Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (78.29 MB, 154 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI </b>
<i><b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VÃN</b></i>
<b>Mã </b>sô : CB.01.35
Chủ trì để tài : TS . Phạm Ngọc T h an h
C án bộ phối hợp nghiên cứu: 1. PGS.TS Đỏ Cóng T uân
2. TS Nguyễn Thọ K hang
3.TS Đặng Thị Linh
ĐAI H Ọ C Q U Ố C GIA HẢ NÕl
TRUNG TÁM THÔNG TIN THƯ VIỀN
<b>MỤC LỤC</b>
Nội dung Trang
<b>MỞ ĐẨU </b> <b>3</b>
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu 10
5. Ý nghĩa của đề tài 11
6. Kết cấu của đề tài 11
<b>12</b>
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CỦA C.M ÁC VÀ P H .Ả N G G H E N VE
LIÊN M IN H G IA I C ÂP T R O N G C Á C H M Ạ N G VÔ SẢN VÀ
T H Ờ I KỲ QUẢ Đ ộ L ÊN CNXH
1. Sự hình thành ]ý luận của Mác-Ăngghen về giai cấp và liên minh 16
giai cấp trong cách mạng vổ sản và thời kỳ quá độ lên CNXH.
2. C.Mác và Ph.Ảngghen phát triển học thuyếi của mình 34
3. C.Mác và Ph.Ảngghen phát triển học thuyết của mình trong thời 47
kỳ từ Công xã Pa ri (1871) đến cuối thế kỷ XIX.
CHƯƠNG 2. LÝ LUẬN CỦA V.I.LÊNIN VỂ L IÊ N M IN H 65
CÔNG - N Ô N G - T R Í THỨ C T R O N G C Á C H M Ạ N G XHCN
VÀ T H Ờ I KỲ QUÁ Đ ộ LÊN CNXH
1. Lý luận của V.I.Lênin về liên minh cơng-nơng-trí trong giai đọan 65
trước Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917
2. Lý luận của V.I.Lênin về liên minh cơne-nơng-trí trong; giai đọan 79
sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917
CHƯ ƠNG 3. T Ư TƯ ỞNG H ổ C H Í M IN H VẢ Q U AN Đ lỂ M 102
CỦA ĐẢNG TA VỂ L IÊ N M IN H C Ô N G -N Ô N G -T R Í T H Ú C
T RO N G C Á C H M Ạ N G V IỆ T NAM
1. Tư tưởng Hổ Chí Minh về liên minh cóng-nơng-trí thức trorm quá 102
trình cách mạng ở nước ta.
3. Xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc trong cách mạng Việt Nam 130
<b>KẾT LUẬN </b> <b>147</b>
<b>MỎ ĐẨU</b>
Lý luận về liên minh của giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp
trí thức là một trong những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đã
được Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng đúng đắn, sáng tạo
vào Việt Nam và đã góp phần to lớn tạo nên thắng lợi hoàn toàn của cách
mạng dân tộc dán chủ nhân dân và những thành quả rất quan trọng trong bước
đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội .
<b>l.L ý do chọn đề tài</b>
Từ thực tiễn các phong trào cồng nhân ở châu Âu, nhất là ở Anh và
trò cùa tãng Iơp tri tnirc tăng lên rõ rệt trong cuộc đấu tranh giải phóng xã hội
do giai cấp công nhân lãnh đạo.
V.I. Lênin đã vận dụng và phát triển lý luận về liên minh công - nông
và các tầng lớp lao động khác của c . Mác và Ph. Ảngghen trong giai đoạn chủ
nghĩa tư bản phát triển cao, giai đọan chủ nghĩa đế quốc. Chính V.I.Lênin đã
tổ chức thành liên minh công, nông và các tầng lớp lao động khác trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (1917), Trong bước đầu của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I. Lênin càng mở rộng liên minh trong những
hoàn cảnh lịch sử mới. Liên minh không chỉ có cơng, nơng (dù đó là hai lực
lượng cơ bản và to lớn nhất, )và có liên minh với các tầng lớp lao động khác,
Khi phân tích về chuyên chính vô sản V. I. Lênin khảng định rõ: “Chuyên
chính vơ sản là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô
tạo nnững tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin
về Hên minh cơng- nơng trí thức vào cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã từng bước đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng
lợi khác và qua đó cũng đã bổ sung và phát triển những tư tưởng của chủ
nghĩa Mác - Lênin về liên minh cống- nông trí thức theo nhiều khía cạnh
khác nhau.
Tuy nhiên, sự nghiệp đổi mới đất nước vẫn đang ở giai đoạn có nhiểu
nhiệm vụ nặng nề mà muốn hồn thiện nó thì phải xây dụng và phát huy được
động lực chủ yếu là đại đoàn kết toàn dân tộc mà nòng cốt là liên minh công
nông trí thức. Thực tiễn đó, càng đòi hỏi cấp bách việc nghiên cứu một cách
có hệ thống những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Hổ Chí
Minh và Đảng ta về liên minh cơng nơng trí thức trong cách mạng vô sản nói
chung và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng.
<b>2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề</b>
Trong giới khoa học, có rất nhiểu cơng trình nghiên cứu về liên minh
cơng- nơng-trí thức nhưng mới chỉ đi vào một số luận điểm căn bản, đặc sắc
của các nhà kinh điển và của Hổ Chí Minh.
Trong các cơng trình này đều đề cập đến vấn đề giai cấp công nhân và
mối quan hệ của nó với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức trên cơ sở lý
luân của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh và thực tiễn công cuộc
đổi mới ở nước ta. Nhiều tác giả đã nhấn mạnh đến xu hướng "trí thức hố
cơng nhân" và xem đó như xu hướng khách quan gắn liền với quá trình ra đời
Quốc gia các DỌ mon Knoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh. Nxb
<b>Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996.</b>
Ngồi ra cịn rất nhiều tác giả, tuy không trực tiếp nghiên cứu vấn đề
liên minh cơng nơng trí thức nhưng cũng đề cập đến và làm sâu sắc một số
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh và của Đảng ta
về liên minh công nông để phục vụ cho đề tài của mình. Có thể nêu ra một số
cơng trình như: Kinh tế xã hội nồng thôn Việt Nam ngày nay. Nxb Tư tưởng
văn hoá - 1991; Phan Đại Doãn: Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay -
Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội 1996; Chu Hữu Quý: Phát triển toàn diện
kinh tế xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội 1996; Bùi Ngọc Khánh: Nghiên cứu chính sách xã hội nơng thôn, nông
nghiệp Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996; Phát triển toàn diện
kinh tế xã hội nồng thôn - Đề tài KX 08 (1991 - 1995).
Tuy nhiên, cho tới nay, vẫn chưa có một cơng trình tổng hợp, hệ thống
những tư tưởng, quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về liên minh công nhân - nóng dân và trí
thức. Đặc biệt là từ sau khi CNXH bị đẩy lùi ở Liên x ỏ cũ và ớ một số Iiước
Đông Âu, trong bối cảnh thế giới hiện nay, trong giai đọan cách mạng Việt
Nam hiện nay, việc hệ thống, tổng hợp các quan điểm cơ bản của các nhà kinh
điển Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh và quan điểm của Đảng CSVN là
một nhiệm vụ quan trọng của công tác lý luận và giáo đục lý luận ở nước ta.
Nhận thức rõ sự cần thiết và ý nghĩa của hướng nghiên cứu này trong tình hình
hiện nay, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Nhũng quan
điểm cơ bản của c . Mác, Ph. Ảngghen, V.I. Lê-nin, Hồ Chí Minh và Đảne
CSVN về giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội”.
<b>3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu để tài</b>
dân-trí thức cho giãiđ o ạn đổi mới hiện nay làm nòng cốt của khối đại đoàn
kết tồn dân tộc, góp phẩn đưa sự nghiệp đổi mới đất nước đến thắng lợi hồn
tồn.
Nhiệm vụ chính của đề tài sẽ tập trung phân tích nhũng tư tưởng của
các nhà kinh đ i ể ^ M á c - Lênin, của Hổ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta
về liên minh cơng - nơng - trí thức theo các khía cạnh sau:
Xét về lợi ích cơ bản và mục tiêu của chuyên chính vơ sản đó là xây
dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản vì lợi ích của tồn thể nhân dân.
Nhưng đại đa số nhân dân lại gồm giai cấp công nhân, nông dân và các tầng
lớp lao động khác. Vì vậy, về mặt chính trị - xã hội, cơng nhân, nơng dân, trí
thức tất yếu phải liên minh với nhau trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tức là khi cách mạng
chuyển sang giai đoạn mới, thì cùng với tính tất yếu chính trị - xã hội, tính tất
yếu của liên minh xét về mặt kinh tế lại nổi lên với tư cách là nhân tố quyết
định, quyết định cuối cùng cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội (cho dù tất
yếu về chính trị vẫn là nhân tố dẫn dắt, hàng đầu).
V.I. Lênin đã đặc biệt lưu ý một nội dung cơ bản nhất của bước chuyến
giai đoạn cách mạng giành chính quyền sang “thời đại chun chính vơ sản”
là : chính trị đã chuyển trọng tâm san® chính trị trong lĩnh vực kinh tế, đấu
tranh giai cấp cùng với nội dung và hình thức mới [Xem:71,214]. Dưới góc độ
liên minh giữa cơng nhân với nông dân và trí thức trong xây dựng chủ nghĩa
xã hội, khi phân tích tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin, Hổ Chí
Minh và quan điểm của Đảng ta về tính tất yếu kinh tế ờ một nước nông
Tất yếu phải gắn chặt với nông nghiệp với công nghiệp, với dịch vụ,
khoa học và công nghệ trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất.
nghiệp hiện ơại cỏ Kna nang cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đây là một
vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản mà chính Lênin đã phân tích sâu sắc
nhiều lần, từ những năm 1918 đến 1924. Thậm chí, V.I. Lênin còn nêu vấn đề
rất cụ thể rằng, ở một nước tiểu nông chiếm đa số, nếu khơng có kinh tế nông
nghiệp và nông dân vững mạnh, khơng có dự trữ về lương thực thì khơng thể
xây dựng được nền công nghiệp [Xem:75,368].
Cần thoả mãn những lợi ích kinh tế thiết thân trước mắt cho cơng nơng
thì mới tiến tới thực hiện lợi ích kinh tế lâu dài, cơ bản nhất của toàn xã hội,
tức là hình thành những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản.
Nông nghiệp, công nghiệp và nhiều lĩnh vực kinh tế đời sống, phải gắn
liền với sự phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ ngày càng hiện đại thì
mới có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Có chính quyền rồi, nếu không giải quyết vấn đề kinh tế trong liên
minh thì bản thân công nhân, nhất là nông dân và đại da số nhân dân dù đã
thoát khỏi ách nô lệ, áp bức, bóc lột...nhưng khơng thể thốt khói đói nghco,
bệnh tật, mù chữ...Những nội dung kinh tế và vãn hoá xã hội của liên minh,
khi được thực hiện tốt, chính là giải quyết một cách cơ bủn những vấn đề đặt
ra đó trong q trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong khi thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ một số khía
Vai trị của cơng nhân, của nơng dán, của trí thức trong khối liên minh
cơng nhân, nơnơ dân, trí thức.
Vai trò của khối liên minh cơns nhân, nơng dàn, trí thức đối với việc
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Phương thức, con đường, biện pháp xây dựng và củng cố khối liên
<b>minh cơng- cơng - trí thức.</b>
Vai trị lãnh đạo của Đảng cộng sản trong quá trình xây dựng khối liên
minh cơng- nơng - trí thứcnhằm thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng.
<b>3.Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu</b>
Để tiện cho việc phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chúng tôi cố gắng tôn
trọng những vấn đề theo các thời kỳ lịch sử, bám sát các tư tưởng có trong các
tác phẩm của các nhà kinh điển, trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh và văn
kiện của Đảng CSVN. Tuy nhiên, vì khối lượng tư liệu q lớn, khn khổ của
đề tài có hạn, nhiều chỗ chúng tôi cũng chỉ có thể tóm tắt những tư tưởng cơ
bản mà thôi. Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp lôgic và lịch sử, phân tích
và so sánh, nghiên cứu tài liệu để làm rõ những luận điểm trong các giai đoạn
lịch sử khác nhau của các nhà kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh
và quan điểm của Đảng ta. Đối chiếu với kinh nghiệm hiện thực của CNXH
thế giới và của nước ta, nhiều vấn đề mới theo chủ đề này chúng tôi cũng chưa
thể đưa vào được và hy vọng sẽ có những cơng trình tiếp theo, nghiên cứu sâu
hơn, bổ sung thêm những khía cạnh mới về liên minh công nhân, nông dân, trí
thức trong giai đoạn hiện nay.
<b>4.Ý nghĩa của đề tài</b>
- Góp phần nhỏ vào việc hệ thống hóa các quan điểm lý luận của
C.Mác, Ph.Ảngghen, V.I.Lênin, Hổ Chí Minh, ĐCSVN, chống lại sự xuyên
tạc, sự lầm lạc trong công tác lý luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nộídung chính
được chia làm 3 chương:
Chương 1. Lý luận của C.Mác, Ph.Ảngghen về liên giai cấp trong cách
mạng vô sản và thời kỳ quá độ lên CNXH.
Chương 2. Lý luận của V.I.Lênin về liên minh cơng-nơng-trí thức trong
cách mạng xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên CNXH.
<b>CHƯƠNG I</b>
LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VÀ PH.ẢNGGHEN VỂ LIÊN MINH GIAI CẤP
CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG CÁCH MẠNG VÔ SẢN
VÀ THỜI KỲ QUÁ Đ ộ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Học thuyết của Mác và Ảngghen là vấn đề rộng lớn, chúng tơi xin tóm
tắt những điều cơ bản nhất trong các tác phẩm chủ yếu nhất đề cập đến vấn đề
giai cấp và liên minh giai cấp trong cách mạng XHCN và thời kỳ quá độ lên
CNXH.
Đến những năm 40 của thế kỷ XIX đã diễn ra nhiều cuộc cách mạng tư
<i>sản ở Hà Lan, Anh, Pháp và Bắc Mỹ, chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh ở Tây </i>
giai cấp vô sản. Hoạt động trong phong trào vô sản Đức, khái quái thực tiễn
đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế, kế thừa tinh hoa tư tưởng của mọi thời
đại, bằng thiên tài của mình, Mác và Ảngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa xã hội
khoa học - lý luận khoa học dẫn đường cho giai cấp vô sản trong cuộc đấu
tranh chống lại giai cấp tư sản, lật đổ chủ nghĩa tư bản và xây dựng một xã hội
mới cộng sản chủ nghĩa. Điểm căn bản cốt lõi của học thuyết Mác, hòn đá thử
vàng đối với người macxit đó là việc có thừa nhận và thực hiện chun chính
vơ sản hay khơng.
Học thuyết của Mác và Ảngghen là sản phẩm của một thời đại lịch sử
mà xét đến cùng do sự phát triển kinh tế xã hội quyết định. Nhưng mặt khác,
nó lại là kết quả hợp quy luật, hợp lôgic của tiến trình phát triển lý luận, tư
tưởng của nhân loại trong khi nó kế thừa được những tinh hoa tư tưởng của
nhân loại. Cần thấy rằng trong khi kế thừa tinh hoa tư tưởng nhân loại, Mác và
Ảngghen đã phải phê phán, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, phản động thuộc hệ
tư tưởng của giai cấp bóc lột phản động. Chúng ta đều biết triết học Hêghen và
Phoiơbắc là một trong những tiền để lý luận cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác.
Hơn nữa, để đấu tranh thắng lợi với Nhà nước tư sản, cần phải bóc trần những
lớp sơn hào nhoáng, giả tạo của Nhà nước tư sản, phải làm cho những quan
điểm chính trị của các giai cấp bóc lột khơng áp đặt cho giai cấp công nhân và
nhân dân lao động được nữa, phải vạch rõ bản chất giai cấp tư sán của Nhà
Khi nghiên cứu các giai cấp trong xã hội, các đại biểu của kinh tế chính
trị học cổ điển (A.Smit, Đ.Ricacđô), ở mức độ nhất định đã chuẩn bị cho cách
hiểu về bản chât của Nhà nước như là công cụ của sự thống trị giai cấp. Một
vấn đề rất có ý nghĩa nữa là các nhà tư tưởng này đã đặt Nhà nước đối lập với
xã hội, tạo ra khả năng tách Nhà nước và pháp luật ra thành các đối tượng
phân tích độc lập. Rútxơ và nhiều người khác cho ràng, trình độ phát triển của
sinh hoạt kinh tế quy định bức tranh tương ứng của Nhà nước và ở mức độ này
hay mức độ khác, chính chế độ tư hữu đã làm nảy sinh Nhà nước và pháp luật.
Các nhà kinh tế chính trị học Anh cũng đã luận chứng về sự khác biệt của Nhà
nước với xã hội, làm sáng tỏ thêm vai trò của sự bất bình đẳng về tài sản trong
việc hình thành Nhà nước. Trong khi đó các ơng vẫn khẳng định rằng Nhà
nước xuất phát từ xã hội chứ khơng phải cái gì ở ngồi xã hội và nó phải phục
vụ xã hội. Chính Adam Smit đã gắn liền sự xuất hiện Nhà nước với sự xuất
hiện bất bình đẳng về tài sản. Sản phẩm của nó chính là việc xuất hiện sự
thống trị và bị Ihống trị, những mầm mống của quản lý công dân nhằm bảo
toàn xã hội và trước hết là những người có của.
Tư tưởng của Hêghen về sự phân định xã hội công dân và Nhà nước
cũng có ý nghĩa khơng nhỏ. Ông cho rằng xã hội công dân là một thế giới lợi
ích vật chất, một hệ thống các nhu cầu. Mạc dầu Hêahcn trình bày mối quan
hệ giữa xã hội và Nhà nước theo quan điểm duy tâm nhưng tư tưởng về phép
biện chứng của mối quan hệ này lại là thiên tài.
ở đây cũng phải kể đến những tư tưởng và quan điểm của X.Ximơng.
Ơng đã trình bày tư tưởng, dưới hình thức phơi thai, về các ihiết chế chính trị
được đặt trên cơ sở của sự phát triển kinh tế, rằng cái quyết định cách mạng
giãi thích một cách thiên tài rằng cuộc cải biên chính trị trong cách mạng tư
sản Pháp bắt nguồn từ những biến đổi lớn lao trong tồn tại xã hội. Ảngghen
cũng thừa nhận đây là một luận điểm thiên tài so với thời đại của X.Ximông.
Các nhà sử học Pháp thời kỳ Phục hưng đã để lại nhiều tư tưởng quý
báu. TTieo họ chính lịch sử xã hội công dân là cơ sở của lịch sử đấu tranh giai
cấp. Ph.Guizot, O.Thierry, Ph.Mignet coi quan hệ sở hữu như là cơ sở của chế
độ chính trị của mỗi nước (nhưng họ lại quan niệm một cách duy tâm rằng,
mối liên hệ chủ yếu của xã hội loài người, cơ sở của nó lại là tư tưởng được
mọi người thừa nhận như là chân lý). Trong khi chưa hiểu được thực chất
nguồn gốc các giai cấp, chưa thừa nhận những nấc thang thực tế của cuộc đấu
tranh giai cấp, các nhà sử học Pháp thời kỳ ohục hưng đã đi đến kết luận rầng
đấu tranh giai cấp đã làm nên toàn bộ lịch sử của nhân loại. Chính Ảngghen
năm 1894 nhận xét rằng: "Nếu Mác là người phát hiện ra cách hiếu duy vật về
lịch sử thì Thierry, Mignet, Guizot, tất cả những nhà sử học Anh, ngay từ
trước năm 1850, đã chứng tỏ rằng người ta cũng đi theo hướng đó"[84,790].
Mác và Ảngghen đã kế thừa những tư tưởng tích cực của các bậc tiền
bối nhưng không phải đơn giản sao chép lại như nhicu học giá tư sản dã xuyên
tạc (họ đã đồng nhất lý luận của Mác- Ảngghen với những quan điểm của
Hêghcn, của các nhà dân chủ tư sản và thậm chí với học thuyết Platon). Trôn
thực tế, sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác nói chung ý nghĩa của một bước
ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại.
mình Mác -Ảngghen dựa trên sự phân tích thực tế, nghiên cứu kinh nghiệm
của phong trào quần chúng, sự thống nhất giữa lý luận chính trị và thực tế.
<b>1. Sự hình thành lý luận của Mác -Ảngghen về giai cấp và liên minh giai </b>
<b>cấp trong cách mạng vô sản và thời kỳ quá độ lên CNXH</b>
Trong thời kỳ làm "báo Sông Ranh", vấn đề Nhà nước và pháp luật luôn
chiếm vị trí trung tâm trong nghiên cứu của Mác. Mặc dù triết học Hêghen
vẫn còn ảnh hưởng đáng kể đến quan điểm lý luận của Mác về Nhà nước
nhưng quan hệ thực tế của Mác đối với Nhà nước Phổ thì hồn tồn đối lập với
các quan điểm của Hêghen. Mác hoàn toàn bác bỏ quan điểm của Hêghen về
Nhà nước Phổ chuyên chế. Quan điểm dân chủ của Mác đối lập với quan điểm
quân chủ của Hêghen.
Mác khác với Hêghen ở chỗ Mác là người bảo vệ quấn chúne nhân dân.
Chủ nghĩa dân chủ-cách mạng của Mác vào thời kỳ này thể hiện bằng việc coi
chế độ Nhà nước hiện thời là phi lý và nhất thiết phải thay thế bàng một Nhà
nước lý tính, dân chủ. Tư tưởng của Hêghen về Nhà nước lý tướng của lý tính
được Mác thể hiện theo một nghĩa khác. Đó là một giả thuyết về một Nhà
nước phục tùng ý chí của nhân dân và vì lợi ích của nhân dân. Mác đã sử dụng
tư tưởng này để phê phán Nhà nước phong kiến phi lý đương thời. Chính việc
phân tích thực tiễn, cụ thể đã đặt nhũng cơ sở đầu tiên đế Mác thực hiện bước
ngoặt từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dàn chủ sang
chủ nghĩa cộng sản.
đóng của tờ báo. Khi bị kết tội tuyên truyền cách mạng và thậm chí tuyên
<b>truyền chủ nghĩa cộng sản, Mác bác bỏ lời buộc tội đó và nhấn mạnh rằng: </b>
<b>Chủ nghĩa cộng sản là vấn đề mang tính chất thời đại, ý nghĩa của nó ngày </b>
càng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội và cơng nghiệp. Vì thế ống
<b>khơng có quyền làm ngơ, khơng biết đến chủ nghĩa cộng sản.</b>
Một bước tiếp theo rất quan trọng trong việc hình thành tư tưởng chính trị
cùa Mác là tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học" (viết từ tháng 4 đến tháng 8
năm 1844). Học thuyết về sự " tha hố" chiếm vai trị quan trọng trong tác
phẩm này. Từ việc phân tích lĩnh vực sản xuất, ông chỉ ra nguồn gốc các đối
“Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính chát phê phán-
Chống Bru-nỏ BdU-ơ và đồng bọn” là tác phẩm đầu tiên do C.Mác và Ph.Ảng-
ghcn cộng tác viết ra. Tác phẩm này được viết vào khoản2 tháng Chín đến
tháng Mười một năm 1844 và xuất bản vào tháng Hai 1845 ở Phran-phuốc
trẽn sông Mai-nơ.
<b>1. Phương phấp luận khi nhận thức về GCCN.</b>
Thực hiện một bước tiến so với “Bản thảo kinh tế - triết học”(1844) trong
nhận thức về sản xuất vật chất, Mác đã coi sản xuất vật chất là cơ sở của toàn
bộ lịch sử nhân loại. Mác viết, không thể nào hiểu được bất kỳ một thời kỳ
lịch sử nào nếu không hiểu “công nghiệp của thời kỳ đó, phương thức sản xuất
trực tiếp ra bản thân cuộc sống” [85,228].
Trong cuốn “Gia đình thần thánh”, Mác đã nêu luận điểm hết sức quan
trọng về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử và về sự
tăng lên của vai trò đó trong tiến trình phát triển lịch sử. Mác nhận xét, vai trò
của quần chúng nhân dân lao động đặc biệt thể hiện rõ trong thời kỳ cách
mạng. Nhưng tất cả những cuộc cách mạng diễn ra từ trước đến nay đều là
những cuộc cách mạng thực hiện vì lợi ích của một thiểu số. Vì vậy, tác động
của quẩn chúng đối với tiến trình lịch sử trong những cuộc cách mạng đó đã bị
hạn chế. Nhưng sự tiến bộ xã hội ngày càng phản ánh những lợi ích của bản
thân quần chúng bao nhiêu, thì quy mơ ảnh hưởng của họ đến các quá trinh
lịch sử cũng sẽ tâng lên bấy nhiêu. Mác dự đoán rằng cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa sẽ mở ra một thời đại, khi mà “hoạt động lịch sử càng lớn lao thì do
<i>đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn </i>
lên theo” [85,123]. V.I. Lênin đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của tư tưởng này,
coi đó là một trong những tư tưởng sâu sắc nhất của Mác về sự phát triển xã
2. Về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó.
Gắn chặt với quá trình hình thành quan điểm duy vật về lịch sử cúa Mác
và Ăngghen là việc đề xuất ra lý luận về chủ nghĩa cộng sản khoa học, và
trước hết là học thuyết về vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản với tư
cách là một lực lượng tác động chủ yếu và dẫn đầu của cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa trong tương lai. Các ông đã đề cập đến cơ sở khách quan, nội dung,
điều kiện thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp cồng nhân.
định. Ong chỉ ra ràng xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển trong khuôn khổ sự
đối kháng thường xuyên của hai lực lượng: quyền tư hữu và giai cấp vô sản.
Sự phát triển của các quan hệ tư bản chủ nghĩa thường xuyên tái sản xuất ra sự
đối lập đó, sự đối lập mà nhà tư bản, tức kẻ tư hữu muốn duy trì. Cịn giai cấp
vơ sản — trong điều kiện sinh sống của họ, “tất cả những điểu kiện sinh sống
của xã hội hiện đại đạt tới đỉnh cao của sự vô nhân đạo” - thì lại mong muốn
Ngữợc Tại <b>VỠ1 </b>điêu dó, 1Ợ1 ỉch giai cấp của giai cấp vơ sản hồn tồn nhất
trí với những lợi ích “của số quần chúng mà những điều kiện giải phóng hiện
thực khác một cách căn bản với những điều kiện trong đó giai cấp tư sản đã có
thể tự giải phóng mình và giải phóng xã hội” [85,123]. Tự giải phóng mình
khỏi chế độ bóc lột, giai cấp vơ sản cũng giải phóng tồn thể xã hội khỏi chế
độ bóc lột. Lần đầu tiên trong lịch sử, lợi ích của giai cấp tiên tiến thực sự hồ
làm một với lợi ích của quần chúng nhân dân hết sức rộng rãi, và theo ý nghĩa
đó, nó có được tính chất lợi ích của con người nói chung. Trong những suy
luận đó của Mác đã có những yếu tố đầu tiên của luận điểm mà sau này ông
sẽ phát triển, cho rằng giai cấp vô sản là một giai cấp nắm bá quyền, giai cấp
thực hiện vai trò lãnh đạo trong phong trào cách mạng giải phóng của quần
chúng bị áp bức trong xã hội hiện đại.
Mác và Ảnghen coi giai cấp vô sản không những là người sáng tạo ra của
của vật chất, mà còn là người sáng tạo ra của cải tinh thẩn nữa. Hai ông viết:
“Sự phê phán có tính phê phán chảng sáng tạo ra cái gì cả, công nhân mới
sáng tạo ra tất cả, sáng tạo ra tất cả đến mức ngay cả với nhữns sáng tạo tinh
thần của họ, họ cũng làm cho toàn bộ sự phc phán phải hổ thẹn. Công nhân
3. Về cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân.
đời sõng. Họ biẽt răng tài sản, tư bản, tiền bạc, lao động làm thuê và những
cái như thế đểu hồn tồn khơng phải là ảo ảnh trong tưởng tượng, mà là sản
phẩm hết sức thực tế, hết sức cụ thể của sự tha hoá của cơng nhân, rằng vì vậy
họ cũng phải dùng phương thức thực tế và cụ thể để tiêu diệt chúng để cho con
người có thể trở thành con người không những trong tư duy, trong ý thức mà
cả trong sự tổn tại có tính quần chúng, trong đời sống nữa” [85,80].
- Từ thực tiễn của xã hội tư bản, Mác và Ảngghen đã khẳng định rằng ,
sự nghiệp giải phóng giai cấp vơ sản và toàn thể quần chúng phải là sự nghiệp
của bản thân họ. Các ông nói: “Song nếu khồng tiêu diệt nhũng điểu kiện sinh
hoạt của bản thân thì giai cấp vơ sản khơng thể tự giải phóng được[85,56].
Xét về tồn bộ thì cuốn “Gia đình thần thánh” đánh dấu một cái mốc
quan trọng trên con đường xây dựng những cơ sở lý luận của thế giới quan vô
sản và phân gianh giới giữa Mác và Ảngghen với những người tiền bối và
những địch thủ tư tưởng của hai ơng. Cuốn sách đó là một nấc thang cao hơn
trong cái giai đoạn phát triển của các quan điểm của Mác mà công việc soạn
“Bản thảo kinh tế - triết học” đã mở đầu.
