THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY ELMACO
I/ Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty elmaco:
1/Lịch sử hình thành :
Là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực lưu thông tư
liệu sản xuất ELMACO với tên gọi đầy đủ: Công ty vật liệu điện và dụng
cụ cơ khí tên tiếng anh: Electrical Materials and Mechanical in stuments
Corporation. Tên giao dịch ELMACO có trụ sở chính 240-242 Tôn Đức
Thắng - Đống Đa - Hà Nội. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
theo những giai đoạn sau:
- Năm 1971 được thành lập theo quyết định số 820/VT - QĐ ngày
22/12/1971 của Bộ trưởng Bộ vật tư với tên gọi Công ty vật liệu điện và
dụng cụ cơ khí trực thuộc Tổng Công ty hoá chất - vật liệu điện và dụng cụ
cơ khí.
- Năm 1985 Công ty được thành lập theo quyết định số 423/VT-
QUâN đẫI ngày 19/9/1985 của Bộ trưởng Bộ vật tư, vốn tên gọi Công ty
vật liệu điện trực thuộc Tổng Công ty hoá chất- vật liệu điện và dụng cụ cơ
khí
- 1991 thành lập các xí nghiệp kinh doanh thương mại đồng thời
thành lập các chi nhánh ELMACO tại các tỉnh thành phố: Lạng Sơn - Lào
Cai, Quảng Nuinh - Hải Phòng, Thái Nguyên - Nam Định - Thanh Hoá,
Vinh, Đông Hà Đà Nẵng, Quý Nhơn, thành phố Hồ Chính Minh, Vũng
Tàu.
1 1
- 1993 thành lập lại theo QĐ số 613/TN-TCCB ngày 28/5/1993 của
Bộ trưởng Bộ thương mại
Hiện công ty đã hình thành một hệ thống tổ chức kinh doanh gồm
các trung tâm các chi nhánh.
Trong quá trình tổ chức SXKD Công ty đã tạo ra nhiều mặt hàng có
lợi thế cao trên thị trường trong đó chủ yêú là các mặt hàng quặng, kẽm,
quặng Titan, sơn tẩm cách điện, than hoạt tính, nhựa LDPE, LLDPE,
XLPE, nhựa PP các loại, nhựa PS các loại, cao su tự nhiên
Trên 30 năm xây dựng và phát triển Công ty ELMACO đã đưa ra
nhiều giải pháp đồng bộ kịp thời từ tổ chức cơ cấu kinh doanh, phương
thức quản lý điều hành do vậy những tồn tại được giải qiuyết motọ cách
chủ động trên cơ sỏ hiệu quả đích thực của hoạt động kinh doanh Công ty
đã tạo ra những sản phẩm thiết yếu phục vụ cho đời xh tạo ra nhiều lợi thế
trên thị trường. Cho đến nay ELMACO đã vững vàng trên con đường phát
triển trở thành một trong những Công ty hàng đầu về sản xuất vật liệu điện
- dụng cụ cơ khí của ngành công nghiệp nhẹ Việt Nam
Kết quả kinh doanh và một số chỉ tiêu khác qua một số năm
Đơn vị tính: 1000đ
Chỉ tiêu TH 1999 TH 2000
So sánh
1999/2000
Số tiền Tỷ lệ
I. Kết quả hoạt động KD
1. Tổng doanh thu (không thuế
GTGT)
214.518.32
1
262.367.95
3
47.849.632 22,3
2. Tổng kinh phí chi phí gồm
- Giá vốn hàng hoá 201.510.17
2
248.715.48
4
47.205.312 23,43
- Chi phí bán hàng 9.284.611 9.700.507 415.896 4,48
2 2
- Chi phí QLDN 2.102.799 1.980.963 -121.836 -5,79
3. (1-2) 1.620.739 1.970.999 350.260 21,61
4. Thuế thu nhập 518.636 630.719 112.083 21,61
5. Lợi nhuận sau thuế 1.102.103 1.340.280 238.177 21,61
II. Nộp ngân sách nhà nước
- Thuế GTGT 2.091.364 2.182.321 90.957 4,34
- Thuế TNDN 518.636 630.719 112.083 21,6
- Thuế vốn 25.894 2.839.515 581 2,24
2/ Lĩnh vực kinh doanh :
Mười lăm năm đổi mới chuyển tư nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các
tổ chức kinh tế đã có những thay đổi lớn lao, có doanh nghiệp phát triển
vượt bậc, có doanh nghiệp lao đao đang chờ phá sản, nhưng cũng có doanh
nghiệp vẫn còn đang trong quá tình tìm một hướng đi. ELMACO đã tiến
hành đổi mới rất sớm, có thể nói là một trong những doanh nghiệp đầu tiên
bước vào sân chơi mới và đã tạo dựng được những thành công đang kể.
Nhưng phát triển là cả một quá trình, sự tìm tòi, sáng tạo và đổi mới không
ngừng. đó là sự vận động hợp với quy luật phát triển, dưng lại là tụt hậu, la
bị đào thải, gặt hái những thành công và gặp phải những bài học xương
máu nhu là bạn đồng hành của quá trình đó. Không đổ mồ hôi thì không thể
có hoa thơm trái ngọt, và có lẽ đó cung chẳng phải chỉ riêng ELMACO, chỉ
có điều mức độ thành công và cái giá phải trả thì khác nhau. Mỗi lần thành
công, mỗi lần vấp váp lại càng thôi thúc ELMACO phải tiếp tục đổi mới và
hướng tới tương lai. Con đường tiến tới thành công đang rộng mở cho tất
cả những ai những doanh nghiệp nào dám nghỉ dám làm, chấp nhận thách
thức để nắm lấy thời cơ.
