Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (447.34 KB, 15 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<i><b> Hoàng Yến</b></i><b>1</b>
<b>* <sub>- Nguyễn Thị Hịa</sub></b>
<b>2</b>
<b>**</b>
<i><b>Tóm tắt: Trình bày các khái niệm liên quan tới tri thức, phân loại và tổ chức </b></i>
<i>tri thức. Nghiên cứu, áp dụng phân loại và tổ chức tri thức cho tri thức số nội </i>
<i>sinh tại Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN); </i>
<i>giúp cho việc xây dựng các bộ sưu tập số tài liệu nội sinh đạt chuẩn quốc </i>
<i>tế. Kết quả: Thư viện số tài liệu nội sinh ĐHQGHN được xếp hạng 170/3.059 </i>
<i>Thư viện số tài liệu nội sinh các đại học, học viện và 184/3.158 thư viện số </i>
<i>tài liệu nội sinh nói chung trên thế giới tham gia xếp hạng.</i>
<i><b>Từ khóa: Phân loại tri thức; Tổ chức tri thức; Thư viện số nội sinh.</b></i>
<b>MỞ ĐẦU</b>
<i>“Thư viện phải là nơi chia sẻ tri thức, truyền cảm hứng sáng tạo” </i>
đó là chỉ đạo của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam tại Hội thảo “Phát triển và
<i>đổi mới hoạt động thư viện trong thời kỳ mới” [6] do Bộ Văn hóa Thể </i>
thao và Du lịch tổ chức vào ngày 5 tháng 12 năm 2018, Phó Thủ tướng
nhấn mạnh vai trị khơng thể thiếu của thư viện đối với việc xây dựng
và phát triển văn hoá, con người Việt.
Khoa học là tổ chức tri thức, trí tuệ, là tổ chức cuộc sống. Từ thời
xưa cho đến ngày nay, kiến thức khoa học về con người ngày càng tăng
theo thời gian và ứng dụng khôn ngoan của kiến thức này đã dẫn đến sự
cư lâu dài, sự phát triển nông nghiệp và do đó phát triển nền văn minh
của con người.
Nhà bác học nổi tiếng Karan Sing đã từng nói rằng “Chúng ta đang
<i>ngập chìm trong biển thơng tin nhưng lại đang khát tri thức” [7]. Câu </i>
nói này làm nổi bật sự khác biệt về lượng lẫn về chất giữa hai khái niệm
thông tin và tri thức. Vậy làm sao để biến vũ trụ thông tin thành tri thức
đáp ứng nhu cầu của người dùng, đó là bài tốn đặt ra với cơng tác phân
loại và tổ chức tri thức, đồng thời khẳng định vai trị của tổ chức tri thức
trong mơi trường tương lai của giao tiếp và trao đổi tri thức.
<b>1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN</b>
<b>1.1. Phân loại là gì?</b>
Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về “phân loại” tùy
theo cách nhìn và phương thức của mỗi cá nhân hay tổ chức.
Phân loại là một trong những công cụ tổ chức kiến thức lâu đời
nhất và nổi bật nhất. Phân loại là một từ được sử dụng trong đời sống
xã hội và nhiều ngành khoa học. Mọi sự vật và hiện tượng đều có thể
phân loại và đều được phân loại. Trong đời sống hàng ngày thực ra ta
đã thường xuyên phân loại bởi vì khi con người muốn nhận biết một sự
vật và hiện tượng, muốn khảo sát phân tích và đánh giá chúng đều phải
được phân loại chúng với các mục đích khác nhau.
Phân loại chính là việc phân chia, sắp xếp các sự vật, hiện tượng
theo những trật tự nhất định. Trật tự sắp xếp này dựa trên những dấu
hiệu giống và khác nhau của chúng để đưa vào từng nhóm riêng biệt.
Ngày nay, phân loại được xác định là hệ thống logic để sắp xếp tri
thức, nó đã và đang đóng vai trị chính yếu trong suốt lịch sử thư viện,
dịch vụ và quản lý thông tin.