Đồng thời với Mác, nãm 1845, Ảngghen xuất bản cuốn "Tinh cảnh giai
cấp lao động ở Anh". Trong tác phẩm này ông nghiên cứu sự phát sinh, hình
thành và phát triển của giai cấp vơ sản, tình cảnh của họ tronơ xã hội tư bản,
chỉ ra vai trị của giai cấp vơ sản trong việc thủ tiêu chủ nghĩa tư bản.
Trong tác phẩm này có một số tư tưởng cần chú ý:
- “Cuộc cách mạng công nghiệp đối với Anh có ý nghĩa quan trọng
ngang với cuộc cách mạng chính trị đối với nước Pháp và cuộc cách mạng
triết học đối với nước Đức... nhưng sản phẩm quan trọns nhất của cuộc cách
mạng công nghiệp ấy là giai cấp vô sản Anh.
nông nghiệp lũ ỉượt kéo ra thành thị. Dân số tăng lên nhanh chóng lạ thường,
và hầu hết số dân tăng đó là thuộc về giai cấp cơng nhân” [85,348-349].
<b>- “Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh cũng tức là tình cảnh của tuyệt </b>
đại đa số nhân dân Anh. Đó là vấn đề số phận của hàng triệu người không tài
sản ấy như thế nào, những người làm ngày nào xào ngày ấy, những người mà
trí sáng tạo và bàn tay lao động đã làm nên sự vĩ đại của Anh, những người
ngày càng có ý thức về sức mạnh của minh và càng ngày càng đòi hỏi cấp
thiết hơn phần quyền lợi của họ trong tài sản xã hội, vấn đề ấy, từ ngày có dự
luật cải cách, đã trở thành một vấn đề của toàn dân tộc” [85,350],
<b>C.Mác và Ph.Ảngghen cùng nhau hoàn thành tác phẩm "Hệ tư tưởng </b>
Đức". Đây là một tác phẩm quan trọng trong thời kỳ hình thành của chủ
nghĩa Mác nói chung và học thuyết về đấu tranh giai cấp nói riêng.
Trong tác phẩm này lần đầu tiên đã trình bày các cơ sở phương pháp
luận chủ yếu để nghiên cứu vấn đề nguồn gốc xuất hiện Nhà nước. Sự xuất
hiện Nhà nước theo các ông, gắn liền với phân công lao động xã hội. Với sự
xuất hiện sở hữu tư nhân, sự xuất hiện các đô thị và các giai cấp đối kháng.
Các ông cũng đưa ra định nghĩa về Nhà nước, vạch rõ bản chất giai cấp của
Nhà nước. "Nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị
dùng để thực hiện lợi ích chung của họ và là hình ihức trong đó, tồn bộ xã
cua giai cap vo san. LAI ọc cách mạng cộng sản chủ nghĩa về cơ bản khác với
tất cả các cuộc cách mạng xã hội trước đó: Nó khơng chỉ thủ tiêu hình thức sở
hữu tư nhân đã lỗi thời về mặt lịch sử mà là thủ tiêu chế độ tư hữu nói chung,
xố bỏ lao động làm thuê và sự phân công lao động trước đây, thủ tiêu sự
thống trị của mọi giai cấp bằng cách thủ tiêu ngay chính các giai cấp, và do đó
thủ tiêu ngay chính Nhà nước[Xem:86,304].
Phát triển tư tưởng về sự giải phóng nhân loại được đề xuất từ "Bản thảo
kinh tế - triết học" (1844), trong "Hệ tư tưởng Đức" Mác và Ảngghen đã làm
rõ bản chất, điều kiện và phương thức thực hiện sự nghiệp đó. Trước hết, các
ơng khẳng định rằng đó là sự nghiệp cách mạng thực tiễn, thực hiện trong thế
giới hiện thực và bằng những phương tiện hiện thực. Nó nhằm giải phóng con
người hiện thực, được thực hiện bởi con người hiện thực chứ khôns phải con
Klion cung LUd UICITTOC-, mat; đã bóc trần thực chất của chủ nghĩa Pruđông và
phát triển học thuyết chính trị của mình. Theo nhận xét của V.I.Lênin, đây là
tác phẩm đầu tiên chín muối về chủ nghĩa xã hội khoa học.
Pruđơng trình bày một cách sai lầm về sự tác động qua lại giữa các
thiết chế Nhà nước-pháp quyền với các nhân tố kinh tế. Theo ổng ta vai trò
quyết định trong sự phát triển xã hội là sự chuyên chế của quyền lực chính trị
và sự tác động của các thiết chế pháp quyền. Mác đã vạch rõ rằng khơng phải
chính trị và pháp luật quyết định các quan hệ kinh tế, điều đó khơng bao giờ
có, mà trái lại chính các điều kiện kinh tế quy định sự phát triển của chính trị,
Nhà nước và pháp quyền. Vạch rõ ảo tưởng của Pruđông muốn sửa chữa các
thiếu sót của chủ nghĩa tư bản từ bên trên để thủ tiêu đói nghèo, Mác chỉ rõ
Pruđông chỉ thấy đói nghèo là đói nghèo mà không thấy được vai trò cách
mạng lịch sử của giai cấp vô sản. Pruđông về nguyên tấc bác bỏ đấu tranh giai
cấp và phổ biến tư lưởng điều hoà giai cấp, còn Mác trái lại luận chứng cho
luận đề về sự khơng điều hồ được các mâu thuẫn giai cấp trong các xã hơi có
Trong khi chờ đợi, sự đối kháng giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là
một cuộc đấu tranh giai cấp với giai cấp, một cuộc đấu tranh giai cấp khi đạt
đến trình độ cao nhất của nó trở thành một cuộc cách mạng toàn diện ...
Đừng nói rằng sự vận động xã hội loại trừ sự vận động chính trị. Khơng
bao giờ có một cuộc vận động chính trị nào mà khơng đồng thời là vận động
xã hội.
Chỉ có ở trong một chế độ khơng cịn giai cấp và đối kháng giai cấp nữa
thì những sự tiến hoá xã hội mới khơng cịn là những cuộc cách mạng chính
trị nữa".[87,258]
Trong cuộc đấu tranh chống Heinzen, Mác và Ảngghen đã phát triển và
lần đầu tiên hình thành một cách chính xác và công khai tư tưởng về chun
chính vơ sản. Ảngghen viết: "Kết quả tất nhiên của nền dân chủ trong tất cả
các nước vãn minh là sự thống trị chính trị của giai cấp vô sản" mà sự thống
trị đó lại chính là tiền đề đẩu tiên cho tất cả các biện pháp cộng sản chủ nghĩa.
[87,425]
"Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản" do Ảngghen thảo ra dưới
hình thức vấn đáp là bản đầu tiên của cương lĩnh ấy. Trong "Những nguyên lý
của chủ nghĩa cộng sản" Ảngghen định nghĩa lý luận chủ nghĩa cộng sản "Là
học thuyết bàn về những điều kiện giải phóng giai cấp vơ sản". Ơng đã giải
thích nguồn gốc lịch sử của giai cấp vô sản, sự khác nhau giữa giai cấp vô sản
và các giai cấp bị áp bức trước kia. Ông cũng chỉ rõ tính chất đối kháng khơng
thể điều hồ được của mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản và rút ra kết luận
về tính tất yếu của cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa. Trong điều kiện lịch
40 năm sau, năm 1888, Ảngghen nhận xét rằng: "Tuyên ngôn” là tác
phẩm phổ biến hơn cả, có tính chất quốc tế hơn cả trong tất cả các sách báo xã
hội chủ nghĩa, đó là cương lĩnh chung của hàng triệu công nhân từ Xibia đến
California" [90,514]
dông Ihơi va vmn vien giai pnóng tồn thể xã hội khỏi bóc lột, ách áp bức và
khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp ..." [90,509]. Tư tưởng cơ bản và chủ đạo
<b>này quán xuyến trong toàn bộ các chương, các phần của tác phẩm.</b>
Mác và Ảngghen khẳng định một nguyên lý: "Mọi cuộc đấu tranh giai
cấp đều là cuộc đấu tranh chính trị", là cuộc đấu tranh giành chính quyền Nhà
nước. Cuộc cách mạng vô sản là hình thái cao của đấu tranh giai cấp tạo ra
nền chuyên chính của giai cấp vô sản. Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa
của nó là bạo lức có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác.
Giai cấp tư sản đã từng lật đổ giai cấp phong kiến và thiết lập nển chun
chính của mình ; đến lượt mình, giai cấp vơ sản sẽ lật đổ giai cấp tư sản thông
qua cuộc cách mạng vô sản và thiết ỉập nền chuyên chính của giai cấp vô sản.
Trong "Tuyên ngơn", tư tưởng chun chính của giai cấp vô sản đã đươc phát
triển thành lý luận chun chính vơ sản. Trong tiến trình cách mạng vơ sản
"giai cấp vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách lật đổ giai cấp tư sản
bằng bạo lực"[87,555].
cộng sản là tố chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của
Trong chương này các ơng cịn đề cập đến những vấn đề văn hoá tư
sản, pháp quyền tư sản, gia đình, giáo dục, quan hệ dân tộc và giai cấp, quan
hệ giữa hệ tư tưởng, tinh thần với tổn tại xã hội, đời sống vật chất. Các ông
khẳng định rằng, những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là
những tư tưởng của giai cấp thống trị, rằng cuộc cách mạng cộng sản chủ
nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những tư tưởng cổ truyền. Chính các
ông hiểu rằng, cần phải tiến hành cả cuộc đấu tranh lý luận để làm cho giai
cấp vô sản có thể thấy rõ bản chất của các khuynh hướng xã hội chủ nghĩa,
tiếp cận và tiếp thu được thế giới quan khoa học. Trong chương III của "Tuyên
ngôn" các ông đã phàn tích một cách rõ ràng và thuyết phục về các khuynh
hướng xã hội chủ nghĩa khác nhau. Và trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô
sản chống lại giai cấp tư sản, Mác và Ảngghen đã chỉ rõ chiến lược, sách lược
trong quan hệ với các đảng đối lập, phát triển tư tưởng cách mạng không
ngừng v.v...
Mác và Ảngghen nhận thức sâu sắc rằng "Giai đoạn thứ nhất trong cuộc
cách mạng công nhân là giai đoạn cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp
thống trị, là giai đoạn giành lấy dân chủ. Giai cấp vô sản dùng sự thống trị của
mình đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản và tập trung tất cả công
cụ sản xuất vào trong tay Nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ
chức thành giai cấp thống trị"[87,567].
Trong khi Mác, Ãngghen nhấn mạnh rằng, cuộc cách mạng vô sản
không chỉ là cuộc cách mạng về chính trị mà cịn là và thực chất là cuộc cách
mạng về kinh tế, rằng những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình
thành cơng thức duy nhất là: Xoá bỏ chế độ tư hữu, hai ông vạch rõ bước quá
độ chính trị để đi tới xã hội khơng cịn giai cấp, xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Các ông chỉ ra rằng: "Nếu giai cấp vổ sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp
Tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" có ý nghĩa lịch sử vơ cùng
lớn lao, nó đánh dấu sự hoàn thành quá trình hình thành chủ nghĩa Mác trên
tất cả các bộ phận hợp thành của nó. Lần đầu tiên, những cơ sở mà chu nghĩa
Mác đã được trình bày một cách hệ thống và hoàn chỉnh. Từ khi ra đời "Tun
ngơn" đã có một ảnh hưởng to lớn đến phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế. Năm 1890, Ăngghen nhận xét ràng, lịch sử của "Tuyên ngôn" đã phản ánh
được đến một mức độ nào đó lịch sử phong trào công nhân hiện đại từ năm
1848 đến nay[91,98].
họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo” , sản xuất tư bản chủ nghĩa càng
phát triển, đại công nghiệp thay thế sản xuất nhỏ và công irường thú công thì
<b>hàng loạt những tiểu chủ, thợ thủ công, những người buôn bán nh ỏ ... bị phá sản </b>
càng tăng lên và rơi vào hàng ngũ của giai cấp vô sản. Trên cơ sở phân tích tài
tình sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, của biến động trong cơ cấu xã hội giai
cấp trong lòng chủ nghĩa tư bản, Mác và Ảngghen đã đưa ra nhận định khoa học
hết sức cô đọng, khái quát và chính xác: các giai cấp khác thì suy tàn và tiêu
vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, cịn giai cấp vơ sản thì trái lại,
lớn lên và trưởng thành cùng với quá trình ấy.
Lao động trong nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, do khơng có tư liệu
Bên cạnh việc trình bày khái quát các đặc trưng bản chất của giai cấp công
nhân, Mác và Ảngghen cũng đồng thời phân tích và ncu ra các tư tưởng về sứ
mệnh lịch sử của giai cấp cơng nhân.
khí tự giết mình, nó cịn khơng thể khơng tạo ra lực lượng xã hội (giai cấp vô sản
công nghiệp) có đủ khả năng để sử dụng vũ khí ấy.
Bằng sự phân tích một cách khoa học các điều kiện kinh tế - xã hội và
<b>chính trị - xã hội của xã hội tư bản đương thời, c Mác và Ph Ảngghen đã chỉ ra </b>
rằng chính điều kiện kinh tế xã hội và chính trị xã hội của chủ nghĩa tư bản đã
quy định một cách tất yếu rằng giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có sứ
mệnh lịch sử: thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ mới - chế độ xã
hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Trong Tuyên ngôn, Mác và Ảnghghen cũng đã luận chứng một cách cơ
bản, cho nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về sự tất yc J của cách
mạng vô sản và chuyên chính vơ sản
Giai cấp cơng nhân là giai cấp só sứ mệnh thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa,
xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Tư tưởng này là sự
phân tích sâu sắc hơn, đầy đủ hơn trên cơ sở những tư liệu thực tiễn mới của năm
1847 - 1848, tư tưởng về chun chính vơ sản đã được các ông nêu ra lần đầu
tiên vào năm 1845 - 1846 trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”.
Để thực hiện được điều đó, bước đầu tiên mà giai cấp công nhân sẽ thực
Sau khi nêu ra luận điểm giai cấp cổng nhân chỉ có thể thực hiện thắng lợi
sứ mệnh lịch sử của mình, khi nó thành lập được chính đảng của mình, chính
đảng ấy là Đảng Cộng sản. Sự ra đời của Đảng là một tất yếu do yêu cầu tổ chức
giáo dục, rèn luyện, tập hợp giai cấp công nhân. Mục tiêu và các nhiệm vụ đầu
tiên, trước mắt của Đảng là tổ chức lực lượng công nhân, thủ tiêu chế độ thống
trị của giai cấp tư sản, dành lấy quyền thống trị chính trị cho mình. Mục tiêu cao
nhất và là lý tưởng của Đảng là và chỉ là: xoá bỏ mọi sự bóc lột, xố bỏ chế độ tư
hữu nói chung, xây dựng một chế độ xã hội khơng cịn giai cấp, xã hội cộng sản
chủ nghĩa.
<b>2. C.Mác và Ph.Ảngghen phát triển học thuyết của mình</b>
Đây là một thời kỳ có nhiều sự kiện quan trọng như cách mạng
1848-1849 ở Đức, Pháp, áo ... Công xã Pari (1871) thành lập Hiệp hội công nhân
quốc tế - Quốc tế 1(1864-1872). Nước Nga từ sau năm 1861 đã bất đầu phát
triển tư bản chủ nghĩa. Đầu những năm 1870 nước Đức được thống nhất, ở
các nước Đông Âu, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đang trở thành quan hộ
sản xuất thống trị trong xã hội, chủ nghĩa tư bản ở Mỹ phát triển tương đối
nhanh và cuộc nội chiến 1861-1865 lại càng thúc đẩy nó phát triển mạnh hơn.
ở Nhật cũng bắt đầu quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa khá mạnh vào
những năm 60-70 của thế kỷ XIX. Sự phát triển của phong trào cách mạng,
phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc đã đem lại cho chủ nghĩa
"Cách mạng và phản cách mạng ở Đức", "Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-
1850", "Ngày mười tám tháng sương mù của Lui Bônapáctơ Mác đã
nghiên cứu một cách cụ thể những vấn đề Nhà nước dựa trên kinh nghiệm của
từng cuộc cách mạng với tình huống cách mạng cụ thể. Đối với Mác điều đó
ngày càng trở nên cực kỳ quan trọng. Bởi vì, Mác hiểu rằng, phải đập tan bộ
máy Nhà nước của giai cấp tư sản, sẽ thiết lập sự thống trị của giai cấp vô sản
và với tư cách là một giai cấp thống trị trong xã hội nó được tổ chức lại thành
Nhà nước. Vậy Nhà nước vơ sản đó sẽ có cơ cấu tổ chức- chức năng thế nào,
hoạt động cụ thể ra sao, cơ chế vận hành bộ máy đó trên những nguyên tắc cụ
thể nào, những con người điều hành bộ máy đó được đào tạo, sử dụng như thế
nào để không bị rơi vào tình trạng quan liêu, thối hố ... Trong "Tun ngơn"
và trước "Tuyên ngôn" những câu trả lời đó chưa có. Thực tiễn cách mạng tự
nó đặt vấn đề và đưa lại những tiền đề, tài liệu cần thiết để tìm ra cách giải
quyết vấn đề. Và chính Mác đã từng bước tổng kết kinh nghiệm cách mạng,
khái quát về lý luận, tìm ra các câu trả lời cho các câu hỏi mà thực tiễn đặt ra.
đều bị gạt ra khỏi chính quyền, cho đến khi giai cấp vỏ sản giành được chính
quyền Nhà nước[80,172]. Và khi nói tới sự chuyển biến của cách mạng dân
chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mác nhấn mạnh tới việc giai
cấp vơ sản giành chính quyền Nhà nước để xây dựng xã hội cộng sản và làm
cho chủ nghĩa cộng sản thắng lợi trong tất cả các nước chủ yếu.
Vạch rõ bản chất của các Nhà nước bóc lột với tư cách là công cụ đàn
áp quần chúng nhân dân, Mác chỉ rõ rằng quần chúng nhân dân tham gia cách
mạng hồn tồn có quyền sử dụng bạo lực cách mạng để trấn áp bạo lực phản
Khi phân tích bủn chất giai cấp của Nhà nước Pháp, Mác đã dề cập đến
vấn đề nông dân và sự liên minh của giai cấp vô sản với các tầng lớp không vô
sản trong quần chúng lao động. "Quyền lực Nhà nước không phải là đứng lơ
lửng trên không. Bônapáctơ là đại biểu của mộl giai cấp nhất định, hơn nữa là
một giai cấp đông đảo nhất trong xã hội Pháp, tức là giai cấp tiểu
nông"[80,514]. Nhưng triều đại Bônapáctơ không đại biểu cho người nông
dân cách mạng, mà cho người nônơ dân bảo thủ, không đại hiểu cho tương lai
của nông dân mà đại biểu cho quá khứ của họ.
với lợi ích của giai cấp tư sản, với tư bản, mà lại mâu thuẫn với lợi ích của
giai cấp tư sản, với tư bản. Vì thế, người nơng dân thấy rằng giai cấp vô sản
thành thị, giai cấp có sứ mệnh lật đổ chế độ tư bản, là người bạn đổng minh,
người lãnh đạo tự nhiên của mình[80,521]. Ãngghen trong các tác phẩm của
mình "Chiến tranh nông dân ở Đức", "Cách mạng và phản cách mạng ở Đức"
cũng đã đưa ra những quan điểm tương tự trên cơ sở nghiên cứu cách mạng ở
Đức.
Khái quát về lý luận những kinh nghiệm đấu tranh giai cấp trong thời
kỳ cách mạng 1848-1851 đã cho phép Mác và Ảngghen phát triển và cụ thể
Mác đã phân tích những điều kiện khách quan và âm mưu thâm độc của
giai cấp tư sản khiến cho giai cấp công nhân Pari phải xuống đường đấu tranh
và đã bị giai cấp tư sản đàn áp đẫm máu, bởi vì “ Cơng nhân khơng cịn có
đường nào để lựa chọn nữa: hoặc phải chết đói, hoặc phải tiến hành đấu
tranh” [88,44].
Thông qua việc phân tích nhiệm vụ, mục tiêu của cuộc khởi nghĩa
tháng Sáu năm 1848, Mác đã chỉ ra tính chất cách mạng, tính triệt để của cuộc
khởi nghĩa. Ông khẳng định, đó là cuộc “Giao chiến lớn đầu tiên đã xảy ra
giữa 2 giai cấp đối lập trong xã hội hiện đại giai cấp công nhân và giai cấp tư
sản - đó là cuộc đấu tranh để duy trì hoặc để tiêu diệt chế độ tư sản” [88,45].
Mác gọi đó: “là nội chiến, một cuộc nội chiến dưới hình thức khủng khiếp
nhất của nó, tức là cuộc chiến tranh giữa lao động và tư bản” [88,46],
Theo Mác, mặc dù cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm 1848 thất bại nhưng
mục tiêu và nhiệm vụ mà nó đặt ra đã thể hiện bản chất khác hẳn của cuộc
cách mạng đó so với tất cả các cuộc cách mạng trước đó. Tất cả các cuộc cách
mạng trước đó (1793, 1830, tháng Hai - 1848) đều bảo vệ “ Trật tự tư sản” ;
trái lại cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm 1848 phá hoại “trật tự tư sản”. Tất cả
thực tiễn đó đã chứng minh cho tính chất cách mạng, tính chất triệt để của giai
cấp cơng nhân và do đó của sứ mệnh lịch sử của nó - điều mà Mác đã rút ra
<b>Cách mạngvô sản là một tất yếu lịch sử là kết quả của cuộc đấu tranh </b>
giai cấp giữa vô sản và tư sản - hai giai cấp đại biểu cho hai xu hướng đối lập
trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Từ quan điểm duy vật lịch sử, Mác đã chỉ ra
nguyên nhân của cuộc cách mạng ở Pháp cũng bắt nguồn từ kinh tế và sản
xuất. Đặc biệt Mác đã phân tích sâu sắc nguyên nhân dẫn tới cuộc cách mạng
tháng Hai năm 1848. Đó là cuộc khủng hoảng công nghiệp và thương nghiệp
ở Anh ( 1845-1847); nạn mất mùa trong nông nghiệp 1845-1846, tình trạng
giá cả tăng vọt năm 1847; sự thiếu hụt tài chính đi liền với sự sa hoa, íruỵ lạc
của chính quyền Pháp do Lu-i Phi- líp đứng đầu...
Mặc dù quá trình đấu tranh giai cấp ở Pháp . ất nhanh chóng, sôi động
và phức tạp nhưng Mác ln ln tìm ra những vấn để căn bản của một cuộc
cách mạng của mỗi thời kỳ, giai đoạn khác nhau với những mục tiêu, nhiệm
vụ, giai cấp tham gia khác nhau. Chính vì vậy, mà ơng phân tích rất sâu sắc
tính chất của cuộc cách mạng tháng Hai và chỉ ra rằng, đó là cuộc cách mạng
tư sản, một cuộc cách mạng đem đến sự thống trị cho toàn bộ giai cấp tư sản
và củng cố nhà nước tư sản dưới hình thức mới “ Nền cộng hoà tư sản” .
Nhưng đối với cuộc cách mạng (khởi nghĩa) tháng Sáu năm 1848 thì ơng chỉ
rõ: Bản chất giai cấp công nhân, tính triệt để của nó so với tất cả các cuộc
cách mạng trước đây. “ Tháng Sáu đã đụng tới trật tự ấy- trật tự tư
sản”[80,47];
Đặc biệt Mác đã phân tích một cách có cơ sở quá trình diễn biến, kết
quả và tính chất của cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm 1849 của quần chúng tiểu
tư sản đo phái Núi dẫn đầu. Từ đó ơng chỉ rõ “ Mỗi cuộc khởi nghĩa đều mang
đầy đủ tính chất của giai cấp tiến hành cuộc khởi nghĩa ấy” [80,88].
Từ sự phân tích những bài học thất bại của cuộc cách mạng vô sản Pari
Với sự phân tích khoa học và thực tiễn sâu sắc, Mác cũng chỉ rõ khả
năng bòng nổ và thắng lợi của các cuộc cách mạng ở các nước kinh tế lạc hậu
hơn. Mác cho rằng, trước lúc lan tới tim thì các cuộc bùng nổ dữ dội phải xảy
ra ở tứ chi của cơ thể tư sản, vì ở tim, khả năng giữ được thăng bằng có nhiều
hơn ở tứ chi. Ông cũng cho rằng mức độ ảnh hưởng của các cuộc cách mạng ở
lục địa đối với nước Anh cũng đồng thời là cái phong vũ biểu chỉ rõ rằng các
cuộc cách mạng ấy thực sự đụng chạm đến các điều kiện tồn tại của chế độ tư
sản đến mức độ nào, hoặc chỉ đang chạm đến các thiết chế chính trị của chế
độ tư sản đến mức độ nào. Dự báo thiên tài này đã được thực tiễn cách mạng
sau đó chứng minh tính đúng đắn của nó.
'Từ tồn bộ thất bại cay đắng của cuộc khởi nghĩa tháng Sáu 1848 của
giai cấp vô sản và khởi nghĩa tháng Sáu 1849 của tầng lớp tiểu tư sản, và từ
bản chất bạo lực của giai cấp tư sản, Mác đã khẳng định rằng: giai cấp vô sản
khơng thể giải phóng được mình trong khn khổ nền cộng hồ tư sản. Vì vậy
Mác đã kết luận chỉ có: "Lật đổ giai cấp tư sản! Chuyên chính của giai cấp
công nhân" [80,47].
lợi của mình : chống tư bản nhưng không muốn xoá bỏ chế độ tư hữu, xoá bỏ
giai cấp tư sản: lợi dụng giai cấp vô sản để chống giai cấp tư sản nhưng lại sợ
Đồng thời Mác còn phân tích tính chất lạc hậu, bảo thủ của nông dân
biểu hiện qua sự kiện tháng 10 năm 1848( Ngày bầu cử Tổng thống Pháp ).
Họ đã đành cho Lu-i Bô-nơ-pac-tơ 6 triệu phiếu; và sự kiện ngày 22-6-1848,
giai cấp nông dân đã bỏ mặc cho giai cấp tư sản đàn áp đẫm máu giai cấp vô
sản ở Pari với 3000 tù binh bị sát hại. Từ thực tiễn đó, Mác kết luận quần
chúng tiểu tư sản (cả thành thị và nông thôn ) đều khơng thể có tinh thần cách
mạng triệt để, càng không có khả năng lãnh đạo cuộc cách mạng chống tư
bản. Họ là một lực lượng xã hội chỉ trở thành lực lượng cách mạng khi họ liên
minh với giai cấp công nhân và thừa nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
mà thôi.
Tuy nhiên, theo Mác, chỉ có Ihực tiễn của xã hội, thực tiễn bóc lột của
tư sản, và đau khổ của đời sống nông dân trong thời kỳ 1848-1850 và chỉ ra
rằng tiến trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiến trình cách mạng của giai
cấp cơng nhân mới có thể đưa nông dân từng bước đến gần với giai cấp vồ sản
và trở thành đồng minh đáns tin cậy của nó. Mác chỉ rõ, một khi giai cấp vô
sản tạm bị gạt ra khỏi vũ đài, một khi nển chuyên chính tư sản đã được chính
thức thừa nhận, thì các tầng lớp tiểu tư sản và nơng dân.... mà tình cảnh của họ
trở nên nặng nề và sự đối lập của họ với giai cấp tư sản càns trở nên íĩay gắt,
sẽ càng phải liên minh chặt chẽ với giai cấp vô sản... Họ nhận ra rằng nguyên
nhân của sự nghèo khổ của họ là sự thất bại của giai cấp vô sản... Khi họ đánh
vào giai cấp vô sản như thế là họ đã tự nộp mình cho bọn chủ nơ.
<b>đẳng nói chung đều dần dần đứng về phía giai cấp vô sản, dần dần tập hợp </b>
xung quanh giai cấp vô sản để làm thành lực lượng quyết định của cách
mạng” [88,123] ... “ Cũng như hồi tháng Hai, đây là khối liên minh chung
Mặt khác, Mác đã phân tích tầm quan trọng của nông dân trong quá
trình liên minh, ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ông viết : "công
nhân Pháp không thể tiến lên được một bước n à o ... khi đông đảo nhân dân tức
là nông dân và giai cấp tiểu tư sản... chưa bị tiến trình của cách mạng buộc
phải đi theo những người vô sản, coi là đội tiên phong của nrùnh"[80,26-27].
Đây là một tác phẩm được Mác viết ngay sau Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản vừa ra đời, nhưng nó chứa đựng nhiều nội dung mới mà ngày nay
vẫn còn nguyên giá trị của nó. Tác phẩm “Ngày 18 tháng sương mù của Lu-i
Bô- na- pác-tơ” của C.Mác tiếp tục phát triển nhiều nội dung lý luận nói trên.
Trong khi trình bày và luận giải các sự kiện lịch sử từ 1848 - 1851 để giải
đáp câu hỏi đã nêu ra ở đầu tác phẩm, Mác đã tổng Kết những bài học kinh
nghiệm cách mạng và nêu lên những nguyên lý trên các vấn đề sau: Sứ mệnh
lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, cách mạng vô sản, vấn đề nhà nước,
đặc biệt là tư tưởng đập tan nhà nước tư sản và vấn đề liên minh giai cấp vô
sản.
