Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG TY LIÊN DOANH HAPPYTEXT VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (132.87 KB, 20 trang )

HỒN THIỆN CƠNG TÁC KẾ TỐN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG TY LIÊN DOANH
HAPPYTEXT VIỆT NAM
Gần 10 năm xây dựng và trưởng thành, vừa sản xuất vừa phát triển, đến
nay công ty liên doanh Happytext đã thực sự trở thành một trong những là cờ
đầu trong ngành dệt may Việt Nam. Sự lớn mạnh của công ty không những
thể hiện qua cơ sở vật chất kỹ thuật mà cịn thể hiện ở trình độ quản lý của
cơng ty đang từng bước được hồn thiện và nâng cao. Hiện nay, công ty đang
áp dụng chế độ kế tốn mới của bộ Tài Chính ban hành, công ty đã nhận thức
đúng quy luật của kinh tế thị trường, từ đó vận dụng sáng tạo vào thực tế.
Nhận thức đúng đắn được rằng, mục đích cuối cùng của hoạt động sản xuất
kinh doanh là làm ra lợi nhuận, nhưng muốn đạt được mục đích đó thì địi hỏi
thành phẩm của cơng ty sản xuất ra phải được thị trường chấp nhận, do vậy,
khâu tổ chức bán hàng phải thực sự được quan tâm thích đáng. Là một công
cụ hữu hiệu phục vụ quản lý kinh tế trong doanh nghiệp, bộ máy kế tốn của
cơng ty địi hỏi phải được tổ chức khoa học, hợp lý, đặc biệt đối với việc hạch
toán doanh thu bán hàng và xác định kết quả tiêu thụ, có như vậy mới đảm
bảo độ chính xác của các chỉ tiêu kinh tế, giúp cho các nhà quản lý của cơng
ty có biện pháp và phương hướng phát triển của công ty, bộ máy kế tốn
cũng khơng ngừng được hồn thiện cho phù hợp với chế độ kế toán hiện hành
cũng như thực trạng của cơng ty. Có thể nói, để đạt được những thành tích tốt
đẹp trong suốt thời gian qua là có cả sự đóng góp to lớn của bộ máy kế tốn
nói chung và bộ phận kế tốn doanh thu bán hàng nói riêng.


I-NHẬN XÉT CHUNG VỀ CƠNG TÁC KẾ TỐN TIÊU THỤ THÀNH
PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ Ở CÔNG TY LIÊN DOANH
HAPPYTEXT VIỆT NAM.
1-Về cơng tác kế tốn nói chung:
Qua thời gian thực tập ở công ty liên doanh Happytext Việt Nam, tơi
thấy bộ máy kế tốn của cơng ty về cơ bản đáp ứng được yêu cầu hạch toán


của nhà nước ban hành và phù hợp với điều kiện thực tế của công ty, đáp ứng
được yêu cầu hạch tốn, phản ánh, giám đốc tình hình sử dụng vốn, vật tư, lao
động tiền vốn, xác định chính xác doanh thu bán hàng , làm cơ sở xác định
đúng kết quả hoạt động tiêu thụ, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà
nước.Bộ máy kế tốn của cơng ty bao gồm 6 người, với đội ngũ kế toán trẻ
đầy năng lực, trình độ và có trách nhiệm được tổ chức phù hợp với chuyên
môn của mỗi người. Bên cạnh các cán bộ chủ chốt có trình độ đại học và kinh
nghiệm làm việc lâu năm, phần lớn các nhân viên kế toán đều được đào tạo
chuyên ngành kế tốn tại các trường đại học, số cịn lại cũng đã qua các lớp
bồi dưỡng tương đương trình độ đại học lại có kinh nghiệm làm việc lâu
năm. Chính vì vậy, bộ máy kế tốn của cơng ty ln hồn thành tốt cơng việc
được giao và có nhiều sáng kiến với cơng tác kế tốn cũng như hoạt động sản
xuất kinh doanh của tồn cơng ty.
Hàng ngày, khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được kế toán xử lý kịp
thời, đầy đủ. Đồng thời, giữa các bộ phận kế tốn ln có sự kiểm tra đối
chiếu sổ sách, cung cấp các số liệu liên quan, cùng nhau tháo gỡ những khó
khăn, mâu thuẫn phát sinh nên các thơng tin kế tốn ln được thơng suốt, có
thể cung cấp thơng tin chính xác cho các bộ phận liên quan vào bất cứ lúc
nào.
Là doanh nghiệp có quy mơ vừa, chủng loại sản phẩm đa dạng, các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều địi hỏi u cầu về trình độ quản lý của nhân
viên kế toán cao nên bộ máy kế tốn của cơng ty liên doanh Happytext Việt
Nam áp dụng phương pháp ghi sổ NKCT. Vơí một khối lượng lớn các nghiệp


vụ kinh tế phát sinh như vậy, việc áp dụng phương pháp ghi sổ này là rất hợp
lý. Bên cạnh đó, Cơng ty đã sử dụng hệ thống TK theo quyết định 1141 ngày
1/11/1995, phân chia các TK cấp 2, 3 để quản lý và theo dõi chi tiết, tổng hợp
từng hoạt động kinh doanh cho từng xí nghiệp nói riêng và cơng ty nói chung.
Hệ thống chứng từ của công ty rất đầy đủ, thông tin phù hợp với chế độ kế