<b>1.2. Tri thức là gì?</b>
Tri thức được xem như là thông tin nằm trong bộ não của con
người: là tập hợp những kinh nghiệm, giá trị, ngữ cảnh của thông tin và
các kiến thức chuyên sâu giúp cho việc đánh giá và phối hợp để tạo nên
các kinh nghiệm và thông tin mới bao gồm cả sự so sánh, kết quả, liên
hệ và giao tiếp (Davenport and Prusak, 1998; Davenport, 1999).
Trong bản dự thảo tiêu chuẩn ISO/DIS 9000 đưa ra lấy ý kiến trong
năm 2014, “tri thức” được định nghĩa là “Tập hợp thông tin sẵn có được
coi như một niềm tin được minh chứng là có khả năng đúng cao”. Trong
<i>Từ điển Merriam Webster “tri thức” được định nghĩa là “thực tế hoặc điều </i>
kiện biết điều gì đó với sự quen thuộc có được thơng qua kinh nghiệm
hoặc sự liên tưởng”. Như vậy, khái niệm về tri thức có hai đặc điểm: (1)
là sự hiểu biết hay sự chắc chắn về vấn đề hoặc nội dung chủ điểm và (2)
có được từ kinh nghiệm hoặc sự liên hệ/liên tưởng giữa các yếu tố.
<b>1.3. Các loại tri thức</b>
Có rất nhiều cách phân loại khác nhau về tri thức, tuy nhiên trong
<b>hệ thống các lý thuyết liên quan đến quản trị tri thức, phân loại tri thức </b>
theo dạng thức tri thức, có thể được chia thành ba loại là tri thức hiện
(explicit knowledge), tri thức ẩn (tacit knowledge) và tri thức ngầm
(implicit knowledge).
<i><b>1.3.1. Tri thức hiện (explicit knowledge)</b></i>
<i><b>1.3.2. Tri thức ẩn (tacit knowledge)</b></i>
Là những tri thức có tính chủ quan, dựa trên nhận thức, kinh nghiệm;
là tri thức khó chuyển giao cho người khác bằng cách viết nó ra hoặc diễn
đạt bằng lời. Tri thức ẩn là không thể thiếu đối với tồn bộ ý thức của
một người, có được phần lớn thông qua sự liên kết với người khác và đòi
hỏi các hoạt động chung hoặc chúng phải được truyền từ người này sang
người khác. Giống như phần chìm của tảng băng trơi, nó tạo thành phần
lớn những gì người ta biết và hình thành nên khung cơ bản giúp kiến thức
rõ ràng có thể thực hiện được.
Tri thức ẩn có thể bao gồm các kỹ năng nhận thức như niềm tin,
hình ảnh, cảm nhận và tư duy cũng như các kỹ năng, kỹ thuật, sự thuần
thục và bí quyết…
<i><b>1.3.3. Tri thức ngầm (implicit knowledge)</b></i>
Là những tri thức được bao gồm hay nằm sẵn trong các sản phẩm,
các quá trình hay văn hóa của tổ chức. Những tri thức này có thể chưa
được tiêu chuẩn hóa, văn bản hóa, người làm thì biết được nhưng mới
<b>2. TỔ CHỨC TRI THỨC VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRI THỨC</b>
Thuật ngữ “tổ chức tri thức” (Knowledge Organization - KO) có
nguồn gốc trong lĩnh vực Khoa học Thông tin Thư viện (Library and
In-formation Science - LIS) vào khoảng năm 1900. Tổ chức tri thức đóng
vai trị quan trọng cho sự thành công của bất kỳ thư viện công cộng
nào. Thuật ngữ này có ý nghĩa khác nhau với quan điểm từ các lĩnh vực
khác nhau. Ở một góc nhìn rộng hơn, tổ chức tri thức là phân loại thông
tin xã hội và xác định các khái niệm và quan hệ giữa chúng. Trong lĩnh
vực Khoa học Thông tin Thư viện, tổ chức tri thức có ý nghĩa liên quan
đến việc xử lý và quản lý tài nguyên tri thức một cách có hệ thống để
chúng có thể dễ dàng truy cập.
các định dạng khác nhau. Nó được thực hiện bởi các chuyên gia thông
tin, nhà lưu trữ, chuyên gia môn học, cũng như các thuật tốn máy tính.