Trong tác phẩm này Mác đã phân tích những nguyên nhân thất bại của
giai cấp vô sản sau cách mạng tháng 2 và cuộc khởi nghĩa tháng 6 - 1848.
Nguyên nhân thất bại đó xét đến cùng chính là vào những năm 40 , 50
của thế kỷ 19 chưa có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để giai cấp vô sản
có thể hồn thành sứ mệnh lịch sử của mình là xoá bỏ phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa và xây dựng xã hội mới xã hội XHCN.
Mác nêu bật bản chất cách mạng của giai cấp vô sản và sự hy sinh to lớn
Trong tác phẩm này, Mác đã phát triển vấn đề bạn đồng minh - liên
minh giai cấp công nhân và nông dân, đã cụ thể hoá thành nguyên lý về sự
liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân cùng chống lại tư
bản.
Thứ nhất, Mác đã nêu khái niệm và đặc điểm của tiểu nông. Tiểu nông là
một khối quần chúng rộng lớn mà tất cả các thành viên của nó đều sống trong
hồn cảnh như nhau nhưng lại khơng có quan hệ ràng buộc với nhau. Phương
thức sản xuất của họ không làm cho họ liên hệ với nhau mà trái lại làm cho họ
tách rời nhau.
Về kinh tế, mỗi gia đình nơng dân là một đơn vị kinh tế gần như tự túc
hoàn tồn tự mình sản xuất ra đại bộ phận những cái mà mình tiêu dùng, tự
cung tự cấp cho mình những tư liệu sinh hoạt bằng cách trao đổi nhiểu hơn là
trao đổi với xã hội (hàng hoá)
Về xã hội, do điều kiện kinh tế nông dân vưà là một giai cấp vưà không
phải giai cấp. Họ là giai cấp nếu ta tính sinh hoạt kinh tế của họ giống nhau ,
trình độ chính trị, tư tưởng giống nhau, khác với các giai cấp khác và nhiều
gia đình họp thành làng, xã, quận, tỉnh. Nhưng họ khơng là giai cấp khi xét họ
chỉ có mối quan hệ địa phương chứ khơng có mối liên hệ rộng lớn toàn quốc
và rộng hơn nữa.
Như vậy, trong xã hội tư bản, nông dân ỉà tầng lớp trung gian họ có thể
ngả theo giai cấp vơ sản và cũng có thể ngả theo giai cấp tư sản, vấn đề là trên
thực tế ai đem lại và bảo vệ lợi ích cho họ.
Thứ hai, Mác phân tích sự thống nhất lợi ích giữa nơng dân và tư sản khi
CNTB đang lên và sự mâu thuẫn lợi ích giữa nông dân và tư sản khi giai cấp
tư sản trở thành lực lượng phản động.
Về chế độ sở hữu của nông dân: trong chế độ phong kiến, nông dân
khơng có ruộng phải đi làm thuê cho địa chủ phong kiến. Quan hệ sản xuất
phong kiến khơng chỉ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất trong
công nghiệp, thương nghiệp và cả trong nông nghiệp nữa. Trong xã hội phong
kiến, nông dân là lực lượng sản xuất nhưng cũng là người nồ lệ, khơng có
quyền sở hữu ruộng đất.
Cách mạng tư sản đã xoá bỏ chế độ tư hữu phong kiến, giải phóng sức
sản xuất nói chung và nơng nghiệp nói riêng, nghĩa là nông dân được giải
phóng. Chính cách mạng tư sản Pháp đã đưa lại cho nông dân Pháp những lợi
ích nhất định, nó biến người nơng dân nửa nông nô thành người tự do thành
người sở hữu ruộng đất.
Như vậy CNTB trong buổi bình minh của mình đã tạo những điều kiện
để người nông dân tự khai thác những mảnh đất con vừa rơi vào tay họ.
Nhưng ngay lập tức CNTB đã thò bàn tay của nó đến nơng nghiệp -
nghĩa là CNTB đã vượt ra khỏi thành thị, thì chính chế độ sở hữu mảnh đất
nhỏ ấy lại trở thành nguyên nhân làm cho nông dân bị bần cùng và phá sản.
Như vậy chế độ sở hữu nhỏ chỉ phù hợp với thời kỳ thanh xuân của
CNTB, khi CNTB đã phát triển vào lĩnh vực nông nghiệp, CNTB đi xuống thì
mảnh đất con của người nôns dân chỉ là cơ sở, là cái cớ cho tên tư bản có thể
bịn rút lợi nhuận, địa tô và đẩy người nông dân vào cảnh cầm cố nợ nần.
Nhà nước là công cụ để giai cấp tư sản sử dụng để đẩy người nông dân ra
khỏi đồng ruộng của họ biến họ thành những người lang thang ra phố kiếm
sống.
Thuế là nguồn sống của bộ máy quan liêu, của quân đội và bọn giáo sĩ ,
thuế là bộ máy xã hội của giai cấp tư sản mà bộ máy này ngày càng tăng lên,
nên thuế khoá ngày càng đổ lên đầu người nông dân tư hữu ngày càng nặng
nề.
Như vậy CNTB khi mới ra đời nó tạo điều kiện để giải phóng sức lao
động nói chung trong đó có nơng nghiệp nói riêng, điều đó phù hợp với sự
phát triển của lịch sử, phù hợp với lợi ích của giai cấp tư sản và như vậy lúc
đầu lợi ích của giai cấp tư sản còn phù hợp trong chừng mực nhất định với lợi
ích của người dân, chính vì thế mà giai cấp tư sản lôi kéo được nông dân đi
theo mình để lật đổ chế độ phong kiến và thậm chí nó cịn lơi kéo được nông
dân chống lại giai cấp vô sản như hồi tháng 6-1848
Nhưng khi CNTB phát triển vào lĩnh vực nơng nghiệp thì lợi ích của
nơng dân khơng cịn phù hợp với lợi ích của giai cấp tư sản mà lại mâu thuẫn
với lợi ích của giai cấp tư sản. Bởi vậy người nông dân mới nhận thấv rằng
người bạn đổng minh của mình, người lãnh đạo tự nhiên của mình là giai cấp
vơ sản thành thị.
Thứ ba, Mác phân tích tính tất yếu giai cấp vô sản phải liên minh với giai
cấp nông dân trong cuộc đấu tranh chống tư bản. Mác đã đi chỉ ra sở dĩ giai
cấp sản đã thắng giai cấp vô sản. Trong cuộc khởi nghĩa tháng 6-1848 là vì tất
cả các giai cấp, tầng lớp trung gian đã ủng hộ giai cấp tư sản, còn đứng về
phía giai cấp vơ sản chẳng có một ai ngồi giai cấp vô sản và cuộc khởi nghĩa
đó đã bị dìm trong biển máu . Cuộc thất bại ấy đã đẩy giai cấp vô sản Pari lùi
lại phía sau vũ đài chính trị.
có khả năng đại diện lợi ích cho chính mình cho nên họ phải chịu sự lãnh đạo
của một giai cấp khác, đó là giai cấp công nhân.
Sự phát triển của chủ nghĩa Mác đến giai đoạn này đã đem lại những cơ
sở toàn diện cho sự phát triển học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác và
Ảngghen. Sự luận chứng khoa học về triết học, về kinh tế học đối với tiến
trình phát triển lịch sử đã cho phép Mác và Ảngghen khẳng định những
nguyên lý cơ bản trong học thuyết đấu tranh giai cấp của mình. Bằng việc
nghiên cứu thực tiễn cách mạng trong những năm giữa thế kỷ XIX, Mác và
Ãngghen lại càng khẳng định thêm những nguyên lý đó, bổ sung thêm những
luận điểm mới và vận dụng những luận điểm đó, những nguyên lý đó để xem
xét, giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn của phong trào cách mạng vô sản
thời kỳ đó.
Mùa thu năm 1864, Hội liên hiệp công nhân quốc tế - Quốc tế I được
thành lập. Mác và Ảngghen là người tổ chức và lãnh đạo Quốc tế I cho đến
khi tổ chức này tuyên bố tự giải tán vào năm 1872. Hai ông là người soạn thảo
những văn kiện cương lĩnh quan trọng, những nghị quyết, những lời hiệu triệu
của Quốc tế I. Trước hết phải kể đến "Tuyên ngôn thành lập Hội liên hiệp
công nhân quốc tế" (tháng 10 năm 1864), "Điều lệ tạm thời của Hội liên hiệp
công nhân quốc t ế ” (tháng 10 năm 1864). Trong các văn kiện này, Mác và
Ảngghen đã nêu lên những kết luận chủ yếu của mình về Nhà nước pháp
quyền, về cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản quốc tế, những vấn đề
chiến lược, chiến thuật của phong trào vô sản.
ra như một nhiệm vụ chung: Giành lấy dân chủ ; khẳng định tính tất yếu lịch
sử phải thay thế Nhà nước tư sản bằng Nhà nước vô sản, cần phải đập tan bộ
máy Nhà nước tư sản. Nhưng vẫn chưa giải quyết được một vấn đề cốt yếu:
Vậy phải thay thế bộ máy Nhà nước tư sản ấy cụ thể là bằng cái gì, hình thức
Cơng xã Pari lần đầu tiên đã chứng minh trên thực tế nguyên lý của
Mác. Con đường giải phóng giai cấp cơng nhân chỉ có thể thơng qua việc đập
tan, phá huỷ bộ máy Nhà nước tư sản quan liêu, quân phiệt, thay thế nó bằng
Nhà nước mới của giai cấp vô sản. Trong bức thư gửi Cughenman ngày 12
tháng tư năm 1871, Mác viết rằng: Đập tan bộ máy Nhà nước quan liêu- quân
phiệt của giai cấp tư sản" là điều kiện tiên quyết của mọi cuộc cách mạng
nhân dân thật sự ở lục địa. Đó là điều mà các đổng chí anh dũng của chúng ta
ở Pari đang cố gắng thực hiện"[82,547].
Kinh nghiệm của Công xã Pari cũng chứng tỏ rằng, trong cuộc đấu
tranh của mình, giai cấp vơ sản đem lại lợi ích cho cả giai cấp nông dán, nhân
dân lao động nói chung. Cơng xã có một cơ sở xã hội rộng lớn: Trong khi giải
quyết những nhiệm vụ dân chủ chung, ngay cả giai cấp tiểu tư sản và tư sản
bậc trung cũng có thể liên minh với giai cấp vô sản. Công xã đã chứng minh
cho toàn thế giới biết rằng: Giai cấp cơng nhân và tồn thể những người lao
động có thể quản lý Nhà nước, có thể quản lý xã hội theo một kiểu mới vì lợi
ích của tồn xã hội. Tuy Cơng xã chưa kịp phổ biến ra khắp nước Pháp lúc bấy
giờ nhưng Mác và Ảngghen vẫn khẳng định: Công xã là hình mẫu chế độ
chính trị chung cho cả nước. Cơ cấu tổ chức chính trị của Cơng xã cho thấy
nguyên tắc tổ chức chính quyền Nhà nước của giai cấp công nhân là nguyên
tắc tập trung dân chủ. Đổng thời nó cũng thể hiện chủ nghĩa quốc tế triệt để
trong các hoạt động của mình.
tập trung chú ý là: Công xã Pari là hình thái Nhà nước của chun chính vơ
sản. Đó là luận đề cơ sở cho mọi nghiên cứu trong tác phẩm "Nội chiến".
Khi cuộc chiến tranh giữa Pháp và Đức nổ ra, có nhiều ý kiến khác nhau
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản chung quy
lại đều nhằm xóa bỏ tình trạng đối kháng giữa tư bản và công nhần. Thực tế
lịch sử ở Pháp và Đức vào cuối thế kỷ XIX đã chứng tỏ rằng, một khi giai cấp
vô sản dám đương đầu với giai cấp tư sản với tư cách ỉà một giai cấp riêng
biệt, có lợi ích riêng và những yêu sách riêng của mình thì chúng có thể trả
thù một cách tàn ác, điên cuồng đến mức như thế nào. Do đó giai cấp vơ sản
thế giới và chính Đảng của nó khồng được mơ hồ vể bản chất của giai cấp tư
sản. Trong khi giải quyết những vấn đề chiến tranh, hồ bình, cách mạng vơ
sản và chun chính vô sản... , giải quyết các mối quan hệ dân tộc và giai cấp,
dân tộc và quốc tế, phải luôn đứng vững trên lập trường, lợi ích cơ bản và lâu
dài, đảm bảo sự đoàn kết quốc tế của giai cấp cơng nhân.
Các ơng đã trình bày và phát triển những nguyên lý lý luận về vấn đề
chiến tranh, hồ bình; quan hệ dân tộc - giai cấp, dân tộc - quốc tế; Liên minh
công nông, Tôn giáo, Đảng của giai cấp vô sản. Đặc biệt là vấn đề cách mạng
vô sản và chun chính vơ sản.
Đối với giai cấp tư sản, chiến tranh là một thủ đoạn tất yếu, thuộc về bản
chất của giai cấp tư sản. Song chúng luồn ln tìm mọi cách che đậy tính chất
giai cấp và thực chất phản động của chiến tranh do giai cấp tư sản tiến hành.
ở những giai đoạn cuộc chiến tranh cịn có tính chất tự vệ, chính đáng,
giai cấp cơng nhân phải làm nghĩa vụ công dân của mình, tham gia vào cuộc
chiến tranh chống xâm lược. Tuy vậy, trong khi làm nghĩa vụ công dân, giai
cấp vô sản, phải đấu tranh ngăn chặn hành động của chính phủ mình muốn
Giai cấp vô sản ỉà người đại diện cho lợi ích chân chính của tồn dân
tộc. Nó ln ln đấu tranh cho mục tiêu giải phóng lao động. Chỉ có giai cấp
vơ sản mới giải quyết triệt để vấn đề dân tộc. Sự kết hợp chặt chẽ lợi ích giai
cấp và lợi ích dân tộc là thuộc tính bản chất của giai cấp vô sản.
Bằng thực tế lịch sử, Mác đã nêu tư tưởng phải đập tan nhà nước tư sản.
Đập tan nhà nước tư sản là điều kiện tiên quyết để thiết lập chuyên chính vô
sản, là thắng lợi trên lĩnh vực chính trị của cách mạng vô sản. Nhà nước tư sản
đã phát triển đến mức hoàn bị, khơng cịn vai trị tích cực, mà trở thành một
trướng ngại cho sự phát triển xã hội, nên tất yếu phải đập tan.
Chuyên chính vơ sản ra đời là tất yếu để thay thế nhà nước tư sản vừa bị
đập tan. Chuyên chính vơ sản tất yếu phải tồn tại, vì đó là cơng cụ để xố bỏ
chính ngay cả sự thống trị giai cấp, xố bỏ nhà nước nói chung.
Với tư cách là lãnh tụ của phong trào vô sản thế giới, các ông rất quan
<b>tâm đến cuộc đấu tranh cách mạng ở phương Đông. Trong thời gian này, các </b>
ông đặc biệt quan tâm đến nước Nga. Các ông đã phát triển học thuyẽt chính
trị của mình vào điều kiện nước Nga lạc hậu phản động, mới bắt đầu phát triển
theo con đường tư bản chủ nghĩa. Các ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề triển
vọng của công xã nông thôn Nga phát triển thành một cơ cấu cộng sản chủ
nghĩa. Điều này các ơng trình bày trong tác phẩm "Bàn về vấn đề xã hội ở
Nga". Các ông cũng đã phát hiện ra rằng nước Nga đang ở vào đêm trước của
cuộc cách mạng. Với quan điểm lịch sử cụ thể khi đánh giá khả năng cách
mạng và tiến trình lịch sử, các ông cho rằng sự tan rã của công xã nông thôn
irào thực sự con quan ưọng nơn mọi lá cương lĩnh". Tác phẩm này của Mác đã
giúp cho giai cấp công nhân Đức đề ra được chiến lược, sách lược trên cơ sở
<b>khoa học.</b>
Trong tác phẩm này, Mác tiếp tục phát triển học thuyết của mình về
Nhà nước và cách mạng, lần đầu tiên trình bày tư tưởng về hai giai đoạn của
xã hội cộng sản chủ nghĩa, đặc điểm của thời kỳ quá độ, luận giải về quyền
ngang nhau trong kinh tế và chính trị. v ề đặc điểm của thời kỳ quá độ, các
ông nhấn mạnh Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây khơng phải là một xã hội
cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là
một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó
là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang
những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lịng ra". Và vì thế cái nguyên tắc
trao đổi ngang giá trị vẫn có hiệu lực, do đó "về nguyên tắc, cái quyển ngang
nhau cũng vẫn là cái quyền tư sản", việc trao đổi ngang giá chỉ theo các điều
kiện trung bình chứ khơng phải cho từng trường hợp riêng biệt. Quyền ngang
nhau ấy là một quyền không ngang nhau đối với lao động không ngang nhau
(năng khiếu cá nhân, năng lực lao động) vì vậy, về thực chất, đó là một thứ
quyển khơng ngang nhau như bất cứ một thứ quyền nào khác.
<b>Trong tác phẩm này, Mác cũng đề cập đến một loạt vấn đề liên quan </b>
đến dân chủ, bình đẳng, tự do. Ông khẳng định rằng, cùng với việc thủ tiêu
những sự khác biệt giai cấp thì mọi sự bất bình đẳng về xã hội và chính trị bát
nguồn từ những sự khác biệt giai cấp đó, tự chúng khơng cịn nữa. Ơng cũng
Cương lĩnh Gơta là cương lĩnh chính trị của phong trào cồng nhân ở nước
Đức, mục đích cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân cho dù ở bất kỳ
quốc gia dân tộc nào đều phải tiến tới xoá bỏ quyền chiếm hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất của các thế lực bóc lột thống trị dưới mọi hình thức.
Xuất phát từ tình hình xã hội Đức, từ những sai lẩm của dự thảo Cương
lĩnh Gơta và quan điểm chính diện của C.Mác thực tế cho thấy đó là con
đường đấu tranh của giai cấp công nhân đó là đấu tranh giai cấp và thực hiện
sự nghiệp "cải biến cách mạng đối với xã hội" bởi vì "cơng nhân muốn tạo ra
những điều kiện sản xuất tập thể, trên quy mơ tồn xã hội, và trước tiên là ở
trong nước mình... thì điều đó chỉ có nghĩa là họ hoạt động để lật đổ những
điều kiện sản xuất hiện nay và việc này khơng dính dáng gì tới việc thành ỉập
những hội hợp tác với sự giúp đỡ của nhà nước [82,488-489].
Những vấn đề chiến lược, sách lược đấu tranh cách mạng của giai cấp
công nhân được thể hiện trong nội dung tác phẩm. Những vấn đề đó là liên
minh giai cấp của giai cấp công nhân với các tầng lớp nhân dán lao động khác
và vấn đề đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân.
<b>"Việc giải phóng lao động phải là sự nghiệp của giai cấp công nhân, đối </b>
<b>diện với giai cấp này, tất cả các giai cấp khác chỉ hợp thành một khối phản </b>
động" [82,481] và vấn đề đoàn kết quốc tế được khái quát thông qua sự phê
phán của C.Mác đối với quan điểm sai lầm được nêu trong dự thảo cương lĩnh
Những sai ỉầm chủ yếu của dự thảo cương lĩnh Gôta đối với vấn đề liên
minh giai cấp của giai cấp cơng nhân trong q trình đấu tranh cách mạng đó
là do đứng trên quan điểm lập trường thoả hiệp vô nguyên tắc, những người
có trọng trách trong Ban lãnh đạo Đảng công nhân dân chủ xã hội Đức đã
chấp nhận ghi vào trong cương lĩnh quan điểm cơ hội của F.Lát xan: "Đối
điện với giai cấp này (giai cấp công nhân) tất cả các giai cấp khác chỉ họp
thành một khối phản động" [82,482].
Quan điểm của F.Lát-xan là quan điểm cơ hội chủ nghĩa bởi nội dung
luận điểm của F.Lát-xan được nêu lại trong cương lĩnh là sự xuyên tạc, bóp
méo nội dung quan điểm của C.Mác và F.Ăng-ghen đề cập về mối quan hệ
gắn bố giữa địa vị kinh tế xã hội và thái độ chính trị của các giai cấp xã hội
được trình bày trong tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng sản.
<b>nên tình trạng xáo trộn mối quan hộ giữa bạn và thù, từ đó phủ nhận khả năng </b>
và đánh mất cơ hội thực hiện sự liên minh giai cấp trong quá trình đấu tranh
cách mạng của giai cấp công nhân.
Gắn liền với việc phát triển lý ỉuận về liên minh giai cáp của giai cấp
công nhân bằng việc chỉ ra những điều kiện lịch sử và khả năng thực hiện liên
minh giai cấp; thông qua việc phê phán những sai lầm về quan điểm quốc tế
được trình bày trong dự thảo cương lĩnh Gôta C.Mác đã khẳng định lại và tiếp
tục bổ sung thêm những nhận thức mới về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công
nhân.
Phê phán Cương lĩnh Gôta là một tác phẩm không dài, nhưng xét về vị trí
nghĩa và thắng lợi tất yếu của giai cấp vô sản. Ảngghen cũng đặc biệt chú ý
đến vai trò của bạo lực trong tiến trình cách mạng. Ơng nhắc lại luận điểm
của Mác trong bộ "Tư bản": bạo lực là bà đỡ cho mọi xã hội cũ đang thai
nghén một xã hội mới. Ông Đuyrinh chỉ thấy bạo lực là tội ác tuyệt đối mà
không hiểu được vai trò cách mạng của bạo lực. Bạo lực là công cụ mà sự vận
động xã hội dùng để tự mở đường cho mình và đập tan những hình thức chính
trị cứng đờ và chết. Ông cũng cảnh báo rằng sau khi bạo lực chính trị đã trở
thành độc lập với xã hội, sau khi đã từ đày tớ mà trở thành người chủ rồi, nó
có thể kìm hãm sự phát triển kinh tế hoặc thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Khi
chính quyền Nhà nước đối lập với sự phát triển kinh tế thì tất yếu dẫn đến chỗ
phải lật đổ chính quyền đó. Và chỉ có cách mạng vô sản và sự thiết lập Nhà
nước chuyên chính vô sản mới dần dần xoá bỏ được mọi sự đối lập giai cấp,
các chức năng chính trị của Nhà nước sẽ dẩn dẫn trở nên không cần thiết nữa
ở giai đoạn cao của xã hội cộng sản và Nhà nước tự tiêu vong. Việc cai quản
người sẽ nhường chỗ cho việc quản lý vật và chỉ đạo quá trình sản xuất, và sẽ
đến lúc nhân loại sẽ bước lừ vương quốc của tất yc'u sang vươniĩ quốc của tự
do. Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, đó là sứ mệnh lịch sử của giai
cấp vô sản hiện đại. [83,400-401 J.
các xã hội cổ đại, tìm ra nguỗn gơc đích thực của sự phân chia giai cấp, xuất
<b>hiện Nhà nước.</b>
<b>Ảngghen chỉ rõ: Chỉ đến khi khơng cịn sở hữu tư nhân tư bản chủ </b>
nghĩa nữa, khơng cịn các giai cấp nữa thì Nhà nước cũng khổng tránh khỏi bị
tiêu vong. Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất trên cơ sở liên hợp tự do và binh
đẳng giữa những người sản xuất, sẽ đem toàn thể bộ máy Nhà nước xếp vào
cái vị trí thật sự của nó lúc bấy giờ: Vào viện bảo tàng đổ cổ, bên cạnh cái xa
kéo sợi và cái rìu bằng đổng[84,266].
Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức” của Ph. Áng ghen, đã
trình bày rõ lập trương của giai cấp vô sản đối với vấn đề nông dân liên quan
đến việc các đảng công nhân Châu Âu tìm cách lối kéo nơng dân về phía mình
một cách vô nguyên tắc. Đầu tiên là Đảng công nhân Pháp nêu cương lĩnh của
mình tại Mác-xây( 9-1892) dẫn đến Đảng chiếm được đa số phiếu bầu và sau
đó tháng 9-1894 đại hội của Đảng công nhân Pháp họp ở Năng tơ lại thông
qua một cương lĩnh về ruộng đất (bổ sung) nhưng vì muốn tranh thú nhiểu
phiếu nên đã vi phạm về nguyên tắc đối với tiểu nông.
ở Đức tháng 10 - 1894, Đảng xã hội Đức họp ở Frăng-phuốc cũng nêu 1
cương lĩnh ruộng đất, trong phái cơ hội đó là phái Phôn-ma chủ trương xuyên
tạc chủ nghĩa Mác, luồn nhũng luận điểm cơ hội vào cương lĩnh trong đó có 2
điểm
1- Ngoài các luận điểm của cương lĩnh Đảng chủ nghĩa Pháp nó cịn đưa
ra quan điểm chống Mác là : nông nghiệp sẽ theo hướng doanh nghiệp nhỏ và
vừa chứ không tập trung lớn như công nghiệp.
2- Đưa ra luận điểm là bảo vệ lợi ích của tất cả nông dân (cả địa chủ) và
tuyên bố đi với nsười nông dân lên CNXH
<b>- Nông dân là một lực lượng xã hội đông đảo, là lực lượng chính trị hết </b>
- Phân tích thái độ chính trị của nơng dân : trước dây nơng dân tỏ ra thờ ơ
<b>thậm chí hình thành một lực lượng phản động.</b>
- Ảng ghen chỉ ra các Đảng XHCN ở phương Tây đã trưởng thành trong
tương lai khơng xa có thể giành được chính quyền, muốn làm được việc đó thì
Đảng phải chuyển từ thành thị về nông thôn, phải trở thành một thế lực ở nông
thôn.
Ăngghen phê phán cách đặt vấn đề trừu tượng của bọn cơ hội về nông
dân: họ mơ hồ ở chỗ là coi nông dân 'à khó thống nhất. Ăng ghen chỉ ra nông
dân không phải là một khối thuần nhất mà chia thành 3 tập đoàn người : Tiểu
nông (trung nông dưới); Trung nông (trung nông trên và phú nông); Đại nông
(địa chủ)
Ba tập đoàn này khác nhau về tài sản, lợi ích nên họ cũng khác nhau về
thái độ của họ trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vơ sản. Vì thế nếu
coi nông dân là một khối thống nhất sẽ mơ hồ và sai lẩm trong việc đề ra
đường lối chính sách đối với nơng thơn .
Theo Mác thì nơng dân là một giai cấp không thuần nhất nhưng khi đến
CNXH t h ì :
- Khi chưa cải tạo cịn là nông dân cá thể.
- Khi cải tạo rồi thì họ trở thành một giai cấp nông dân tập thể , tư liệu
sản xuất mang tính chất xã hội, sản xuất mang tính khoa học; phương pháp ăn
chia theo lao động nhưng họ còn là nơng dân chưa đạt trình độ như cơng nhân
- Kế hoạch hố chưa cao vì trình độ thấp hơn cổng nhân;
- Cịn kinh tế phụ gia đình (thu nhập khác công nhân)
<b>loại đi thuê đất là chủ sở hữu một mảnh đất ruộng đất không lớn, số ruộng đất </b>
mà họ thường có thể cày cấy cùng với gia đình họ và cũng không bé hơn số
ruộng đất cần thiết để nuôi gia đình họ; như vậy họ vừa là người lao động vừa
là người tư hữu
<b>Ảng ghen phân tích tiểu nơng dưới CNTB và nông nô trước đây và đi </b>
đến kết luận: đây là một tàn dư của một phương thức sản xuất lỗi thời và giờ
đây dưới chế độ tư bản, người tiểu nông không tránh khỏi phá sản, nên sản
xuất tiểu nông sẽ tiêu vong và họ sẽ là người vô sản tương lai. Ảng ghen phân
tích thái độ chính trị của tiểu nông: là người vô sản tương lai nhất định sẽ
lắng nghe sự tuyên truyền của người XHCN, nhưng, mặt khác cái đầu tư hữu
của họ cố bám vào mảnh đất nhỏ một cách tuyệt vọng cho nên anh ta không
nghe người XHCN và có khi họ cịn có thành kiến với người XHCN, và nếu
động đến mảnh đất của anh ta thì anh ta cũng căm thù người XHCN như kẻ
cho vay nặng lãi và bọn thắng kiện .
Ảng ghen đã nêu lên câu h ỏ i:
Đảng xã hội dân chủ phải làm thế nào để cứu được tiểu nông khỏi phá
sản? nhưng lại khồng phản lại những nguyên tắc của Đảng vô sản?
Thực tế hiện nay, chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất nhỏ không đem lại
một tý tự do nào cho người tiểu nông trong khi anh ta đang tự nguyện "bán gia
sự của mình đi, bán cả thể xác và linh hồn của mình cho tên chủ nợ để được
sống thêm một khoảng khắc nữa".