tốn đã ban hành và các thơng tin này phục vụ thiết thực cho công tác kiểm
tra và ghi sổ kế tốn.
Cơng ty tổ chức hình thức kế tốn tập trung. Cơng tác kế tốn tập trung
tại phịng kế tốn của Cơng ty, cịn ở dưới các xí nghiệp khơng tổ chức kế
tốn riêng mà chỉ bố trí các nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hướng dẫn, thực
hiện hạch toán ban đầu, thu thập, kiểm tra chứng từ và có thể xử lý sơ bộ
chứng từ có liên quan đến các xí nghiệp. Định kỳ, kế tốn ở các xí nghiệp gửi
chứng từ về phịng kế tốn. Căn cứ vào các chứng từ đó, phịng kế tốn ở
Cơng ty tiến hành tồn bộ các cơng tác kế toán trên cơ sở chế độ kế toán. Việc
tổ chức kế tốn theo hình thức tập trung như vậy có nhiều ưu điểm, đó là:
-Gọn nhẹ, tinh giảm bộ máy, tiết kiệm lao động.
-Chỉ đạo và kiểm tra rất tập trung, thống nhất.
-Có điều kiện chun mơn hố cán bộ, nâng cao hiệu suâta và năng lực
công tác, thuận tiện cho việc hiện đại hố, cơ giới hố cơng tác kế tốn.
Nhìn chung, cơng tác kế tốn nói chung và cơng tác kế tốn doanh thu
bán hàng và xác định kết quả tiêu thụ nói riêng của cơng ty được thực hiện
tương đối chặt chẽ trong việc mở và ghi chép trên NKCT, bảng kê, sổ chi
tiết,...Song bên cạnh những ưu điểm thì thực tế vẫn cịn tồn tại những hạn chế
địi hỏi cơng ty phải có phương hướng khắc phục, có như vậy bộ máy kế tốn
của cơng ty mới thực sự được hồn thiện, những hạn chế đó là:
-Mặc dù để cơ giới hố cơng tác kế tốn, công ty đã quan tâm tới việc
trang bị kiến thức về tiếng anh và máy vi tính cho nhân viên kế toán, 100%
nhân viên kế toán sử dụng thành thạo máy vi tính song số lượng máy vẫn
chưa đủ để đáp ứng. Hiện nay, với 6 nhân viên kế toán nhưng chỉ có 3 máy vi


tính. Chính vì vậy, lượng cơng việc làm trên sổ sách theo phương thức thủ
công vẫn là chủ yếu, làm chậm tiến độ quyết tốn vào cuối q, lãng phí thời
gian và đơi khi cịn thiếu chính xác. Mặt khác, với một khối lượng cơng việc
kế tốn như vậy, cơng ty nên đầu tư phần mềm máy vi tính, như vậy sẽ giảm

thiểu được thời gian và hiệu quả công việc sẽ được nâng cao.
-Việc sắp xếp, bố trí nhân sự ở các phần hành kế tốn cịn thật sự chưa
đồng đều. Với phần hành kế toán tiền gửi ngân hàng thì bố trí hai nhân viên
kế tốn, như vậy có thể tạo nên sự chồng chất khơng cần thiết. Trong khi kế
tốn tổng hợp của cơng ty lại kiêm ln kế tốn TSCĐ và kế tốn các khoản
tạm ứng. Mặc dù kế tốn tổng hợp thực sự có trình độ năng lực, có thể hồn
thành tốt cơng việc được giao, song nên bố trí riêng một kế tốn TSCĐ và tạm
ứng để kế toán tổng hợp chuyên sâu vào cơng việc của mình và trợ giúp các
việc khác cho kế tốn trưởng. Hơn nữa, khối lượng cơng việc kế tốn của
cơng ty khá nhiều, nhưng chỉ với số cán bộ kế tốn là 6 người. Như vậy, gánh
nặng cơng việc đối với mỗi cán bộ kế toán là quá lớn, có thể gây nên tình
trạng nhầm lẫn trong cơng tác.
-Trước mắt, xí nghiệp 3 của cơng ty đang hồn thành, chưa tiến hành sản
xuất nên cơng ty bố trí một nhân viên kế toán chịu trách nhiệm theo dõi vấn
đề này. Nhưng sang tháng 6, khi xí nghiệp này thực sự hồn thành và đi vào
hoạt động thì một nhân viên kế tốn khơng thể đảm nhiệm hết cơng việc phát
sinh.
2- Về cơng tác kế tốn tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ ở
công ty liên doanh Happytext Việt Nam.
Thứ nhất: Về công tác tổ chức bán hàng và công tác quản lý bán hàng ở
Công ty liên doanh Happytext Việt Nam.
Đây thực sự la một ưu điểm của cơng ty.
Để kích thích q trình tiêu thụ sản phẩm, đồng thời để phù hợp với khả
năng thanh tốn của mọi khách hàng đến với cơng ty, công ty lên doanh


Happytext Việt Nam đã sử dụng nhiều phương thức thanh tốn khác nhau,
trong đó chủ yếu là thanh tốn tiền ngay và trả chậm. Đối với những khách
hàng mua với khối lượng lớn sẽ được giảm giá, hàng kém phẩm chất có thể
được trả lại. Đối với đại lý, hình thức thanh toán là định kỳ bán được bao

nhiêu hàng trả tiền bấy nhiêu, nếu không bán được hàng công ty chấp nhận
việc trả lại của các đại lý. Với các đại lý hợp đồng dài hạn sẽ được hưởng
chính sách ưu tiên như hưởng % hoa hồng cao và có thưởng nếu bán được
nhiều hàng. Cơng ty liên doanh Happytext Việt Nam rất coi trọng thị trường
nội địa vì đây là thị trường rộng lớn, là mục tiêu của nhiều doanh nghiệp
khác. Nếu như thị phần của công ty chiếm được nhiều thị trường này thì có
thể thì nó nâng cao đáng kể được doanh thu bán hàng trong kỳ. Chính vì vậy,
Cơng ty ln quan tâm đến các biện pháp khuyến khích người tiêu dùng như
giảm giá hàng bán, chấp nhận hàng kém phẩm chất, sai quy cách bị trả lại...
Việc này xét về phương diện một đơn vị thành phẩm thì sẽ giảm lợi nhuận
nhưng xét trên tổng thể thì nó làm tăng khoản lợi tức cho doanh nghiệp.
Về công tác quản lý doanh thu bán hàng công ty đặc biệt chú trọng về
quy cách, phẩm chất sản phẩm, về khối lượng thành phẩm xuất bán và về giá
cả. Với phương trâm kinh doanh "ấy chữ tín lám đầu, không ngừng nâng cao
chất lượng sản phẩm và cải cách mẫu mã", Công ty liên doanh Happytext Việt
Nam ln có chỗ đứng vững chắc ở thị trường trong và ngồi nước.
Thứ hai:Về kế tốn doanh thu bán hàng và các khoản giảm doanh thu.
Ưu điểm:
-Về chứng từ kế toán sử dụng phù hợp với chế độ kế toán và thực trạng
của công ty. Việc thay đổi không viết hố đơn kiêm phiếu xuất kho khi trả
hàng gia cơng hay xuất bán trực tiếp kể từ ngày 1/1/1999 phù hợp với chế độ
kế tốn hiện hành.
-Cơng ty liên doanh Happytext Việt Nam có quy mơ lớn, phát sinh nhiều
nghiệp vụ. Ngoài hai hoạt động chủ yếu là bán hàng nội địa và xuất trả hàng


gia cơng, cơng ty cịn tận dụng bơng, vải thừa..., bán vật liệu cho một số
khách hàng và bán vỏ bao bì cho các cơng ty khác. Với một khối lượng lớn và
phức tạp các hoạt động như vậy, việc theo dõi cho từng khách hoạt động là rất
cần thiết. Nhìn vào sổ chi tiết doanh thu mở cho từng khách hàng, TK 511 bao

gồm có: TK 5111, TK 5112, TK 5113, TK 5114, TK 5115 các nhà quản lý có
thể nắm bắt được thực trạng của cơng ty trong từng lĩnh vực, từ đó có biện
pháp và phương hướng giải quyết cho phù hợp.
-Khi có các nghiệp vụ bán hàng phát sinh, kế toán vừa phản ánh vào sổ
chi tiết bán hàng vừa phản ánh vào sổ chi tiết thuế. Với phương phạp ghi chép
đầy đủ và khoa học như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho các bước hạch toán
sau này, như là việc lập bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoa dịch vụ bán ra
vào cuối quý để kê khai nộp thuế.
-Công ty liên doanh Happytext Việt Nam có quan hệ với nhiều bạn hàng
trong và ngồi nước, tình hình thanh tốn tương đối phức tạp, nhưng Công ty
đã tổ chức giám sát rất chặt chẽ bằng cơng cụ kế tốn cụ thể. Đó là Cơng ty đã
mở sổ chi tiết "Phải thu của khách hàng" đến từng khách hàng riêng biệt. Cuối
quý, căn cứ vào các sổ chi tiết TK 131 để lập bảng kê số 11 nhằm thâu tóm
tồn bộ tình hình thanh tốn của các khách hàng. Việc làm này rất hợp lý, nó
phù hợp với u cầu của chế độ kế tốn hiện hành và yêu cầu theo dõi công
nợ của Công ty.
-Do Cơng ty có nhiều mặt hàng với nhiều mẫu mã khác nhau, đồng thời
khi tiêu thụ chúng được viết chung trên một hoá đơn theo từng lần mua của
khách hàng. Do vậy, để đơn giản trong cách ghi chép và tránh cồng kềnh về
sổ sách, kế toán đã ghi sổ chi tiết bán hàng theo từng chứng từ với tổng giá
bán của tất cả các mặt hàng trên cùng một hóa đơn. Điều này là khoa học và
hợp lý vì Cơng ty khơng tính lỗ lãi đến từng thứ thành phẩm mà tính chung
cho tồn bộ lượng thành phẩm tiêu thụ trong kỳ.
-Trong nghiệp vụ bán hàng nội địa tại Công ty chủ yếu là thông qua các
đại lý. Vì vậy, Cơng ty đã bố trí riêng một kế toán chuyên theo dõi việc bán


hàng của các đại lý, vì việc bán hàng của các đại lý diễn ra thường xuyên, liên
tục và rất phức tạp, khách hàng bán đến đâu thanh tốn ln đến đó, cịn lại
có thể trả cho Cơng ty. Chính nhờ vậy mà các thông tin cần thiết về đại lý

luôn được cung cấp đầy đủ, kịp thời, giúp cho kế toán doanh thu và xác định
kết quả giảm đựơc khối lượng công việc để tập trung chủ yếu vào các nghiệp
vụ bán hàng khác. Như vậy, công việc sẽ đạt hiệu quả cao hơn, tránh chồng
chất công việc, hạn chế được sai sót.
Về tồn tại:
-Đối với các đại lý, để theo dõi chặt chẽ tình hình của các đại lý, kế toán
"hàng gửi đại lý" đã lập bảng theo dõi từng đại lý. Song trong bảng này, cột
thanh toán chỉ ghi tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế GTGT, như vậy sẽ khó
theo dõi doanh thu của các đại lý và các khoản thuế GTG.
-Tại Công ty, khi phát sinh các khoản làm giảm giá hàng bán, hàng bán
bị trả lại thì cuối quý, căn cứ vào các chứng từ liên quan, kế toán tập hợp trực
tiếp vào bảng tổng hợp tiêu thụ , rồi từ đó vào bảng tổng hợp TK. Với việc
hạch toán như vậy là không chi tiết, chưa phù hợp với chế độ kế tốn hiện
hành. Mặt khác, cơng việc hạch tốn lại dồn vào cuối q có thể gây ứ đọng
cơng việc, hiệu quả không cao.
-Do Công ty áp dụng giá bán động, tuỳ từng khách hàng và thời điểm
mua hàng mà giá bán khác nhau, nên trong thực tế có những trường hợp Công
ty thay đổi giá bán vào thời điểm cuối tháng, ghi theo giá tạm tính nhưng
khách hàng chưa chấp nhận và không phản hồi ngay trong tháng. Công ty đã
hạch toán vào doanh thu và kê khai thuế GTGT đầu ra của các sản phẩm tiêu
thụ trong tháng. Việc giải quyết phần chênh lệch là rất khó khăn, khơng thể
huỷ hoá đơn bán hàng, huỷ kê khai thuế, đồng thời cũng khơng hạch tốn vào
khoản giảm giá được vì không phải do chất lượng sản phẩm. Trong trường
hợp này, thường Cơng ty hạch tốn vào TK 531-hàng bán bị trả lại. Do vậy


TK 531- hàng bán bị trả lại được sử dụng ở Công ty không phản ánh đúng
thực chất nội dung của nó.
Thứ ba: Về kế tốn giá vốn hàng bán:
Ưu điểm:

- Để phản ánh giá vốn hàng xuất bán, kế toán căn cứ vào bảng cân đối
nhập-xuất-tồn thành phẩm và bảng cân đối nhập xuất tồn TK 157. Trong đó,
bảng cân đối nhập xuất tồn TK 157 được theo dõi riêng bởi một kế tốn nên
tương đối rõ ràng, chính xác, luôn cung cấp kịp thời thông tin cần thiết để xác
định kết quả bán hàng. Còn trong bảng cân đối nhập xuất tồn thành phẩm, kế
toán đã nêu rõ từng chỉ tiêu nhập xuất thành phẩm nguồn gốc từ đâu, do đó
nhìn vào bảng này có thể biết được tình hình cụ thể của từng loại hoạt động.
Từ đó, giúp cho ban lãnh đạo có biện pháp khai thác nguồn hàng và tìm hiểu
từng hoạt động liên quan đến tiêu thụ, xem loại hình nào có khả năng phát
triển được để có kế hoạch cho kỳ sau.
Về tồn tại:
-Ở cả phịng kế tốn và ở kho cùng theo dõi chi tiết nhập, xuất, tồn thành
phẩm chỉ trên chỉ tiêu số lượng mà không theo dõi được chỉ tiêu giá trị hàng
ngày vì cuối q, kế tốn mới cung cấp giá thành đơn vị thực tế của thành
phẩm. Nhưng với một khối lượng lớn các thành phẩm với nhiều mẫu mã,
chủng loại khác nhau thì việc xác định giá bán hàng ngày quả là khó đối với
cơng ty.
-Trong bảng cân đối nhập, xuất, tồn thành phẩm bao gồm tất cả các mặt
hàng sử dụng cho các mục đích khác nhau. Mà ở Cơng ty lại gồm nhiều loại
thành phẩm có mục đích sử dụng khác nhau như TK 1551:thành phẩm kho
hoàn thành, TK 1552: thành phẩm kho nội địa, TK 1553: thành phẩm tại các
cửa hàng. Chính vì vậy, Cơng ty nên lập bảng cân đối nhập, xuất, tồn thành
phẩm cho những loại có cùng mục đích sử dụng.
-Về cách tính giá thành phẩm: Về nguyên tắc, thành phẩm phải được
theo dõi, phản ánh một cách thường xuyên sự biến động cả về mặt số lượng


và giá trị. Tại Công ty liên doanh Happytext Việt Nam, thành phẩm nhập kho
được tính theo giá thành cơng xưởng thực tế, thành phẩm xuất kho được tính
theo phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ. Song giá thành cơng xưởng thực tế

và giá đơn vị bình qn chỉ được xác định vào cuối tháng. Trong khi đó, các
nghiệp vụ nhập, xuất, tồn kho diễn ra thường xuyên. Vì vậy, mỗi lần xuất kho
tiêu thụ, thành phẩm chỉ được theo dõi về mặt lượng, cịn khơng phản ánh
được trị giá thành phẩm xuất kho.
Thứ tư: Kế tốn chi phí bán hàng, chi phí QLDN.
Ưu điểm:
-Ở Cơng ty liên doanh Happytext Việt Nam, các chi phí bán hàng, chi
phí QLDN phát sinh rất lớn nên kế toán mở sổ chi tiết theo dõi cho từng loại.
Đồng thời, với những khoản chi phí bán hàng, chi phí QLDN được chi bằng
tiền mặt, tiền gửi ngân háng sẽ được mơ riêng để theo dõi vì khối lượng phát
sinh trong kỳ rất lớn.
Tồn tại:
-Cơng ty khơng phân bổ chi phí bán hàng, chi phí QLDN cho từng loại
thành phẩm, khơng tính được kết quả lỗ lãi để từng thứ thành phẩm mà kết
chuyển hết sang TK 911 để tính kết quả vào cuối quý.
-Việc lập đồng thời cả bảng kê số 5 và bảng tổng hợp chi phí là khơng
cần thiết vì như vậy sẽ dẫn đến sự trùng lắp.
Thứ năm: Về việc trích lập dự phịng
Tồn tại:
Tại Cơng ty liên doanh Happytext Việt Nam có một tài khoản "Phải thu
của khách hàng" rất lớn, chiếm khoảng 65% doanh thu bán hàng của Công ty.
Theo chế độ quy định, để tránh những rủi ro, tổn thất có thế xảy ra trong
trường hợp nợ khó địi, doanh thu được phép lập dự phịng nợ phải thu khó
địi. Trong thực tế, Cơng ty khơng trích lập dự phòng. Do vậy, khi xảy ra
trường hợp khách hàng bị phá sản khơng có khả năng thanh tốn thì cơng ty
khơng có khoản bù đắp, tổn thất sẽ rất lớn.
Thứ sáu: Kế toán xác định kết quả bán hàng.


Ưu điểm:

-Kế toán xác định kết quả bán hàng tại cơng ty nhìn chung tn thủ đúng
theo chế độ kế toán hiện hành quy định về việc mở sổ chi tiết, bảng kê, nhật
ký chứng từ..., về việc hạch toán doanh thu và xác định kết quả bán hàng, đảm
bảo cung cấp kịp thời chính xác về kết quả bán hàng theo định kỳ.
Về tồn tại:
- Hiện nay, việc xác định kết quả bán hàng của công ty được kế toán tập
hợp từ các NKCT, bảng tổng hợp liên quan để ghi sổ cái TK 911, như vậy
Công ty chưa mở sổ theo dõi kết quả bán hàng một cách chi tiết.
-Về hình thức sổ nhật ký chứng từ, chỉ phù hợp về kế tốn thủ cơng. Sử
dụng nhiều bảng biểu phức tạp.
II SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN:
Những năm qua, cùng với sự đổi mới sâu sắc của cơ chế quản lý kinh tế,
từ cơ chế quản lý tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp đã
thực sự phải vận động để có thể tồn tại và phát triển bằng chính thực lực cuả
mình. Cơ chế thị trường địi hỏi các doanh nghiệp phải năng động, sản xuất
kinh doanh phải có lãi, tự mình tìm thị trường tiêu thụ, tự bảo toàn và phát
triển nguồn vốn kinh doanh...để tự khảng định được vị thế của mình trên
thương trường. Muốn đạt được điều đó thì địi hỏi cơng tác kế tốn trong
doanh nghiệp nói chung và trong cơng tác kế tốn tiêu thụ thành phẩm nói
riêng phải ngày càng được củng cố, hồn thiện để thực sự trở thành cơng cụ
quản lý kinh tế-tài chính . Góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Cũng như các doanh nghiệp khác, tại công ty liên doanh Happytext Việt
Nam, việc tổ chức bộ máy và công tác kế tốn bên cạnh những ưu điểm cịn
có một số hạn chế nhất định. Yêu cầu của công tác kế tốn nói chung và cơng
tác kế tốn tiêu thụ nói riêng là phải phản ánh chính xác các thơng tin kinh tếtài chính. Cung cấp cho ban lãnh đạo Công ty, cho các cơ quan quản lý và các


bên liên quan những thông tin đúng đắn và hữu ích. Trước kia, trong cơ chế

kế hoạch hoá, tập trung, Công ty được Nhà nước giao chỉ tiêu, kế hoạch sản
xuất. Từ khâu nguyên liệu đầu vào đến thị trường đầu ra, tiêu thụ sảm phẩm
đều được Nhà nước đảm nhận. Nhưng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường, Cơng ty có quyền chủ động trong kinh doanh theo phương thức thanh
toán độc lập,lấy thu bù chi, chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản mọi hoạt
động của mình. Công ty phải đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt, gặp nhiều
khó khăn trong việc tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm của mình. Nếu khơng
có một hệ thống kế tốn hồn thiện, phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời các
thơng tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, thì ban lãnh đạo sẽ khơng có
đựơc thơng tin chính xác để giúp họ ra những quyết định đúng đắn, Nhà nứơc
sẽ khơng nắm bắt được tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh của cơng ty, các doanh nghiệp khác có mối quan hệ với Công ty sẽ
không biết được khả năng sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng để đưa ra quyết
định cho vay, đầu tư...Vì vậy, hồn thiện cơng tác kế tốn nói chung và cơng
tác kế tốn tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ nói riêng là một trong các yêu
cầu cần thiết, đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp.
III-MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP NHẰM HỒN THIỆN CƠNG TÁC
TIÊU HẠCH TỐN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TẠI
CÔNG TY LIÊN DOANH HAPPYTEXT VIỆT NAM
Có thể nói, cơng tác kế tốn tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại
công ty liên doanh Happytext Việt Nam đã đạt được nhữn kết quả tốt. Tuy
nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, cơng tác kế tốn cịn một số những mặt
hạn chế. Cơng ty cần có biện pháp hồn thiện hơn nữa cơng tác kế toán tiêu
thụ thành phẩm, xác định kết quả tiêu thụ nói riêng.
Với tư cách là một sinh viên với trình độ nhận thức và hiểu biết về thực
tế có hạn, trong thời gian thực tập tại Công ty, qua tìm hiểu về cơng tác kế
tốn nói chung và kế toán doanh thu bán hàng, xác định kết quả bán hàng nói


riêng, em xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến nhằm hồn thiện hơn nữa cơng

tác kế tốn tại Công ty.
Một là: Đối với các đại lý, trong bảng theo dõi từng đại lý, kế toán nên
lập thêm cột thuế GTGT và cột doanh thu tách riêng. Cụ thể như sau:


Bảng số 3.1
ĐẠI LÝ HIỆP KH-QUÝ I/2004
S
T
T
1

Diễn giải

2

Sơ mi SEIDEN dài
tay
...
Aó 3 lớp MF nữ
Aó Jacket 02/99

3
4

Quần âu QA55

...
Tổng cộng


Thanh toán
15/1
15/2
5524
5549
25

SL

Doanh thu

Thuế GTGT

Tổng thành tiền

25

2 045 500

204 550

2 250 000

90

90

5 318 000

531 800


5 850 000

25
5

25
5

3 409 000
8 181 000

340 900
818 100

3 750 000
9 000 000

145

145

11 591 000

1 159 100

12 750 000

Hai là:Khi phát sinh các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, kế
tốn nên hạch tốn ln vào " Sổ chi tiết bán hàng" phần giảm doanh thu,

cuối quý, lấy số liệu ghi vào bảng tổng hợp tiêu thụ và bảng tổng hợp TK.
Ba là:Ở Công ty liên doanh Happytext Việt Nam đã lập đồng thời cả
bảng tổng hợp chi phí bán hàng, bảng tập hợp chi phí QLDN và bảng kê số 5.
Theo em đây là việc làm khơng cần thiết. Hai bảng này đều có nội dung kinh
tế tương tự giống nhau, mà hơn nữa cả hai việc đều tiến hành vào cuối quý
nên sẽ làm tăng cơng việc cho kế tốn. Vì vậy theo em cơng ty nên bỏ Bảng
tổng hợp chi phí bán hàng và chi phí QLDN, kế tốn chỉ cần lập bảng kê số
5-" Chi phí bán hàng, chi phí QLDN". Với việc làm như vậy thì sẽ tạo cho hệ
thống sổ sách kế tốn của cơng ty được khoa học và hợp lý hơn.
Bốn là: Hiện nay, việc xác định kết quả bán hàng của cơng ty đước kế
tốn tập hợp trực tiếp từ các NKCT và các bảng tổng hợp liên quan để ghi
ngay vào sổ cái TK 911. Theo em, để thuận tiện cho việc hạch toán tránh sai
sót, nhầm lẫn khi tổng hợp số liệu thì trước khi vào sổ cái, công ty nên mở sổ
chi tiết TK 911 (Bảng 3.2)
Căn cứ ghi sổ chi tiết TK 911:


-Căn cứ vào bảng cân đối nhập, xuất, tồn thành phẩm và bảng cân đối
TK 157 và các sổ kế toán, bảng tổng hợp liên quan kế toán ghi vào phần ghi
nợ TK 911, ghi có TK 632, 642, 641.
-Số liệu để ghi có TK 911, ghi nợ TK 511 được lấy từ các bảng tổng hợp
các TK.
-Cột ghi nợ TK 911, ghi có TK 421 phản ánh lợi nhuận bán hàng trước
thuế của công ty.
Năm là: Công ty cần trang bị thêm máy vi tính, phần mềm máy vi tính
để cơ giới hố cơng việc, theo kịp tiến độ hiện đại hố của đất nước, đáp ứng
trình độ vận dụng kiến thức của nhân viên , tránh trường hợp xử lý thông tin
một cách thủ công, số lượng sổ sách cồng kềnh, mất thời gian, không cung
cấp kịp thời, chính xác thơng tin về các hoạt động kinh tế diễn ra trong công
ty.