Tổ chức tri thức đóng vai trị là cầu nối giữa nhu cầu thơng tin của
người dùng và tài liệu trong bộ sưu tập. Dữ liệu được xử lý mới thành
thông tin. Thông tin được xử lý mới thành tri thức.
Theo trình tự thời gian, các phương pháp tổ chức tri thức được
Broughton; Hansson; Hjørland & López-Huertas (2005) đưa ra là:
<b>Sơ đồ minh họa các phương pháp tổ chức tri thức</b>
<b>2.1. Tổ chức tri thức theo phương pháp truyền thống sử dụng các khung phân loại như </b>
Phương pháp tổ chức tri thức truyền thống xuất hiện trước năm
<b>1876. Phân loại từ lâu đã được sử dụng trong thư viện và hệ thống thông </b>
tin để cung cấp, hướng dẫn cho người dùng trong việc làm rõ nhu cầu
thông tin của người dùng và để cấu trúc kết quả tìm kiếm.
Theo quan điểm của nhà triết học Aristotle (Ackrill, 1963), thế giới
tự nhiên của chúng ta là một thể thống nhất. Tồn bộ có thể được chia
nhỏ và mỗi lớp khác thành các lớp con, v.v. quá trình này tuân theo một
bộ quy tắc liên kết và phân biệt có trật tự, có hệ thống và làm thế nào để
chúng ta đi đến các quy tắc phân chia. Theo Aristotle, chỉ quan sát tồn
diện mới có thể tiết lộ các thuộc tính thực sự (thiết yếu) của mỗi thực
thể. Cơ sở để phân chia là những đặc điểm hoặc đặc tính của sự vật,
hiện tượng mà dựa vào đó để phân chia tiếp theo trong một lớp hay một
lớp con. Cơ sở phân chia phục vụ cho mục tiêu phân loại đó, do vậy khi
mục tiêu phân loại thay đổi thì cơ sở phân loại cũng thay đổi theo. Lớp
phân loại bao gồm lớp khởi đầu và lớp phái sinh. Để tạo ra một lớp mới
- lớp phái sinh - xuất phát từ lớp khởi đầu thì phải tìm ra những điểm
khác nhau của các đơn vị trong lớp khởi đầu. Những điểm khác nhau
này là cơ sở tạo ra lớp phái sinh, đó là cơ sở để phân chia. Yếu tố để liên
hệ giữa các đơn vị của cùng một lớp được tạo lập do sự tồn tại cùng với
mục đích và có mối liên hệ trong khơng gian và thời gian.
Có nhiều cách tiếp cận q trình phân loại và xây dựng nền tảng của
các sơ đồ phân loại. Mỗi hệ thống phân loại có mục tiêu khác nhau và
mỗi loại sơ đồ phân loại có các đặc tính cấu trúc khác nhau cũng như các
điểm mạnh và điểm yếu khác nhau về mô tả tri thức và khám phá tri thức.
Khung phân loại Thư viện Quốc hội Hoa Kì (LCC - Library of
Congress Classification). Bảng chính khung phân loại thư viện Quốc
hội Hoa Kỳ phân chia tri thức của nhân loại thành 21 lớp cơ bản sử dụng
21 chữ cái tiếng Anh làm ký hiệu. Đây là khung phân loại theo mang
đặc tính chủ đề và thực dụng.
miền được phân loại. Những cách tiếp cận này là hệ thống phân cấp,
cây cối, mơ hình và phân tích các khía cạnh của tri thức. Mục đích của
quá trình phân loại cho phép người dùng tin giới hạn được phạm vi kiến
thức mà họ cần đồng thời khám phá kiến thức mới về lĩnh vực nào đó.