Cương lĩnh Năng tơ: Nêu yêu sách đứng lên bảo vệ quyền sở hữu những
<b>phán cương lĩnh Năng tơ đã vi phạm nguyên tắc của CNXH vì CNXH chống </b>
<b>lại chế độ làm thuê thì đây lại bảo vệ chế độ thuê mướn người làm thuê.</b>
Ảng ghen bàn về con đường quá độ đưa nông dân lên CNXH và trả lời
câu hỏi ta làm gì để người tiểu nông khỏi bị tiêu diệt mà lại không vi phạm
<b>nguyên tắc của Đảng.</b>
Ảng ghen nhắc : khơng được tun truyền điều gì gọi là cảm giác chúng
ta có ý định duy trì chế độ sản xuất nhỏ của nông dân; làm như thế sẽ sa vào
con đường mỵ dân và sẽ làm chậm con đường giải phóng nơng dân: khơng vì
mục đích tranh thủ người tiểu nông trong một thời gian ngắn của các cuộc
tổng tuyển cử mà : "chúng ta hoặc phải trì hỗn sự tiêu vong của họ trong một
<b>thời gian nào đó mà thơi".</b>
Ãng ghen ủng hộ một điều đúng đắn của cương lĩnh Năng-tơ: trước sự
diệt vong của tiểu nơng thì người XHCN khơng đẩy nhanh q trình diệt vong
đó mà tùy sức của mình phải bênh vực họ bằng cách là ngăn chặn sự cướp bóc
và lừa bịp họ. Và nếu ta tranh thủ được người nông dân khi họ cịn là nơng dân
càng đơng thì cuộc đảo lộn xã hội càng nhanh chóng bấy nhiêu.Ảng ghen coi
hình sức sản xuất HTX là phương thức cứu người tiểu nông khỏi cảnh bần
cùng và phá sản: Ta không duy trì sở hữu cá thể mà nâng ỉên thành sở hữu tập
thể. Chúng ta không đưa họ ngay lên quốc doanh đây là con đường cải tạo họ
dần dần.
Ảng ghen nêu rõ: đưa nông dân vào HTX phải trên nguyên tắc tự
Khi ta có chính quyền, ta không dùng bạo lực tước đoạt đối với người
tiểu nông như ta tước đoạt địa chủ và nhiệm vụ của ta là đưa nông dân vào
HTX bằng cách nêu gương, thuyết phục giúp đỡ, chúng ta cố tìm mọi cách để
số phận của họ dễ chịu hơn và họ có thì giờ suy nghĩ trên mảnh đất của minh.
Ảng ghen nêu những nguyên lý cải tạo nông dán:
- Ảng ghen đã đề cập đến số phận của trung nông và đại nông: với 2 bộ
phận này: Không được hứa hẹn điều gì có ngụ ý chế độ làm công sẽ tồn tại
mãi mãi, điều đó là phản bội CNXH mà phải tuyên bố xoá bỏ chế độ bóc lột
làm thuê.
<b>- Trong xã hội tư bản cả trung nông và đại nông đều sa sút và cũng sẽ </b>
tiêu vong. Khi mà cách mạng vô sản thành cơng, trước mắt họ có 2 con
đường: Nếu họ rút được kết luận cần thiết thì họ đến với chúng ta, chúng ta sẽ
đón họ vào HTX; trong trường hợp ngược lại, chúng ta để cho họ đi theo số
phận của họ, còn chúng ta hướng vào kêu gọi những người làm cồng của họ và
ngay cả trong trường hợp này - chúng ta cũng không đùng bạo lực để tước
đoạt.
Đối với bọn địa chủ lớn, theo Ảngghen, cần phải tiến hành tước đoạt
như tước đoạt tư sản cơng nghiệp, cịn tước đoạt bằng cách nào là tùy thuộc
<b>vào tình hình và vào thái độ của họ.</b>
Những trang trại lớn chuyển vào tay công nhân làm thuê và biến nó
thành nơng trang tập thể thành sở hữu tồn dân và nông trang quốc doanh này
phải trở thành cơ sở sản xuất mẫu mực.
Tác phẩm này có một ý nghĩa quan trọng:
1- Có ý nghĩa trực tiếp đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội ở Pháp và Đức
và nó đặt nền tảng quan trọng về lý luận cho việc giải quyết vấn đề nông dân
đối với các Đảng cộng sản.
Tác phẩm đã phân tích một cách mẫu mực về nông dân và sự cẩn thiết
xây dựng khối liên minh công nông , và đó là tư tưởng liên minh công nông và
là học thuyết liên minh công nông mà là nếu sau này vận dạng một cách sáng
3- Tác phãm đã đặt nên tang cho một vấn đề cực kỳ to lớn, cực kỳ quan
trọng và phức tạp đó là vấn để đưa nơng dân nên CNCS ? đó là con đường hợp
<b>tác nông nghiệp và đề ra phương châm , bước đi của công cuộc hợp tác hố.</b>
Có thể tóm tắt những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Angghen về giai
cấp, đấu tranh giai cấp, liên minh giai cấp như sau:
-Các ơng đã trình bày hết sức rõ ràng quan niệm duy vật lịch sử về
nguồn gốc của giai cấp và đấu tranh giai cấp trong các xã hội có giai cấp. Trên
cơ sở lý luận và thực tiễn, các ông đã chỉ rõ quá trình hình thành, phát triển
của các giai cấp trong lòng xã hội tư bản và cuộc đấu tranh tất yếu giữa giai
cấp tư sản và giai cấp vô sản, thắng lợi tất yếu của giai cấp vô sản cũng như
thất bại tất yếu của giai cấp tư sản.
-Cách mạng vô sản là bước phát triển tất yếu và cao nhất của cuộc đấu
tranh giai cấp trong lòng xã hội tư bản. Giai cấp vô sản dùng bạo lực cách
mạng đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyển,
thiết lập nhà nước của giai cấp công nhân mà hình thức của nó đã được Mác
phân tích rõ qua Công xã Pari. Cuộc cách mạng dó chỉ có thế giành được
-Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa có một thời
kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia, một thời kỳ quá độ chính
trị mà nhà nước khơng thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng
của giai cấp cơng nhân. Ơng cũng chỉ rõ những đạc điếm của thời kỳ quá độ,
sự tổn tại một cơ cấu giai cấp có tính chất q độ và cuộc đấu tranh giai cấp
nhầm thực hiện mục đích cuối cùng của cuộc cách mạng vô sản.
<b>thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xẳ nọi. Các ông cũng chỉ rõ đặc điểm quá trinh </b>
hình thành, phát triển, cơ cấu, vai trò của các giai tầng này trong tiến trình của
cuộc cách mạng không ngừng tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa.
-Theo các ổng, liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ không tách rời
với cuộc đấu tranh giai cấp chung nhằm cải tạo xã hội theo những nguyên tác
xã hội chủ nghĩa, được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực và thực chất là một
cuộc cách mạng kinh tế, nhằm giải phóng con người về kinh tế.
<b>U ttơ ơ N G II</b>
<b>LÝ LUẬN CỦA V.I. LÊ-NIN VỂ LIÊN MINH GIỮA GIAI CÂP CÔNG</b>
<b>NHÂN VỚI GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ TẦNG LỚP TRÍ THỨC </b>
<b>TRONG CÁCH M ẠNG XẢ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ </b>
<b>LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI</b>
Là người học trò xuất sắc của C.Mác, Lênin đã kế thừa và phát triển sáng
tạo những tư tưởng của C.Mác, Ph.Ắng ghen về liên minh công - nông, trong
cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung và đặc biệt trong thời kỳ quá độ lén
<b>1. Lý luận của Lênin vể liên minh cơng nơng trí thức trong giai đoan </b>
<b>trưóc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga 1917.</b>
thuộc nói riêng phải gánh chịu bao tổn thất, đau thương do cuộc chiến tranh
<b>đó gây ra. Tình hình thế giới đó làm bùng nổ một phong trào đấu tranh ngày </b>
càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân, của nông dân và các dân tộc thuộc địa
chống giai cấp tư sản, địa chủ phong kiến và bọn thực dân đế quốc. Trung tâm
phong trào cách mạng thế giới có sự dịch chuyển từ nước Đức sang nước Nga.
Nước Nga sa hoàng bước vào con đường phát triển tư bản chủ nghĩa
muộn hơn các nước Châu Âu khác. Sự phát triển tư bản chủ nghĩa ở Nga làm
cho chế độ nồng nô sụp đổ, tuy nhiên giai cấp công nhân và nông dân vẫn
sống trong cảnh thống trị tàn bạo dưới chế độ Nga hồng, vì vậy quần chúng
<b>liên tục nổi dậy đấu tranh.</b>
Cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân, của các dân tộc thuộc địa và
phụ thuộc trên thế giới và ở nước Nga đòi hỏi khách quan các Đảng cách
mạng của giai cấp công nhân và các lãnh tụ của nố phải vận dụng, bảo vệ và
phát triển lý luận về liên minh công nơng và về vai trị của trí thức trong thời
đại mới. Chính Lênin, ngay từ những năm tháng đầu tiên tiếp thu và truyền bá
chủ nghĩa Mác vào nước Nga (cùng với các đại biểu cách mạng khác), đã tỏ ra
ngày càng xứng đáng là học trò xuất sắc của Mác trong việc bảo vệ và phát
triển chủ nghĩa Mác nói chung và lý luận về liên minh giai cấp của giai cấp vơ
sản nói riêng.
trong công nhãn đã thành lập được những tổ chức vung chắc có thể biến cuộc
chiến tranh kinh tế phân tán hiện nay của công nhân thành một cuộc đấu tranh
<b>giai cấp tự giác, thì lúc đó NGƯỜI CƠNG NHÂN NGA, đứng đầu tất cả các </b>
phẩn tử dân chủ sẽ đạp đổ được chế độ chuyên chế và đưa GIAI CÂP VÔ
SẢN NGA (sát cánh với giai cấp vô sản trong TÂT CẢ CÁC NƯỚC), thông
qua con đường trực tiếp đấu tranh chính trị công khai, tiến tới CÁCH MẠNG
CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA THẮNG LỢI” [63,385-386], Lênin đã khẳng định
rằng: “công nhân Nga là đại biểu duy nhất và tự nhiên của toàn thể nhân dân
lao động và bị áp bức bóc lột ở Nga” [63,383].
Cũng trong tác phẩm: “Những người “bạn dân” là g ì...”, Lênin đã đề
cập đến “tính chất giai cấp về giới trí thức” và phân tích sự phân hố của giới
trí thức thành: “các nhà tri thức xã hội chủ nghĩa..., đáp ứng nhữns đòi hỏi
của giai cấp vô sản” [63,380] và “nhũng phẩn tử tri thức” thoả mãn và an
tâm;... các phần tử tri thức tư sản” [63,377], Cuối cùng, Lênin đã kết luận:
“tất cả nhũng ai không muốn làm tay chân T ự NGUYỆN hay KHÔNG T ự
NGUYỆN cho giai cấp tư sản, đểu phải đứng về phía giai cấp vồ sản” fsđd,
tr.379].
tham dự chính quyền tối cao, thậm chí cũng chẳng có cơ hội để được tham dự
Về giai cấp vô sản, Lênin chỉ rõ: “Giai cấp tư sản không thể không thấy
rằng chế độ chuyên chế kìm hãm sự phát triển công nghiệp và xã hội, nhưng
nó lại sợ dân chủ hố hồn tồn chế độ chính trị xã hội, và lúc nào cũng có thể
liên minh với chế độ chuyên chế để chống lại giai cấp vô sản. Giai cấp tiểu tư
sản, do bản chất của nó, là một giai cấp có tính chất hai mặt: một mặt thì
hướng theo giai cấp vô sản và chủ nghĩa dân chủ, mặt khác thì hướng theo
những giai cấp phản động, tìm cách kìm hãm lịch sử lại, có thể bị chế độ
chuyên chế dùng làm vật thí nghiệm và bị chế độ đó mua chuộc (chảng hạn,
dưới hình thức cái “chính sách nhân dân” của A - lếch - xan - đrơ III), có thể
liên minh với những giai cấp thống trị để chống giai cấp vô sản, nhằm củng cố
cái địa vị người tiểu tư hữu của nó”. [64,564 - 565]. Cịn đối với nơng dán,
Lênin đã viết: “Công nhân cơng xưởng Nga cũng có liên hệ trực tiếp với dân
cư nông thôn (thường thường thì người cơng nhân cơng xưởng có gia dinh ở
nơng thơn) và do đó, cũng không thể không gần gũi với giai cấp vô sản nông
thôn, với hàng triệu công nhân nông nghiệp và những người làm công nhật
chuyên nghiệp, cũng như không thể không gần gũi với tầng lớp nông dân phá
sản đang bám lấy những mảnh đất cỏn con của họ và phải làm lao dịch và đủ
mọi thú “công việc làm thêm” gì mà họ có thể gặp, nghĩa là cũng phải lao
động làm thuê” [64,557 - 558].
<b>cách mạng và tinh thần đối lập đi để lấy đồng lương của nhà nước, hay để lấy </b>
một phần tiền lợi nhuận hay một phần tiền chia lãi cổ phần” [64,565],
Dưới chế độ chuyên chế, Lênin đã chỉ ra “sự liên minh của chế độ
chuyên chế với một số tầng lớp trong giai cấp tư sản và trong giới trí thức”
Theo Lênin, điều kiện quan trọng hàng đầu bảo đảm thắng lợi cho cuộc
đấu tranh chống chế độ chuyên chế và tiến tới chủ nghĩa xã hội của giai cấp
công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác là “phải do một đảng cách
mạng dựa vào phong trào công nhân mà tiến h à n h .. một đảng mà sức mạnh
của nó chính là do kết hợp cuộc đấu tranh xã hội chủ nghĩa với cuộc đấu tranh
dân chủ thành một cuộc đấu tranh giai cấp duy nhất, không thể phân chia, của
giai cấp vô s ả n . . [64,572 - 573].
Lênin đã đánh bại hãn ctìu ngma aan tuý cũng như bọn “Mác xít hợp pháp” về
mặt tư tưởng; xác minh về mặt kinh tế vai trò lịch sử của giai cấp công nhân là
lực lượng chính trị lãnh đạo xã hội; chứng minh vai trị của nơng dân là đổng
<b>minh của giai cấp vô sản.</b>
Khi phân tích sự phân hố của giai cấp công nhân ở Nga, Lênin đã chỉ
Phân tích sự tác động của sự phát triển của đại cơng nghiệp cơ khí của Nga
đến giai cấp công nhân, Lênin viết: “Đại công nghiệp cơ khí hồn thành triệt
để cuộc cải tạo này, tách hẳn công nghiệp ra khỏi nông nghiệp và tạo ra, như
chúng ta đã thấy, một giai cấp đạc biệt hồn tồn khơng quan hệ gì với nơng
dân cũ và phân biệt với nông dân cũ ở chỗ là họ có một lối sinh hoạt khác,
những quan hệ gia đình khác và nhu cầu cao cả về vật chất lẫn tinh thần” [65,
689].
mặt và vai trò hai mặt của giai cãp nông dân; vạch ra tính chất đối kháng giữa
những xu hướng tư hữu và xu hướng vô sản trong nội bộ nông dân, căn
<b>nguyên của những sự dao động của nông dân giữa giai cấp tư sản và giai cấp </b>
vô sản; chỉ ra những nguồn gốc sâu sắc của tinh thần cách mạng của nông dân
lao động và luận chứng sự cần thiết của liên minh công nông để đấu tranh
chống bọn địa chủ, chế độ Nga hoàng và giai cấp tư sản .
<b>[66,551 - 552]. Đó chính là sức mạnh to lớn đảm bảo cho thắng lợi của cuộc </b>
Một trong những điều kiện để giữ được vai trò lãnh đạo trong cách
mạng dân chủ và đẩy lên triệt là: giai cấp vô sản phải liên minh được với nơng
dân “Vì trên thực tế chỉ khi nào giai cấp tư sản rời bỏ cách mạng và quần
chúng nông dân, với tư cách là người làm cách mạng tích cực, càng hoạt động
bên cạnh giai cấp vô sản thì quy mơ cách mạng Nga mới thực sự phát triển”[
67,114]. Chỉ có sức mạnh của sự liên minh đó, giai cấp cơng nhân mới có cơ
sở để thực hiện cách mạng bằng con đường bạo lực vũ trang của nhân dân,
chứ không phải bằng hình thức cải lương, hồ bình chủ nghĩa. Và khi cách
mạng giành được chính quyền thì phải chuyển “qua tay nhân dân” tức công
nông sẽ xây dựng nên kiến trúc thượng tầng mới, nhà nước mới, đó là chính
quyền dân chủ cách mạng hay nhà nước dân chủ cách mạng công - nơng có
nhiệm vụ thực hiện mọi nội dung dân chủ, vì lợi ích dân chủ của nhân dân
[66,158-160]
hành động hẽt sức cương quyei nnam làm cho cách mạng dân chủ giành thắng
lợi quyết định đối với chế độ Nga hoàng. Mà thắng lợi quyết định ấy không
phải là cái gì khác hơn là chuyên chính dân chủ- cách mạng của giai cấp vô
sản và nồng dân” [67,96]. Lênin đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thẳng
lợi trong cách mạng dân chủ tư sản đối với cuộc đấu tranh của giai cấp vổ sản
cho chủ nghĩa xã hội. Ông chỉ rõ: “Cuộc khởi nghĩa của nông dân thành công,
<b>cuộc cách mạng dân chủ thắng lợi chỉ dọn đường cho một cuộc đấu tranh thực </b>
sự và kiên quyết cho chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở chế độ cộng hoà dân chủ”
<b>[67,163].</b>
sự lãnh aạo cua L»ang cãcii Iiiậũig và cộng hồ. Chính vì thế giai cấp tư sản
không thể tiến hành cách mạng dân chủ tới cùng được, cịn nơng dân thì có
<b>thể tiến hành cách mạng đến cùng được, và chúng ta cần hết sức giúp cho họ </b>
Lênin đã chỉ rõ, nhân dân- bộ phận “có khả năng làm đến cùng” ở các
cuộc cách mạng khác nhau thì khác nhau và ngay ở cùng một cuộc cách mạng
nhưng ở thời điểm khác nhau thì cũng khác nhau. Thời Mác, trong cách mạng
dân chủ, bộ phận này là “giai cấp công nhân và tư sản dân chủ” [ 67,160]; hiện
nay ở Nga, đó là “giai cấp vô sản và nồng dân”[ 67,53] trong ấy, vô sản là giai
cấp kiên định và lãnh đạo cách mạng. Lênin viết: “Thế là chỉ còn nhân dân”,
nghĩa là giai cấp vô sản và nơng dân: chỉ có một mình giai cấp vơ sản mới có
thể kiên quyết đi tới cùng, vì nó sẽ cịn đi xa hơn cách mạng dân chủ rất
nhiều. Bởi vậy giai cấp vô sản là kẻ đứng đầu trong cuộc đấu tranh cho chế độ
cộng ho à...”[ 6 7 , l l l ] , “Giai cấp tư sản ở Nga đứng trước cách mạng dân chủ
thì “nói chung đều tán thành cách mạng”, nhưng “không kiên định và vụ lợi,
chỉ nhận những khẩu hiệu tự do một cách không đầy đủ và giả nhân giả nghĩa
mà thôi” [67,147]. Và xét về lâu dài, toàn bộ tiến trình cách mạng thì “Đại bộ
phận giai cấp tư sản tất nhiên sẽ đứng về phe phản động, về phía chế độ
chuyên chế, chống lại cách mạng, chống lại nhân dân” [67,111]
Trước đây, trong cách mạng lư sản ở các nước như Anh, Pháp..., giai
cấp nông dân, “với tư cách là người làm cách mạng tích cực” [67,114] là
người bạn đổng minh “tự nhiên nhất” của giai cấp tư sản dân chủ. Nếu khơng
có họ thì giai cấp tư sản không thể chiến thắng phong kiến . Ngày nay, trong
cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới, giai cấp vồ sản phải lôi kéo được nôns
dàn, làm cho cách mạng triệt để, và chuyển biến lên chủ nghĩa xã hội.
cịn tínỉì Kiiỡng Kien UỊIU1 uurt nung u«n, người sản xuất nhỏ thì có thể giáo dục
<b>và khắc phục được [67,113].</b>
Từ sự phân tích xã hội dưới góc độ cơ cấu như vậy, mới có thể tạo điều
kiện để sắp xếp đúng các lực lượng trong các quá trình cách mạng dân chủ tư
Trong thời kỳ của cuộc cách mạng dân chủ, Lênin nhấn mạnh đến liên
minh công nồng đối với việc giành thắng lợi triệt để cho cuộc cách mạng đó
và tiến nhanh sang cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nhung hình thức liên
minh mới trong cách mạng xã hội chủ nghĩa thì ơng tạm thời gác lại. Ồng
viết: “Ngay từ bây giờ mà tính trước sự phối hợp lực lượng trong nội bộ nông
dân vào “ngày hôm sau” của cách mạng (dân chủ), thì là một ảo tưởng hão
huyền... Chúng ta sẽ dốc tồn ìực ra giúp đỡ toàn Ihể giai cấp nông dân làm
cách mạng dân chủ để cho chúng ta, đảng của giai cấp vô sản, càng được dễ
dàng hơn trong việc chuyển hết sức nhanh sang một nhiệm vụ mới và cao hơn
là cách mạng xã hội chủ nghĩa” [67,281].
lợi quyết định” [67,355 - 356], Đồng thời Lênin luôn luôn gắn chặt “thắng lợi
triệt để” của cách mạng dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người viết:
“Nhưng đồng thời, chúng tơi cũng nói với giai cấp vồ sản nông thôn rằng:
“Hiện giờ, các bạn phải hết sức giúp đỡ nông dân giành thấng lợi triệt để nhất,
nhưng thắng lợi đó khơng thể đưa các bạn thốt khỏi vịng nghèo khổ được.
Muốn đạt tới mục đích đó, chỉ có một cách: toàn thể giai cấp vô sản - công
nghiệp và nông nghiệp - chiến thắng toàn bộ giai cấp tư sản, xây dụng nên xã
hội xã hội chủ nghĩa”” [67,364], ở đây, một lần nữa, Lênin khẳng định tính
tất yếu, tầm quan trọng của liên minh công nông không chỉ trong việc đưa
cách mạng dân chủ đến thắng lợi triệt để mà còn trong việc tạo ra điều kiện đê
Điều mà Lênin rất quan tâm là vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân
chủ. Trong tác phẩm: “Cương lĩnh ruộng đất của Đảng xã hội - dân chủ trong
cuộc cách mạng Nga lẩn thứ nhất 1905 - 1907”, Lênin cho rằng, việc quốc
hữu hoá ruộng đất chỉ có thể thực hiện được khi cách mạng thắng lợi, sau khi
đã lật đổ chế độ Nga hồng. Nó sẽ giảm nhẹ bước chuyển qua cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Vì vậy, Ông khẳng định: “Kinh nghiệm của giai đoạn đầu của
cách mạng Nga đã dứt khốt chứng minh ràng nó chỉ có thể thắng lợi với tư
cách là cuộc cách mạng ruộng đất của nông dân, và cuộc cách mạng này
khơng thể hồn thành triệt để sứ mạng lịch sử của nó nếu khơng quốc hữu hoá
ruộng đất”. [68,519].
Trong Tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, Lênin đã dề cập đến một số
khía cạnh khác nhau của liên minh công nơng có liên quan tới việc thiết lập và
thực hiện chun chính vơ sản.
giai cấp”, đến chế độ cộng sán chu nghĩa, chỉ những người đó mới thấm nhuần
được thực chất của học thuyết của Mác về nhà nước”[ 70,44]
Giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của giai
cấp, thơng qua đường lối chính trị, chiến ỉược, sách lược đấu tranh cách mạng
' và bằng chính cả tính gưong mẫu mọi mặt của từng đảng viên. Cho nên, Lênin
mới mệnh danh cho Đảng vô sản là: người thầy, người dẫn đường, người lãnh
đạo của nhân dân lao động [70,33]. Lênin khẳng định rằng, “chỉ có giai cấp
vơ sản, giai cấp đặc biệt mới lật đổ được sự thống trị của giai cấp tư sản;
những điều kiện sinh hoạt kinh tế của giai cấp vô sản chuẩn bị cho nó tiến
hành việc lật đổ ấy, và làm cho nó có khẳ năng và lực lượng để thực hiện việc
lật đổ ấy. Trong khi giai cấp tư sản chia rẽ, phân tán nông dân và mọi tầng lớp
<b>chính quyẽn nhà nưởc"[ /u,ooj; rna vỡ bộ máy ấy, đập tan nó đi, đó là lợi </b>
ích thật sự của “nhân dân”, của đa số nhân dân, của công nhân và của đa số
nông dân, đó là “điều kiện tiên quyết” cho sự liên minh tự do giữa nông dân
nghèo và vô sản; nếu không có sự liên minh ấy thì khơng thể có dân chủ vững
bền, khơng thể có cải tạo xã hội chủ nghĩa được” [70,49].
<b>2. Lý luận của Lênin về liên minh cơng nơng trí thức trong giai đoạn sau </b>
<b>cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga 1917.</b>
Khi nói đến nhiệm vụ quan trọng của công nông trong thời kỳ quá độ
lên CNXH trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xơ -
viết”, Lênin viết: “Trái lại, nhiệm vụ chủ yếu mà giai cấp vô sản và nông dân
nghèo do giai cấp vô sản lãnh đạo, phải hoàn thành trong bất cứ cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa nào và, do đó, phải hồn thành cả trong cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã bắt đầu tiến hành ở Nga, ngày 25
tháng mười 1917- nhiệm vụ chủ yếu đó là một cơng tác tích cực hay là sáng
tạo nhằm thiết lập một mạng lưới các quan hệ tổ chức mới, một mạng lưới cực
kỳ phức tạp và tinh tế, bao hàm sản xuất và phân phối một cách có kế hoạch
các sản phẩm cần thiết cho đời sống của hàng triệt nguừi” [71,207 Ị
Như vậy, nhiệm vụ tổ chức quản lý đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội là do giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện, nó
được bắt đẩu ngay sau khi giành chính quyền, và với những nội dung hết sức
phong phú. Đó là “nhiệm vụ chủ yếu và trung tâm ” của thời kỳ quá độ
[71,209].
động hàng ngày. Đó là nhiệm vụ khó khăn nhất, nhưng cao cả nhất, vì chỉ có
hồn thành nhiệm vụ đó, chúng ta mới thiết lập được chế độ xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta phải học tập kết hợp tinh thần dân chủ sôi sục, tràn trề, tựa như nước
lũ mùa xuân, của quần chúng lao động trong các cuộc mít tinh với một kỷ luật
sắt trong lao động, với sự phục tùng tuyệt đối trong lao động với ý chí của một
người duy nhất, của nhà lãnh đạo xô -viết” [ 71,248-249], Nhưng sự nghiệp đó
chỉ có thể giành được thắng lợi nếu như nó thu hút được sự tham gia của tồn
dân, của cơng nhân, nơng dân, trí thức...
V.I. Lênin nhắc đến đại công nghiệp tức là phải nhắc đến vai trò của
giai cấp công nhân đối với việc nâng cao năng suất lao động (Phải phát triển
ngành sản xuất nhiên liệu và kim khí, máy móc, cơng nghiệp hố chất), trình
độ học vấn và văn hoá của quần chúng nhân dân, tinh thần kỷ luật lao động
của ỉao động, kỹ năng lao động, cường độ lao động, tổ chức lao động tốt hơn,
chế độ trả lương theo sản phẩm và tiền thưởng... [71,229-232].
Đổng thời, Lênin nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt quan trọng của các
nhà khoa học, các chuyên gia kỹ thuật đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Người viết: “Khồng có sự chỉ đạo của các chuycn gia am hiểu khoa
học kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì khơng thể nào chuyổn lên chủ nghĩa xã
hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất
quần chúng để đi tới một năng suất lao động cao hon năng suất của chủ nghĩa
tư bản dựa trên cơ sở những kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được”
[71,217],
<b>không tne noi ueii CI</b>1<b>U Iigiua </b><i>\ *</i> 11<b>Ụ</b>1<b> được... Đồng thời nếu không có sự thống </b>
trị của giai cấp vơ sản trong nhà nước thì cũng khơng thể nói đến chủ nghĩa xã
hội được” [71,368].
Về tầm quan trọng của việc nâng cao tri thức của nhân dân lao động nói
chung và của GCCN nói riêng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Lênin viết: "Việc nâng cao năng suất lao động trước hết đùi hỏi phải có cơ sở
vật chất của nền đại công nghiệp... Một điều kiện khác để nâng cao năng suất
lao động, trước hết là việc nâng cao trình độ học vấn và văn hóa của quần
chúng nhân dân" [71, 229], Người còn nhấn mạnh đến việc giai cấp công nhân
phải học tập tri thức của chuyên gia tư sản. Người nói: "Bản thân công nhân và
nông dân chúng ta mà càng nhanh chóng học tập được cách tạo ra kỷ luật lao
động tốt hơn và kỹ thuật lao động cao, bằng cách sử dụng các chuyên gia tư
sản để học lấy môn khoa học ấy thì chúng ta sẽ càng sớm thoát khỏi "khoản
tiền cống" cho các chuyên gia đó" [71,221],
Lênin yêu cầu Cương lĩnh Đảng Cộng sản lúc này phải đặc biệt chú ý
phân tích lực lượng các giai cấp trong xã hội và cho rằng con đườns đi của
chúng ta, trước hết là do sự tính toán về các lực lượng giai cấp trono xã hội.
Nước Nga sau cách mạng Tháng Mười đang có nhiều thành phần, Lênin đã
nêu và nhận định về các thành phần giai cấp đó một cách rất chi tiết.