Sáu là: Công ty cần phải bố trí, sắp xếp lại khối lượng cơng việc cho
phù hợp với mỗi nhân viên kế tốn, tránh tình trạng mất cân đối về thời gian,
sổ sách giữa các nhân viên, đảm bảo việc phản ánh thông tin một cách kịp
thời có hiệu quả, tránh dồn dập việc quyết tốn vào cuối quý.
Bảy là: Công ty nên tuyển thêm nhân viên kế tốn bởi với lượng cơng
việc kế tốn lớn như vậy mà chỉ có 6 cán bộ thì khối lượng công việc mỗi
người phải đảm trách là qua lớn, không đảm bảo sức khỏe cũng như hiệu quả
làm việc của các nhân viên.
Tám là: Về việc sử dụng TK kế tốn và ghi nhận doanh thu bán
hàng.Theo như trình bày ở trên, mọi trường hợp xuất kho có hố đơn GTGT
đều được coi là tiêu thụ, khi đó kế tốn ghi ln bút tốn ghi nhận doanh thu.
Theo em như vậy là chưa thật phù hợp. Nếu trong trường hợp giao nhận hàng
bán cho khách hàng ngay tại kho của Công ty, Công ty chỉ được thực hiện vận
chuyển hộ khách hàng thì có thể coi như hàng đã tiêu thụ và có thể ghi các bút
tốn ghi nhận doanh thu. Cịn trong trường hợp thành phẩm khơng được giao
tại kho của Công ty khi xuất bán, mà được vận chuyển đến địa điểm giao


nhận khác, rồi mới giao cho đại diện của khách hàng. Lúc này, khi hàng xuất
khỏi kho của Công ty nhưng chưa giao cho khách hàng nên chưa được coi là
tiêu thụ. Kế tốn khơng được phản ánh doanh thu ngay. Điều này là hồn tồn
hợp lý vì thứ nhất, hàng thực chất chưa giao, thứ hai, vận chuyển đến địa
điểm giao hàng phải mất nhiều ngày, mức rủi ro cao. Theo em, trong trường
hợp giao hàng tại các địa điểm xa, chưa nên coi là đã tiêu thụ ngay sau khi
xuất kho. Để đề phòng rủi ro, khi hàng xuất kho nên viết "Phiếu xuất kho
kiêm vận chuyển nội bộ", đồng thời phải sử dụng tài khoản 157 "Hàng gửi
bán" để theo dõi số hàng này. Khi đó, kế tốn ghi bút tốn ghi nhận hàng xuất
kho:
Nợ TK 157
Có TK 155

Chỉ khi khách hàng nhận được hàng và chấp nhận thanh tốn thì viết hố
đơn GTGT và ghi nhận doanh thu. Có như vậy mới phản ánh đúng số lượng
và chất lượng hàng xuất bán.


Bảng số 3.2
SỔ CHI TIẾT TK 911
QUÝ I/20045
ST
T
1
2
3
4
5

Diễn giải
632
Gía vốn hàng bán 46 587 798 459
Chi phí bán hàng
Chi phí QLDN
Lợi nhuận bán
hàng
Doanh thu thuần
Cộng

641

Ghi nợ TK 911, ghi có TK
642

421

Cộng nợ TK 911

Ghi có TK 911, ghi nợ TK
511
Cộng có 911

2 184 869 749
2 149 575 105
3 051 506 139
53 973 749 452
53 973 749 452

57 973 749 452


Chín là: Về việc trích lập dự phịng phải thu khó địi. Do đặc điểm của Cơng
ty ln có số phải thu của khách hàng lớn nên để đề phòng những rủi ro tổn thất có
thể xảy ra cho cơng ty khi có khách hàng khơng có khả năng thanh tốn, Cơng ty
nên lập dự phịng phải thu khó địi. Có như vậy, Cơng ty mới có thể chủ động hạn
chế tổn thất khi có rủi ro xảy ra.
Phương pháp xác định các chỉ tiêu ghi sổ kế toán liên quan đến dự phịng
phải thu khó địi. Căn cứ vào thực tế khả năng trả nợ được xác đinh bằng một trong
các cách sau để tính dự phịng nợ phải thu khó địi lập cho niên độ sau:
-Cách 1:Có thể ước tình tỷ lên nợ phải thu khó địi trên tổng số bán chịu:
Số DF phải thu cần
lập cho niên độ tới

=


Doanh số
bán chịu

x

Tỷlệ phải thu khó
địi ước tính.

-Cách 2: Dựa vào sổ chi tiết thanh toán với người mua của từng khách hàng
phân loại theo từng thời hạn thu hồi nợ, các khách hàng quá hạn được xếp loại
khách hàng nghi ngờ, doanh nghiệp cần thông báo cho khách hàng trên cơ sở thông
tin phản hồi từ khách hàng kể cả bằng phương pháp xác minh, xác định số dự
phịng cần lập theo % số khó thu.
Số DF cần lập = Số nợ phải thu của x Tỷ lệ khơng thu được ước
cho niên độ tới
khách hàng đáng ngờ
tính ở khách hàng đáng ngờ
TK hạch tốn: Cơng ty sử dụng TK 139 để theo dõi khoản dự phòng phải thu
khó địi.
Hạch tốn dự phịng phải thu khó địi
TK 131, 138

TK 139

TK 642

Số thiệt hại do nợ khó địi khơng Trích lập DF phải thu khó địi
địi được đã xử lý xố sổ
vào cuối niên độ kế tóan

TK 711

TK111, 112


Thu hồi được nợ

Hồn nhập DF phải thu khó
địi (cuối niên độ)
Theo em, Cơng ty nên lập dự phịng nợ phải thu khó địi theo cách hai, đơn
giản và hợp lý hơn.
VD: Đối với các khoản nợ phải thu của cơng ty Nam Hùng là:
334 956 077 đ, dự đốn khả năng thanh tốn là 75%, kế tốn sẽ tính ra số dự phòng
như sau:
Số dự phòng cần lập cho niên độ tới:
334 956 077 x 15% = 50 243 411,55 đ
Kế toán định khoản nghiệp vụ này như sau:
Nợ TK 6426: 50 243 411,55
Có TK 139: 50 243 411,55
Mười là: Về công tác tăng cường tiêu thụ sản phẩm:
-Tiêu thụ sản phẩm luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các doanh
nghiệp. Muốn sản phẩm sản xuất tạo ra được thế cạnh tranh trên thị trường thì
trước hết, Cơng ty phải phân tích nghiên cứu được chu kỳ sống của sản phẩm do
mình sản xuất, so sánh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Từ đó đề ra
được những chiến lược cụ thể cho từng giai đoạn, phù hợp với diễn biến của thị
trường. Bên cạnh đó, Cơng ty cịn phải chú ý đến việc nâng cao chất lượng sản
phẩm, tiêu chuẩn hoá và kiểm tra chất lượng sản phẩm, đảm bảo giữ uy tín với
khách hàng. Đồng thời kết hợp với việc hạ giá thành sản phẩm bằng cách tìm
nguồn cung ứng nguyên liệu rẻ hơn mà chất lượng vẫn đảm bảo, thực hiện tiết
kiệm trong sản xuất, chú ý đầu tư đổi mới trang thiết bị sản xuất...

-Mặt khác, để sản phẩm có thể được quảng bá rộng rãi và tăng khả năng cạnh
tranh rộng rãi trên thị trường, Công ty phải duy trì tốt mối quan hệ với khách hàng
thơng qua các đợt tiếp xúc trực tiếp được tổ chức một cách thường xun, có hệ
thống để nâng cao uy tín của Cơng ty trên thị trường. Ngồi ra, Cơng ty cịn phải
có biện pháp khuyến khích thoả đáng nhiều hơn nữa đối với các khách hàng


thường xuyên mua với khối lượng lớn, hoặc đối với các khách hàng thanh toán tiền
nhanh, trước thời hạn quy định để tăng vòng quay của vốn kinh doanh.
KẾT LUẬN

Những năm qua, cùng với sự đổi mới sâu sắc của cơ chế quản lý kinh tế,
chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý cuả Nhà nước, các doanh nghiệp thực sự phải vận động để tồn
tại và đi lên bằng chính thực lực của mình. Cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh
nghiệp phải năng động để hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận cao.
Đồng thời, phải tự mình tìm các nguồn vốn, tự bảo toàn và phát triển nguồn vốn
kinh doanh sao cho đạt hiệu quả nhất. Muốn đạt được điều đó địi hỏi cơng tác kế
tốn trong doanh nghiệp nói chung và cơng tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả
tiêu thụ nói riêng phải ngày càng được củng cố và hồn thiện để thực sụ trở thành
cơng cụ quản lý kinh tế, tài chính, góp phần vào cơng việc nâng cao hiệu quả hoạt
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải vận dụng một
các linh hoạt, sáng tạo và hợp lý vào thực tiễn, để công tác kế tốn phát huy hết vai
trị trong q trình quản lý kinh tế của doanh nghiệp.
Trong thời gian thực tập tại phịng kế tốn của cơng ty liên doanh Happytext
Việt Nam, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của cơ giáo Nguyễn Thanh Quý và sự giúp
đỡ tận tình của các cơ chú trong phịng Tài vụ của cơng ty, em đã đi sâu tìm hiểu về
cơng tác tiêu thụ. Qua đó, em đã nhận thấy được những mặt mạnh của công ty cần
phát huy và một số vấ đề còn tồn tại. Để khắc phục phần nào nhưững vấn đề cịn
chưa hồn thiện đó, em đã mạnh dạn đưa ra một số ý kiến đóng góp, với mục đích

hồn thiện hơn nữa cơng tác kế tốn tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu
thụ tại công ty liên doanh Happytext Việt Nam.


Do thời gian thực tập có hạn và hiểu biết về thực tế còn hạn chế, nên các vấn
đề đưa ra trong bài viết khơng tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự
quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cơ giáo và những người
quan tâm để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, tháng 4 năm 2004.
Sinh viên:

Vũ Thị Huệ



×