Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại trung tâm sản nhi bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ năm 2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.86 MB, 112 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN THỰC HÀNH
CHO TRẺ BÖ SỚM CỦA SẢN PHỤ SAU SINH TẠI TRUNG TÂM SẢN
NHI – BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÖ THỌ NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

HÀ NỘI, 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN THỰC HÀNH
CHO TRẺ BÖ SỚM CỦA SẢN PHỤ SAU SINH TẠI TRUNG TÂM SẢN
NHI – BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÖ THỌ NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
1.TS. NGUYỄN HUY NGỌC
2. DƢƠNG KIM TUẤN

HÀ NỘI, 2020



LỜI CẢM ƠN
Trong q trình nghiên cứu và hồn thành đề tài nghiên cứu của mình, tơi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các thầy hướng dẫn, đồng nghiệp, bạn bè
và gia đình.
Trước tiên tơi xin bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến đến 2 người
thầy - người đã dành nhiều thời gian, cơng sức, hết lịng giúp đỡ, hỗ trợ và hướng dẫn
tơi hồn thành tốt đề tài này.
Tơi xin trân trọng cám ơn Ban giám đốc, Phòng Tổ chức Hành chính, Phịng
Điều dưỡng-QLCL và các đồng nghiệp của tơi tại Trung tâm Sản Nhi đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong q trình thu thập số liệu.
Tơi cũng xin chân thành cám ơn gia đình, những người thân, bạn bè, đồng
nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu.
Phú Thọ, tháng 10 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Lệ Hằng


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả trong nghiên cứu của tơi hồn tồn trung thực và
khơng trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào đƣợc công bố trƣớc đó.
Tác giả
Nguyễn Thị Lệ Hằng


i

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................ iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ............................................................................................. v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ....................................................................................... vi
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ....................................................................................... 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................... 4
1.1. Một số kiến thức cơ bản về sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ ............................ 4
1.1.1. Một số khái niệm về nuôi con bằng sữa mẹ...................................................... 4
1.1.2. Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ ..................................................... 6
1.2. Thực trạng cho con bú sớm tại Việt Nam và trên thế giới .................................. 9
1.2.1. Trên thế giới ..................................................................................................... 9
1.2.2. Tại Việt Nam ................................................................................................... 10
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành cho trẻ bú sớm ....................................... 11
1.4. Thông tin về địa bàn nghiên cứu ....................................................................... 18
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 23
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu ........................................................................................ 23
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu định lượng .................................................................. 23
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu định tính ..................................................................... 23
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: .................................................................... 23
2.3. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................................... 24
2.4. Cỡ mẫu và Phƣơng pháp chọn mẫu ................................................................... 24
2.4.1. Định lượng ...................................................................................................... 24
2.4.2. Định tính ......................................................................................................... 24
2.5. Phƣơng pháp thu thập số liệu: Thời gian thu thập số liệu từ tháng 4-6/2020. .. 25
2.5.1. Thu thập số liệu định lượng ............................................................................ 25
2.5.2. Thu thập số liệu định tính ............................................................................... 25
2.6. Các biến số của nghiên cứu (chi tiết phụ lục 1) ................................................ 26
2.7. Các khái niệm, thƣớc đo và tiêu chuẩn đánh giá ............................................... 26
2.7.1. Các khái niệm ................................................................................................. 26



ii

2.7.2. Tiêu chuẩn đánh giá ....................................................................................... 26
2.9.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu ..................................................................... 27

2.10.1. Những sai số có thể gặp ............................................................................... 27
2.10.2. Phương pháp khống chế sai số ..................................................................... 28
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................ 29
3.1. Thực trạng cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh ............................................... 29
* Kiến thức về bú sớm của đối tƣợng nghiên cứu .................................................... 32
* Thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh ....................................................................... 36
3.2. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành bú sớm .............................................. 41
CHƢƠNG 4: BÀN LUẬN ....................................................................................... 49
4.1. Thực trạng cho con bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện
đa khoa tỉnh Phú Thọ trong năm 2020 ..................................................................... 49
4.2. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành bú sớm của đối tƣợng nghiên cứu .... 55
4.3. Hạn chế của nghiên cứu..................................................................................... 57
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ........................................................................................ 58
5.1. Thực trạng cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm ........................ 58
5.2. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành cho trẻ bú sớm .................................. 58
CHƢƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ ................................................................................ 59
1. Đối với Trung tâm ................................................................................................ 59
2. Đối với các cán bộ y tế tại khoa Sản và phòng khám Sản.................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 60