<b>2.2. Tổ chức tri thức theo phương pháp phân tích khía cạnh</b>
Phân tích khía cạnh ở dạng thơ sơ đã được SR Ranganthan (nhà Tốn
học và thủ thư người Ấn Độ) phát kiến vào những năm 1930, mặc dù nó
đã đi trước các phương pháp phân tích tổng hợp tương tự để phân loại và
lập chỉ mục đối tượng, đặc biệt là Henry Bliss, Paul Otlet trong lĩnh vực
phân loại và Kaiser trong việc lập chỉ mục. Phân tích này được phát triển
vào năm 1950, chủ yếu bởi các thành viên của Nhóm Nghiên cứu Phân loại
Vương quốc Anh, như một công cụ để tổ chức các bộ sưu tập tài liệu trong
các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, khoa học và xã hội, nơi nó có hiệu quả cao
trong việc lưu trữ và truy xuất các đối tượng phức tạp. Lý thuyết phân tích
<b>2.3. Tổ chức tri thức theo phương pháp truy hồi thông tin</b>
Phương pháp truy hồi thông tin còn gọi là truy vấn thông tin,
xuất hiện khoảng năm 1950. Quá trình truy xuất thơng tin bắt đầu khi
người dùng nhập truy vấn vào hệ thống. Truy vấn nhu cầu thơng tin, ví
dụ chuỗi tìm kiếm trong cơng cụ tìm kiếm web. Trong truy xuất thơng
tin, một truy vấn không xác định duy nhất một đối tượng trong bộ sưu
tập; thay vào đó, một số đối tượng có thể phù hợp với truy vấn.
<b>2.4. Phương pháp tiếp cận thư mục </b>
trích dẫn bao gồm kiểm tra, giới thiệu các tài liệu, được sử dụng để tìm
kiếm tài liệu và phân tích giá trị của chúng.
<b>2.5. Quan điểm hướng đến người dùng </b>
<b>Phương pháp này xuất hiện những năm 1970, công nghệ đã cung </b>
cấp cho người dùng quyền truy cập vào thông tin tăng lên dẫn đến tăng
kiểm sốt người dùng thơng tin. Điều này đã dẫn đến tầm quan trọng
ngày càng tăng của việc đáp ứng nhu cầu của người dùng và cải thiện
hệ thống thông tin. Như trong nhiều lĩnh vực khác, trong đó các dịch
vụ và sản phẩm đã phát triển một cuộc cách mạng lấy người dùng làm
trung tâm, cách tiếp cận này là hướng đến người dùng, đáp ứng nhu cầu
về thông tin của người dùng, hay thân thiện với người dùng.
<b>2.6. Phương pháp phân tích tên miền </b>
Phương pháp phân tích tên miền được hình thành vào đầu những
năm 1990. Phân tích tên miền là một lý thuyết về cách tiếp cận thư viện
và khoa học thông tin và tổ chức tri thức. Các đối tượng của tổ chức
tri thức có thể được khái quát hóa, đặc biệt là về các hệ thống tổ chức
tri thức và các quy trình tổ chức tri thức (ví dụ các hệ thống phân loại
và quá trình phân loại). Việc lập chỉ mục của một tài liệu nhất định sẽ
phản ánh nhu cầu của một nhóm người dùng nhất định hoặc một mục
đích lý tưởng nhất định. Lập chỉ mục tài liệu là việc gắn thẻ các tài liệu
có thơng tin được tìm kiếm thường xun nhất giúp cho việc tìm kiếm
nhanh hơn. Khi các chỉ mục đã được lập thông tin đã được lưu trữ lúc
này khi người dùng tìm kiếm với các từ khóa các kết quả sẽ được hiển
thị và các kết quả này sẽ được truy xuất từ nguồn dữ liệu đã được lưu
trữ, lập chỉ mục trước đó. Tiêu chí thành cơng của thơng tin hệ thống là
họ xác định và truyền đạt kiến thức cần thiết cho người dùng.
<b>3. PHÂN LOẠI VÀ TỔ CHỨC TRI THỨC SỐ NỘI SINH TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN, </b>
<b>ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI</b>
ĐHQGHN là một đại học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao; trong
quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học, nhà trường đã tạo ra một khối
lượng tri thức lớn có giá trị gọi là nguồn tin nội sinh, bao gồm các cơng
trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn, sách giáo trình, sách tham
khảo, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học… Đây là nguồn tri thức hiện rất
có giá trị, phục vụ đắc lực cho học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học.
Với việc tổ chức tri thức theo Khung phân loại DDC, tri thức nhân
loại được sắp xếp theo hệ phân cấp từ chủ đề khái quát nhất đến chủ đề
chi tiết nhất. Người dùng tin có thể tìm được thơng tin về một chủ đề cụ
thể và hy vọng thơng tin đó sẽ được chuyển thành tri thức đế áp dụng
giải quyết một vấn đề nào đó.
<b>Minh họa tri thức trong Bộ sưu tập số được phân chia thành 10 lớp chính theo DDC</b>
số mà Webometrics tính điểm đó là chỉ số thư tịch khoa học Sc (viết tắt
của từ Scholar), đo số tài liệu khoa học số hóa định dạng html hay pdf
có cấu trúc chuẩn của một tài liệu khoa học. Nhờ đó mà Google Scholar
mới có thể nhận diện được tài liệu thơng qua phân tích cấu trúc chuẩn
của tài liệu khoa học này.
Để xây dựng và phát triển các bộ sưu tập số của ĐHQGHN một
cách hiệu quả và bền vững, nhất thiết phải nghiên cứu xây dựng kiến
trúc tổng thể và kế hoạch phát triển, xử lý tài liệu số theo các chuẩn
quốc tế, sử dụng phần mềm tương thích. Hai chuẩn được dùng phổ biến
là: chuẩn Dublin Core và phần mềm Dspace.
Qua nghiên cứu và khảo sát việc xây dựng nguồn tri thức số nội sinh
một số trường đại học trên thế giới như: Đại học Harvard (Hoa Kỳ), Đại học
Công nghệ Nanyang ( Singapore), Đại học Cambridge (Anh) cho thấy…
Tất cả các trường trên đều dùng phần mềm Dspace và xây dựng cấu
trúc thành các “đơn vị” và “bộ sưu tập” (Communities & Collections).
Trong đơn vị, có thể có các đơn vị con (theo cấu trúc đa cấp) và các bộ
sưu tập; cịn trong bộ sưu tập thì chỉ chứa các tài liệu của bộ sưu tập đó.
Hiện nay Google rất quan tâm đến việc mô tả tài liệu theo chuẩn
Dublin Core. Và đây cũng là một tiêu chí để ưu tiên đánh giá thứ hạng
bài viết, bài viết có mơ tả metadata Dublin Core sẽ được đánh giá cao về
nội dung so với website khơng có thẻ metadata. Hay nói khác đi, các tài
liệu nội sinh muốn được đánh chỉ mục (Index hay còn gọi là Indexing)
thì cần phải mơ tả theo chuẩn Dublin Core. Đánh chỉ mục là mơ tả q
trình thu thập dữ liệu của cơng cụ tìm kiếm đối với những trang web
trên internet, sau đó đánh giá và lưu chúng lại trong cơ sở dữ liệu của
công cụ tìm kiếm (quá trình indexing). Để khi người dùng tìm kiếm một
nội dung có trong trang web, cơ sở dữ liệu sẽ trích xuất và trả về những
dữ liệu của website mà cơng cụ tìm kiếm đã lập chỉ mục. Như vậy tài
liệu nào được lập chỉ mục tốt sẽ dễ dàng được những người cần đến tìm
thấy nhiều hơn và có khả năng sẽ được trích dẫn nhiều hơn. Vậy làm
thế nào để tạo lập ra những chỉ mục hoặc chỉ dẫn nghiên cứu để một số
cơng cụ tìm kiếm chun về tài liệu có thể nhận biết. Với chuẩn siêu dữ
liệu Dublin Core cho phép việc đánh chỉ mục được chuẩn xác khi thực
hiện theo đúng các thẻ metadata; giúp đóng gói thơng tin, xuất và nhập
dữ liệu một cách dễ dàng giữa các cơ quan thông tin trong vấn đề chia
sẻ thông tin trên Internet.
trúc theo các đơn vị và bộ sưu tập (Communities & Collections); phục
vụ tốt công tác thống kê trong từng đơn vị đào tạo, trong từng loại hình
tài liệu trong từng bộ sưu tập; đảm bảo yêu cầu về nghiệp vụ thư viện
để tham gia xếp hạng các nguồn học liệu nội sinh của các trường đại
<b> Thư viện số tài liệu nội sinh ĐHQGHN xếp thứ 170 các đại học, học viện </b>
<b>KẾT LUẬN</b>
Thư viện số nội sinh kết hợp công nghệ và tài nguyên thông tin
cho phép truy cập từ xa, phá vỡ các rào cản vật lý giữa các tài nguyên.
Nhằm đáp ứng đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao của người dùng tin là
cán bộ, sinh viên và giảng viên, nghiên cứu viên của Đại học Quốc
gia Hà Nội, công tác tổ chức và phân loại tri thức tại Trung tâm Thơng
tin - Thư viện, ĐHQGHN nói riêng và các thư viện đại học nói chung
ln phải cập nhật, đổi mới về công nghệ cũng như tư duy sáng tạo
không ngừng học hỏi để bắt kịp với các chuẩn nghiệp vụ tiên tiến của
Việt Nam cũng như trên thế giới nhằm nâng cao chất lượng công tác
hỗ trợ các hoạt động học tập và nghiên cứu đồng thời là không gian
sáng tạo cho khám phá tri thức.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b>
1. Lois Mai Chan, Joan S. Mitchell. Người dịch: Kiều Văn Hốt, Lê
<i>Thanh Hà, Chu Tuyết Lan (2013), Khung phân loại thập phân </i>
<i>Dewey: Nguyên tắc và ứng dụng, Thư viện Quốc gia Việt Nam.</i>
<i>3. Thủ Tướng Chính phủ (27/7/2007), Quyết định: Phê duyệt Quy </i>
<i>hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 - </i>
<i>2020, Số 121/2007/QĐ-TTg.</i>
<i>4. Chiến lược phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội đến năm 2020 tầm </i>
<i>nhìn 2030, truy cập từ />
chien-luoc-phat-trien-dai-hoc-quoc-gia-Ha-Noi-den-năm-2020-tam-nhin-2030.htm.
5. Đại học Quốc gia Hà Nội duy trì vị trí số 1 Việt Nam và tiếp cận top
1000 thế giới trong bảng xếp hạng Webometrics tháng 1/2019, truy
cập từ
/>duy-tri-vi-tri-so-1-Viet-Nam-va-tiep-can-top-1000-the-gioi-trong-bang-xep-hang Webometrics-thang-1-2019.htm=
<i>6. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Đưa thách thức thành cơ hội cho thư </i>
<i>viện Việt Nam, truy cập từ: </i>
/>sach-quan%20ly/artmid/568/articleid/13722/pho-thu-tuong-vu-duc-dam-dua-thach-thuc-thanh-co-hoi-cho-thu-vien-viet-nam
<i>7. Thông tin, dữ liệu và tri thức, truy cập từ: />
thong-tin-du-lieu-va-tri-thuc/b371101c/893a333
<i>8. Thư viện số tài liệu nội sinh ĐHQGHN xếp thứ 170 các đại học, học </i>
<i>viện, truy cập từ o/en/node/32</i>
<i>9. Awad, E.M. and Ghaziri, H.M. (2004). Knowledge management, </i>
Upper Saddle River, NJ,Pearson Education Inc.
<i>10. Kwasnik, Barbara H. (2000), “The Role of Classification in Knowledge </i>
<i>Represantation and Discovery”. School of Information Studies: </i>