3 3
Vật liệu và dụng cụ cơ khí là tên gọi hai nhóm hàng và cũng là tên
gọi chính thức của Công ty vật liệu điện và dụng cụ cơ khí (ELMACO)
hiện nay. Trước năm 1965, các mặt hàng quan trọng đều do các ngành đảm
nhiệm cung ứng, đáp ứng nhu cầu trong ngàh, còn các mặt hàng thông
dụng do Bộ nội thương tổ chức kinh doanh. Từ năm 1965 đã có sự phân
công kinh doanh tương đối tập trung hơn đối với các mặt hàng vật liệu điện
và dụng cụ cơ khí, nhưng phải đến năm 1967 mới rõ nét có tính chất ngành
hàng. Đó là: Vật liệu điện chuyên dùng thuộc Bộ công nghiệp nặng, vật
liệu điện thông dụng thuộc Bộ nội thương, vật liệu điện ngoài phân trên,
dụng cụ cắt gọt và dụng cụ kiểm đo cơ khí thuộc Tổng cục vật tư. Đến cuối
năm 1971 Thủ tướng Chính phủ quyết định giao nhiệm vụ cung ứng vật
liệu điện và dụng cụ cơ khí theo kế hoạch nhà nước cho Bộ vật tư và phần
ngoài kế hoạch với các nhu cầu nhỏ lẻ cho Bộ nội thương. Kể từ lúc này
mới co thể nói là chính thức khai sinh nghành hàng vật liệu điện và dụng cụ
cơ khí mà tổ chức quốc gia được trực tiếp kinh doanh là Tổng Công ty hoá
chất - vật liệu điện và dụng cụ cơ khí (Bộ vật tư). Ngay sau khi thành lập
Tổng Công ty, ngày22 tháng 12 năm 1971. Bộ vật tư đã quyết định thành
lập Công ty vật liệu điện để tổ chức kinh doanh các mặt hàng vật liệu điện
và dụng cụ cơ khí
Ra đời từ khi đất nước còn chiến tranh, đến nay ELMACO đã trải
qua 30 năm xây dựng và phát triển. Mười lăm năm đầu trong lịch sử của
mình, ELMACO đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển phụ thuộc vào quá
trình cải tổ hệ thống cung cấp tư liệu sản xuất của nền kinh tế. Tuy nhiên có
lẽ sự thay đổi đó hầu như không có sự thay đổi nào về chất trong quá trình
hoạt động và phát triển của ELMACO. Điều này mang tính tất yếu lịch sử
của quá trình nhận thức và quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước và
doanh nghiệp trong gia đoạn đó, cho dù đó là ELMACO hay là một doanh
nghiệp khác. Thế hệ những người đi trước đã xây dựng ELMACO bằng tất
4 4
cả tinh thần và nhiệt huyết mà mình có được. Biết bao công sức, trí tuệ và
mồ hôi đã đổ ra cho việc tạo dựng cơ sở vật chất ban đầu, tổ chức tiếp
nhân, bảo vệ, bảo quản hàng hoá trong thời kỳ chiến tranh phá hoại lần thứ
hai và đặc biệt là giai đoạn đảm bảo và phát triển nguồn hàng phục vụ cho
nhu cầu sản xuất sau chiến tranh, những bài học, cách làm trong việc phát
triển tạo nguồn của ngành vật tư có lẽ chỉ riêng có ELMACO, Công ty đã
nhận thấy không thể trông chờ vào nhập khẩu mà còn có thể tổ chức sản
xuất trong nước với nhiều mặt hàng và chính điều đó đã tạo ra sự năng
động, nhạy bén và sát thực tế với quá trình sản xuất. Đây chính là những tài
sản vô hình đã tích luỹ được của ELMACO trong thời kỳ bao cấp và phát
huy tác dụng khá rõ trong những năm đầu chuyển đổi cơ chế, không chỉ
trong việc tạo nguồn mà cho cả toàn bộ quá trình marketing. Mặc dù những
thành công chưa đáng kể, nhưng trên bình diện chung của thời kỳ bao cấp
ELMACO luôn là một doanh nghiệp hàng đầu về thực hiện nhiệm vụ kinh
doanh và các nhiệm vụ chính trị khác. Trong suốt 15 năm của thời kỳ này,
ELMACO liên tục hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước trên 10%, có
năm tới gần 20% và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cùng với việc thực
hiện tốt các mặt hoạt động khác. Thành tích và công lao của tập thể những
người lao động trong Công ty đã được xác nhận, năm 1986 ELMACO đã
vinh dự được nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý: Huân chương lao
động hạng ba.
Năm 1986 là năm khởi đầu của đổi mới tư duy kinh tế, có thể nói
đây cũng là năm đầu tiên của giai đoạn chuyển đổi của ELMACO. Với tinh
thần đổi mới mạnh mẽ, trong điều kiện cơ chế chưa hình thành đầu đủ,
ELMACO đã mạnh dạn và tự tin bước vào một chặng đường mới, chặng
đường mà sự bao cấp của nhà nước sẽ không còn và sự vận động của doanh
nghiệp quyết định chính sự tồn tại và phát triển của mình. Chỉ trong một
thời gian ngắn, ELMACO đã phải làm và làm được nhiều việc mà trước đó
5 5
khó có thể thực hiện được, từ việc thay đổi cơ cấu tổ chức, lao động, hệ
thống mạng lưới và phương thức kinh doanh, tìm kiếm tạo nguồn cung cấp
mới, xúc tiến phát triển mặt hàng mới và phát triển thị trường. Tất cả đều
mới mẻ trên nền xuất phát điểm rất thấp, nhưng nhờ triển khai đồng bộ và
khá cơ bản từ tư duy đến cách thức tổ chức thực hiện nên cho dù cơ chế
còn nhiều vướng mắc, ELMACO đã trưởng thành vượt bậc. Cho đến năm
1991 có thể nói ELMACO đã có một vị thế khá vững chắc trên thương
trường như một hình mẫu của tổ chức thương nghiệp, vật tư tự chủ kinh
doanh và hạch toán. Doanh thu năm 1991, đã gấp 140 lần so với năm 1986
và cho đến hết năm 1991, ELMACO đã tự tích luỹ bổ sung thêm được một
số vốn bằng 20% vốn ngân sách cấp. Nhưng vượt lên trên tất cả những con
số đó là hình ảnh một ELMACO đi trước về nhiều mặt, đột phá về tư duy
kinh doanh sáng tạo, năng động, không chỉ đứng vững mà còn phát triển
ngay trong thời kỳ khó khăn của những năm đầu sau khi chuyển đổi cơ chế
đồng thời tự tạo cho mình những hành trang cơ bản để tiếp tục phát triển
vững chắc trong kinh tế thị trường. Xác nhận thành công nhiều mặt của
ELMACO, nhiều phần thưởng của các cấp đã dành cho ELMACO và đặc
biệt chỉ sau 5 năm đổi mới đúng vào năm 1991 ELMACO đã vinh dự được
tặng Huân chương lao động hạng nhì, Huân chương của lòng dũng cảm
vượt khó, năng dộng, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và hội nhập với kinh tế
thị trường.
