Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (235.51 KB, 7 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
các hình tam giác đan xen vào nhau. Hoa văn hình học xung quanh mặt trống là
các đường chấm nhỏ, vành chỉ trơn láng, vành trịn ngồi có hoa văn hình răng
cưa, và các vạch ngắn song song.
Thân trống là phần hình trụ của khối trịn. Thân trống có hình hoa văn khắc
hình chiếc thuyền, hình võ sĩ, chim mng và thú. Tất cả hình ở thân trống
được khắc nổi, trang trí theo hình chữ nhật. Hình ảnh được sắp xếp rất cân đối.
Quai trống được đúc theo hình dâythừng bện. Thân trống trơn láng, khơng có
hoa văn, cao khoảng mười lăm xăng-ti-mét. Chân trống là phần loe hình phễu
của khối trụ trịn. Trống đồng Đông Sơn là cổ vật thể hiện đời sống của nhân
dân và văn hoá của người Việt cổ. Theo lời cô thuyết minh của viện bảo tàng,
trống đồng được làm từ thế kỉ VI và thể kỉ VII trước Cơng ngun. Các hình
khắc trên trống đồng cho ta hình dung được nền văn minh nông nghiệp của
nước ta thời kì trước Cơng ngun. Hoa văn của trống ghi lại các hoạt động của
xã hội Lạc Việt thời đó: dân ta đã biết đánh bắt hải sản, chăn nuôi gia súc, sản
xuất thủ công và sử dụng sức kéo trong nơng nghiệp.
Trống đồng thực chất là một nhạc khí. Người Việt cổ dùng trống đồng trong
hội hè, đình đám, lễ lạc, tang lễ. Trống đồng còn là biểu tượng quyền lực của
các thủ lĩnh bộ tộc. Trống đồng Đông Sơn cho ta biết nền văn minh văn hố
Đơng Sơn của người Việt cổ. Việc nghiên cứu lịch sử, thời gian, biểu tượng
những gì em biết được từ cô thuyết minh cũng làm em bồi hồi cảm động. Bộ
sưutập trống đồng Đông Sơn của Việt Nam là bộ sưutập trống lớn nhất thế giới.
Hoa văn trên mặt trống thể hiện nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt. Trải qua
bao nhiêu thế kỉ, trống đồng Đơng Sơn vẫn là nét son sáng chói trong lịch sử
Việt Nam. Khơng chỉ có thế, trống đồng cịn là một đề tài nghiên cứu hấp dẫn
các nhà khảo cổ trong và ngoài nước. Được chiêm ngưỡng trống đồng Đông
Sơn thật là một nịềm vui lớn và may mắn của em.
đúng như lời Bác Hồ dạy: "Các vua Hùng đã có cơng dựng nước. Bác cháu ta
phải cùng nhau giữ lấy nước."
Chiếc bình được trưng bày trong một tủ kính có nắp đậy, kê trên một phiến đá
nhỏ. Chiếc bình được làm theo hình dáng phần thân rộng cịn phần cổ bình thì
khum lại. Chiếc bình được tráng một lớp men sứ và được thiết kế hoa văn hết
sức tinh xảo. Bình được đặt ở trung tâm của sảnh ở viện bảo tàng, ánh đèn flat
rực rỡ từ trần nhà chiếu xuống càng làm chiếc bình trở nên đẹp, lộng lẫy và nổi
bật hơn trong mắt những người đến thăm quan. Chiếc bình này có niên đại khá
cổ, được làm từ thời triều đình nhà Nguyễn và tồn tại cho tới tận bây
giờ.Tương truyền rằng, chiếc bình là nơi chứa đựng tinh hoa của đất trời, là vật
linh thiêng có thể kết nối với các vị thần. Bởi vậy mà chiếc bình này ln được
trân trọng và nâng niu như một báu vật.
đan kết vào nhau khiến cho người nhìn có cảm giác hài hịa mỗi khi chiêm
ngưỡng. Tiếp theo là hoa văn ở thân bình, vẫn là những nét hoa văn xanh uốn
lượn như sợi dây leo, nhưng lần này những sợi dây leo đó lại xuất phát từ
những bơng hoa được thiết kế ở góc trái của bình. Những cánh hoa được nghệ
nhân vẽ rất mềm mại và sống động, trông giống như những bơng hoa thật vậy.
Cuối cùng là phần đáy bình. Lần này, khơng cịn những đường vân, những
bơng hoa nữa mà thay vào đó là hai nét mực xanh tạo thành kết cấu hồn chỉnh
cho cả chiếc bình.