Về giai cấp tư sản (thành thị): Giai cấp này đang phục hổi sau chiến
tranh, sau Cách mạng Tháng Mười, vì họ còn những điều kiện kinh tế - xã hội,
mà cơ sở của nó ỉà nền sản xuất hàng hóa tiểu nơng và chủ nghĩa tư bản quốc
tế (và trên phạm vi quốc tế, tiền của... họ mạnh hơn chúng ta hiện nay). Cán
phải thấy thực chất của dân chủ tư sản: nó chỉ hạn chế ở việc cồng bố những
quyền có tính chất hình thức được áp dụng đồng đều với mọi công dân (quyền
hội họp, ỉập hội, đi lại, cư trú v.v...). Nhưng vấn đề phổ biến lại là ờ chỗ, trên
Về giai cấp vô sản (thành thị): Nó có vai trò lãnh đạo xã hội Nga hiện
nay (được nhân dân và hiến pháp ghi nhận, bảo vệ...), đang bước đáu xây dựng
chính quyền Xơ viết. Đảng phải thấy thực chất của dân chủ vô sản (hay dân
chủ xô viết) là dân chủ không giả dối với toàn dân; quyền dân chủ, tự do trước
hết và nhiều nhất cho những giai cấp, tầng lớp vốn đã bị chủ nghĩa tư bản áp
bức bóc lột: Đó là giai cấp vơ sản, nông dân và mọi người lao động. Chế độ
dân chủ tước đoạt của giai cấp tư sản, đcm lại cho đa số người lao động. Vì
vậy Đảng Cộng sản, Nhà nước vô sản có nhiệm vụ ngày càng lói cuốn đơng
đảo hơn những người lao động vào việc xây dựng chính quyển thực hiện trên
ihực tế mọi quyền tự do dân chủ cho nhân dân. nhât là mở rộng những khả
năng vật chất để thực hiện các quyển đó.
nên nhiếu Kni aann Dọn cu - lãc" lại đánh cả vào trung nồng. Trung nông là
người sản xuất hàng hóa nhỏ - lực lượng đông đảo ở Nga, nhưng hiện nav đã
kiệt sức vì chiến tranh, vì "chính sách cộng sản thời chiến”. Họ cũng là người
do dự, dễ dao động như "ngồi giữa hai ghế" (vô sản và tư sản), không đủ bản
lĩnh, không đủ khả năng tự bảo vệ mình. Họ chỉ tin chủ nghĩa xã hội khi chắc
chắn khơng cịn con đường nào khác hơn - khi giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư
bản bị đánh bại hồn tồn. Họ có "hai mặt": tư hữu và lao động. Vì vậy "đối
xử" với nông dân sao cho đúng khi "qui thành phần" họ..., phải biết phân biệt
lịch sử kinh tế của họ, do đó chúng ta phải có năng lực thực tiễn mới làm được
đúng.
Về giai cấp địa chủ - cu lắc: Họ còn tiềm lực kinh tế ở Nga; họ phản
động về chính trị, hoạt động phục thù. Họ chờ và tạo điều kiện cho chủ nghĩa
tư bản, chủ nghĩa đế quốc có thể tiêu diệt chính quyền xơ viết.
Từ những sự phân tích cơ cấu giai cấp - xã hội nêu trên, Lênin đề cập và
phê phán một số quan điểm sai, mơ hổ, lừa bịp... về "dãn chủ nói chung", về
"chuyên chính của dân chủ".
Lênin chỉ rõ: cần nhận thấy, trên thực tế đang có sự đối lập giữa chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; dân chủ vơ sản và chun chính tư sản. Ai
không đọc và không nhận thấy rõ nhũn2 lư tưởng ẩy trong chủ nghĩa Mác, mà
cho đến nay vẫn hiển hiện trên thực tế, thì người đó khơng phải là người Mác
xít, khơng phải là người xã hội chủ nghĩa, Rằnơ, giai cấp thống trị không bao
giờ tự nhường chính quyền cho giai cấp bị thống trị. Vì thế, trong chun
chính vơ sản, chúng ta khôns thừa nhận bình đảng với giai cấp tư sản; vì
khơng thể có cái đó giữa bọn bóc lột và nhũng người bị bóc lột. Cịn cơng
nhân và nông dân, phải từng bước thực hiện bình đẳng với nhau. (Chính vì
kinh tế, văn hóa cịn thấp mà cịn những bất bình đẳng...).
ngay từ đầu, vì mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà "vứt đi" tất cả để thê hiện lập
iníờng mác - xít triệt để khơng?). Ngay sự dao động trong Đảng trước hịa ước
Brét, thì đến nay cũng là một bài học trong các thái độ đối với dân chủ tư sản,
trung nông, kinh tế tư bản tư nhân... Lênin nêu cụ thể về thái độ, chính sách,
cùa Đảng Cộng sản đối với trung nông. Trước đây chủ trương "trung lập hóa
trung nơng" thì trong thời kỳ quá độ lèn chủ nghĩa xã hội phải là "liên minh
vững chắc với trung nông" (và nơng dân lao động nói chung), với những quy
tắc, phương châm, nhiệm vụ, hình thức rất tỉ mỉ. Đảng Cộng sản phải đem lại
dân chủ thực sự cho họ, chỉ như vậy nông dân mới đi theo và tin ở Đảng, ở
giai cấp công nhân, ở chủ nghĩa xã hội. Lênin đã viết: “ở đây, những người xã
hội chủ nghĩa, những đại biểu ưu tú của chủ nghĩa xã hội xưa kia, - khi họ vẫn
còn tin tưởng vào cách mạng và phục vụ cách mạng về mặt lý luận và tư
tưởng, - đã từng nói đến việc trung lập hố nơng dân, nghĩa là biến truns nông
thành một tầng lớp xã hội nếu khơng tích cựu giúp đỡ cách mạng vô sản thì
chí ít cũng khơng làm cản trở cách mạng vô sản, cũng giữ thái độ Irung lập và
Tnrớc hết, hiện nay phải "đặc biệt chú ý gấp hai, gấp ba lần vấn đề
rung nông" (so với trước đây). Từ lý luận chung về liên minh, cần cụ thể hóa
rất nhiều vấn đề. Bởi vì trên thực tế thì trung nơng và nông dân Nga sau Cách
mạng Tháng Mười và sau chiến tranh đã kiệt sức, dao động, đang bị bọn Bạch
vệ và phản động "bao bọc". Không những ta phải có thái độ nhân nhượng
trung nơng mà cịn phải đem lại cho họ những quyền lợi cụ thể, trực tiếp dù là
nhỏ bé nhất. Vấn đề trung nông hiện nay, Cương lĩnh của Đảng Cộng sản phải
đặt lên hàng đầu. Giai cấp công nhân đã khó khăn, nhưng giai cấp có "bản
chất hai mặt" này càng khó và phức tạp hơn. Hơn nữa, trung nơng vốn có gốc
rễ kinh tế hàng hóa lâu đời, họ sẽ có thể đứng vững lâu dài trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng nông dân vốn thành kiến cũ với công nghiệD
(họ sợ đưa máy móc vào, họ sẽ thất nghiệp và trở thành "cố nơng"!). Vì vậy,
cơng tác nông thôn, nhất là với trung nông, phải là một công tác lâu dài.
v ề vấn đề liên minh công nông, hợp tác xã và quản lý nhà nước ở nống
thôn, Lênin chỉ rõ: Nhà nước và giai cấp công nhân thành thị phải giúp đỡ
nông dân, bởi vì chúng ta cũng đã có kinh nghiệm thực tiễn bước đầu chiến
Trung nông, nông dân chỉ "về với chúng ta" khi chúng ta cải thiện được
điều kiện kinh tế và sinh hoạt của họ trên thực tế hàng ngày và họ sẽ tán thành
chủ nghĩa xã hội. Vả lại, chính nơng dân rất cần đến công nghiệp, thành thị,
công nhân... Nhưng họ không tán thành khi chỉ thấy những "mệnh lệnh từ trên
dội xuống". Nghị quyết, Cương lĩnh Đại hội phải làm được nhũng điều mà
chúng ta và nông dân trơng đợi thì sẽ có chủ nghĩa xã hội.
Lênin chỉ rõ: chúng ta đã vốn có các hợp tác xã tư sản cũ, phải tranh thủ
cái cũ đó, khơng phá bỏ nó, nhưng loại giai cấp tư sản ra khỏi địa vị chủ đạo
các hợp tác xã đó. Phải duy trì, phát triển các hợp tác xã - bộ máy duy nhất có
giá trị ở nơng thôn mà chủ nghĩa tư bản để lại; cùng với việc xây dựng hợp tác
xã mới. Trong quá trình hợp tác hóa phải "lơi kéo trung nông", cải tạo họ:
“khổng có gì nguy hại hơn là dùng bạo lực với trung nông” [ 72, 242], Phải
chứng tỏ trên thực tế cho nông dân thấy: hợp tác xã là tốt hơn cả để chiếm
lòng tin của nông dân.
triển V.V., phải được sự giúp đỡ rộng rãi của nhà nước về mặt tài chính cũng
như về mặt tổ chức” [72, 253]
Lênin nhấn mạnh rằng, chúng ta còn Dhải về nồng thôn, làm học trò của
nồng dân về nhiều mật. Phải thể nghiệm thực tiễn hợp tác xã nhiều lần để tìm
Đồng thời Lênin cũng chỉ rõ sự cần thiết phải sửa chữa những sai lẩm,
hạn chế của chúng ta VC thực hiện liên minh công- nông. Người viết: ‘uĐường
lối của chúng ta chưa hướng đầy đủ vào sự hợp tác, liên minh và thoả thuận
với trung nơng, đường lối đó chúng ta có thế và phải sửa chữa và uốn nấn”
[72, 175], Đặc biệt Lênin nhấn mạnh đến việc phải quan tâm lợi ích trực tiếp
của trung nông. Người viết: “trong đại hội này, chúng ta không những phải
nhấn mạnh về thái độ nhân nhượng của chúng ta đối với trung nông, mà còn
phải nghĩ đến nhiều biện pháp càng cụ thể càng tốt khả dĩ đcm lại cho trung
nông những quyền lợi trực tiếp, dù là nhỏ bé nhất, Đó là những biện pháp mà
bản năng tự vệ và những lợi ích của cuộc đấu tranh chống tất cá những kẻ thù
của chúng ta, đòi hỏi phải làm một cách bức thiết, vì nhữn<z kc ihù ấy biết
rằng trung nông đang lưỡng lự giữa chúng ta và bọn chúng, và chúng đang ra
sức làm cho trung nông xa rời chúng ta” [72, 196].
Nhà nước mới (chính quyền xơ viết) phải xóa bỏ nhữns cơ cấu, tàn tích
nhà nước cũ ở nông thôn, tịch thu của bọn bóc lột. Nhà nước Xô viết phải
chống quan liêu, tham nhũng, "hà lạm, ức hiếp" nông dân. Phải sửa chữa
những sai sót trước nịne dân... thì cơng tác nơns thơn, cơng việc nhà nưóc ờ
nơng thơn mới có kết quả tốt, mới được nòng dân tin cậy và úna hộ.
nớc, giai cấp cơng nhân dùng nó để tước đoạt kẻ đi tước đọat, nắm lấy tư liệu
ìn xuất và sử dụng những tư liệu sản xuất ấy phát triển lực lượng sản xuất đã
irợc xã hội hóa; dùng nhà nước chun chính vơ sản để trấn áp sự phản
jiáng của các giai cấp bóc lột: tư sản và địa chủ; lãnh đạo các tầng lớp trung
Về nông dân và các tầng lớp tiểu tư sản khác, trong tác phẩm này,
Lênin đã chỉ ra rằng, trong thời đại chuyên chính vô sản nông dân và mọi tầng
lớp tiểu tư sản là những tầng lớp trung gian, Họ là tầng ỉớp nhữnơ người lao
động rất đông đảo trong hoàn cảnh lịch sử của một nước Nga chậm tiến; đồng
thời họ lại là những người tư hữu nhị (những tiểu nơng buổn bán lúa mì,
những tiểu chủ, tiểu thương...) Địa vị kinh tế - xã hội trung gian ấy luôn làm
cho họ dao động, bấp bênh, ngả nghiêng, giũa giai cấp cồng nhân và giai cấp
tư sản. Đặc biệt là nông dân, cũng như Mác đã từng phân tích trong tác phẩm
"Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850", Lênin chỉ rõ họ có nhiều thói quen
thủ cựu khơng dễ dàng thay đổi được. Chun chính vơ sản cần thiết để lãnh
đạo tầng lớp tiểu tư sản, làm triệt tiêu tính bấp bênh, dao động của họ.
Lênin chỉ ra rằng mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là xóa bỏ giai cấp. Đế
đi tới mục tiêu ấy, trước hết phải đánh đổ các giai cấp bóc lột tư sản và địa
chủ. Đây ỉà một nhiệm vụ khó nhung chưa phải là nhiệm vụ khó nhái. Muốn
xóa bỏ giai cấp thì phải thực hiện nhiệm vụ thứ hai, và là nhiệm vụ võ cùng
khó khăn hơn. Đó là xóa bị sự khác biệt giữa công nhân và nông dán. làm cho
tất cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp trở thành người lao động.
<b>cải tiến lại toàn bộ kỹ thuật canh tác. Lênin cũng cảnh báo rằng mọi sự thiếu </b>
thận trọng nơn nóng, hấp tấp dùng các biện pháp hành chính đều chỉ có thể
kéo dài hơn trong thời kỳ quá độ với những khó khăn tăng lên mà thôi.
Lênin cũng chỉ ra ràng, những người cộng sản phải phân định rõ: người
Những sự phân định mà Lênin yêu cầu sẽ giúp cho Đảng cộng sản có
được đường lối, biện pháp đúng đắn và cụ thể trong quá trình xây dựng khối
liên minh công nông. Đặc biệt Lênin đã chỉ đạo rất cụ thể về thúi độ của Đảng
đối với trung nông. Người viết: “Đại hội nhắc lại rằng các nghị quyết của
Đảng, cũng như các sắc lệnh của chính quyển Xơ viết chưa hề đi chệch đường
lối liên hiệp với trung nông. Chẳng hạn, trong vấn đề tối quan trọng là vấn đề
xây dựng chính quyền Xồ Viết ở nông thôn, lúc thành lập uỷ ban các nông
dân nghèo, đã công bố một thơng tri có chữ ký của chủ tịch Hội đồng bộ
trưởng dân uỷ và của Bộ trưởng Bộ dân uỷ lương thực, nhấn mạnh rằng cần
phải đưa cả đại biểu trung nông vào các uỷ ban nông dân nghèo. Sau khi giải
tán các uỷ ban nông dân nghèo, Đại hội các Xô Viết toàn Nga lại nhấn mạnh
Irở lại rằng cần phải đưa các đại biểu trung nông vào các Xô viết tổng. Chính
sách của chính phủ công nông và của Đảng cộng sản sau này cũng vẫn phải
được tiến hành theo tinh thần liên hiệp đó giữa giai cấp vơ sản và bần nông với
trung nông”[72, 253-254].
cho những tư tưởng Mác xít về mối quan hệ biện chứng giữa chun chính vơ
sản với liên minh giai cấp của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dán lao
động khác mà trong đó nơng dân và trí thức. Trong: “Lời tựa viết cho lần xuất
bản bài diễn văn “Người ta lừa bịp nhân dân bằng những khẩu hiệu tự do và
bình đẳng””, Lênin viết: “Chuyên chính vơ sản là một hình thức đặc biệt của
V.I. LêniTi aạc Diẹi ĩman mann aen Lầm quan trọng của việc xâv dựng
liên minh giữa giai cấp vô sản với trí thức cách mạng trong công cuộc xây
/ng chủ nghĩa xã hội. Trong “Diễn văn tại Đại hội II toàn Nga của cán bộ
'ành y tế về vệ sinh ngày 1 tháng 3 năm 1920”, Người chỉ rõ: "Trước sự liên
inh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật, không một
lếlực đen tối nào đứng vững được" [74,218].
Nước Nga sau nội chiến, trước tình hình rất khó khăn, Lênin cùng
)ảng Cộng sản (b) Nga quyết định phải có chủ trương lớn về nhiều mặt để ổn
lịnh và chuyển biến căn bản tình hình của đất nước: chuẩn bị các văn kiện
)ại hội X của Đảng - định rõ đường lối cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong đường lối đó, vấn đề nơng dân, liên minh công - nông và việc áp dụng
;hính sách kinh tế mới (NEP) là nổi bật. Theo Lênin, để nông dãn an tâm,
phấn khởi sản xuất nông nghiệp, cần thay đối việc trưng thu lương thực thừa
(trong "chính sách cộng sản thời chiến") bằng thuế lương thực (trong "chính
sách kinh tế mới"). Để làm rõ đường lối đó, Lênin viết tác phẩm "Bàn về thuế
ỉương thực" năm 1921. Những quan niệm mới của Lcnin về thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội và vai trò của liên minh công nông trong thời kỳ dó dược
trình bày rất công phu trong tác phẩm này.
Trong thời kỳ quá độ và trong xã hội chủ nghĩa có sự thống trị về chính
trị, sự lãnh đạo chính trị của giai cấp vô sản (giai cấp công nhân) đối với tồn
xã hội, chính quyền là của giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Để củng cố
gia tư sản tài giỏi về quản lý kinh tế; phải "trả học phí" một cách thỏa đáng...
mới có thể xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa lớn mạnh được.
Từ một nước tiểu nông đi tới chủ nghĩa tư bản nhà nước và đi tới chủ
nghĩa xã hội đều phải qua một cái cầu nối là "kiểm kê, kiểm sốt" của tồn
dân về sản xuất và phân phối sản phẩm. Nhưng để thưc hiện được điều đó,
theo Lênin, Đảng của giai cấp vô sản phải giữ vũng vai trò lãnh đạo, Trong khi
lãnh đạo phải xác định rõ: Chúng ta là Đảng tiên phong - một bộ phận của giai
<i>cấp vô sản. Mà giai cấp vô sản lại chỉ là một bộ phận nhỏ của xã hội với da số </i>
là nông dân tiểu nông, trung nông. Sau xác định rõ như vậy thì Đảng lãnh đạo
phải biết hướng những quyết định, những chính sách vào những vấn đề cấp
bách nhất, mấu chốt nhất của đất nước hiện nay.
Lênin nhấn mạnh rằng chỉ khi nào có cơ sở vé lương thưc và nhiên liệu
đầy đủ, cơng nghiệp hóa (trước hết là kế hoạch điện khí hóa tồn quốc) hồn
thành, khi đó mới có căn cứ vững chắc để tin ràng, xã hội xã hội chủ nghĩa đã
được xây dựng. Đó cịn là một q trình tương đối lâu dài và phức tạp.
Trong tình hình nước Nga lúc đó, Lênin đã khẳng định, chỉ có chấm
dứt"chính sách cộng sản thời chiến", áp dụne "chính sách kinh tố mới" (NEP)
là phù hợp với tình hình giai đoạn mới. Trong chính sách kinh tế mới, Lcnin
đã đề cập nhũng nội dung chủ yếu đối với nông dân là: thay việc trưng thu
lương thực thừa của nông dân bằng thuế lương thực; sau khi nộp đú thuế lương
thực, nông dân được "tự do" bán lương thực thừa (trong phạm vi địa phương);
thực hiện việc trao đổi sản phẩm công nghiệp lấy lương thực thừa của nông
dân; từng bước cải tạo nông dân, hướns họ vào con đường chủ nghĩa xã hội
nhà nước.
<b>“1. Kinh tế nông dân, kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính </b>
chất tự nhiên;
2.sản xuất hàng hố nhỏ(trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa
<b>mì);</b>
3. Chủ nghĩa tư bản tư nhân;
4. Chủ nghĩa tư bản nhà nước;
5. Chủ nghĩa xã hội”
Trong đó, sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế tư nhân tư
bản chủ nghĩa, cá thể... Ià khách quan. Nếu có nền chun chính vơ sản vững
vàng thì khơng hề lo lắng về điều đó, trái lại, phải sử dụng, cải tạo các thành
phần kinh tế ấy bằng những hình thức và bước đi phù hợp, có hiệu quả, nhất là
hướng vào hình thức "chủ nghĩa tư bản nhà nước". Kinh tế xã hội chủ nghĩa
mới hình thành, sẽ chỉ đạo đối với các thành phần kinh tế khác theo chủ nghĩa
xã hội và nhiệm vụ đó là rất phức tạp, lâu dài. Phải phát huy tính chủ động
sáng tạo của quẩn chúng và đặc biệt chú ý động lực lợi ích thiết thân hàng
ngày, nhất là khi thực hiện liên minh công nông... trong thòi kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Liên minh công nông được Lê-nin xem như một trong
những điều kiện quan trọng đẻ thực hiện thắng lợi chính sách kinh tế mới
(NEP) trong bối cảnh nước Nga vẫn chưa hồn thốt ra khỏi tình trạng bị bao
vây của các thế lực đế quốc bên ngoài và phản động trong nước. Đó chính là
cơ sở xã hội giai cấp vững chắc cho việc củng cố và phát huy vai trò lãnh đạo
của Đảng cộng sản(b) và sức mạnh của nhà nước chuvên chính vơ sản.
cồng nhân, tăng cường được liên minh cồng nông, củng cố được chun chính
vơ sản” [75, 263]. Cũng theo tư tưởng của Lênin thì, các hợp tác xã cũng là
hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước nhưng “Chủ nghĩa tư bản hợp tác xã
Từ thực tiễn xây dụng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga sau nội chiến,
Lênin đã đưa ra chính sách kinh tế mới với tư tưởng cơ bản là phát triển sản
xuất hàng hố và thơng qua chủ nghĩa tư bản nhà nước. Liên minh của công
nhân với nông dân sau khi giành được chính quyén, cần tập trung vào giải
quyết vấn đề kinh tế mà nội dung cốt lõi của nó là phát triển sán xuất hàng
hoá, tăng cường trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp. Lênin viết: “Do dó
trước hết cần phải cải thiện đời sống của nống dân. Biện pháp là: Thuc' lương
thực, phát triển sự trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp, phát triển tiểu
công nghiộp.
Trao đổi tức là tự do buôn bán, tức là chủ nghĩa tư bản. Nó có lợi cho
chúng ta trong chừng mực nó giúp chúng ta chống lại tình trạng phàn tán của
những người sản xuất nhỏ và phần nào chống lại cả bệnh quan liêu nữa. Mức
độ nào thì kinh nghiệm và thực tiễn sẽ quy định, ở đây khơng có gì nguy
hiểm đối với chính quvền vô sản cả, chừng nào mà giai cấp vô sán cịn nấm
chính quyền trons tay, chừng nào mà siai cấp vơ sản cịn nắm vững ngành vận
tải và đại công nghiệp” [75,294-295].
phương, nhăm khuyên khích sự thayđổi giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Phai nghiên cứu kinh nghiệm thực tê về mật ấy, Làm cho kinh nghiêm ấy trở
thành hết sức muôn màu muôn vẻ [75,295],
Một trong nhũng điều kiện để thực hiện được điều đó, theo Lênin là:
'giúp đỡ tiêu công nghiệp là ngành đang phục vụ nền kinh tế nông dân và
giúp cho nên kinh tê đó phục hổi. Nhà nước cũng phải giúp tiểu công nghiệp
đén một mức nào đó bằng cách cung cấp nguyên liệu cho nó. Tội ác lớn nhất
là để các nguyên liệu không được dùng đến" [75,295],
Để xây dựng và quản lý được xã hội xã hội chủ nghĩa, Lênin đặc biệt
nhấn mạnh đên mối quan hệ giữa công nhân, giữa Đảng Cộng sản với tầng lớp
trí thức. Ông viết rằng: "chúng ta đang học cách làm thế (dưới một hình thức
đặc biệt) đối với các kỹ sư, các giáo viên, tuy ràng chúng ta làm việc này còn
rất kém so với làm trong Hổng quân" [75,293]. Tư tưởng của Lcnin ở dây là
nhấn mạnh đên vai trị của trí thức và thái độ của Đảng Cộng sản, của giai cấp
công nhân đối với họ trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
và nông dân sẽ cung cấp lại lúa mì. Đó là hình thức tồn tại duy nhất có thể
được của xã hội xã hội chủ nghĩa, là hình thức duy nhất để xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong một nước mà tiểu nông chiếm đa số hay ít ra cũns là một
thiểu số rất đáng kể. Nông dân sẽ nộp một phần sản phẩm dưới hình thức thuế,
cịn một phần khác thì sẽ đổi lấy sản phẩm của công xưởng xã hội chủ nghĩa,
hoặc thông qua trao đổi hàng hố" [76,57],
Có thể khẳng định ràng những tư tưởng đó của Lênin đã đặt cơ sở cho
việc nhận thức và tổ chức xây dựng khối liên minh cơng nơng trí thức phải gắn
liền với việc nhận thức và tổ chức xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa và nền văn hoá - khoa học xã hội chủ nghĩa.
Khi phân tích chính sách kinh tế mới, trong bức thư gửi V.M. Mô-lô-
tốp, V.I Lênin đã nhấn mạnh: "Về mặt kinh tế và chính trị, chính sách kinh tế
mới hoàn toàn đảm bảo cho chúng có khả năng xây dựng được nền móng cho
Trong tác phẩm: “Bàn về chế độ hợp tác xã” của V.I. Lênin, Ông đã đề
cập đến vai trò, ý nghĩa nguyên tắc và những hình Ihức hựp tác xã ở nông thổn
nước Nga lúc đó trong mối quan hệ với việc nhận thức và xây dụng khối liên
minh cồng nhân, nông dàn trí thức.
Theo Lênin, trong "Chính sách kinh tê mới", thì chế độ hợp tác xã có
vai trị quan trọng đặc biệt. Lênin gắn việc xác định vai trò đặc biệl của hợp
tác xã với vicc phải hiểu ý nshĩa của vân đổ đó mà một trong những ý nghĩa
đó là tăng cường được liên minh công nhân, nông dân.
thì việc đề xuất vấn đề hợp tác xã sẽ chỉ là ảo tưởng, kì quặc, lãng mạn, tầm
thường như các nhà không tưởng trước đây. [77,427],
Trong tác phẩm này, Lênin phân tích và khẳng định một lần nữa tính
chất xã hội chủ nghĩa của hợp tác xã ở nước Nga lúc đó. Lênin cho ràng,
"chính quyên nhà nước chi phối những tư liệu sản xuất chủ yếu, giai câp vô
sản nắm chính quyền, giai cấp vơ sản đó liên minh với hàng triệu tiểu nông và
tiểu tiểu nông, giai câp vổ sản nắm vững quyền lãnh đạo nông dân,.v.v.., -
phải chăng đó khơng phải là tất cả những điều cần thiết để có thể xây dựng từ
chế độ hợp tác xã, và chỉ riêng từ chế độ hợp tác xã mà trước đây chúng ta
khinh nghiệt nó vì coi là có tính chất con bn, và giờ đây dưới chính sách
kinh tế mới, về một vài mặt nào đó, chúng ta vẫn có quyền coi như thế, - phải
chăng đó không phải là tất cả những điều cần thiết để xây dựng một xã hội xã
hội chủ nghĩa toàn vẹn hay sao? Đó chưa phải là xây dựng xã hội xã hội chủ
nghĩa nhung đó là tất cả những cái cần thiết và đầy đủ để tiến hành công việc
Lênin cho rằng, chế độ họp tác xã phải dược xây dựng trcn cơ sở của
nguyên tắc là các tư liệu sản xuất chủ yếu đã do Nhà nước nắm. Đổng thời,
ông coi đây là: "bước quá độ sang một chế độ mới" bằng con đưừntĩ giản đơn
nhất, dễ dàng nhất, dỗ tiếp thu nhất đối với nông dân" [77,422].Trcn cơ sở đó,
nơng dân mới tự gáic tham gia hợp tác xã và qua đó mà tănc cường củng cố
ỉiên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.
chung, Nhà nước kiểm soát được những lợi ích ấy, làm cho lợi ích tư nhân
được đảm bảo khi nó phục tùng lợi ích chung của xã hội mới [Xem: 77,422 -
423].
Khi nói về sự giúp đỡ của nhà nước xã hội chú nghĩa đôi với hợp tác xã,
Lênin đã nêu ra những chỉ dẫn cụ thể như: "Nhà nước cần bỏ ra cho hợp tác xã
vay một số vốn cao hơn dù chỉ đôi chút so với số vốn cho xí nghiệp tư nhãn
vay, thậm trí nâng số vốn ây lên ngang với sô vốn cho công nghiệp nặng vay,
<b>V .V ..</b>.Nhưng phải ủng hộ nó theo đúng nghĩa của từ ủng hộ; nghĩa là ủng hô
không phải bất cứ sự trao đổi hợp tác xã nào; chúng ta phải hiểu đây là ủng hộ
những sự trao đổi hợp tác xã được quần chúng nhân dân chân chính Ihực sự
tham gia. Cho những nông dân tham gia trao đổi hợp tác xã hưởng một món
tiền thưởng, đó ỉà một phương thức hoàn toàn đúng đắn; nhưng đổng thời phải
kiểm tra tình hình tham gia đó, xcm sự tham gia đó là tự giác và có ích đến
mức nào, - Đó là then chốt của vấn đề" [77,423- 424],
sách báo, khơng có cơ sớ vật chất cho việc đó, khơng có những sự đảm bảo
nào đó, chẳng hạn để chống nạn mất mùa, nạn đói, <b>V .V .. </b> - khơng có tất cả
những điều đó thì chúng ta sẽ không thể đạt được mục đích. [77,424]. Nhung
để thực hiện được cuộc cách mạng văn hố đó phải có sức mạnh liên minh của
cơng nhân, nơng dân, trí thức... dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Trong tác phẩm: "Thà ít mà tốt" Lênin nêu ra một cách rất cấp bách đối
với việc "nghiên cứu", "học tập", "sang Đức hay sang Anh để sưu tầm tài liệu
và nghiên cứu vấn đề", "Mở ngay một cuộc thi soạn hai cuốn sách giáo khoa
hoặc nhiều hơn nữa, viết về tổ chức cơng tác nói chung, và dặc biệt là công tác
quản lý" [77,449] để cho công việc của chúng ta "phù hợp với trình độ khoa
học hiện đại và khiến cho chúng ta được hưởng nhũng lợi ích của tất cả những
thành tựu của khoa học đó" [77,448]. Và tất cả những nhiệm vụ sẽ không thế
thực hiện được nếu như không có sự tham gia của tầng lớp trí thức tiến bộ và
cách mạng trên cơ sở của sự licn minh, hợp tác giữa công nhân, nơng dân, trí
thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Lênin đã phê phán một số quan điểm sai lệch, hữu khuynh, "la
khuynh", rằng: nước Nga chưa đủ điều kiện và trình độ kinh tế. trình độ văn
hóa để bắt tay ngay vào xây dưng chủ nghĩa xã hội.
dộng ngày càng sâu rộng cùa cuộc cách mạng khoa học COHO r
CHƯ ƠNG r a
T ư T Ư Ở N G H Ổ C H Í M IN H VÀ QUAN Đ IỂ M c ủ a đ ả n g t a VỂ
L IÊ N M IN H CỦA G IA I C ÂP C ÔN G NHÂN VỚI NÔNG DÂN VÀ
T Ẩ N G L Ớ P T R Í THỨ C T R O N G CÁC H M Ạ NG V IỆ T NAM
Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những người cộng sản đầu tiên đã
vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam, tổ chức và
<b>l.Những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về liên minh cơng- </b>
nỏng-trí thứ c tro n g q u á trìn h cách m ạng ỏ nước ta.
Trong quá trình tìm đường cứu nước giải phóns dân tộc Chủ tịch Hổ
Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng chủ nghĩa Mác để giải
quyết những vấn đề mà thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nhận thức được ràng: vấn đề giải phóng dàn tộc Việt Nam gắn bó
chặt chẽ với vấn đề nông dân. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam
muốn thành công phải do giai cấp công nhân lãnh đạo, phải xây dựng và củng
cố khối liên minh công nông, giải quyết đúng đán vấn đề nóng dán.
thuộc địa, Trong bản tham luận của mình tại đại hội Người đã tố cáo tội ác
của bọn thực dân, nêu lên vấn đề nông dân ở các nước thuộc địa, người nói.
"tơi sẽ khơng làm tròn bổn phận của tơi nếu có được quyển đến đây với các
đồng chí mà tồi lại khơng nói một đơi lời về tình cảnh nơng dân tại đất nước
tơi [1-153]. Người cịn chỉ ra nỗi thống khổ của nông dàn Việt Nam bị bốn
tầng áp bức bóc lột, nơ dịch đến mê muội, "họ bị đóng đinh câu rút bởi bốn
thế lực liên hợp là : nhà nước, tên thực dân, nhà thờ và tên lái buôn" [41,156],
Mang trong lòng chủ nghĩa quốc tế trong sáng Hồ Chí Minh đã chỉ ra
rằng, không chỉ nông dân Việt Nam chịu đau khổ, lầm than, mà nông dân ở
phương Tây cũng như các nước ở phương Đông, nông dân châu Phi cũng như
ở châu Âu đều cùng cảnh ngộ. Trong số những người khốn khổ đó thì nơng
dân ở các nước thuộc địa là những người khốn khổ nhất họ bị người ta ăn cắp,
cướp bóc, tước đoạt làm phá sản. Họ phải làm mọi công việc nặng nhọc,mọi
thứ lao dịch và phải sống cùng khổ bần hàn. Nỗi khõn cùng của người nông
dân thuộc địa được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: với tấm lịng cảm thơng sâu
sắc Người v i ế t :
Sự cực khổ dân cày An Nam là:
1- Ruộng đất bị Tây chiếm hết không đủ mà cày
2- Gạo bị nó chở đi hết khơng đủ mà ăn
3- Làm nhiều được ít thuế nặng
4- Lại thêm nước lụt đại hạn vỡ đê mất mùa
5- Đến nỗi chết đói hoặc bán vợ đợ con, hoặc đoạn thân làm nỏ lệ như những
người nó chở đi Tân Thế giới" [42,309] . Còn ở châu Phi thì:
Cùng chịu số phân như nông dân các nước thuộc địa thân phận nông
dân Nga dưới chế độ Nga Hồng cùng vơ cùng cơ cực "Địa chủ coi nơna nơ
như súc vật, nó cho sống được sống, nó bắt chết phải chết khi nó cần tiền nó
đem nơng nổ đi bán như trâu bò" [42,275].
Trước sự đối xử bất công bị đè nén áp bức nông dân ở nhiều thuộc địa
đều căm thù bọn bóc lột, sự phẫn uất ngày càng cao, nông dân đã nổi dậy để
chống áp bức bóc lột "nhưng lần nào cũng bị dìm trong biển máu... nguyên
Từ sự nhìn nhận về người nông dân một cách tồn diện Hổ Chí Minh đã
vạch ra con đường giải phóng nơng dân thốt khỏi chế độ thực dân phong
kiến. Con đường đó theo Hổ Chí Minh "phải lổ chức nhau lại đổ kiếm đường
giải phóng, phải đấu tranh để tự giải phóng. Giai cấp duy nhất dã đấu tranh
thẳng tay chống chế độ hiện nay là giai cấp cơng nhân, vì vậy nông dãn và
công nhân là hai bạn đồng minh tự nhiên" [41,157]. Nông dán cán có giai cấp
tiên tiến lãnh đạo tức là giai cấp cơng nhân thì mới chắc chắn được giải
phóng.
Hổ Chí Minh cịn chỉ ra vai trị của người nơng dân trong đời sống xã
hội và tầm quan trọng của sự nghiệp giải phóng nơng dân. Người đánh giá vai
trò của nông dân là lực lượng "nòng cốt" là "một trong hai động lực của cách
mạng Việt Nam. Người viết : "Cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta rằng: Dân
chúng công-nôns, là gốc cách mệnh" [42,274] . Giai cấp công nhân muôn làm
cách mạng thành công phái liên lạc với dàn cày" [42,280], nêu "thợ thuyền với
dân cày khôns nhất trí thì cách mạng sẽ thất bại. Từ bài học thất bại của cách
mạng N^a 1905, Hồ Chí Minh đã rút ra hài học cho cách mạng Việt Nam .
trào lưu cơ hội chủ nghĩa, mnh nông dãn, COI nông dân là lực lượng chủ yêu,
là động lực duy nhất của cách mạng, là đội ngũ cách mạng nhất đều chỉ đi tới
chủ nghĩa phiêu lưu, chủ nghĩa cực đoan vơ chính phủ và đi tới chỗ phản bội
chủ nghĩa Mác-Lênin mà thơi [41,158].
Hổ Chí Minh đã lý giải vì sao công nhân và nông dân là chủ lực của
Là người Mác xít chân chính Hồ Chí Minh đã khẳng định lại nguyên lý
của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò lịch sử của giai cấp công nhân trorm sự
nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Sự
nghiệp vĩ đại đó, chỉ thành công khi giai cấp công nhân liên minh với giai cấp
nông dân. Người viết : "Trong thời đại ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp
độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đốn thắng lợi
cuối cùng bằng cách liên minh với giai cấp nổns, dán" [41,158].
Quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh vé vai trị của giai cấp công
nhân và khối liên minh công nông đã dẫn đê'n sự hình thành tư tưởng của
Người về đường lối cách mạng nước ta. Người đã sáng lập ra Đáng cộng sản
Việt Nam và cùng với Đảng giải quyết vấn đề nông dân trên lập trường của
giai cấp vơ sản.
Theo Hồ Chí Minh, trong tình hình cách mạng Việt Nam, muốn xác lập
được quyền lãnh đạo của mình Đảng cộng sản Việt Nam trước hết phải xác
lập quyền lãnh đạo đối với giai cấp nông dân, bởi nông dân chiếm đến 90%
dân số . Người viết: "Đối với nông dân mục đích của Đảng vơ sán là rõ ràng,
Đảng vô sản phải giành lấy quyển lãnh dạo phong trào, tổ chức động viên
quần chúng nông dân xung quanh nhũng khẩu hiệu giai cấp nhất định phù hợp
với tính chất của cuộc cách mạng. Đảng cách mạng phải hiếu rang phong trào
những thắng lợi quyết định nếu như giai cấp công nhân không hành động"
[42,414]. Trong sách lược vắn tắt Hổ Chí Minh viết : "Đảng phải thu phục cho
Khẳng định tính tất yếu vai trò to lớn của khối liên minh công nông
trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản, đặc biệt đối với các nước
chậm phát triển Người viết :"Cuộc cách mạng vô sản không thế thắng lợi ở
các nước nông nghiêp và nửa nông nghiệp nếu như giai cáp vô sản không dược
quần chúng nông dân ủng tích cực. Đó là một sự thật hiến nhiên đỏi với cả 2
cuộc cách mạns. Cách mạng tư sản dân quyền và cách mang vô sán" [42,413].
sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy nó vừa mang tính chất dân chủ, vừa
mang tính chất dân tộc. Luận điểm "vấn để dân tộc thực chất là vấn đề nơng
dân" của Hồ Chí Minh chính là sự đề cao tư tưởng kết hợp chặt chẽ, đúng đắn
giữa nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong, vấn đề dân tộc với vấn đề
ruộng đất, giải phóng nơng dân với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.
Trong cuộc cách mạng đó cơng nhân cùng với nông dân là đội quân chủ lực là
nòng cốt trong khối đại đoàn kết dân tộc bao gồm nhiều giai tầng trong xã
hội, trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và bè lũ tay sai.
Chủ tịch Hổ Chí Minh cho rằng để xây dựng khối liên minh công nông
Như vậy liên minh công nông không những đã m ans lại quyền lợi chính
trị mà cịn mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho nôns dân.
hậu, giành thăng lợi trong cuộc cách mạng Tháng tám, lập ra Nhà nước công
nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnơ
hoà ra đời. Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa thực dân pháp trở lại
xâm lược nước ta. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đang đứng
trước những thách thức nghiệt ngã: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm hồnh
hành. Trước tình hình đó chủ tịch Hổ Chí Minh đã chỉ ra nhữns nhiệm vụ cấp
bách của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là phải chống nạn đói, nạn
dốt, thực hiện tổng tuyển cử, giáo dục lại tinh thần nhân dân bằns: cách thực
Để động viên nông dân, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân trong
kỳ họp lần thứ 3 Quốc hội khố ĩ, Hổ Chí Minh cịn chỉ ra nhiệm vụ của nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà : "Phải giải phóng nơng dân khỏi cách
phong kiến. Muốn vậy phải thực hiện cải cách ruộng đất, thực hiện người cày
có ruộng. Người chỉ rõ: "Mục đích cải cách ruộng đất là: tiêu diệt chế độ
phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng
<i>sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất đẩy </i> mạnh kháng chiến”
[47,180],
Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến khó khãn gian khổ, nền kinh tế còn
nghèo Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chủ trương giảm nhẹ thuế nông nghiệp cho
nông dân, cải thiện một bước đời sống bộ đội, công nhân, cán bộ. Nhờ có
những biện pháp tích cực đó mà Mặt trận dân tộc thống nhất được mở rộng
củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, tăng cường quân đội nhân dân, góp
phần đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng loị hoàn toàn. Cũng do đường lối
vận động nông dân đúng đắn mà trinh độ văn hoá, sự hiểu biết của nông dàn
được nâng lên. Nông dân tin tưởng tuyệt đối vào Đảng tích cực tham gia
kháng chiến kiến quốc. Hổ Chí Minh cho rằng : "Nông dân ngày nay không
"dân ngu khu đen " nữa. Họ rất thông minh và kiên quyết với lực lượng to lớn
ấy chính sách ruộng đất nhất định thành công" [47,76],
Cuộc cách mạng ruộng đất thắng lợi, giai cấp địa chủ bị đánh đổ dân
Việt Nam được đổi đời, ước mơ bao đời của nông dân đã trở thành hiện thực
"Nơng dân có ruộng cày được làm chủ ở nông thôn" [48,194]
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ trương đưa đất nước đi lên
CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN. Trong cách mạng dân tộc dân chủ
nhàn dân cũng như trong cách mạng XHCN sự nghiệp giải phóng nồng dân,
nâng cao trình độ văn hố cho nơng dân ln gắn bó khăng khít với nhau.
sản xuất, nâng cao đời sống cho nông dân. Theo Hồ Chí Minh việc đưa nơng
dân vào con đường làm ăn tập thể không phải dễ dàng. Người cho rằng "Sau
cải cách ruộng đất, nông dân hãng hái sản xuất, sẵn sàng vào lổ đổi công. Tuy
vậy đại đa số tổ viên còn thói quen và tư tưởng làm ăn riêng. Tư tưởng tập thể
và tư tưởng cá nhân đang đấu tranh với nhau và cuộc đấu tranh ấy khổng dễ
hoàn toàn giải quyết trong một thời gian ngấn [42-199]. Quán triệt quan điểm
của chủ nghĩa Mác-Lênin về con đường đưa nông dân vào làm ăn tập thể, Hồ
Chí Minh nhắc nhở cán bộ khơng được "mệnh lệnh gị ép" nông dân, phải
quán triệt nguyên tắc "tự nguyện, tự giác, dân chủ", phải tuyên truyền, giải
thích thuyết phục, giáo dục, nâng cao giác ngộ chính trị cho nơng dân"
[48,199]. Về phương pháp tổ chức làm ăn tập thể, theo Hồ Chí Minh thì :
"Chớham làm mau, ham rẩm rộ... phải thiết thực, phải làm từ nhỏ đến lớn, rút
kinh nghiệm tốt để theo, kinh nghiệm xấu để tránh [47,539].
cho xã viên thấy có lợi, có lợi thì người ta mới vững ỉòng”. “Tổ chức hợp tác
xã là để cải thiện đời sống nhân dân, làm cho nông dân được ấm no, mạnh
khỏe, được học tập, làm cho dân giàu nước mạnh. Dân có giàu thì nước mới
mạnh. Đó là mục đích riêng và mục đích chung của việc xây dựng hợp tác
xã”. Người viết : "Muốn nâng cao đời sống thì chỉ có một cách là tổ chức
nông dân làm ăn tập thể tức là tổ chức nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp.
Theo Người chỉnh đốn ban quản trị hợp tác xã là "cái thìa khố của việc
phát triển nông nghiệp" còn xã viên "thấm nhuần tinh thần làm chủ và tinh
thần cần kiệm xây dựng hợp tác xã. Cần tăng cường hơn nữa việc kiểm tra đôn
đốc để kịp thời phát hiện và phổ biến những kinh nghiệm tốt và kịp thời uốn
nắn những nhược điểm, khiếm khuyến của hợp tác xã" [50,380],
Ngưui nnau nno cnung la Không được áp dụng rập khuôn máy móc kinh
nghiệm của nước khác. Phải tìm con đường riêng. Xuất phát từ tinh hình đặc
điểm của đất nước, phải tổng kết từ kinh nghiệm thực tế trong nước. Người
nói: “Ta khồng thể giống Liên xơ vì Liên xồ có phong tục tập quán khác, có
lịch sử địa lý khác”. Ta không thể áp dụng máy móc kinh nghiệm của Trung
Quốc. Trả lời phóng viên hãng thông tấn Mỹ ƯPI: “Nước Việt Nam dân chủ
cộng hồ có định thành lập “công xã nhân dân” như nước cộng hoà nhân dàn
Trung Hoa không? Người trả lời: “trước mắt chúng tôi không định tổ chức
“công xã nhân dân”. Chúng tôi có kế hoạch họp tác nông thôn, tăng gia sản
Hổ Chí Minh chỉ cho chúng ta mục đích, phương hướng, bước đi của
phong trào hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo nông thơn. Người đã sớm đề
phịng khuynh hướng chủ quan nóng vội, Người nhắc nhở phải “tiến nhiều
bước, bước ngắn bước dài tuỳ theo hoàn cảnh”, “chớ sốt ruột tham mau, vội tổ
chức hợp tác xã ngay” . “Làm ít có chắc chắn hơn là làm nhiều, làm rầm rộ mà
không chắc chán. Đi bước nào vững vàng chắc chắn bước ấy, cứ tiến dần”,
“phải thiết thực”, “phải làm từ nhỏ đến lớn”; Với hoàn cảnh Việt Nam thì
“khơng nên tổ chức quá to vì quá to thì khó nắm, sẽ chệch choạc, dễ thất
bại”[47,540]. Điều quan trọng là “không được cưỡng ép ai hết. Phải tuyên
truyền, giải thích cho nhân dân thấy lợi ích tổ đổi công, ai muốn vào thì vào,
tuyệt đối không được ép buộc ai” . Hãy để cho người nông dân được suy nghĩ
trên miếng đất quê hương họ, khi ấy họ mới thấy tự do.
lớp 4. Uãn bộ thanh niên ít nhất phải học lớp 5 lớp 6. Bà con cần cố gắn học
văn hố vì có học văn hố mới quản lý hợp tác xã được tốt" [49,173].
Theo Người có dậy văn hố cho nơng dân, họ mới đủ trình độ tiếp thu
CNXH, tiếp thu khoa học kỹ thuật và tham gia quản lý hợp tác xã. Đó là
những việc làm thiết thực để giải phóng nơng dân một cách triệt để.
Hổ Chí Minh coi việc giải phóng nơng dân về mặt chính trị, kinh tế
phải gắn liền với nhau. Nhiệm vụ trước hoàn thành tạo tiền đề thực hiện nhiệm
vụ sau, nhiệm vụ sau giành thắng lợi càng củng cố thành quả của nhiệm vụ
trước. Sự nghiệp giải phóng nơng dân là một quá trình đấu tranh và biến đổi
liên tục. Khi đã giành được độc lập về chính trị, giai cấp nơng dân, cần phản
tiếp tục tiến lên xây dựng nền kinh tế mới, xã hội mới. Người nói: “Khơng có
con đường nào khác chỉ có vào tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã, nông dân ta
mới có thêm sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất. Do đó mà đưa nơng
Nông dân Việt Nam vốn có truyền thống đồn kết tương trợ tính cộng
dồng cao "tối lửa tắt đèn có nhau" "lá lành đùm lá rách" . Hổ Chí Minh cho
rầng trong sự nghiệp xây dụng CNXH truyền thống quý báu này cần được
phát huy để xây dựng nông thông mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cải tạo và
xây đựng nông thôn Việt Nam phải trên cơ sở tình làng nghĩa xóm, tương trợ
giúp đỡ lẫn nhau. Đó là cội nguồn từ xa xưa của nông dân Việt Nam. Người
nói: “người đi trước rước người đi sau, người đi sau theo mau người đi trước,
phê bình nhau, khuyên bảo nhau, nhưng khơng đả kích lẫn nhau, không để
phần tử xấu chen vào chia rẽ” .
khó, viẹc ae cung cong aiem như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân, phải tránh
chủ nghĩa bình quân”, phân phối hợp lý sẽ đem lại đồn kết cho nơng dân,
phân phối phi lý sẽ gây ra lục đục chia rẽ thắc mắc trong nông dân, làm cho
nông dân kém phấn khởi ảnh hưởng đến sản xuất mà” khơng có đoàn kết, hợp
tác xã không thể tiến lên được”. Đặt vấn đề phân phối hợp lý trong mọi thời
<i>kỳ ở nơng thơn chứng tỏ Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến lợi ích thiết thực đối </i>
với lợi ích nhân dân. Thực hiện công bằng, dân chủ, đoàn kết trong phân phối
là động lực kích ứng phát triển sản xuất và xây dime nếp sống lành mạnh
trong nông thồn Việt Nam.
<i><b>Tư tưỏng H ồ C h í M inh về trí thức và vai trị của trí thức trong cơng </b></i>
<i><b>nơng liên minh tr í thức</b></i>
Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần to lớn, trong
đó có tư tưởng về trí thức và vai trị của trí thức trong công nông liên minh trí
thức. Nhũng tư tưởng đó bao gồm những khía cạnh sau đây:
Trong truyền thống của Việt Nam trí thức là vốn quí của dân tộc bởi
"Hiển tài là nguyên khí của quốc gia" . Hổ Chí Minh đã kế tục truyền thống
trọng dụng trí thức của cha ông. Người đánh giá cao vai trò cùa trí thức trong
sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong trả lời phỏng vấn của một tờ báo
nước ngoài Người nói "trí thức là vốn liếng quý báu ở nước khác như thế nào
thì Việt Nam cũng như thế [45,156] .
Tuy bị áp bức về mặt xã hội, bị đè nén về tinh thần nhưng trí thức Việt
Nam vẫn nêu cao tinh thần dân tộc, có đầu óc dân tộc và cách mạng nên dễ
hấp thu tinh thần cách mạng, có ý thức về lẽ sống và khát vọng tự do. Người
đã chỉ ra rằng "Lúc đã hiểu biết trí thức dễ đi theo cách mạng vi vậy Đảng
cách mạng cần phải dìu dắt, giúp đỡ trí thức" [47,34].
Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trị của trí thức bởi Người hiểu rõ tầm
quan trọng của nhận thức, học vấn, sự hiểu biết của con người đối với sự
nghiệp phát triển xã hội. Đặc biệt đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân
tộc, sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Ngay sau
khi dành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của I !ội đồng chính phủ nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 3-9-1945 Hồ Chủ Tịch đã khẳng định ''Một
dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Người nói: "Dốt nát cũng là kẻ địch", "Địch
dốt nát giúp cho địch ngoại xâm, địch dốt nát tấn công ta bằng tinh thần, cũng
như địch ngoại xâm tấn công ta bằng vũ lực".
trong việc trọng trí thức. Theo Người "trí thức đáng trọng" là trí thức hết lòng
phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân [47,33].
Người còn khẳng định Đảng và chính phủ ta rất coi trọng trí thức, bởi vì
"Đảng và chính phủ muốn xây dựng nước dân chủ nhân dân, như phát triển
vãn hố, giữ gìn sức khoẻ cho nhân dân, xây dựng kỹ nghệ" [47,33].
Như vậy, trí thức đã tạo thành một lực lượng to lớn, có khả năng hồn
thành được nhiệm vụ của cách mạng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân
tộc, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc. ”Để hoàn thành nhiệm vụ ấy, ngoài việc
quân sự ắt phải phát triển kinh tế. Cho nên, cần có những người chun mơn
thông thạo về công nghệ và phương tiện. Nhiệm vụ của người trí thức là phải
đem trí thức áp dụng vào thực tế. Thế mới đúng là người trí thức.
Knơng gắng học thì sẽ lạc hậu... không theo kịp nhu
cầu kinh tế nước nhà". Đối với từng nhà máy xí nghiệp, Người thường xuyên
nhắc nhở "cần phai có kế hoạch bồi dưỡng cho cán bộ và công nhân có trình
độ văn hố và kỹ thuật khá, thậm chí phải có trình độ khơng kém gì kỹ sư"
[48.224]. Đổng thời cần tranh thủ học tập các nước anh em và các chuyên gia
để phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển công nghiệp vào kinh tế nước nhà.
Hổ Chí Minh nhấn mạnh vị trí khơng ai có thể thay thế được của đội
ngũ trí thức trong nhiệm vụ giáo dục. Người nói: "Nhiệm vụ giáo dục rất quan
trọng và vẻ vang vì nếu khơng có thầy giáo thì khơng có giáo dục... khơng có
giáo dục, khơng có cán bộ thì cũng khơng nói gì đến kinh tế, văn hố"
[48.224]. Người giải thích: "Lao động trí óc là ai? Là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ
sư, những nhà khoa học, vãn nghệ, nhũng người làm bàn giấy..."[48,184] và
trí thức là những người lao động trí óc ở trình độ cao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh ln ln khẳng định trí thức là "vốn liếng quý
báu của dân tộc", là một bộ phận quan trọng trong lực lượng cách mạng. Vì
vậy, nhiệm vụ của trí thức phải "chăm học và phải học quân sự, nhà chuyên
môn phát minh và sáng chế để giúp bộ độ đánh giặc và cải thiện đời sống
nhân dân. Văn nghệ sĩ sáng tác động viên tinh thẩn dân tộc và tuyên truyền
kháng chiến ra nước ngoài" [45,590].
- Đặc biệt Hổ Chí Minh ln ln đề cao vai trò của nhân tài đối với sự
phát triển của đất nước. Người nói kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta
Chilli I pi lù liuun Ii[ieiltf|ánh vác việc nước" [45,196]. Người yêu cầu các địa
phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm ược những
việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo cho Chính phủ biết"[44,451],
Trên thực tế Hổ Chí Minh đã phát hiện, đào tạo, cảm hoá nhân dân,
nhân tài, có cả những bậc đại nho, những vị có nhiều bằng cấp từng du học
nhiều năm ở Tây Phương tự nguyện rời bỏ chốn phồn hoa về với đất nước,
đứng vào hàng ngũ cách mạng, đóng góp vào sự nghiệp giành độc lập dân tộc,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- "Đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ, cơng nơng trí thức hố. Trí
thức cơng nơng hố" đó là một trong những tư tưởng chủ đạo của Hồ Chí
Minh về mối quan hệ giữa công nông và trí thức.
Theo Hổ Chí Minh "đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ. Cơng nơng
trí thức hố, trí thức cơng nơng hố chính là con đường hình thành và phát
triển đội ngũ trí thức mới". Để trở thành người trí thức mới trí thức của giai
cấp công nhân thì trí thức phải "học tập chủ nghĩa Mác-Lênin tùy theo khả
năng mà tham gia lao động chân tay đổ tự rèn luyện mình và để góp phần
xứng đáng vào công cuộc xây dựng CNXH"
[49,3]-Theo Hổ Chí Minh "Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học cái tinh thần
xử trí mọi việc, đối với người và đối với bản thân mình, là học tập những chân
lý phổ biến để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế nước ta. Học
<i>để mà làm, lý luận đi đôi với thực tiễn" [49,292], Học lý luận cốt để áp dụng </i>
vào công việc, vào thực tế, bởi vì "lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý
động chân tay. Đó cũng là chính sách chia để trị"[48,215]. Chế độ xã hội chủ
nghĩa sẽ dần dần xoá bỏ sự đối lập đó, người trí thức cũng lao động, nơười lao
động cũng là trí thức. Hồ Chí Minh mong muốn: "Cơng nơng cần học tập văn
hố để nâng cao trình độ tư tưởng của mình. Trí thức cần gần gũi công nông
và học tập tinh thần, Nghị lực, sáng kiến và kinh nghiệm của công
nông”[46,203-204]. Đặc biệt Người yêu cầu trí thức phải gần gũi công nơng
để học tập đem trí thức áp dụng vào thực tế để phục vụ sự nghiệp cách mạng.
Người nói: "Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức. Song y khơng
biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm
việc nhiều việc khác. Nói tóm lại, cơng việc thực tế y không biết gì cả. Thế là
y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải là trí
thức hồn tồn. Y muốn thành một trí thức hồn tồn, thì phai đem trí thức áp
dụng vào thực tế" [45,235]. Nhiệm vụ của người trí thức mới là phải hồ mình
với cơng nơng, cùng với công nông ra sức xây dựng xã hơi mới.
Hồ Chí Minh đã sớm chú ý tới việc đào tạo nhữns người lao động, con
em công nông để bổ sung vào đội ngũ trí thức mói. Ngay trong cuộc kháng
chiến chống Pháp, ở vùng tự do, một số trường đại học đã được xây dựng, đã
lập khu học xã ở Nam Ninh (Trung Quốc) và gửi một số đổng chí đi học ở
một số nước xã hội chủ nghĩa.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh xác định trí thức là một
trong những lực lượng cách mạng có nghĩa vụ phụns sự Tổ quốc, phục vụ
nhân dân. Người yêu cầu: Đảng và Chính phủ phải giúp bằng cách giáo dục để
chính sách có lập trường vững vàng, quan niệm đúns đắn, tư tưởng sáng suốt,
tác phong dân chủ. Nói tóm lại: Giúp đỡ các bạn trí thức chính tâm và thân
dân" [48,216],
pirai gan fieil VUI mựrrtê của nước nhà, với đời sống nhân dân. Thầy siáo và
học trò tuỳ từng hoàn cảnh và khả năng tham gia cơng tác xã hội, ích nước lợi
dân"[48,80].
Đánh giá cao vai trị của trí thức trong sự nghiệp cách mạng của dân
tộc. Khẳng định quan điểm tồn trọng trí thức của Đảng và chính phủ Hồ Chí
Minh cũng thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm yếu kém của trí thức. Các
khuyết điểm đó là "cá nhân chủ nghĩa, tính khơng kiên quyết, tính bảo thủ, óc
làm thuê” [47,36] theo Người đây là căn bệnh chung của giai cấp tiểu tư sản
và anh chị em trí thức do bị văn hoá thực dân nhồi sọ. Vì vậy nhiệm vụ của
Đảng và chính phủ phải ''chú ý giúp đỡ anh em trí Ihức cũ tiến bộ, cải tạo tư
tưởng đổng thời đào tạo ra trí thức mới từ lớp cóng nhân và nơng dân" [53,36].
Theo Người trí thức muốn giúp đỡ kháng chiến,kiến quốc thì phải tự nguyện
cải tạo, đổng thời cũng phải biết rằng việc cải tạo khồng phải dẻ dàng bởi đó
là một cuộc cách mạng trong mỗi người nó lâu dài và gian khổ, phai quyết
tâm mới làm được. Để cải tạo mình trí thức phải cơng nơng hố, tức là an’n cm
trí thức cũng biết trọng lao động, biết làm lao độns, hợp thành một khối với
công nông.
Hổ Chí Minh coi những ai góp phần vào xố mù chữ là tham gia vào
nhiệm vụ thiêng liêng của Tổ quốc. Người gọi nhữns thầy giáo làm tròn trách
nhiệm của mình là những người vẻ vang nhất "Dù là tên tuổi không đãng trên
báo, không được thưởng huân chương, song người thấy giáo tốt là những
người anh hùng vơ danh" [51, 331].
Hổ Chí Minh coi việc xoá nạn mù chữ là nhiệm vụ thiẽns licng. Vì vậy
những ai tham gia nhiệm vụ này là những neười anh hùng.
pnat ineil II1ỤL cacil loan diện về nhân cách và gắn bó mật thiết với nhân dân
với đời sống xã hội. Người yêu cầu "trí thức phải có đạo đức cách mạng... có
- Trí thức là bầu bạn cách mệnh của công nông:
Thấm nhuần tư tưởng Mác - Lênin, ngay từ khi chuẩn bị thành lập
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng vai trò lịch sử của giai cấp
công nhân là "cái gốc của cách mạng" và vai trị của trí thức "là ngòi pháo
cách mạng", là "bầu bạn cách mạng của công - nông" Người viết: "Công nơng
là gốc cách mạng, cịn học trị, nhà bn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn cách
mạng của cơng nơng" [42,266].
Trí thức với tư cách là bộ phận cách mạng không chỉ trong một giai
đoạn mà trong toàn bộ quá trình cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo. Cho
nên liên minh giai cấp công nhân, nông dân và lẩng lớp trí thức là tư tưởng
chiến lược của Đảng ta trong mọi quá trình đấu tranh cách mạng và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh thường xuyên tập trung xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc "láu dài trong kháng chiến, trong kiến quốc, thực hành xã hội
chủ nghĩa" [47,39].
Hổ Chí Minh cịn đề ra những giải pháp chủ yếu đê’ xây dựng đội ngũ
trí thức. Trong những năm tháng đầu tiên giành chính quyền (1946) với điều
kiện gặp vô vàn khó khăn, trăm cơng ngàn việc, Hồ Chí Minh vẫn lưu tâm đến
việc phát hiện và chiêu tập những người tài đức. Người lo lắng rằng: "e vì
Chính phủ nghe không đến thấy không khắp đến nồi nhũng bậc tài đức không
thể xuất thân"[50,306].
<b>■ </b> <b>iẤU u u 1V1111I1 luitn luufl nhăc nhơ chúng tâ phải sử dung ý ihức vừa </b>
mềm mẻo, vừa đáp ứng nguyên tắc là: "việc dùng nhân tài, ta không nên căn
cứ vào điều kiện quá khắt khe, miễn là không phản lại quyền lợi cùa dân
Nhờ đường lối vận động, đào tạo, bổi dưỡng giáo dục trí thức đúng đắn
nén trí thức Việt Nam đã tiến bộ, một lòng một dạ đi theo Đảng gần gũi công
nông đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng CNXH. Trong bài nói
chuyện tại đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 2, ngày
25-4-1961 Hồ Chí Minh khẳng định sự tiến bộ của trí thức: "Trí thức ta khơng cịn
là những người chỉ nằm trong cái tháp ngà và xa rời quần chúng. Ngày nay trí
thức ta là những người lao động trí óc, ln hồ mình với cơng nơng và cùng
công nông ra sức xây dựng xã hội mới" [50,348].
<b>2.Quan điểm của ĐCSVN vê liên minh cơng-nơng-trí thức</b>
Được sự chuẩn bị chu đáo của Hổ Chí Minh về chính Irị, tư tưởng và tổ
chức, ngay khi mới thành lập, Đảng ta có đường lối đúng đắn. Chương trình
tóm tắt của Đảng cộng sản Việt Nam 1930 đã chí rõ:
1. Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai
cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng.
2. Đảng tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ
địa và lật đổ bọn địa chủ phong kiến.
3. Đảng giải phóng cơng nhân và nơng dân thốt khỏi ách tư bản.
* 6. líliẽ ng, l)ãl51g!fn )ảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và
Đảng phổ biến khẩu hiệu "Việt Nam tự do" và đổng thời Đảng liên kết
với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới nhất là với
quần chúng vơ sản Pháp.
Tiếp đó Đảng cộng sản Đông Dương đã tổ chức được một cao trào cách
mạng “rung trời chuyển đất của những năm 1930 - 1931” trona đó “cơns
nơng đã vung ra một lực lượng cách mạng phi ihường”. Qua cao trào này
chứng tỏ những luận điểm của Hổ Chí Minh về vần đề nơng dân là đúng đắn.
Cao trào cách mạng 1930-1931 có ý nghĩa lịch sử to ỉớn. Nhưng cũng
cần thấy rằng lúc đó Trung ương Đảng ta chưa nhận thức đúns vấn đề nông
dân và vấn đề dân tộc. Xem tính chất dân tộc cùa phong trào nơng dân cịn
“mang tư tưởng nông dân” chưa chú ý đúng mức vấn đổ lập hợp xung quanh
mình rứiững giai cấp, tầng lớp yêu nước và dân chủ, xây dựng một mặt trận
dân tộc thống nhất rộng rãi. Một số đảng bộ cơ sở do ảnh hưởns tư tưởng tả
khuynh của Trung ương mà đề ra nhũng kháu hiệu và tình hình dấu tranh
khơng thích hợp như “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rẽ” [23,1.1,287J.
Trong những năm gay go phức tạp nhất của cách mạng (1932-1935):
Đảng đã dựa vào những tổ chức quần chúng ở nôns thôn như tổ chức hội cấy,
hội cày, hội gặt... tổ chức họ ra đấu tranh trong thê’ hợp pháp, đòi chia lại
công điền công thổ cho cơng bằng, địi giảm sưu, giảm thuế, chống phù thu
lạm bổ. Những thắng lợi phần ít đã đạt được làm cho quán chúng nhân dân tin
tưởng vào Đảng, đoàn kết, bảo vệ đảng vượt qua nhũng cơn sóng gió hiểm
nghèo.
cách mạng lên một bước mới.
Thời kỳ 1939-1945 chiến tranh thế giới lần thứ II nổ ra:
Nhờ có tư tưởng Hổ Chí Minh, từ hội nghị trung ương VIII (5-1941)
nông dân Việt Nam ý thức được rằng có đánh đổ đế quốc tay sai giành độc lập
cho dân tộc, chính quyền về tay nhân dân mới có điều kiện thực hiện cách
mạng ruộng đất triệt để.
Cách mạng tháng Tám thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ cộng hồ ra
đời, chủ trương chính sách nêu trên của Đảng và Hồ Chí Minh đã được thực
hiện trong thực tế mang lại một phần quyền lợi thiết thực trong nông dân và
có quyền lợi thiết thực trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Giành được chính quyền chưa đầy một năm, đất nước lại bước vào
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2,
Cách mạng Việt Nam, muốn phát huy sức mạnh của cả dàn tộc theo tư
tưởng Hổ Chí Minh, Đảng ta chủ trương giải quyết hài hoà từng quyồn lợi các
giai cấp, dù đó là những giai cấp đối kháng. Đảng chủ Irương chia cách mạng
ruộng đất ra từng bước thích hợp với lừng thời kỳ. Bước 1: Tịch thu ruộng đất
của đế quốc và đại địa chủ chia cho nông dân nghèo. Bước 2: Thưc hiện giảm
tô giảm tức, chia lại công điền công thổ một cách hợp lý cho cả nam lẫn nữ.
Bưó'c 3: Trưng thu, trưng mua ruộng đất của những địa chủ còn bóc lột bằng
ruộng đất. Phương châm chiến lược của Đảng trong cách mạng ruộng đất là:
“Dựa vào hẳn bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú
nông, tiêu diệt chế độ phong kiến tùng bước và có phân biệt, phát triển sản
xuất, đẩy mạnh kháng chiến” [46,508].
Si cùng. Chính cương Đảng Lao động Việt Nam tại Đại
hội lần thứ hai (tháng 2-1951) chỉ rõ: “Chính quyền của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hồ là chính quyền dân chủ của nhân dân... lấy liên minh công
Năm 1953 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sắp bước vào giai
đoạn kết thúc, ở vùng giải phóng Đảng chủ trương tiến hành cải cách ruộng
đất nhằm xoá bỏ chế độ chiếm hữu và bóc lột bằng ruộng đất của giai cấp địa
chủ phong kiến. Tháng 12/1953 với tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tại kỳ
họp thứ 3. Quốc hội đã thông qua luật cải cách ruộng đất.
Tuy mác phải một số sai lầm “sai lầm nghiêm trọng phổ biến và kéo
dài” do áp dụng máy móc kinh nghiệm của nước ngoài nhưng cuộc cải cách
ruộng đất thắng lợi là to lớn và cân bản. Cải cách ruộng đất đã xố bỏ chế độ
bóc lột ở nông thôn. Ruộng đất về tay nông dân. Người nông dân Việt Nam từ
địa vị nô lệ làm thuê đã trở thành người nông dân tự do độc lập về chính trị và
kinh tế, Trong tổng số ruộng đất từ 1945 - 1957 là 810.000 ha/2.104.138 hộ
nông dân với 8.323.636 nhân khẩu, thì số ruộng đất được chia trong cải cách
ruộng đất chiếm 41,2% (344.100 h a/8 10.000 ha). (Tổng cục thống kê - 30
năm nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, H.1978, tr. 95).
Tiếp theo chủ trương của xứ uỷ Nam bộ, trương trình hành động 10
điểm của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đề ra nhiệm vụ:
“thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất chô nông dân.
Từ nãm 1960 đến 1980, sau khí căn bản hoàn thành hợp tác hố theo
mơ hình quản lý tập trung “thống quản”, và tập thể hoá triệt để, Đàng ta đã
giành nhiều công sức khắc phục những vấn đề nảy sinh trong phong trào hợp
tác hoá bằng nhiều cuộc vận động lớn mang tính cách mạng ở nơns thôn:
- Nghị quyết 13 của Bộ chính trị (27/1/1961) về phương hướng nhiệm
vụ củng cố hợp tác xã.
nghiệp (nghị qtĩyỐL^ộ chính trị, ngày 19/2/1963).
- Đưa điểu lệ hợp tác xã về nông thôn (4/1969)
- Vận động phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của xã
viên ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất phát triển nông nghiệp toàn diện mạnh
mẽ vững chắc. (Nghị quyết 197 Bộ chính trị 15/3/1970).
- Tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý nông nghiệp ở cơ sở gắn với tổ
chức lại sản xuất và cải tiến quản lý trên phạm vi huyện (chỉ thị 208 của Ban
bí thư, nghị quyết 33, Bộ chính trị)v.v...
Như vậy trong gần 2 thập kỷ ngoài việc chỉ đạo thường xuyên trong
điều kiện thời bình cũng như thời chiến. Ban chấp hành Trung ương, bộ chính
trị, ban bí thư đã dành cơng sức tìm tịi giải pháp củng cố và phát triển hợp tác
xã, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, cải thiện đời sống nông dân. Nhưng kết
quả đạt được chưa tương xứng với chủ trương đề ra. Những mặt yếu kcm của
hợp tác xã vẫn chậm được khấc phục, có mặt trì trệ kco dài, sản xuất ngày
càng giảm sút nghiêm trọng.
Hội nghị trung ương 6 (9-1979) là kháu đột phá vào tư duy cũ của
Đảng trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp. Từ hội nơhị Trung ương 6, chỉ thị 100
của Ban bí thư (khóa IV); Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, Nghị quyết 6 của
trung ương (khoá 6 )... đến nghị quyết II,V của Trung ương (khóa VII), Đảng
ta đã thực hiện quá trình đổi mới từng bước vững chắc, thúc đẩy và củng cố
phong trào nông dân xày dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
quá trình đổi mới của Đảng cũng chính là quá trình tiếp cận và phát triển tư
tưởng Hổ Chí Minh đối với nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đất nước, nông
dân, nông nghiệp, nông thôn.
dung cải tạo thường nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu mà không coi
trọng giải quyết các vấn đề về tô chức quản lý, và chế độ phân phối. Cách làm
thường theo kiểu chiến dịch, gò ép, chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng,
chưa quán trịêt mục đích: “Sử dụng để cải tạo, cải tạo để sử dụng tốt hơn”.
Do không nhận thức hết ý nghĩa công tác cải tạo ả nông thôn cũng như
việc vận động nồng dân vào hợp tác xã, không quán triệt nguyên tắc: tự
nguyện, dân chủ, cùng có lợi, nên đã chủ quan nóng vội trong việc cải tạo gị
ép nơng dân vào tập đoàn sản xuất, vào HTX, chạy theo Ihành tích, muốn
hồn thành cải tạo nhanh, bất chấp quy luật đưa hợp tác xã lên quy mơ lớn,
trình độ cao, tập thể hoá triệt để tư liệu sản xuất.
Những nhận thức trên làm cho công tác cải tạo trong những năm 1981 —
1985 đi chệch hướng. Kết quả là lực lượng sản xuấi kém phái triển. Các thành
phần kinh tế không phát huy được khả năng của nó.
Đại Hội cho rằng, những sai lầm khuyết điểm trong lãnh đạo kinh t ế -
xã hội, bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động lu tướng, tổ chức và
công tác cán bộ của Đảng.
Trong lĩnh vực tư tưởng Đảng đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận,
về sự vận dụng các quy luật kinh tế hoạt động trong thời kỳ qua độ - Đảng đã
có những quy luật sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan trong thời kỳ
qúa độ ở nước ta.
Để khắc phục những thiếu sót trên, Đại hội VI đã đề ra một số chủ
trương với tinh thần đổi mới:
<i>ỉ. Xây dựng và rổ chức thực hiện ba chươniị trình kinh t ế lớn: Lương </i>
<i>thực - thực phẩm , hàng tiêu dùng và hàng xuất khấu.</i>
2. Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên
với những hình thức và bước đi thích họp làm cho quan hê sản xuất phù hợp
3. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, và cơ cấu kinh tế.
4. Giải quyết cho những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thơng.
5. Tăng cường khả năng quốc phịng và an ninh của đất nước.
6. Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao
hiệu lực quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
7. Xây dựng Đảng thật sự ngang tầm một Đảng cầm quyền có trọng
trách lãnh đạo toàn dân thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Với tinh thần đổi mới Đảng ta quán triệt thêm một bước tư tưởng Hổ
Chí Minh trên lĩnh vực nông dân, nông nghiệp, nông thôn.
Đảng đã xác định, nông nghiệp thực hiện là mặt trận hàng đầu, tập
trung sức phát triển nông nghiệp; tập trung vốn đẩu tư, tập trung khoa học kỹ
thuật, tập trung sự lãnh đạo và chỉ đạo nhằm động viên cao độ lực lượng của
nhà nước, của các ngành các cấp phục vụ nông nghiệp. “ Đầu tư cho nông
nghiệp phải đồng bộ từ sản xuất đến chế biến, vận chuyển, đảm bảo để có
nhiểu sản xuất cuối cùng”
Bước vào thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội trên cả nước, đặc biệt là
từ công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ auá độ lên chủ nghĩa xã hội càng đặc biệt coi
trọng việc thực hiện liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí
hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại hội chỉ rõ: “Đông lực chủ yếu để phát triển đất
nước là đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh giữa cơng nhân với nơng dân
và trí thức do Đảng lãnh đạo” [26,IX,86]. Như vậy, tính tất yếu của liên minh
cơng nơng trí thức Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã được Đảng ta
khẳng định trong các kỳ đại hội là sự vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ
bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về liên minh công nông và các tầng lớp lao
động khác vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam trong từng giai đoạn
<b>3. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cách mạng Việt Nam. </b>
Dân tộc Việt Nam ta có truyền thống đồn kết vơ cùng quý báu. Truyền thống
đó đã được thử thách và phát huy trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Đoàn
kết toàn dân đã trở thành sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù xám lược. Truyền
thống đoàn kết của dân tộc càng được nhân rộng và phát huy từ khi Đảng
cộng sản Việt Nam ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người cộng sản
Việt Nam đã quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Máe-Lênin: Cách mạng
muốn thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, phải thêm bạn, bớt
thù. Tất cả những người yêu nước, tiến bộ đều là bạn của ta. Hồ Chí Minh cho
rằng: Để làm tròn trách nhiệm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta phải dựa vào giai
cấp công nhân lấy liên minh công nông làm nền tảng vững chắc để đoàn kết
các tầng lớp khác trong nhân dân. Có như thế mới phát triển và củng cố được
lực lượng cách mạng và đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng”.
Do có chính sách mặt trận đúng đắn nên Đảng ta đã phát huy được
truyền thống yêu nước và đoàn kết rất vẻ vang của dân tộc ta.
loan kết đúng đắn, nhân dân ta đã gắn bó, ln đi
theo và trung thành với Đảng nên cách mạng đã thành công. Bước vào giao
đoạn mới. Đảng ta đã kế thừa và phát huy truyền thống đó, phát huy sức mạnh
của toàn dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp sức mạnh truyen thống với
sức mạnh thời đại đẩy mạnh sự nghiệp cơng nghiệp hố hiện đại hoá đất
nước. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng ta đã nêu rõ tư tưởng chi đạo “Phát huy
sức mạnh đoàn kết dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện
đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Để xây đựng khối đại đoàn kết dân tộc tron® giai đoạn lịch sử mới cần
quán triệt những quan điểm sau:
+ Lợi ích giai cấp cơng nhân thống nhất với lợi ích cơ bản của toàn dân
tộc, giai cấp công nhân khơng thể giải phóng được mình nếu như khơng đổng
thời giải phóng tồn xã hội.
+ Giai cấp công nhân trước hết phải phấn đấu để trở Ihành giai cấp dân
tộc.
+ Cách mạng là sự nghiệp của quẩn chúng, quần chúng làm nôn lịch sử.
+ Đoàn kết dân tộc phải gắn với đoàn kết quốc tế.
+ Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược , quyết định
thành công của cách mạng Việt nam:
+ “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”, “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn
kết là thắng lợi ” , “Đoàn kết, đoàn kết, đại đồn kết. Thành cơng, thành công,
đại thành công” [50,607]
+ “Mục đích của Đảng lao động Việt Nam có thể tóm tắt trong 8 chữ là:
đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc” [46,183]
+ “Một là đoàn kết, hai là xây dựng CNXH, ba là đấu tranh thống nhất
nước nhà” [51,130].
r "DÍL UI riIT thật thà tán thành hồ bình, thống nhât, độc lập dân
chủ thì dù những người đó trước đây chống lại chúng ta, bây giờ chúnơ ta
cũng thật thà đoàn kết với họ” [47,438].
+ “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân mà
đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tẩng lớp nhàn dân lao
động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc
của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, cịn phải đồn kết các tầng lớp nhân
dân khác” [47,438].
+ “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là cone nông, cho
nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất”
[50,18].
+ “Trong Đại hội này, chúng ta có đại biểu đủ các tầng lớp, các tôn
giáo, các dân tộc, già có, trẻ có, nam có, nữ cớ, thật là một gia đình tương thân
tương ái. Chắc rằng sau cuộc Đại hội, mối đoàn kết tương ái sẽ phát triển và
củng cố khắp toàn dân” [46,182].
+ “Chúng ta phải đoàn kết chạt chẽ với các tầng lớp nhân dân...Phải
đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ trong Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ. Phải
đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc...Phải đoàn kết
giữa đổng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống
+ “Đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng
phải nhất trí. Đồn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học hỏi
những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai trái của nhau và phê bình trên
lập trường thân ái, vì nước, vì dân"[49,137].
t ■ B i H i r S S n r a ặ t trận là một chính sách rất quan trọno. Công tác Mặt
trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạnơ”
[50.605].
+ “Đảng ta có chính sách Mặt trận dân tộc đúng đắn, cho ncn đã phát
huy được truyền thống đoàn kết và ycu nước rất vẻ vang của dân tộc”
[50.605].
+ “Phải thành thực lắng nghe ý kiến của người ngoài Đảng. Cán bộ và
đảng viên không được tự cao tự đại, cho mình là người tài giỏi hơn mọi người;
trái lại phải học hỏi điéu hay điều tốt của mọi người ...Cán bộ và dáng viên có
quyếl tâm làm như thế thì công tác Mặt trận nhất định SC tiến bộ nhiều”
[50,606-607],
+ “Phải có đảng cách mệnh, đổ trong thì vận độn tỉ và tổ chức dân
chúng, ngồi thì liên lạc với dân lộc bị áp bức và vô sán giai cấp mọi nơi”
[42,267-268]
+ “ Đoàn kết trong Mặt trận Việl Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng
Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Đoàn kếl trong Mặt trận Licn Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng
lợi, lập lại hồ bình ở Đơng Dươníĩ, hồn tồn giải phóng miền Bắc.
Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân la đã giành thắng lợi
trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc” [50,604],
+ “ Một Mặt trận của nhân đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là một lực
lượng tất thắng. Hiện nay...đổng bào ta ở miổn Nam cũng có “Mặt trận dân
tộc giải phóng” với chương trình hoạt động thiết thực và phù hơp với nguyện
vọng chính đáng của nhân dân. Do đó, có thể đốn rằng dồng bào mien Nam
nhất định sẽ thắng lợi, nước nhà nhất định sẽ thống nhất, Nam Bắc nhất định
sẽ sum họp một nhà” [50,349],
<i>... ... </i> sướng được lãnh cái trách nhiệm kết thúc lễ khai mạc
của Đại hội Liên Việt - Việt Minh thống nhất.
Lòng sung sướng ấy là chung của cả toàn dân, của cả đại hội, nhưng
riêng cho tôi là một sự sung sướng không thể tả. Một người đã cùng các vị
tranh đấu trong bấy nhiêu năm cho khối đại đoàn kết tồn dán. Hơm nay,
trơng thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả và gốc rẻ nó đanơ ăn
sâu lan rộng khấp toàn dân, và nó có một tương lai “ trường xuân bất lão”. Vì
vậy, cho nên lịng tơi sung sướng vô cùng ” [46,181].
- Vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn cả nước thống
nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định đựơc
nhũng tư tưởng chủ đạo là:
+ Phải khơi dậy và phái huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc, đặt lợi
ích chung của dân tộc, của đất nước và của con người lên hàng dầu, lấy đó làm
cơ sở để xây dựng các chủ trương chính sách kinh tế -xã hội; nếu trước kia sức
+ Phải xuất phát từ lợi ích dân tộc mà mở rộng quan hệ hựp tác quốc tế,
tranh thủ mọi khả năng có thể tranh thủ được đổ xây dựnc, phát triển đất nước.
+ Trong chủ trương chính sách VC chính trị, tư tưởng, đủng ta ncu cao
ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, mở rộns, Mặt trận dân tộc thống nhất, chủ
trương xoá bỏ mọi thiên kiến, mặc cảm, hận Ihù trong quá khứ ; tập hợp, đoàn
kết mọi lực lượng người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước nơoài vào
sự nahiệp xây dụng, phát triển đất nước, lấy liên minh công nhân - nơng dân-
trí thức làm nòng cốt của khối đại đoàn kết dân tộc.
chính sách đối ngoại, Đảng ta thực hiện chính sách
đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối
ngoại theo phương châm “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước vì hồ
bình, độc lập, hợp tác và phát triển”
Nhận thức tầm quan trọng đặc biệt của vấn đc đại đoàn kết dân tộc
ngày 27 -11-1993, Bộ chính trị ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII)
đã ra Nghị quyết 07/NQ-TW “Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận
dân tộc thống nhất” . Nghị quyết này đã phản ánh tập trung nhất sự kế ihừa và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đồn kết dân tộc trong sự nc.hiệp đổi
mới. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6 -1996),
vấn đề đại đoàn kết dân tộc đã được đặt ở một tầm cao mới, nhằm phát huy
sức mạnh của toàn dân trong sự thời kỳ công nghiệp hoá. hiện đại hoá đất
nước.
Ngày 26-6-1999, lần đầu tiên Luật về Mặt trận lổ quốc Việt Nam đã
được ban hành, trong đó khẳng định:
Mặt trận Tố quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh dạo, là
cơ sở chính trị của chính quycn nhân dân, nơi the hiện ý chí, nguyện vọng, tập
hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi
hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các ihành viên, góp phần
giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước vì mục tiêu dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vãn minh.
Đây thực sự là bước phát triển mới của Mặt trận dán tộc thống nhất, của
khối đại đoàn kết toàn dân để chuẩn bị đưa đất nước tiến vào thố ký XXI.
- ở thời điểm dân tộc ta đang bước vào thế kỷ XXI, nhũng thời cơ và
thách thức đan xen nhau đang thường xuyên tác động đến khối đại đoàn kết
<i>v p ạ i vu. m p LITC phát triển những quan điểm ấy, phù hợp với những biến </i>
đổi của tình hình mới.
+ Đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ hiện nay phải được củng cố và phát triển:
Nhằm rửa được cái nhục đói nghèo, lạc hậu, cái nhục tụt hậu xa hơn về
kinh tế, về khoa học kỹ thuật và công nghệ so với các nước trong khu vực và
trên thế giới; thực hiện được điều mong muốn của Bác Hồ là làm cho đất nước
ta có thể “Sánh vai với các cường quốc nãm châu”, là “xây dụng một nước
Việt Nam hồ bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”; hay như
đảng ta đã nêu mục tiêu là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”
Nhằm khơi dậy tinh thần tư tôn dân tộc, quyết tâm chấn hưng đất nước,
không bỏ lỡ thời cơ, vận hội, không chậm chạp trong khi thế giới đang biến
+ Đại đoàn kết dân tộc trong điều kiện thực hiện một nén kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi một mật phát huy được tính năng
động của mỗi người, mỗi bộ phận để mọi việc từ lãnh đạo, quản lý, đến sản
xuất kinh doanh, học tập và lao động đcu có năng suất, chất lượna, hiệu quả
ngày càng cao; mặt khác phải khắc phục được những ticu cực của kinh tế thị
trường, đặc biệt là tâm ỉý chạy theo đổng tiền, cạnh tranh không lành mạnh,
làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa, tương thân tương ái của dân
tộc và của Đảng.
lum hơn, giàu hơn. Đấy là cơ sờ kinh tế đế củng cố và
phát triền khối đại đoàn kết toàn dân.
Đại đồn kết dân tộc địi hỏi phải xây dựng được một ĐánR lãnh đạo
thật sự trong sạch vững mạnh, một chế độ do nhân dàn làm chủ. một nhà nước
thật sự của dân, do dân, vì dân, một hệ thống chính trị tiên tiến có hiệu quả
hiệu lực.
Phải chống cho được các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn tham nhũng, quan
liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, nhũng ý chí nguyện vọng chính
đáng của nhân dân không được lắng nghe, những oan ức của nhân dân không
được kịp thời giải quyết, làm cho lòng dân không yên.
Tiếp tục đổi mới chính sách giai cấp, chính sách xã hội, dặc biệt coi
trọng đổi mới, hoàn thiện chính sách dân tộc, chính sách tơn giáo; chính sách
đối với tri thức, chính sách đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, tập
hợp đến nức rộng rãi nhất mọi nhân tài, vật lực vào sự nghiệp cơng nghiệp
hố, hiện đại hố đất nước.
Luật mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải được thực hiện nghiêm chính, đổ
mạt trận xứng đáng là một lực lượng to lớn, mạnh mẽ của hệ thống chính trị.
Tiếp tục đổi mới bộ máy và sự hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể quần
chúng, loại trừ được các bệnh “hành chính hố” hoặc “hình thức chủ nghĩa”
vẫn thường làm giảm vai trò của các tổ chức này.
Đại đoàn kết dân tộc trong diều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội
nhập quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại trong xu thế khu
vực hoá, tồn cầu hố kinh tế ngày càng phát triển, đòi hỏi phải củng cố sự
đoàn kết với phong trào cách mạng các nước, đổng thời phái nám vững bài
học đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh: “Cứne rắn về nguyên tác, mềm dẻo về
sách lược”, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn luôn giương cao ngọn cờ hồ
bình, độc lập, hợp tác và phỏt trin.
HWMiAc ãằô* nnnpfjuoc tẽ là nhàm làm cho lực và thế ở trong nước nsày càng
tăng thêm.
Những cơ sở thực tiễn cần chú ý:
- Đoàn kết toàn dân là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Trong lịch
sử nước ta, đại đoàn kết toàn dân tộc là yêu cầu tất yếu khách quan của cuộc
đấu tranh dựng nước và là sản phẩm của quá trình đó. Do điều kiện lịch sử tự
nhiên, từ xa xưa dân tộc Việt Nam đã phủi không ngùng đâu tranh chông chọi
với thiên tai, đấu tranh chông ngoại xâm. truyền thống đó đã di vào ca dao,
tục ngữ, đi vào lòng người, trở thành một nguồn sức mạnh vỏ tận để bảo vệ
độc lập dân tộc và xây dựng đất nước.
- Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng cộng sản đến nay đã
chứng minh sức mạnh to lớn của đại đoàn kết dân tộc. Từ khi thành lập đến
- Ngày nay, hoà bình và hợp tác vẫn lù một xu thế lớn, sự phát tricn
mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, của kinh tế tri thức, tồn
cầu hố kinh tế đang tạo ra cơ hội và những thách thức lớn cho sự phát triển
của tất cả các nước; thế giới đa cực đang hình thành: tuy hợp tác càng tâng
nhung cạnh tranh cũng hết sức gay gắt tăng cường khối đại đoàn kết dán
toàn dân, ỉà nguồn sức mạnh quan trọng hơn hết để chủ động hội nhập quốc
TCii I pnan.-floa nội-b ử chúng ta; trong nền kinh lê thị Irường cung nảy sinh
những mâu thuẫn và sự phân hoá xã hội, các tệ nạn xã hội chưa dược ngăn
chặn, rất dễ bị kẻ thù lợi dụng...
Sự nghiệp đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đặt ra những
nhiệm vụ hêt sức nặng nề. Chỉ có phát huy truyền thơng yêu nước, mờ rộne
khối đại đoàn kết toàn dân mới tăng cường sức mạnh nội lực mới giải quyết
được những vấn để nêu trên, khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so
với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính nhũng ý kiến, nguyện vọng
và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành và thực hiện thắng lợi
đường lối mới của Đảng. Nhân dân ủng hộ, hưởng ứng đườne lối cùa Đảng
nên công cuộc đổi mới đã vượt qua khó khăn, thử thách và đạt được nhũng
thành tựu hết sức quan trọng.
Trong sự nghiệp đổi mới, đại đoàn toàn dân dựa trên cơ sớ phát huy chủ
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của bộ máy Nhà
nước, công cụ chủ yếu thực hiện đường lối của Đảng. Xây dựng Nhà nước
thực sự là Nhà nước của dân, do dân, và vì dân, chăm lo và bảo vệ lợi ích
chính đáng của mọi giai cấp, tầng lớp, bộ phận dân cư trong xã hội là biện
pháp cơ bản để xây dựns khối đại đoàn kết toàn dân
yếu, thường xuyên.
Giữ gìn và phát triên khối đại đoàn kêt toàn dân là trách nhiệm của
toan dân tộc. Lích sư cua đât nước đã chứng tị, đồn kêt dân tộc là sức manh
vơ đích. Trong điêu kiện tình hình quốc tê có nhiều diễn biến phức tạp hiên
nay, yêu cầu đại đoàn kết toàn dân tộc càng trớ ncn quan Irọng để bao vệ bán
sắc và truyền thống vãn hoá của dân tộc, là động lực xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc.
Để tiếp tục sự nghiệp đổi mới tiến lên, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước, muốn bảo vệ vững chắc thành quả
cách mạng, bảo vệ Tổ quốc càng cần thiết phát huy truyền thống ycu nước,
lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết mọi thành phán trong đại
gia đình Việt Nam trrn cơ sở lấy đại nghĩa dân tộc, vì tương lai phát triển của
đất nước làm trọng, xây dựng tình đoàn kết, cởi mơ tin cậy lẫn nhau, tất củ vì
*.Thực trạng, mục tiêu và nhũng quan điểm cơ ban của ĐCSVN về dại
đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
1. Thành tựu của khối đại đoàn kết loàn dân tộc.
Nghị quyết Trung ương 7 đã đánh giá “ Nhìn chung khối dại đoàn kết
toàn dân tộc trên nển tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cáp nông dân
và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọne ihúc đẩy sự phái
triển kinh t ế - xã hội, giữ vũng ổn định chính trị -- xã hội của đất nước1'.
Nhũng thành tựu đó được thể hiện trên những lĩnh vực sau đây:
a)Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chi thị, chính sách
về vấn đề quan trọng này. Thông qua việc Ihực hiện các nghị quyết, chí thị,
chính sách, quyền làm dàn chủ của nhân dân từng bước được phát huy.
Từ sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, ngày 37-3-1990,
Ban chấp hành Trung ương khó VI đã ra nghị quyết số 8B với bốn quan điểm
chỉ đạo, đổi mới công tác dân vận. Tháng 11-1993. Bộ Chính trị khoá VII đã
ban hành nghị quyêt 07 “ v é đại đoàn kết toàn dãn tộc và lăniì cường Mật trận
w -íơng 4 khố VII về cơng tác thanh niên. Bộ
Chính trị, Ban Bí thư các khố VI,VII,VIII đã có một số nghị quyết chi thị cụ
thê vê cac vân đê tôn giao, dân tộc, thanh niên, phu nữ và nhiều đối tươnơ
quần chúng khác. Các văn kiện của Đảng về kinh tế, vãn hoá ,xã hội , an ninh
quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước đểu có những nội dung về
tăng cường công tác dân vận, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhiều cấp
uỷ đã quan tâm lãnh đạo công tác dân vận, củng cô tổ chức và tăng cường cán
- Nhà nước đã ban hành hiến pháp 1992 và nhiều đạo luật, chính sách
chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân. Luật pháp ngày càng được hoàn thiện,
t. o điều kiện pháp lý cho mọi hoạt động trong xã hội.
Chỉ riêng trong nhiệm kỳ khoá X (1997- 2002) Quốc hội đã thông qua
34 luật, bộ luật; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua hàng chục nghị
quyết có nội dung quy phạm pháp luật. Đặc biệt là Quốc hội đã thông qua
nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điếm của hiến pháp năm 1992; ban
hành Luậl khiếu nại, tố cáo; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã han hành các
nghị quyết về thi hành các quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sứ, đang tích cực
chuẩn bị soạn thảo luật về hoạt động giám sát của Quốc hội. Quốc hội và hội
đổng nhân dân các cấp cũng có những chuyển biến tích cực trong việc thực
hiện chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và
của các địa phương.
- Chính phủ đã thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách, chương trình dự
án về phát triển kinh tế, vãn hoá , giải quyết các vấn đổ xã hội, xã hơi hố sự
nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, dân số, KHHGD ... Cơng tác dàn vận cùa
chính quyển có tiến bộ.
<b>5ICU 4uyci UU11 mu Knieu nại, tố cáo của công dân được chú ý hơn. Chươno </b>
trinh cai cach hanh chinh được tiên hành bước đầu điit một sô kết quả tích cưc
- Cac lực lượng vũ trang làm cống tác dân vận có hiệu quả. nhất là trên
nhưng đìa ban khó khăn, phức tạp. Các phương tiện thông tin đại chúng, các
to chưc kinh te xa hội, các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến CƯ sờ
đã thực hiện nhiều cồng việc cụ thể, thiết thực góp phần vao sự nghiệp đại
b) Việc tập hợp nhân dân với các hình thức đa dạng có bước phát triển
mới.
- Mặt trận Tổ quốc các cấp đã mở rộng các tố chức thành vicn, tích cực
hướng dẫn cơ sở và khu dân cư triển khai các hoạt động, phát huy dân chủ,
tham gia xây dựng, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật; mở rộng và
đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân; không ngừng đổi mới và củng cố bộ
máy tổ chức cán bộ. Vị thế và vai trò của Mặt trận tiếp tục được nâng lcn nhất
là từ sau Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được ban hành.
- Các đoàn thể nhân dân đã có bước chuyến biến quan trọng trong việc
tập hợp, động viên và chăm lo lợi ích đoàn vicn, hội vicn, gắn kết các lợi ích
của đoàn viên, hội viên với đẩy mạnh các cuộc vận động, các phong trào thi
đua yêu nước; coi trọng sinh hoạt dân chủ và các hình thức tập hợp quần
chiing đa dạng.
- Số hội quần chúns có quy mơ toàn quốc đã tăng 2 lần so với nãm
1990 ( 1990 có 116 hội, năm 2001 có 235 hội) chưa kế các hội, các quỷ , các
ban liên lạc, các câu lạc bộ được thành lập ở các địa phương, cơ sỏ. Các hiệp
hội nghề nghiệp phát triển đa dạng. Nhiều hội hoạt động có hiệu quả. đáp ứng
nhu cầu, nguyện vọng của hội vicn, được hội viên tham gia một cách tự giác.
„r , Aa) dựng và thực hiện hương ước. quv ước là những nét
mới trong phong trào tự quản của nhân dân .
c) Mặc dù trải qua nhiều khó khăn, thử thách trone tình hình thố giới giới
ninh và quốc phòng được tãng cường.
- Đại bộ phận nhân dân ta ủng hộ và hăng hái thực hiện đường lôi dổi
mới do Đảng lãnh đạo.
- Khối liên minh giai cấp cóng nhân với giai cấp nông dãn và dội ngũ trí
thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp được giữ vững.
- Dân chủ xã hội được phát huy, các cơ chế đán chủ đại diện và cơ chế
dân chủ trực tiếp có bước phái triển và thực hiện tốt hơn, nhất là dàn chủ về
kinh tế, dân chủ ở cơ sớ, do đó bước đầu đã hình thành khơng khí dân chủ, cởi
mở trong xã hội .
- Nhiểu phong trào, nhiểu cuộc vận động lớn trong nhân dân dược phát
động, nổi bật là các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng dời sống văn
hoá xóa đói, giảm nghco; báo vệ trật lư trị an; xây dựng nén quốc phịng
tồn dân và an ninh nhân dân; đổn ơn đáp nghĩa; nhãn dạo từ thiện... dã lói
kéo hàng triệu đổng bào đồn kết, phấn đấu vì mục tiêu chung. Phong trào
toàn dân làm kinh tế bước đầu phát triển. Phong trào khuyến học, khuyến tài
có nhiểu nhân tố mới.
- Các chính sách mới về kinh tế - v ă n hoá- xã hội, các chương trình, dự
án lớn được triển khai đã có tác động sâu sắc đốn các tầng lớp nhân dân, kể cả
những người trước đây có nhiều mặc cảm như những người trong thành phán
kinh tế tư nhân, người Việt Nam định cư ở nước ng o ài,...
L,0 thê khăng định rằng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng
thật sự là một bộ phận của đường lối đỏí mới và góp phán to lớn vào nhữn2
Về nguyên nhân của thành tựu:
Một là, nhân dân ta có truyền thống u nước, Ihươns nịi, đồn kết
trong quá trình dựng nước và giữ nước; từ ngày có Đảng ln gắn bó với
Đảng, với cách mạng, ý thức tự hào dân tộc, tinh thán tự lực, tự cường, cẩn cù,
sáng tạo trong nhân dân luôn luôn được phát huy.
Hai là, đường lối đổi mới dúng đắn của Đảng là ngọn cờ đoàn kết, tập
hợp nhân dân trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.
Ba là, tổ chức Đảng và chính quyền các cấp có bước chuyến biến về
cồng tác dân vận.
Bốn là, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân nỗ lực đổi mới công tác, hoạt
động ngày càng có hiệu quả hơn.
2. Khuyết điểm, yếu kém .
Hội nghị Trung ương nhận định khái quát như sau:
Tuy nhiên, khối đại đoàn kết toàn dân lộc, mối quan hệ giữa Đáng, Nhà
nước và nhân dân chưa thật bôn chật và đang đứng inrớc thách thức mới. Cụ
thể là:
- Lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhản dân
chưa vững chắc.
- Tâm trạng của nhân dân có nhicu diễn biến phức tạp, lo láng về việc
làm. đời sống; bất binh trước những bất công xã hội. tệ tham nhũng, tê quan
liêu, lãng phí, một số mặt đạo đức xã hôi xuống cấp; tội phạm, tai nạn, và tệ
nạn xã hội gia tăng; kỷ cương , phép nước bị buông lỏng, việc thực hiện dường
lối, chủ trương, chính sách nhiều lúc không nghiêm, lời nói chưa đi đoi với
việc làm.
nguưi UI Kmeu Kiện; năm 2001 có 282.362.000 lượt người đi khiếu kiện, tăng
19,23%.
- Việc tập hợp nhân dần vào Mặt trận và các đoàn Ihc , các tổ chức xã
hội còn nhiều hạn chế ,nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân, khu vực doanh
nghiệp có vốn
1. Thực hiện đại đoàn kết tồn dân tộc, tơn giáo, giai cấp, tầng lớp,
thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong
Đảng và người ngoài Đảng, nơười đanc công tác và người đã nghỉ hưu, mọi
thành viên trong đại gia đình Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài.
Đoàn kết của Đảng ta rất rộng rãi và lâu dài. Đoàn kết ]à một chính
sách của Đảng và cả dân tộc, không phải là một khẩu hiệu chính trị. Đại đồn
kết vì mục tiêu giữ gìn độc lập thống nhất, chủ quyển quốc gia và toàn vẹn
lãnh thổ, phấn đấu tiến lên chủ nghĩa xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, vãn minh.
Quan điểm đại đoàn kết của Đảng chỉ đạo lãng cườne khối đại đoàn kết
toàn dân và đựơc thể hiện trong mọi chú trương, chính sách, pháp luật cúa
Nhà nước trên mọi lĩnh vực chính trị, vãn hoá, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc
phịng đối ngoại.
2.Đồn kết trên cơ sở nhũng điểm tương đồng, vì mục tiêu chung phái
triển
K Ế T LUẬN
Đề tài về liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một đề
tai lơn ve CỊU1 mo va tâm cỡ. Ban thân chúng tôi cũng chi mới nêu lén đươc
lĩiột sô vân đê co tính chung nhất được rút ra từ các tác phẩm của C.Mác
Ph.Ảngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh, từ văn kiện của ĐCSVN và các tài liệu
thực tê hiện có trong khả năng của chúng tôi. Chúng tôi cũng chỉ mới làm
được việc thu thập, hệ thống lại, sắp đặt theo ý đồ phục vụ trước hết cho việc
học tập nghiên cứu trong các trường đại học, cho những ai quan tâm đến
những vấn đồ này. Còn lại quá nhiều vấn đề chúng tơi chưa có dicu kiện thực
hiện, do khả năng hạn chê, do khuôn khổ của đổ tài có hạn, nếu được chúng
tôi sẽ cố gắng thực hiện vào những nghiên cứu dài hơn sau này,
<b>T</b>14<b>V/ IIUOII L đ i i n c ụ i n e c ủ a m ỗ i n ư ớ c . T r o n g m ọ i v ấ n đ ổ . v ấ n đ ề đ ấ u I r a n h </b>
giai cấp, cả về lý luận, cả về thực tiễn, luôn luôn đứng ờ vị trí trung tâm.
Trong các tác phẩm của mình, C.Mác, Ph.Ảngghen, V.I.Lênin đéu chỉ
rõ nguồn gốc ra đời của các giai cấp gắn liền với sự phát triển của phân công
lao động xã hội, sư xuất hiện của chế độ tư hữu. Các ông cũng chi ra ràng, tổn
tại của các giai cấp gắn liền với các giai đọan phát triển nhất định của sản
xuất, trong những hệ thống sản xuất xã hội nhất định, gắn liền với những mâu
thuẫn xã hội giữa các giai cấp và cuộc đấu tranh giữa chúng với nhau. Cuộc
đấu tranh giai cấp nhất định sẽ dẫn tới chuyên chính vơ sản và nền chun
chính vơ sản cũng chỉ là bước quá đội tiến tới xã hội khơng cịn giai cấp. Theo
các ông, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội, nhưng không bao giờ
Bằng việc phân tích chính ngay các quá trình kinh tế, xã hội đang diỗn
ra trong lòng xã hội tư bản, các ông đã phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân với tư cách là người thủ tiêu CNTB và sáng tạo ra xã hội mới
CSCN. Các ông cũng chứng minh rằng, giai cấp công nhàn chí có the giành
được chiến thắng nếu nó liên minh được với giai cấp nơng dân và lịan thể
nhân dân lao động, trong đó có tầng lớp trí thức. Các ơng cũng chí rỏ những
điều kiện, những nội dung chủ yếu, mục đích, triển vọng và ban chất của khối
liên minh giâi cấp đó trong tịan bộ sự nghiệp của giai cấp công nhân nhằm
thực hiện mục tiêu cuối cùng của CNCS.
-c. 1 --- Jơ bản của Hổ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt
Nam là một thể thống nhất, gắn liền với đời sống xã hội-thực tiẽn của Việt
Nam trong các thời kỳ lịch sử khác nhau.
1. Aphanaxep V. X. Phê phán các học thuyết chống chủ nghĩa Mác tronơ
kinh tế - chính trị. Nxb Sgk Mác - Lê nin. hà nội 1983.
Phạm Ngọc Anh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dưne tổ chức hợp tác
xã nông nghiệp ở Việt Nam - Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 4 - 2003.
3 _
Nguyên Đức Bách: Giai cấp cơng nhân và tầng lớp trí thức trong nền
"Kinh tế trí thức" - Đề cương bài giảng - Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh - 2002.
4. Bàn về đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường trong thời kì
quá độ, Hà nôi 1970
5. Bác Hồ với giai cấp công nhân và công đoàn Việt nam. Nxb Lao
động, Hà nội 1999
6. Nguyẻn Cône Bình. Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt
nam. Nxb Lao động, Hà nội 1974
7. Chỉ thị số 100/CT-TW ngày 13/1/1981 vổ củi tiến cóng tác khốn mớ
rộng, khoán sàn phẩm.
8. Trường Chinh - Võ Nguyên Giáp: Vấn đề dân cày, Nxb ST, HN,
1959.
9. Cộng hòa Xã iiội chủ nghĩa Việt Nam. Những vấn dề kinh tế-xã hội.
Nxb Nauka, Moscow 1982. (liếng Nga)
10. Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, và sự phát triển cua giai cấp công
nhân/CB: Cao Văn Lượng. Hà Nội CTQG., 2001
<i>l ì . </i> Chủ nghĩa xã 'lội. Kinh nghiệm của Việt Nam. Kinh nghiệm cua
Trung quốc, Nxb CTQG, Hà Nội 2001.
12. Chủ nghĩa tư b in hiện đại, nhũng điều chỉnh mới, Hà nội 2001
1*1
15
16
17.
18.
19.
20.
21.
2 2.
23.
24.
25.
2 6<b>.</b>
Lc Ngọc Danh: Thực hiẹn đoan kêt toàn dân xây dưng đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa - Tạp chí khoa học và chính trị - 1/2002
tr. 23 - 27.
Nguyễn Quang Du: Tăng cường khối liên minh với giai cấp cơng nhân
và đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới - Tạp chí ỉý luận chính trị - số
2/2002, tr, 51 -55.
Lê Duẩn: Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt
Nam, Nxb ST, HN, 1965
Lê Duẩn. Vai trị của giai cấp cơng nhân và nhiệm vụ cơng đồn trong
cách mạng xã hội chủ nghĩ? Nxb sự thật, Hà nội ! 975
Phan Đại Doãn: Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay Nxb
Chính trị quốc gia - Hà Nội 1996.
Đỗ Lộc Diệp. Chủ nghĩa tư bản ngày nay: Mâu thuẫn nội tại, Xu thế,
Triển vọng. NXb KHXH, Hà nội 2003
Phạm Tất Dong: Trí thức Việt nam - thực tiễn và phát triến. Nxb
CTQG, Hà hội 1995
Phạm Tất Dong: Định hướng phát triển trí thức Việt nam Irong CNH,
HĐH. Nxb CTQG, Hà hội 2001
Đảng cộng sản Việt nam. Vãn kiện hội nghị lần thứ năm ban chấp
hành trung ương khóa IX. Nxb CTQG, Hà nội 2002.
Đảng cộng sản Việt nam. Văn kiện Đảng. Toàn tập. T. 1-25, NXB
CTQG, Hà Nội 200...
Đảng cộng sản Việt nam. Văn kiện hội nghị lần thứ chín ban chấp
hành trung ươne khóa IX. Nxb CTQG, Hà nội 2004.
Đảng cộng sản Việt nam. Vãn kiện hội nghị lần thứ bảv ban chấp
hành trung ương khóa IX. Nxb CTQG, Hà Nội 2003.
» X X , » X X J L • i y v .
27. Đang cọng san Viẹt nam. Vãn kiên hôi nghi lần thứ sáu ban chấp
hành trung ương khóa IX. Nxb CTQG, Hà nội 2002.
28. Đảng cộng sản Việt nam. Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban chấp
hành Trung Ương khóa VIII. Nxb CTQG, Hà nội 2002.
Trương Ngọc Được: Phát huy sức manh đai đoàn két sức mạnh toàn
dân đê thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chù, văn minh - Tạp chí
cộng sản số 27 tháng 9/2002, tr. 3 - 8.
30. Francois Gipouloux. Trung Quốc đi tới kinh tế thị trường? Cuộc
trường Chinh sau mao. Nxb thế giới, Hà nội 1998
31. Giai câp vô sản với vấn đề nông dán trong cách mạng Việt nam, Nxb
Sự thật, Hà Nội 1965
32. Trần Văn Giàu. Giai cấp công nhân Việt nam. Nxb Sứ học, Hà nội
1962
33. George Soros. Khủng hoảng của Chủ nghĩa tư bản Toàn cầu. Nxb
KHXH. Hà Nội 1999
34. Giai cấp công nhân Việt nam tronơ cách mạng giải phóng dân tộc và
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nxb Nauka, Moscow 1982. (tiếng Nga)
35. Lâm Quang Huyên: Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt
Nam. Nxb KHXH. HN, 1985.
36. Trần Ngọc Hiên: Tư tưởng Lênin và Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân
nông nghiệp Trung tâm thông tin tư liệu3. 4/1993.
37. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươns lần 5 (khóa IX). Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội 2003.
38. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lẩn 7 (khóa IX). Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội 2004.
--- 0 ^ --- ^ao động, Hà nội 2002
40. HỒ Chí Minh. Giai cấp cơng nhân và cơng đồn. Nxb Lao động Hà
nội 1985
41. Hổ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản ỉần thứ hai ). T. 1 NXB CTQG Hà
Nội 2002.
42. Hổ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lẩn thứ hai). T.2, NXB CTQG, Hà
Nội 2002.
43. Hồ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lần thứ hai). T.3, NXB CTQG, Hà
Nội 2002.
44. Hồ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lần thứ hai). T.4, NXB CTQG, Hà
Nội 2002.
45. Hồ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lần thứ hai). T.5, NXB CTQG, Hù
Nội 2002.
46. Hồ Chí Minh. Toàn tập. (xuất bản lần thứ hai). T.6, NXB CTQG, Hà
Nội 2002.
47. Hổ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lần thứ hai). T.7, NXB CTQG. I là
Nội 2002.
48. Hồ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lẩn thứ hai). T.8, NXB CTQG, I ỉà
Nội 2002.
49. Hồ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lần thứ hai). T.9, NXB CTQG. Hà
Nội 2002.
50. Hổ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lần thứ hai). T. 10, NXB CTQG, Hà
Nội 2002.
51. Hổ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lần thứ hai). T.l 1, NXB CTQG, Hà
Nội 2002.
52. Hồ Chí Minh. Tồn tập. (xuất bản lần thứ hai). T. 12, NXB CTQG. Hà
Nội 2002.
pnong oan tộc - Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Số 1/2002. tr. 9 - 16
55. Kinh tê - xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay. Nxb Tư tưởno vãn hóa
tập I, Hn. 1991.
56. Komai János. Hệ thống xã hội chủ nghĩa. Nxb vãn hóa, thônơ tin Hà
nội 2002
57. Kinh tê - xã hội, nông thôn Việt nam ngày nay (tập 1). Nxb tư tưởnơ
- văn hóa, hà nội 1991
Phan Thanh Khôi. ( Chủ biên) Ý thức chính tri của cơng nhân tron»<sub>o </sub> <sub>ữ</sub>
các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai
ở Hà Nội hiện nay. NXB CTQG, Hà Nội 2003.
59. Nguyễn Văn Linh: Đổi mới để tiến lcn. Nxb ST, HN. 199J
60. Lịch sử chủ nghĩa Mác. T.l-2. (Cb: Trang Phúc Linh), NXB CTQG,
Hà Nội 2003.
61. Nguyễn Đình Lê. Biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội miền Bắc thời kì
1954-1975. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà nội 1999.
62. Lê nin- người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản và nhân dân lao dộng
toàn thế giới. Nxb Sự thật 1967
74. V.I.Lênin. Toàn tập. NXB Tiến Bộ, Matxcova 1977 T.40
75. V.I.Lênin. Toàn tập. NXB Tiến Bộ, Matxcova 1978, T.43
76. V.I.Lênin. Toàn tập. NXB Tiến Bộ, Matxcova 1978 T.44
77. V.I.Lênin. Toàn tập. NXB Tiến Bộ, Matxcova 1978 T.45
78. Lích sư chính trị nước Nga — Liên Xơ- Cộng hịa Liên bang Nga. Nxb
Terra, Moscow 1996 (tiếng Nga)
79. C.Mác,Ph.Ảngghen. Tuyển tập, NXB Sự Thật, Hà Nội 19 , T.l
80. C.Mác,Ph.Ảngghen. Tuyển tập, NXB Sự Thật, Hà Nội 1981, T.2
81. C.Mác,Ph.Ảngghen. Tuyển tập, NXB Sự Thật, Hà Nội 1982, T.3
82. C.Mác.Ph.Ảngghen. Tuyển tập, NXB Sự Thật, Hà Nội 1983, T.4
Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ
môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb Chính trị
quốc gia,Hà Nội 1996.
93. Một số vấn đề lịch sử giai cấp công nhân Việt nam. Nxb Lao động,
Hà Nội 1974
94. Một số Vãn kiện quan trọng của Đảng về nông nghiệp. Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1985.
Nxb Sự thật
96. Michel Beaud. Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000
Nguyễn An Ninh: Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội
trong công cuộc đổi mới ở nước ta - Luận án tiến sĩ - 1999.
98. Nghị quyết Trung ương 16 (khóa 2): vấn đề hợp tác hóa nơng nghiệp
(4/9/1945), 50 trang.
99. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa 3 - tháng 7/1961) về vấn đề phát triển
nông nghiệp 55 trang.
100. Nghị quyết lần thứ 24 (khóa 3) về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn mới (tháng 9/1975).
101. Nghị quyết Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nống nghiệp. Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1988.
102
Những đặc trung và xu thế phát tricn cơ cấu xã hội Việt Nam đang đổi
mới - Đề tài KX 07 - 05.
103. Phan Ngọc. Bản sác văn hóa Việt nam. Nxb Vãn học
Dương Xuân Ngọc: Giai cấp cồng nhân Việt Nam trong sự nghiệp
cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước. Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội 2004.
105. p j r á t t rjệ’n t o à n d i ệ n ki nh t c ' x ã hội n ô n g th ôn - Đ ề tài K X 08 (1991 -
1995).
106. Bùi Đình Phong. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác ván bộ.
Nxb Lao động, Hà nội 2002.
Bùi Đình Phona: Quan điểm Hổ Chí Minh vé phát tricn nóng nshiệp
Tạp chí nghicn cứu lý luận, số 3/2001.
L/au t/ u ; Ni““ *• cao tông quan vé giai cấp công nhân hiện đại
phong trào cộng sản và công nhân, trào lưu chủ nghĩa xã hội dân chù
trong chủ nghĩa tư bản hiện đại. (đề tài cấp nhà nước KHXH-06-07),
Hà Nội 2000.
110. Sự thống nhất của giai cấp công nhân và đấu tranh tư tưởng. Nxb
TTLL, Hà nội 1987
111. Số liệu thống kê: Lao động - việc làm ở Việt nam 1996 - 2000. Nxb
thống kê
112. Song Thành: Tư tưởng Hồ Chí Minh vé con đườne lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Tạp chí cộng sản số 5/1991.
113. Trường Chinh. Hổ chủ tịch - lãnh tụ kính u của giai cấp cơng nhân
và nhân dân Việt nam, Nxb Sự thật, Hà nội ] 967
Văn Tạo: Đồn kết trơn lập trường giai cấp công nhân trong thời dại
mới - Tạp chí Lao động và Cơng đồn - Số 1/2002, tr. 10, 56.
115. Lê Đức Thọ. Bàn vé tính giai cấp và tính chất liên phong của Đáng ta
116. Neô Quý Tùng. Kinh tế tri thức, xu ihế mới của xã hội thế kí XXI,
Nxb CTQG, Hà nội 2000
117. Nguyễn Đăng Thành. Chính trị của chủ nshĩa tư bủn, hiện tại vù tương
lai. Nxb CTQG, Hà nội 2002
118. Phạm Ngọc Thanh (đồng tác giả), Lịch sử tư tưởng chính trị/ CB
Dương Xuân Ngọc. Nxb CTQG, Hà nội 2001
119. Phạm Ngọc Thanh (đồng tác giả). Lịch sử triết học / CB Nguyễn Hữu
Vui. Nxb CTQG, Hà nội 2001
120. Phạm Ngọc Thanh. Hệ thốne chính trị cua xã hội Việt Nam trong thời
kỳ quá độ lẽn chủ nghĩa xã hội. Luận án PTS Triết hoc. (tiếng Nga)
Erevan, 1988.
<i>IZZ.</i>
<i>123.</i>
<i>^ Itu___ . </i> ) v ề động lực của sự phát triển kinh tế xã hộ.
KHXH, Hà Nội 1997.
<i>Ị)ức Vượng: Tư tưởg Hổ Chí Minh về vấn đề nơng dân và nông nghk </i>