Sau giai đoạn thành công có tính đột phá, những dấu hiệu trì trệ và
bất ổn trong hoạt động kinh doanh của ELMACO đã xuất hiện. Trước hết
là sự mất cân đối giữa tiềm lực và quy môt hoạt động, với số vốn mà nhà
nước giao năm 1991 chỉ đáp ứng được trên 20% nhu cầu vốn kinh doanh
và trong quá trinhf hoạt động khi mở rộng quy mô thì số vốn đó trong
những năm tiếp sau chỉ đáp ứng từ 7 đến 15% nhu cầu. Như vậy sự mất cân
đối này là khá lớn, và nếu xét đến phần vốn chết thuộc danh mục hàng hoá
6 6
tồn động từ cơ chế cũ đã được phê duyệt cùng danh mục hàng hoá tồn động
khác chưa được phê duyệt cũng nằm trong số vốn đựơc giap đã chiếm tới
trên 60% tổng số vốn thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu thực tế sử dụng được cho
kinh doanh giai đoạn 1991-1994 chỉ đáp ứng được từ 3 đến 7%. Mặc dù để
hoạt động với quy mô như trên ELMACO đã phải tập trung mọi nổ lực tìm
kiếm các nguồn vốn chính thức và phi chính thức để đảm bảo nguồn vốn
cho kinh doanh, nhưng với số vốn chủ sở hữu ở mức quá thấp như thế thì
khả năng ổn định kinh doanh và tăng trưởng bền vững cũng như hiệu quả
cuối cùng khó đạt được.
Cùng với việc mở rộng quy mô kinh doanh, do cơ sở vật chất nghèo
nàn, văn phòng làm việc của Công ty phải sử dụng những nhà kho cũ (kho
tàng vẫn còn sử dụng cả kho xưoửng thu hồi từ những năm 1950) phương
tiện vận tài cũ nát nên ELMACO phải từng bước đầu tư nâng cấp, cải tạo,
mua và xây dựng mới để đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động của mình.
Không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động kinh
doanh, việc tiếp tục đầu tư để mở rộng sản xuất là một chủ trương chiến
lược trong sự phát triển của ELMACO cũng được đồng thời tiến hành. Do
những yêu cầu phát triển đó, sự mất cân đối nguồn lực và quy mô ngày
càng tăng lên gay gắt hơn, ELMACO không thể duy trì được quy mô quá
lớn và buộc phải thực hiện quá trình cắt giảm quy mô hoạt động, bắt đầu
diễn ra từ năm 1995 đến 1997, doanh thu của Công ty giảm liên tục cho
đến năm 1997 chỉ còn 240 tỷ đồng. Là một doanh nghiệp kinh doanh vật tư
nên ELMACO chưa chú trọng đúng mức đến thị trường ngoài nước nên
không phát triển được xuất khẩu. Với cơ cấu kinh doanh có từ 75-80%
hàng nhập khẩu không phát triển được hoạt động xuất khẩu nên sự mất cân
đối trong cán cân thanh toán là cực kỳ nghiêm trọng, hầu như các nguồn
ngoại tệ cho thanh toán hàng nhập khẩu đều mua của các tổ chức tín dụng
hoặc doanh nghiệp khác. Cũng trong thời gian này, dấu hiệu suy giảm tăng
7 7
trưởng của các nền kinh tế trong khu vực đã xuất hiện và đỉnh điểm là cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động kinh doanh của ELMACO. Do sự tăng giá của USD so với đồng Việt
Nam, ELMACO đã rơi vào một tình thế không lối thoát khi giá bán vật tư
bằng nội tệ không tăng, các khoản vay ngoại tệ để nhập khẩu vật tư trước
đó đã đến hạn trả nợ, khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh không thể bù đắp
ngay được.
Thành công, phát triển, suy giảm rồi lại vững bước trên chặng đường
30 năm xây dựng và phát triển, trước mắt ELMACO sẽ còn nhiều chặng
đường, nhưng cả lịch sử 30 năm ELMACO và đặc biệt là 15 năm đổi mới
qua những giai đoạn phát triển, đã là thực tiễn sinh động, chứng minh một.
xu thế không thể đảo ngược là ELMACO sẽ phát triển bền vững và
trường tồn trong mọi thử thách của thương trường.
3/ Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh tại Công
ty vật liệu điện và dụng cụ cơ khí.
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
- Giám đốc: Là người đứng đầu Công ty do Bộ trưởng Bộ thương
mại bổ nhiệm, Giám đốc là người phải chịu trách nhiệm toàn diện và điều
hành toàn bộ hoạt động của Công ty, là người đại diện cho quyền lợi và
nghĩa vụ của toàn Công ty trước pháp luật
- Giúp việc cho Giám đốc là Phó giám đocó Công ty đề bạt và Bộ
trưởng Bộ thương mại bổ nhiệm và miễn nhiệm.
+ Phó giám đốc: Giám đốc uỷ quyền duyệt các phưong án kinh
doanh, các phòng kinh doanh và các chi nhánh ký duyệt thu chi tài chính,
8 8
ký các hợp đồng kinh tế về nhập khẩu và bán hàn khối kinh doanh khu vực
miền Bắc.
- Phòng tổ chức: Có khả anưng tham mưu cho Giám đốc về việc sắp
xeeps bố trí cán bộ đào tạo và phân loại lao động để bố trí đúng người,
đúng ngành nghề công việc, thanh quyết toán chế độ cho người lao động
theo chính sách, chế độ của nhà nước và quy chế của Công ty.
- Phòng tài chính kế toán: Ghi chép phản ánh toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh trong đơn vị, qua đó Giám đốc tình hình tài chính của
Công ty cũng như việc sử dụng có hiệu quả tiền vốn, lao động vật tư, giám
đốc việc chấp hành chế độ hạch toán, các chi tiêu kinh tế tài chính theo quy
định của nhà nước, lập báo cáo tổng hợp, xác định kết quả tiêu thụ, kết quả
tài chính và hiệu lực của Công ty.
- Phòng kế hoạch tổng hợp: thực hiện việc lập kế hoạch và thống kê
từng ngành hàng, kỹ thuật quản lý kho, chuyên viên.
- Phòng thanh tra: Là một bộ phận trong cơ cấu Công ty, giúp giám
đốc Công ty thực hiện quyền thanh tra mọi hoạt động trong phạm vi quản
lý của Công ty. Phòng thanh tra chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của
Giám đốc Công ty thông qua các hướng dẫn.
- Các phòng sản xuất kinh doanh và chi nhánh: Là đơn vị trực
thuộc sản xuất kinh doanh theo ngành hàng được phân công.
Thực hiện các chế độ ghi chép ban đầu, thực hiện chế độ thông
tin báo cáo tiếp thị và cung ứng trực tiếp hàng hoá cho mọi đối
tượng, quản lý tiền hàng, cơ sở vật chất
do Công ty giao. Mọi hoạt động của các phòng sản xuất kinh doanh
và chi nhánh được tiến hành theo phương pháp hạch toán kinh tế
9 9
- Phòng kho vận: Bao gồm quản lý kho, bảo quản kho tàng và toàn
bộ hàng hoá trong khi kể cả số lượng và chất lượng, kiểm soát hàng hoá
vào kho theo nguyên tắc. thực hiện chức năng giao nhận và vận chuyển
hàng hoá phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty và
các chi nhánh.
4/ HỆ THỐNG TỔ CHỨC KINH DOANH CỦA ELMACO
Trên cơ sở các hình thức tổ chức phù hợp , đầu tư cho từng mặt
hàng và phát triển mặt hàng đó thành từng nhóm hàng chuyên môn hoá ,
tách dần từng bộ phận kinh doanhchuyên môn hoá đó để tổ chức thành các
đơn vị kinh doanh độc lập bằng các hình thức kinh doanh phù hợp mà chủ
yếu là cổ phần hoá bộ phận thành công ty cổ phần , góp vốn thành lập công
ty cổ phần mới trên cơ sở đầu tư đã có của nhóm hàng , mặt hàng
,ELMACO tổ chức kinh doanh theo hình thức hệ thống các chi nhánh công
ty ,đóng ở các tỉnh toàn quốc :
1. TRUNG TÂM KINH DOANH VẬT LIỆU ĐIỆN VÀ DỤNG CỤ CƠ
KHÍ
Địa chỉ: 240 Tôn Đức Thắng - Hà Nội
Tổ chức kinh doanh các mặt hàng chủ yếu của ELMACO ngoài việc
tổ chức tiếp thị để cung cấp thẳng đến khách hàng và bán buôn là chủ yếu.
Trung tâm còn tổ chức một số quầy hàng giới thiệu và bán lẻ đối với một số
mặt hàng có tiêu dùng nhỏ lẻ.
Cáp điện (ĐT: 8515972, 8271730)
Thiết bị và dụng cụ đo lường cơ khí chính xác
(ĐT: 5115349)
Vòng bi (ĐT: 8515704, 8215424)
Săm lốp ô tô (ĐT: 8515976)
10 10
2. TRUNG TÂM XUẤT KHẨU VÀ KINH DOANH HOÁ CHẤT:
Địa chỉ: 240 Tôn Đức Thắng - Hà Nội
Tổ chức kinh doanh xuất khẩu tổng hợp và kinh doanh hoá chát.
3. XÍ NGHIỆP KINH DOANH VẬT LIỆU ĐIỆN
Địa chỉ: 240 Tôn Đức Thắng - Hà Nội
Tổ chức kinh doanh các mặt hàng không chủ yếu của ELMACO
thuộc ngành hàng vật liệu và thiết bị điện, được tổ chức theo các nhóm
kinh doanh chuyên môn hoá theo mặt hàng. Các nhóm chuyên doanh này
đều có quày hàng giới thiệu và bán lẻ.
Động cơ điện, máy bơm nước, tổ máy phát điện, tổ máy nén khí,
dụng cụ cơ điện cầm tay (ĐT: 8516452)
Thiết bị và khí cụ điều khiển bảo vệ (ĐT: 8513994)
Thiết bị và khí cụ đo lường điện, dây điện (ĐT: 5113211)
Thiết bị chiếu sáng, phụ kiện điện dân dụng (ĐT: 5112548)
Vật liệu cách điện, cách nhiệt (ĐT: 8515974)
4. XÍ NGHIỆP KINH DOANH DỤNG CỤ CƠ KHÍ
Địa chỉ: 240 Tôn Đức Thắng - Hà Nội
Tổ chức kinh doanh các mặt hàng không chủ yếu của ELMACO
thuộc ngành hàng dụng cụ cơ khí, thiết bị và vật liệu hàn, được tổ chức
theo các nhóm kinh doanh chuyên môn hoá theo mặt hàng. Các nhóm
chuyên doanh này đều có quày hàng giới thiệu và bán lẻ.
5. XÍ NGHIỆP KINH DOANH VẬT TƯ TỔNG HỢP I
Địa chỉ: 240 Tôn Đức Thắng - Hà Nội
Tổ chức kinh doanh tổng hợp các mặt hàng theo phương thức bán lẻ
là chủ yếu và theo hướng đáp ứng đồng bộ nhu cầu của khách hàng trên cơ
11 11
sở các mối quan hệ bạn hàng khi cung cấp các mặt hàng vật liệu điện và
dụng cụ cơ khí.
Xí nghiệp có một hệ thống các cửa hàng,bao gồm:
- Cửa hàng tổng hợp 240 Tôn Đức Thắng, ĐT: 8516022
- Cửa hàng sản phẩm cao su, ĐT: 8514700
- Cửa hàng 129 đường Nguyễn Trãi, ĐT: 8581893
- Cửa hàng 125 đường Giải Phóng, ĐT: 8692168
- Cửa hàng Khu chợ Nguyễn Công Trứ, ĐT: 8216940
- Cửa hàng 117 Nguyễn Công Trứ, ĐT: 9783378
6. XÍ NGHIỆP KINH DOANH VẬT TƯ TỔNG HỢP II
Địa chỉ: Số 2 phố Long Biên, thị trấn Gia Lâm - Hà Nội
Tổ chức kinh doanh tổng hợp các mặt hàng theo phương thức bán lẻ
là chủ yếu và theo hướng đáp ứng đồng bộ nhu cầu của khách hàng trên cơ
sở các mối quan hệ bạn hàng khi cung cấp các mặt hàng vật liệu điện và
dụng cụ cơ khí.
Xí nghiệp có một hệ thống cửa hàng, bao gồm:
- Cửa hàng số 2 phố Long Biên 2, Gia Lâm, Hà Nội, ĐT: 8733484
- Cửa hàng dốc Cẩm, thị trấn Gia Lâm, ĐT: 8273025
- Cửa hàng số 15 Nhà máy xe lửa Gia Lâm, ĐT: 8273075
- Cửa hàng số 170 Ngô Gia Tự, Đức Giang, ĐT: 8771642
7. NHÀ MÁY DÂY VÀ CÁP ĐIỆN:
Địa chỉ: Số 92 đường Đức Giang, Đức Giang, Gia Lâm - Hà Nội
Là đơn vị đầu tiên trong Công ty đã áp dụng hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn ISO - 9002
12 12
Tổ chức sản xuất dây và cáp điện lực, xây lắp đường dây và trạm
biến áp lưới điện phân phối.
Ngoài việc tổ chức cung cấp thẳng đến khách hàng và bán buôn, tổ
chức cung cấp qua hệ thống các đại lý ở miền Bắc và miền Trung, nhà máy
có một số cửa hàng giới thiệu và bán lẻ sản phẩm.
Cửa hàng 240 Tôn Đức Thắng - Hà Nội
- Cửa hàng số 2, phố Long Biên 2, Gia Lâm ĐT: 8732828
8. XÍ NGHIỆP SẢN XUẤT THIẾT BỊ ĐIỆN
Địa chỉ: Số 2 phố Long Biên 2, thị trấn Gia Lâm - Hà Nội
Tổ chức sản xuất máy hàn điện, quạt chống nóng, choá đèn cap áp và
một số khí cụ, phụ kiện khác.
Ngoài việc tổ chức cung cấp thẳng đến khách hàng và bán buôn, xí
nghiệp có một số cửa hàng giới thiệu và bán lẻ sản phẩm đồng thời kết hợp
kinh doanh tổng hợp vật tư hàng hoá.
Cửa hàng số 2, phố Long biên 2, Gia Lâm - Hà Nội: ĐT: 8730300
Cửa hàng 240 Tôn Đức Thắng, ĐT: 8512228
Cửa hàng số 2 Quốc Bảo, ĐT: 8614564
9. XÍ NGHIỆP KHO VẬN:
Địa chỉ: Số 2 phố Long Biên 2, thị trấn Gia Lâm - Hà Nội
Tổ chức kinh doanh dịch vụ kho bãi, giao nhận, vận chuyển.
X. Chi nhánh ELMACO thái nguyên
Địa chỉ: 238/1 cách mạng tháng tám thành phố Thái Nguyên
Tổ chức kinh doanh trên địa bàn khu công nghiệp Thái Nguyên và
các tỉnh miền núi phía Bắc.
10. CHI NHÁNH ELMACO HẠ LONG
13 13
Địa chỉ: 28 Kênh Liêm, Hồng Hà, thành phố Hạ Long
Tổ chức kinh doanh trên địa bàn khu công nghiệp Quảng Ninh.
11. CHI NHÁNH ELMACO ĐÔNG HÀ
Địa chỉ: Số 111 đường Lê Duẩn, Đông Hà Quảng Trị
Tổ chức kinh doanh trên địa bàn nam Đèo Ngang - Bắc Hải Vân và triển
khai kinh doanh qua khu kinh tế cửa khảu Lao Bảo.
12. CHI NHÁNH ELMACO ĐÀ NẴNG
Địa chỉ: Số 272 Điện Biên Phủ, thành phố Đà Nẵng.
Tổ chức kinh doanh trên địa bàn miền trung từ nam đèo Hải Vân và khu
vực Tây Nguyên.
XIV: CHI NHÁNH ELMACO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Địa chỉ: Số 49A Phan Đăng Lưu, quận Bình Thạnh. TP Hồ Chí Minh
Tổ chức kinh doanh trên địa bàn các tỉnh Trung Bộ và Nam Bộ.
II/ Đặc điểm phân loại và tổ chức hạch toán chi tiết lao
động tại công ty elmaco:
1/ Lao động là một trong những yếu tố cơ bản của hoạt động sản xuất kinh
doanh đồng thời nó là yếu tố quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh.
Nếu thiếu một trong các yếu tố này hoạt động sản xuất kinh doanh không
thể tiến hành. Để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả cao thì doanh
nghiệp cần quản lý lao động trên cả 3 mặt: số lượng, thời gian và kết quả.
Muốn quản lý lao động tốt nhà quản lý phải phân chia lực lượng lao động
của mình ra từng nhóm, theo các tiêu thức khác nhau.
14 14
Sau đây là bảng tổng hợp số lượng, chất lượng, lao động 3 năm gần
đây, số lao động trong công ty không thay đổi 420. Đây là yếu tố rất thuận
lợi.