Màu men sứ trắng như tuyết kết hợp với màu xanh khiến cả chiếc bình mang
vẻ đẹp vừa hài hịa, sống động vừa cổ kính, trang trọng. Ngay từ lần đầu tiên
nhìn thấy chiếc bình này, em đã khơng thể rời mắt khỏi nó, bởi nó mang nét
đẹp cuốn hút và tinh tế. Chính vì nét đẹp ấy, mà nhiều người giống như em đến
cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của chiếc bình và lắng nghe lịch sử của nó.
Em rất thích chiếc bình ấy. Sau buổi tham quan hơm ấy, hình ảnh chiếc bình
như in đậm trong tâm trí em. Em sẽ cố gắng học thật giỏi để có thể lại được bố
mẹ cho đi thăm bảo tàng lần nữa.
nghe cô giáo thuyết minh. Khi vào sâu bên trong, ai nấy đều trầm trồ trước cái
xe đạp thồ. Nhìn nó thật lạ mắt. Nó khơng giống với chiếc xe đạp bây giờ. Có
lẽ nó đã nhiều tuổi rồi vẻ bên ngồi trơng “tiều tụy” lắm. Lớp sơn tróc hết vỏ,
để lộ những thanh sắt khẳng khiu màu đen. Cái xe đạp này cũng thô sơ, thiếu
thốn đủ thứ. Xe khơng có chỗ ngồi phía sau. Tay lái đơn giản, khơng có dây
phanh. n xe đã cũ, rách gần hết. Xe đạp có mơt thanh ngang nối đầu xe với
thân xe nhìn có vẻ chắc chắn nhất. Hai lốp xe dường như không thể cũ hơn, đã
Tuy cái xe đạp cũ và chẳng có vẻ gì hấp dẫn nhưng đuợc rất nhiều người quan
tâm. Bởi lẽ nó có một lịch sử rất oai hùng. Nhìn bên ngồi ít ai biết được những
việc nó đã “gánh vác”. Trong năm tháng chiến tranh của đất nước, những chiếc
xe đạp thồ này không biết đã chở được bao chuyến hàng, đi được bao cây số,
vượt qua bao nhiêu bom đạn... để tiếp viện cho tiền tuyến. Mặc cho bom rơi
đạn lạc, những anh xe thồ này vẫn dũng cảm vượt qua. Vì thế giờ đây có vẻ già
nua nhưng nó vẫn khoẻ lắm. Ai đến thăm cung phải trầm trồ thán phục.
Anh xe đạp thồ nhìn xấu xí nhưng lại đẹp biết bao khi làm được những việc phi
thường. Em rất yêu chiếc xe đạp thồ này.
năm học qua. Ngày đầu tiên, mẹ đưa em đi đến Lăng chủ tịch để viếng Bác, rồi
dẫn vào Bảo tàng Hồ Chí Minh gần đó để thăm thú. Em ấn tượng nhất là đôi
dép cao su – biểu tượng của một thời chống Mĩ hào hùng.
Bước vào Bảo tàng, em choáng ngợp trước những hiện vật lịch sử quý giá. Đôi
chân em nán lại lâu hơn trước đôi dép cao su của thời chống Mĩ. Trước đây em
đã từng nghe qua về nó, đã được nhìn trên truyền hình khá nhiều nhưng đến
hơm nay em mới được tận mắt chứng kiến ở ngồi đời. Đơi dép được đặt trong
một hộp kính bảo vệ trong suốt, bên trên đề miêu tả và xuất xứ. Một dòng chữ
chạy ra, lí giải nguồn gốc đơi dép, đồng thời khẳng định nó chính là biểu
tượng của một thời kháng chiến chống Mĩ hào hùng.
Nhìn bề ngồi, đơi dép có cấu tạo khá đơn giản. Nó được làm bằng cao su nom
rất dẻo, có đơi cịn được tận dụng từ những chiếc lốp ô tô của bọn giặc Mĩ. Chỉ
một điều ấy thơi mà nó đã gợi lên bao thiếu thốn, vất vả chồng chất của những
người chiến sĩ thời chiến, phải tận dụng từng đồ vật xung quanh để trang bị đầy
Đôi dép Bác Hồ đã trở thành một chứng nhân lịch sử. Đôi dép ấy đã giúp Bác
đi qua bao đất nước, đôi dép ấy đã giúp bao lớp chiến sĩ vượt qua đường rừng,
đường núi hoang vu. Đôi dép đơn sơ mà hàm chứa bao câu chuyện vui về Bác,
về cuộc đời hoạt động cách mạng mà Bác theo đuổi, là minh chứng cho tính
cách giản dị, mộc mạc của Người. Đơi dép đã đi vào thi ca: