Phân tích nhân vật Huấn Cao
Nguyễn Tuân nổi tiếng là một nhà văn tài hoa, giàu cá tính. Ơng đã niệm và theo đuổi suốt đời
quan niệm “... mà thầy rằng yêu đẹp có nghĩa là quyết tâm bảo vệ đến cùng những gì mình đã
nhận là đẹp”. Và trong rất nhiều cái đẹp mà ông cảm khái, theo đuổi ấy ta thấy có cái đẹp ngời
sáng giữa cảnh lao tù tăm tối, cái đẹp của lụa trắng tinh bay những nét mực, cái đẹp từ sâu thẳm
lòng người. Cái đẹp toát ra từ người tử tù Huấn Cao và “Chữ người tử tù”.
Ngay từ đầu tác phẩm, Huấn Cao đã hiện lên như ánh hào quang phủ kín cả bầu trời tỉnh Sơn.
Qua lời trò chuyện của quản ngục và thơ lại ta thấy tiếng tăm của Huấn Cao đã nổi như cồn.
Điều làm cho bọn ngục quan phải kiêng nể không chỉ là tài viết chữ đẹp mà cịn là “tài bẻ khóa,
vượt ngục” của ơng Huấn. Tuy nhiên, đây khơng phải là trị của bọn tiểu nhân vơ lại đục tường
kht vách tầm thường mà là hình ảnh của một người anh hùng ngang tàng, một nam tử Hán đại
trượng phu “đỉnh thiên lập địa” không cam chịu cảnh tù đày áp bức, muốn bứt phá gông cùm
xiềng xích để thốt khỏi vịng nơ lệ.Huấn Cao mang cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc
trượng phu. Những kẻ theo học đạo Nho thường thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng.
Nhưng trung quân để rồi “dân luống chịu lầm than mn phần” thì hóa ra là tội đồ của đất nước.
Ông Huấn đã lựa chọn con đường khác: con đường đấu tranh giành quyền sống cho người dân
vơ tội. Bị triều đình phán xét là kẻ tử tù phản nghịch, xử tội chém. Huấn Cao bị triều đình coi là
“giặc cỏ” nhưng trong lịng nhân dân lao động chân chính ơng lại là một anh hùng bất khuất, một
kẻ ngang tàng “chọc trời khuấy nước” sống ngồi vịng cương tỏa, lừng lẫy chẳng khác gì 108 vị
anh hùng Lương Sơn Bạc ở Trung Hoa năm xưa. Tuy chí lớn của ơng khơng thành nhưng ơng
vẫn hiên ngang bất khuất, lung linh sáng tỏa giữa cuộc đời.
Trong tác phẩm, Huấn Cao là một con người tự trọng, sống hiên ngang bất khuất, khơng có một
sức mạnh quyền thế, bạc vàng nào có thể khuất phục ơng. Hiện lên qua lời nhận xét của viên thơ
lại và viên quản ngục là một người “chọc trời khuấy nước”, Huấn Cao đã dám đứng lên chống lại
cái triều đình mục rỗng. Bị gọi là giặc nhưng là vì nghĩa lớn, vì lý tưởng lớn nên điều đó có hề
gì. Đến khi bị bắt giam, sắp lên đoạn đầu đài vẫn coi thường: Đến cái chết cũng chẳng sợ nữa…
Huấn Cao có những suy nghĩ, hành vi thật phóng khống ông vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, coi
như đó là một việc vẫn làm trong hứng bình sinh, dù đang bị cầm tù. Dưới con mắt Huấn Cao,
bọn cầm quyền chỉ là một lũ tiểu nhân thị oai, nên ông luôn tỏ ra khinh bỉ chúng, dù ở giữa cảnh
tàn nhẫn, lừa lọc giữa một đống cặn bã. Với vị trí là người tử tù, Huấn Cao lại có những hành
động thể hiện khí phách hiên ngang của mình. Ơng ln thể hiện rằng thái độ khinh thường bọn
lính qua hành động rỗ gơng. Thêm vào đó là cái tính cách không chịu khuất phục trước quyền
lực và tiền bạc, bản lĩnh cứng cỏi, không sợ quyền uy và không sợ cái chếtcòn được thể hiện qua
cuộc đối thoại với viên quản nguc sau khi viên quản ngục khép nép hỏi ơng có cần gì nữa khơng,
ơng đã nói rằng “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ cần một điều, là ngươi đừng đặt chân vào đây”.
Đó là cái khí phách, cái tư thế hiên ngang dù khi đang giữa cái nền xám xịt của ngục tù. Huấn
Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong xã hội, ơng biết đặt vị trí của mình lên trên những
loại dơ bẩn “cặn bã” của xã hội. “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của
Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Đối với ơng, chỉ có
“thiên lương”, bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng q. Có lẽ chính vì vậy mà khi nghe
tin xử trảm: ông vẫn thản nhiên, không sợ hãi, chỉ khẽ mỉm cười, bất chấp cái chết, coi thường
cái chết.
Bên cạnh dũng khí ngất trời của một bậc hảo hán, vẻ đẹp của Huấn Cao còn là vẻ đẹp của con
người tài hoa. Ơng có tài viết chữ đẹp. Trong thị hiếu thẩm mĩ của người xưa, ở Việt Nam cũng
như ở Trung Quốc, viết chữ đẹp là cả một nghệ thuật cao quý (Thư pháp). Chơi chữ đẹp là một
thú chơi thanh tao. Tài viết chữ đẹp của Huấn Cao do đó là biểu hiện của nét đẹp của văn hố
một thời. "Chữ ơng Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm". Đẹp đến mức người ta khát khao, ngưỡng
vọng "có được chữ ơng Huấn mà treo là có một báu vật trên đời". Tuy nhiên, ông lại là người có
ý thức giữ gìn cái đẹp, có lịng tự trọng: “ Ta nhất sinh khơng vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép
mình viết câu đối bao giờ”. Nỗi khổ của quản ngục là có Huấn Cao trong tay, dưới quyền mình
nhưng lại khơng thể nào có được chữ ơng Huấn. Quản ngục và Huấn Cao là hai con người ở hai
thế giới cách biệt, đối lập nhau: Quản ngục đại diện cho thế lực nhà tù, nắm giữ pháp luật; Huấn
Cao là kẻ tử tù. Huấn Cao là người sáng tạo cái đẹp; quản ngục là người yêu quý cái đẹp lại là
người bị ông trời “chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã”. Trên
bình diện xã hội họ là hai kẻ đối lập nhưng trên bình diện nghệ thuật họ lại là tri âm tri kỷ. Tình
huống truyện là ở chỗ ấy, cả hai kẻ lại gặp nhau trong cảnh éo le này.
Như vậy, qua hình tượng nhân vật Huấn Cao khiến cho người đọc hiểu thêm được về sự tài hoa,
uyên bác, hiểu được thế nào là cái đẹp và niềm đam mê cái đẹp. Ngồi ra, nó cịn là sự hy sinh
cho cái đẹp và cái tâm thế luôn luôn bảo vệ cái đẹp. Nhà văn đã sử dụng ngịi bút tả thực đầy
kịch tính kết hợp với việc khắc hoạ tính cách nhân vật và ngịi bút miêu tả phong cảnh hiện thực
lẫn lãng mạn. Có thể nói "Chữ người tử tù" với bút pháp sắc sảo khi dựng người, dựng cảnh, với
ngơn ngữ văn xi giàu có và góc cạnh, với vẻ đẹp tuyệt vời của Huấn Cao, tác phẩm xứng đáng
là một áng văn chương một thời vang bóng và nó mãi mãi vang bóng trong bạn đọc nhiều thời.
=