iii


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTNC

Đối tƣợng nghiên cứu

HST

Hộ sinh trƣởng

NCBSM

Nuôi con bằng sữa mẹ

NCBSMHT

Ni con bằng sữa mẹ hồn tồn

NVYT

Nhân viên y tế

NHS

Nữ hộ sinh

PGĐ

Phó giám đốc

QLCL


Quản lý chất lƣợng

TW

Trung ƣơng

WHO

Tổ chức Y tế Thế Giới

XHH

Xã hội hóa


iv

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=230) ......................... 29
Bảng 3.2. Thông tin về lần sinh con ......................................................................... 30
Bảng 3.3. Khám thai và tư vấn trước sinh................................................................ 31
Bảng 3.4. Kiến thức về thời gian cho bú của đối tượng nghiên cứu ........................ 32
Bảng 3.5. Kiến thức về sữa non ................................................................................ 32
Bảng 3.6. Kiến thức về số lần bú trong ngày của trẻ ............................................... 35
Bảng 3.7. Liên quan giữa một số yếu tố về cá nhân ĐTNC và thực hành bú sớm ... 41
Bảng 3.8. Liên quan giữa các yếu tố mang thai, sinh đẻ và thực hành bú sớm ....... 43
Bảng 3.9. Liên quan giữa thông tin trẻ và thực hành bú sớm của ĐTNC ................ 44
Bảng 3.10. Liên quan giữa các yếu tố thuộc về gia đình và thực hành bú sớm của
ĐTNC ........................................................................................................................ 45

Bảng 3.11. Liên quan giữa thực hành bú sớm và kiến thức về bú sớm .................... 45
Bảng 3.12. Liên quan giữa các yếu tố thuộc về chính sách y tế và thực hành bú sớm
của ĐTNC ................................................................................................................. 46
Bảng 3.13. Liên quan giữa các yếu tố thời điểm đi làm lại, chính sách nghỉ thai sản
với thực hành bú sớm ............................................................................................... 47


v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Kiến thức về lợi ích của sữa non .......................................................... 33
Biểu đồ 3.2. Kiến thức về lợi ích đối với mẹ khi cho bú sớm ................................... 33
Biểu đồ 3.3. Kiến thức về lợi ích đối với trẻ khi được bú sớm ................................. 34
Biểu đồ 3.4. Kiến thức về nguy cơ cho trẻ khi không được bú sớm ở trẻ ................. 34
Biểu đồ 3.5. Sự tiếp cận thông tin của ĐTNC .......................................................... 35
Biểu đồ 3.6. Thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh của ĐTNC ................................... 36
Biểu đồ 3.7. Nguyên nhân cản trở không cho trẻ bú sớm ........................................ 37
Biểu đồ 3.8. Thời điểm cho trẻ bú lần đầu tiên và thời gian cho trẻ bú................... 38
Biểu đồ 3.9. Những khó khăn gặp phải và người hỗ trợ xử lý khó khăn khi cho trẻ bú
lần đầu ...................................................................................................................... 39
Biểu đồ 3.10. Đồ uống trẻ được uống trước lần bú đầu tiên ................................... 40


vi

TĨM TẮT NGHIÊN CỨU
Bú sớm trong vịng 1 giờ đầu sau sinh sẽ cung cấp nguồn sữa non quý giá từ mẹ
và bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi bị nhiễm trùng và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Theo báo
cáo của UNICEF cho thấy: Việt Nam là một trong những nƣớc có tỷ lệ trẻ đƣợc bú mẹ
trong vòng 1 giờ đầu sau sinh giảm nhiều nhất trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm

2013. Tỷ lệ trẻ đƣợc bú mẹ sớm ở Việt Nam giảm từ 44% năm 2006 xuống còn 27%
trong năm 2013. Nhận thấy tỉ lệ cho bú sớm có xu hƣớng giảm thì từ năm 2014, Bộ Y
tế Việt Nam đã tiến hành các nỗ lực nhằm cải thiện tình hình này thì đến năm 2016 tỷ
lệ này đã tăng lên 73%.
Trung tâm Sản Nhi là 1 trong 10 trung tâm của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú
Thọ. Kết quả khảo sát nhanh 350 sản phụ sau sinh tại khối Sản vào tháng 6/2019 cho
thấy có đến 80% sản phụ trả lời rằng họ đã không cho trẻ bú sớm sau sinh. Nhằm tìm
hiểu nguyên nhân để cải thiện tình hình này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực
trạng và một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh
tại Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020” với 2 mục tiêu. 1)
Mô tả thực trạng cho con bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi - Bệnh
viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020. 2) Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực
hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa
tỉnh Phú Thọ năm 2020.
Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong đề tài của chúng tôi là phƣơng
pháp mô tả cắt ngang, kết hợp giữa định tính và định lƣợng. Đối với nghiên cứu định
lƣợng chúng tôi tiến hành phỏng vấn 230 sản phụ theo bộ câu hỏi có sẵn, sau đó nhập
và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0. Đối với nghiên cứu định tính chúng
tơi tiến hành phỏng vấn sâu, chọn mẫu có chủ đích 05 nhân viên y tế và 08 sản phụ sau
sinh tại khối Sản. Số liệu định tính đƣợc phân tích theo chủ đề.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các đối tƣợng trong nghiên cứu của chúng tôi chủ
yếu là từ 18 – 35 tuổi chiếm 88,3%. Hầu hết các đối tƣợng trong nghiên cứu của chúng
tôi đều đi khám thai (97,8%) và đều khám thai từ 3 lần trở lên (96,5%). Trong 230 sản
phụ tham gia nghiên cứu có 53,7% sản phụ đƣợc tƣ vấn về nuôi con bằng sữa mẹ
trƣớc sinh, nhƣng tỷ lệ đƣợc tƣ vấn này ở trung tâm chỉ có 29%.


vii

Trong số 230 sản phụ thì có 83,9% các sản phụ tham gia nghiên cứu đều có

kiến thức đúng về bú sớm nhƣng tỉ lệ thực hành bú sớm của các sản phụ sau sinh chỉ
có 22,0%. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hành cho trẻ bú sớm của các sản phụ
sau sinh đó là nơi cƣ trú và cách thức sinh trẻ
Từ những kết quả trên chúng tôi đƣa ra một số khuyến nghị đối với Trung tâm
nhƣ sau: Thúc đẩy các chƣơng trình tập huấn cho cán bộ y tế, cũng nhƣ tăng cƣờng
các công tác truyền thông cho sản phụ và ngƣời nhà sản phụ. Đặc biệt trong các lớp
học tiền sản trung tâm tổ chức hàng tuần cần tăng cƣờng công tác thực hành cho bà mẹ
về vấn đề bú sớm, các tƣ thế ngậm bắt vú của trẻ, các dấu hiệu trẻ ngậm và bú tốt, cách
bổ sung dinh dƣỡng và duy trì nguồn sữa mẹ. Củng cố niềm tin cho bà mẹ và gia đình
về việc ni con bằng sữa mẹ. Ngồi ra, tăng cƣờng cơng tác tƣ vấn tƣ vấn và chăm
sóc sản phụ trƣớc và sau sinh.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhƣ chúng ta đã biết sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Bởi
trong sữa mẹ có đầy đủ chất dinh dƣỡng cho nhu cầu phát triển của trẻ. Sữa mẹ đƣợc
tạo ra trong những tháng cuối khi phụ nữ mang thai và đƣợc tiết ra sớm ngay sau sinh.
Chính vì vậy nên cho trẻ bú sớm trong vòng 1h đầu sau khi sinh. Bắt đầu cho bú sớm
ngay sau sinh đảm bảo cho trẻ sơ sinh nhận đƣợc những giọt sữa đầu tiên (sữa non) –
cũng chính là liều “vắc-xin” cho trẻ để bảo vệ trẻ khỏi bệnh tật. Ngoài ra, nó cũng bảo
vệ trẻ khơng tiếp xúc với các mầm bệnh nhiễm khuẩn(1)
Theo báo cáo của UNICEF cho thấy: Việt Nam là một trong những nƣớc có tỷ
lệ trẻ đƣợc bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh giảm nhiều nhất trong giai đoạn từ
năm 2005 đến năm 2013. Tỷ lệ trẻ đƣợc bú mẹ sớm ở Việt Nam giảm từ 44% năm
2006 xuống còn 27% trong năm 2013. Các nguyên nhân chính bao gồm: các nhân viên
y tế chƣa có đủ kiến thức, sự quyết tâm và chƣa sẵn sàng hỗ trợ các bà mẹ cho con bú
trong giờ đầu sau khi sinh. Bên cạnh đó, xu hƣớng đẻ mổ tăng nhanh, từ 10% năm
2002 lên đến 28% năm 2013 (trong đó một nửa các ca mổ đẻ đều dƣợc thực hiện trƣớc

khi có dấu hiệu chuyển dạ, có nghĩa là những ca đẻ mổ này khơng liên quan đến những
lý do y tế). Và một nguyên nhân khác là do văn hóa/niềm tin vào quan niệm ngày và
giờ tốt sẽ mang lại tƣơng lai tốt đẹp cho em bé sau này. Điều này làm ảnh hƣởng
không nhỏ đến sức khỏe của đứa trẻ (2). Nhận thấy tỉ lệ cho bú sớm có xu hƣớng giảm
thì từ năm 2014, Bộ Y tế Việt Nam đã tiến hành các nỗ lực nhằm cải thiện tình hình
này bao gồm việc ban hành và thực hiện Hƣớng dẫn Quốc gia về chăm sóc thiết yếu bà
mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ thƣờng năm 2014 và Hƣớng dẫn Quốc gia về
chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và sau đẻ mổ (với hỗ trợ của
UNICEF và WHO) năm 2016. Sửa đổi và thực hiện Tiêu chí chất lƣợng Bệnh viện về
việc thực hành cho trẻ bú sớm ngay sau khi sinh với sự hỗ trợ kỹ thuật của WHO và
UNICEF. Quy định này nhấn mạnh việc tiếp xúc trực tiếp da kề da ngay sau sinh và hỗ
trợ cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ dầu sau sinh. Các nhân viên y tế ở tất cả các tỉnh
thành đã đƣợc tập huấn và các hoạt động giám sát đƣợc tiến hành nhằm đảm bảo việc
thực hiện đầy đủ quy định này. Kết quả bƣớc đầu cho thấy có sự cải thiện đáng kể,
theo báo cáo đánh giá cơng tác chăm sóc sơ sinh sớm thiết yếu của khu vực Tây Thái
Bình Dƣơng năm 2016-2017 tại Việt Nam tỷ lệ trẻ mới sinh đƣợc cho bú sớm trong


2

vòng 1 giờ đầu sau sinh là 73%. Những thành tựu bƣớc đầu này đã đƣợc WHO và
UNICEF ghi nhận tại Hội nghị khu vực về đẩy nhanh các tiến bộ trong chăm sóc sơ
sinh sớm thiết yếu đƣợc tổ chức vào tháng 8/2017.
Trung tâm Sản Nhi là 1 trong 10 trung tâm trực thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh
Phú Thọ. Là một trung tâm chuyên khoa về Sản-Nhi, chất lƣợng khám, chăm sóc trƣớc
sinh và sau sinh tại Trung tâm đang là vấn đề mà lãnh đạo quan tâm hàng đầu. Việc
thực hiện tồn bộ quy trình chăm sóc thiết yếu phần lớn đƣợc thực hiện bởi các nữ hộ
sinh nhƣng theo kết quả khảo sát nhanh của Phòng Điều dƣỡng-QLCL vào tháng
6/2019 trên 350 sản phụ sau sinh ở khối Sản cho thấy, có 320 sản phụ chiếm 80,0%
trong tổng số sản phụ sau sinh đƣợc hỏi trả lời họ đã không cho con bú ngay sau khi