Chỉ tiêu 1999 2000 2001
I. ∑ lao động trong diện quản lý
- Nữ
420
175
420
172
420
170
II. Phân theo trình độ
- Lao động có trình độ CĐ trở lên
- Trung học chuyên nghiệp
- CNKT bậc 4 trở lên
- CNKT dưới bậc 4
- CNKT chưa qua đào tạo
110
146
73
36
55
117
151
73
34
45
119
150
73
34
44
III. Theo độ tuổi
- Dưới 30 tuổi
+ Nữ
70
36
86
40
88
41
- Tuổi 31 - 40 tuổi
+ Nữ
130
48
135
52
136
52
- Tuổi 41 - 50 tuổi
+ Nữ
120
35
110
31
108
28
- Tuổi 51 - 60 tuổi
+ Nữ
100
50
89
49
88
47
IV. Phân theo cơ cấu
- Thương mại dịch vụ
+ Lao động trực tiếp
+ Lao động gián tiếp
- Lao động sản xuất
+ Lao động gián tiếp
+ Lao động trực tiếp
210
80
25
105
220
70
20
110
223
67
18
112
Qua bảng dưới đây cho ta thấy lao động có trình độ cao đẳng trở lên
của công ty chiếm gần 1/3 đây là con số cao đối với các công ty Nhà nước
15 15
(Quốc doanh) mà càng ngày công ty càng đòi hỏi nhưng người có chuyên
môn cao (năm 1999, lao động có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 26%
nhưng đến năm 2001 thì nó chiếm tới ≈ 28%). Đồng thời công ty ngày càng
trẻ hoá đội ngũ lao động. Năm 1999 dưới 30 tuổi chỉ có 17% nhưng đến
năm 2001 lên tới 20,9% vì những lao động trẻ hăng hái, kiến thức để phát
triển công ty.
Nếu xét theo góc độ cơ cấu thì công ty cũng chú trọng hơn tới việc
kinh doanh như năm 1999 ngành Thương mại dịch vụ chiếm 69% thì đến
năm 2001 đã lên tới 70%. Đâylà một sự cải tổ về cơ cấu tổ chức cũng như
con người nhằm đưa công ty phát triển hơn.
2/Tổ chức hạch toán tiền lương tại công ty :
a/ Hình thức tiền lương đang áp dụng tại Công ty
elmaco:
+ Tiền lương giữ vai trò to lớn trong vấn đề kích thích sản xuất, song
chỉ là khả năng. Khả năng đó trở thành hiện thực thì cần phải áp dụng một
cách linh hoạt các hình thức trả. Mỗi hình thức tiền lương cụ thể đều có ưu
điểm và hạn chế riêng, vì vậy việc áp dụng tổng hợp các hình thức trả
lương là một tất yếu khách quan của quản lý kinh tế.
+ Đặc điểm của quá trình lao động, yêu cầu của quá trình sản xuất
kinh doanh và tính chất của sản phẩm cũng như mặt hàng kinh doanh là
những căn cứ để lựa chọn hình thức trả lương. Hình thức trả lương được áp
dụng phải bảo đảm việc tuân theo pháp luật phân phối theo lao động một
cách nghiêm ngặt và kích thích người lao động tích cực hăng say lao động
sản xuất. Trong công tác quản lý kinh tế người ta áp dụng 2 hình thức trả
lương: trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm.
+ Hiện nay Công ty cũng đang áp dụng 2 hình thức trả lương này.
16 16
- Đối với hình thức trả lương theo thời gian.
+ Đây là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian
làm việc thực tế. Nhược điểm của hình thức trả lương này các chỉ tiêu như:
năng suất lao động, không ảnh hưởng đến tiền lương.
+ Nhìn chung, việc trả lương theo thời gian chỉ nên áp dụng cho
những người lao động mà công việc của họ không thể định mức và theo dõi
chặt chẽ được hoặc áp dụng đối với người lao động mà công việc của họ
không đòi hỏi tăng năng suất lao động mà vẫn phải đảm bảo chất lượng hay
nói cách khác là chỉ nên áp dụng hình thức trả lương theo thời gian cho
những người lao động mà việc tăng năng suất ít phụ thuộc vào sự nỗ lực
của bản thân họ mà nó do các yếu tố khách quan quyết định.
- Cách tính lương thời gian tại Công ty :
Công ty thương áp dụng hình thức trả lương theo thời gian với cách
thanh toán làm 2 lần:
* Lần 1: tạm ứng (được tính trên cơ sở ước tính số công mà người lao
động làm được trong tháng).
* Lần 2: số tiền còn lại, sau khi kế toán tiền lương đã trừ các khoản
phải khấu trừ.
Lương =
Ngoài ra phụ cấp trách nhiệm được tính như sau:
Phụ cấp trách nhiệm = Mức lương tối thiểu hệ số phụ cấp.
Ngày nghỉ phép, nghỉ lễ được 100% lương.
Ví dụ 1:
* Lương của chị Lê Thu Hằng được tính như sau:
Lương =
Trong đó:
+ Hệ số lương của chị Hằng là 2,55.
17 17
+ Mức lương tối thiểu do Nhà nước ban hành theo Nghị định 10/CP
ngày 01/01/2000 là: 180.000đ/ tháng.
+ Ngày công trung bình trong tháng là 22.
* Phụ cấp trách nhiệm = 180.000 x 0,15 = 27.000 đồng
Trong đó:
+ Hệ số phụ cấp là: 0,15.
+ Mức lương tối thiểu là 180.000đ/ tháng.
* Tiền công một ngày lễ hưởng 100% lương:
Trong đó:
+ Hệ số bản thân (theo qui định của BQP) là: 2,68.
+ Số ngày lễ nghỉ là: 1
+ Ngày công trung bình trong tháng là: 22.
=> Thu nhập của chị Lê Thu Hằng = 417.278 + 27.000 + 21.927 = 466.214đ.
- Đối với hình thức trả lương theo sản phẩm.
+ Hình thức trả lương theo sản phẩm được áp dụng rộng rãi trong các
doanh nghiệp sản xuất, nó có ưu điểm là: có tác dụng kích thích người sản
xuất quan tâm đến kết quả lao động của mình, cố gắng tăng năng suất lao
động và có trách nhiệm với sản phẩm của mình làm ra.
Tại Công ty elmaco hình thức trả lương theo sản phẩm cũng được chia
ra làm 2 kỳ thanh toán:
+ Kỳ 1: tạm ứng (được ước tính trên cơ sở sản phẩm làm được
trong tháng).
+ Kỳ 2: số tiền còn lại sau khi đã trừ các khoản phải khấu trừ (tùy theo
số lượng thực tế để tính được lương thực tế) chi phí tiền lương cho mỗi
công nhân như sau:
Lương = Số sản phẩm x Đơn giá
b/ Quỹ Tiền lương:
18 18
Đó là giá cả của sức lao động được hình thành trên cơ sở thoả thuận
giữa người lao động và người sử dụng lao động phù hợp với quan hệ cung
cầu về sức lao động trong nền kinh tế thị trường.
• Phương pháp xác định qũy lương tại doanh nghiệp
Q = Lãi gộp - Chi phí (chưa chia lương) - Kinh phí nộp Công ty
Lãi gộp = Doanh thu - Giá vốn
Bảng tính quỹ lương tại công ty
TT Các trường hợp P Dự phòng D Quỹ lương Q
1 P < 0 Không có dự phòng Vay Q = L
TT
x N
2
0 ≤ (P/N) < L
TT
Không phải dự
phòng
Vay để đủ Q = L
TT
x
N
3
LTT ≤ (P/N) < 1.000.000
Không phải dự
phòng
Q = P
4
1.000.000 ≤ (P/N) <
4.300.000
Dự phòng = P.k% Q = P (100-k)% = P
- D
5
4.300.000 ≤ (P/N)
Dự phòng = P - Q Q = 2700.000 x N
Đơn vị tính lương: đồng Thời gian: tháng
P: Lợi nhuận trước khi chia lương
P = Lãi gộp - ∑
CP
- Vay lương - Kinh phí nộp
N: Tổng số người
Q: Quỹ lương được hưởng
T: Quỹ khen thưởng
D: Quỹ dự phòng
Q = P - (Đ + T)
T: Được xác định khi có quy chế khen thưởng (T = 0)
Hệ số k = (P/N - 600.000)/100.000 lấy nguyên dương
L
TT
: Lương tối thiểu
* Chi phí trích lương cho lễ tân là 900.000đ/người/năm được xác
định và trích trên bản quyết toán lương hàng tháng. Chi phí này nằm ngoài
kinh phí nộp công ty.
19 19
* Chi phí dự phòng
Khi lương bình quân của đơn vị đạt 1.000.000đ/người/tháng trở lên
thì bắt đầu phải trích dự phòng. Trưởng đơn vị có quyền sử dụng quỹ dự
phòng này khi lương CBCNV còn thấp (nó được tính như bảng trên).
* Quỹ lương đơn vị được chi trong tháng (quý) là số Q nói trên, quỹ
lương này đã bao gồm cả lương ngoài giờ ca 3 phụ cấp chức vụ, hệ số chức
vụ của trưởng phó đơn vị.
* Riêng đối với trung tâm kinh doanh, trường hợp sau khi nộp đủ
kinh phí theo chỉ tiêu khoán công ty giao mà
O ≤ (P/N) < 700.000 thì TTKD sẽ được hưởng
Q = 700.000 x N
* Sau khi có quyết toán năm mà vẫn còn quỹ dự phòng đơn vị sẽ bổ
sung quỹ lương để đảm bảo lương bình quân đạt 2.700.000đ/người/tháng.
Nếu còn sẽ trích nộp các quỹ như quỹ công.
* Đối với các đơn vị kinh doanh: Nguồn trả lương (kể cả lãnh đạo)
được xác định chỉ tiêu lợi nhuận thực hiện của đơn vị.
Điều kiện để xác định nguồn trả lương hàng tháng, quỹ năm là có
báo cáo quyết toán lương theo mẫu của đơn vị. Quyết toán của kế toán
trưởng, công ty và của cán bộ lao động tiền lương của công ty, đồng thời để
trả lương phải xác định mức lao động, phương pháp chia lương của đơn vị
trên cơ sở nguyên tắc chung gửi về phòng Tổ chức hành chính.
* Trừ trường hợp quỹ lương thực chi của đơn vị Q ≤ L
TT
x N dẫn tới
việc bình bầu A, B, C (phải có chữ ký đầy đủ của đại diện công đoàn, đoàn
thể, chính quyền trong biên bản bình bầu). Lúc này trưởng đơn vị chỉ được
hưởng hệ số hoàn thành công việc là 0,7 trong kỳ lương liền kề.
* Ngay sau khi chia lương đơn vị phải gửi 1 bảng chia lương về
phòng TCHC.
Tất cả sự chia lương đều phải theo quy định của Nhà nước.
* Phương pháp chia lương
20 20
Đơn vị nào không xây dựng phương pháp chia lương riêng và đăng
ký với công ty được giám đốc công ty và trưởng phòng Tổ chức - lao động
tiền lương ký duyệt thì phải áp dụng cách chia lương chung sau:
+ Lương cơ bản = Hệ số lương cơ bản x 100.000đ
+ Quy định hệ số chức danh
- Nhân viên tạp vụ: 0,9
- Nhân viên bảo vệ, bốc xếp, thủ kho, lái xe, thợ sửa chữa xe, văn thư, y
tá cơ quan, công nhân mậu dịch viên, nhân viên giao nhận hàng hoá, nhân viên
mua bán hàng hoá, nhân viên phòng nghiệp đơn vị trực thuộc công ty: 1,0.
- Chuyên viên, tổ trưởng (tổ kho, tổ xe, tổ bảo vệ): 1,1
- Cửa hàng trưởng trực thuộc đơn vị, tổ trưởng, kế toán, quản đốc
phân xưởng: 1,3
- Cửa hàng trưởng trực thuộc công ty: 1,4
- Phó phòng, phó giám đốc xí nghiệp, phó giám đốc chi nhánh: 1,4 - 1,5.
- Trưởng phòng, phó giám đốc xí nghiệp, phó giám đốc chi nhánh 1,5 - 1,8.
- Phó giám đốc công ty kiêm trưởng các khối, phòng 1,8 - 2,0.
* Hệ số hoàn thành công
+ Xếp loại A: Hệ số 1,1 - 1,3: Hoàn thành vượt mức nhiệm vụ kế
hoạch, vượt mức khoán. Những CBCNV được xếp loại A phải là người
hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao, có ngày giờ công cao, có năng
lực, có tay nghề...
+ Xếp loại B: Hệ số 1,0. Hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch hoặc mức
khoán. Những CBCNV được xếp loại B là người hoàn thành nhiệm vụ
được giao đảm bảo ngày giờ công, thực hiện đúng nội quy, quy chế của
công ty.
+ Xếp loại C: Hệ số từ 0,9 - 0,7 không hoàn thành nhiệm vụ, kế
hoạch hoặc mức khoán. Những CBCNV được hưởng hệ số C là những
người không hoàn thành nhiệm vụ.
21 21
Nếu lương trung bình tháng của đơn vị không đạt 700.000đ/người
hoặc đơn vị không hoàn thành kế hoạch thì trưởng, phó đơn vị chỉ được
hưởng hệ số C.
* Đối với người lao động thử việc và lao động ký hợp đồng thời vụ
+ Việc trả lương cho lao động đang trong thời gian thử việc do trưởng
đơn vị trực tiếp thoả thuận với người lao động nhưng lương thử việc không
được thấp hơn 70% mức lương cấp bậc của người lao động cùng làm việc đó.
+ Lao động ký hợp đồng thời vụ (dưới một năm). Hệ số hoàn thành
công việc do đơn vị bình bầu. Hệ số chức danh từ 0,85 - 1,0 nhưng tổng
lương người làm hợp đồng thời vụ không thấp hơn mức lương cấp bậc của
công việc đó (Lương cấp bậc = Hệ số lương cấp b x L
TT
).
* Cách tính lương kinh doanh
+ Tổng lương kinh doanh = Q
(quỹ lương)
- Tổng lương cơ bản
+ 01 đơn vị lương kinh doanh = ∑lương KD/∑
hệ số thực trả
+ Lương kinh doanh (của A) = 01 đơn vị lương KD x Hệ số thực trả
(của A).
ST
T
Họ và tên
Hệ số
lương
cơ
bản
Tiền lương
cơ bản
Hệ
số
chứ
c
dan
h
Hệ số
hoàn
thành
Hệ
số
thực
trả
Tiền
lương
kinh
doanh
∑ số
được
lĩnh
Đã ứng
kỳ I
BHXN,
BHYT
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
4 = 3 x
100.000
7=5
x6
8 = Z x 7 9 = 4 + 8 11 = L
x 3 x 6%
1 Trần A 4,32 432.000 2,0 1,3 2,6 1.377.59
2
1.809.59
2
100.000 54.432
2 Bùi B 3,18 318.000 1,5 0,9 1,35 715.288 1.033.28
8
100.000 40.068
3 Nguyễn C 2,46 246.000 1,5 0,9 1,35 715.288 961.288 100.000 30.996
4 Văn D 3,78 378.000 0,9 1,0 0,90 476.859 854.859 160.000 47.628
5 Hà E 3,68 368.000 1,3 1,2 1,56 826.555 1.194.55
5
100.000 46.368
6 Cao F 2,94 294.000 1,0 1,1 1,10 582.827 876.827 100.000 37.044
7 Phan G 2,02 202.000 1,3 1,1 1,43 757.675 959.675 100.000 25.452
22 22
8 Đặng H 1,78 178.000 1,1 1,0 1,10 582.827 760.827 100.000 22.428
9 Mai I 2,50 250.000 1,1 1,1 1,21 641.110 891.110 100.000 31.500
10 Lê K 2,50 250.000 1,1 0,7 0,77 407.979 657.979 100.000 31500
Cộng 29,16 2.916.000 12,8 10,30 13,3
7
7.084.00
0
10.000.0
00
1.000.00
0
367.416
23 23
Trên đây là bảng chia lương cho xí nghiệp x (ví dụ có 10 người, 0)
Q = 10.000.000đ
Z = 01 đơn vị lương KD = (10.000.000 - 2.916.000)/13,37 = 529.843
Bảng tổng quỹ lương của công ty
Chỉ tiêu 1999 2000 2001
1. ∑ Tiền lương
2331 3233 4744
2. ∑ Số người
420 420 420
3. Tiền lương bình quân 555.000 769.762 1.129.523
c/ Hạch toán tổng hợp tiền lương :
Dưới đây là một số bảng mẫu lương của công ty
ĐƠN VỊ: CÔNG TY ELMACO
BỘ PHẬN: PHÒNG KẾ HOẠCH TIÊU THỤ - X81
* * *
BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG THỜI GIAN
(Tháng 4 năm 2000)
Kỳ 1: Tạm ứng
Bảng 1:
Họ và tên
Hệ số Ngày công thời gian
Thưởn
g
tháng
BHXH Phụ cấp Các khoản phải khấu trừ
Bản
thân
Trả
lương
Công
nhật
Côn
g
100
%
Côn
g
75%
Phụ
cấp
Tổ
trưở
ng
Trách
nhiệ
m
Hệ số
khá
Tạm
ứng kỳ
I
Lê Thu Hằng 2,68 2,55 22 1
150.00
0
Nguyễn Thị
3,07 2,36 20 1F+1
150.00
0
Trần Thu Hà 2,54 2,07 21 1
150.00
0
Vũ Thị Bích 3,07 2,36 22 1
150.00
0
Nguyễn Kim
2,81 2,68 21 1
150.00
0
Lê Thu
2,68 2,55 13 1
150.00
0
Vũ Hồng Hạnh 2,68 2,68 22 1 150.00
24
0
Phùng Thị
1,82 1,94 22 1
150.00
0
Nguyễn Thị
2,68 2,55 22 1
150.00
0
Phùng Quốc
2,50 2,50 22 1
150.00
0
toán
than
toán
(Ký,
Kế toán trưởng
(Ký, họ tên)
BẢNG THU THANH TOÁN LƯƠNG THỜI GIAN
(Tháng 4 năm 2000 - Kỳ II)
Họ và tên
Cấp
bậc
BQ
Hệ
số
tiền
lươn
g
Ngày
công
thực
tế
Tiền
công
nhật
Tiền
nghỉ
hưởng
100%
lương
Tiền
nghỉ
hưởng
75%
lương
Tiền
ăn
Phụ
cấp
trách
nhiệm
BHXH
Tổng
thu
nhập
Trừ
6%
Lĩnh kỳ
Lê Thu Hằng
2,8
6
2,55 22
459,0
0
21.927
27.00
0
466.21
4
27.97
3
Nguyễn Thị Lan
3,0
7
2,36 20
386,1
82
25.118
12.72
5
424.02
5
25.44
1
Trần Thu Hà
2,5
4
2,07 21
355,6
64
20.782
376.44
6
22.58
7
Vũ Thị Bích 3,0 2,36 22 424.8 25.118 449.91 26.99
25