hợp đồng mua sắm hồn
tồn khơng cần thiết. Kết quả dẫn đến điều đó khiến cho những dịch vụ thiết yếu như giáo dục
hoặc y tế bị thiếu hụt. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đối với các ngước nghèo, tác
động của hối lộ quy mơ lớn như thế này chính là vấn đề sống cịn đối với họ. Và chính những vấn
đề bê bối liên quan đến hối lộ này cũng làm tổn hại đến niềm tin vào Chính phủ các nước và các cơ
quan công quyền, và đồng thời làm giảm đi niềm tin vào nền dân chủ.
Dưới góc nhìn của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) hối lộ các quan chức nước ngồi đối
với khu vực cơng và cả trong khu vực tư nhân đã và đang là một phần của mơ hình kinh doanh lớn
tại các tập đồn đa quốc gia. Các cơng tố viên Pháp cho biết, từ những hành vi vi phạm đã giúp cho
lợi nhuận của Airbus tăng thêm 1 tỷ euro.
Trong khi Airbus xem tham nhũng là một trong những phương thức thâm nhập vào thị
trường tồn cầu thì Boeing cho đến nay vẫn chưa có một thơng tin hoặc cáo buộc nào cho thấy
hãng này đã hối lộ. Thay vào đó, Boeing thực hiện các chiến lược marketing toàn cầu một cách
trong sạch hơn. Sử dụng các chiến lược tập trung vào phát triển sản phẩm tiết kiệm nhiên liệu,
giảm chi phí bảo hành, bảo dưỡng máy bay và gia tăng tối đa lợi ích của các hàng hàng khơng sau
mỗi chuyến bay. Điều này đã giúp Boeing vẫn giữ được thị phần của mình trên thế giới với chiến
lược minh bạch, cạnh tranh công bằng.
18
Ngồi ra, chính trị cũng là một yếu tố quyết định đánh hành vi kinh doanh của các hãng sản
xuất máy bay, cụ thể là Airbus và Boeing. Tuy chính phủ Mỹ đã ban hành Luật thực hành chống
tham nhũng ở nước ngoài (FCPA) nhằm cấm các doanh nghiệp Mỹ hối lộ cho các quan chức chính
phủ nước ngồi vào năm 1977 thì đến tận năm 2000, Pháp mới phê chuẩn công ước OECD để cấm
hối lộ các quan chức nước ngồi. Cho đến thời điểm trước năm 2000, chính phủ Pháp thậm chí cịn
cho các doanh nghiệp được giảm trừ thuế để thực hiện hối lộ. Điều này đã dẫn đến hoạt động bán
máy bay ra thị trường quốc tế của Airbus và Boeing đã có cạnh tranh khơng công bằng. Khiến cho
Airbus đã giành được phần lớn thị phần từ Boeing.
Tất nhiên, cái gì cũng có cái giá của nó, bằng cách thực hiện những chiến lược marketing
cạnh tranh khơng cơng bằng với hình thức hối lộ và tham nhũng Airbus đã liên tục vấp phải những
cáo buộc rằng đã có những hoạt động kinh doanh phi đạo đức, trái pháp luật từ nhiều cơ quan điều
tra, cảnh sát và nhóm chống gian lận từ nhiều quốc gia. Với những cáo buộc và những thông tin
bất lợi này hiển nhiên hình ảnh thương hiệu cũng như uy tín của Airbus sẽ phải chịu những địn
giáng mạnh vào cơng ty. Và điều này sẽ không xảy ra đối với Boeing.
Tài liệu tham khảo
1.
www.wikipedia.org , Hối lộ, tại />
2.
Luật gia - Ths. Lê Quang Kiệm (2019), Tham nhũng trong khu vực tư theo cách nhìn
từ cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, tại />3.
Thành Chung (tổng hợp) (2018), Đạo luật chống tham nhũng FCPA (Hoa Kỳ): Chặn
những thương vụ “đi đêm” giữa doanh nghiệp Mỹ và quan chức các nước, tại
/>4.
tham
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) (2014), Hướng dẫn về Phịng, chống
nhũng,
tại
/>
att/brochure_01_05.pdf
5.
hóa
Thái Anh (2018), Pháp luật các nước về chống hối lộ cơng chức nước ngồi Hình sự
hành
vi
hối
lộ
và
nhận
hối
lộ,
tại
19
/>=26
6.
Nguyễn Ngọc (2019), Khái niệm và loại hình chiến lược kinh doanh tồn cầu, tại
/>7.
Chiến lược quy mơ tồn cầu: Khai thác thị trường mới để mở rộng lợi thế cạnh tranh
(P2), tại />8.
Hoài Phương (2020), Hối lộ ở nước ngồi, nhìn từ vụ bê bối Airbus, tại
/>
20