đứa trẻ ra đời. Chính vì vậy, một số câu hỏi đƣợc đặt ra tại trung tâm nhƣ: Thực trạng
thực hành cho trẻ bú sớm tại trung tâm của sản phụ sau sinh nhƣ thế nào? Những yếu
tố gì liên quan đến việc thực hành cho trẻ bú sớm? Công tác truyền thông giáo dục sức
khỏe để sản phụ cho trẻ bú sớm tại Trung tâm ra sao? Trung tâm sẽ phải có kế hoạch
gì để hỗ trợ tốt hơn cho công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe cho phụ nữ đang
mang thai và sản phụ đang nằm điều trị tại Trung tâm? Để góp phần trả lời cho những
câu hỏi trên đây, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và
một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại
Trung tâm Sản Nhi- Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020”. Với mong
muốn tìm hiểu thực trạng và phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hành
cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh. Từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm tăng cƣờng việc
thực hiện tốt công tác triển khai, thực hiện quy trình cho trẻ bú sớm tại Trung tâm
trong thời gian tới. Kết quả nghiên cứu là tiền đề để đề xuất cho Trung tâm triển khai
một nghiên cứu quy mơ hơn để có định hƣớng triển khai các chƣơng trình ni con
bằng sữa mẹ đạt hiệu quả cao hơn.


3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm
Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020.
Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành cho trẻ bú sớm
của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm
2020.


4

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số kiến thức cơ bản về sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ
1.1.1. Một số khái niệm về nuôi con bằng sữa mẹ
* Nuôi con bằng sữa mẹ: Là đứa trẻ đƣợc nuôi dƣỡng trực tiếp bằng bú mẹ
hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra hoặc sữa từ các bà mẹ khác(3)
* Bú mẹ: Là đứa trẻ đƣợc bú mẹ, bú trực tiếp hoặc bú sữa mẹ đƣợc vắt ra bao
gồm một phần, bú chủ yếu và bú hoàn toàn(3)
* Bú sớm: Là đứa trẻ đƣợc sinh ra và đƣa vào bú vú mẹ trong vòng 1 giờ đầu
sau sinh(3)
* Bú mẹ hoàn toàn: Là trẻ chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc vú ni hoặc từ vú mẹ vắt
ra. Ngồi ra không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay dạng rắn khác trừ các
dạng giọt, siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung, hoặc thuốc(4)
* Sữa non: Có từ tháng thứ tƣ của bào thai, tiếp tục đến 6 ngày sau đẻ. Sữa non
có màu vàng và sánh hơn sữa về sau. Trong sữa non có rất nhiều chất đạm, vitamin A,
và nhiều kháng thể. Giúp cho trẻ chống lại hầu hết các loại vi khuẩn và siêu vi khuẩn.
Sữa non chỉ tiết ra một lƣợng nhỏ xong đủ cho một đứa trẻ bình thƣờng (5)

* Hiện tƣợng xuống sữa: là hiện tƣợng số lƣợng sữa nhiều hơn làm 2 bầu vú
bà mẹ đầy, căng cứng.
* Cách ngậm bắt vú đúng của trẻ:
- Tƣ thế của trẻ:
+ Đầu, thân trẻ nằm trên một đƣờng thẳng


5

+ Thân trẻ áp sát vào ngƣời mẹ
+ Trẻ đƣợc đỡ đầu và cổ
+ Mặt trẻ quay vào vú mẹ, mũi trẻ đối diện với núm vú
- Tình trạng vú:
+ Tình trạng tốt

+ Khơng đau, khơng khó chịu
+ Các ngón tay đặt xa núm vú để đỡ vú
- Ngậm bắt vú:
+ Quầng vú ở trên miệng trẻ còn nhiều hơn
+ Miệng trẻ mở rộng
+ Mơi dƣới hƣớng ra ngồi
+ Cằm trẻ chạm vào vú mẹ
- Bú:
+ Bú chậm, sâu, có lúc ngừng nghỉ
+ Má căng phồng khi bú
+ Trẻ tự nhả vú khi bú xong
+ Bà mẹ nhận thấy các dấu hiệu của phản xạ Oxytocin


6

1.1.2. Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ
1.1.2.1. Lợi ích của việc cho bú sớm
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) bú sớm sau sinh là trẻ được bú sớm trong
vòng 1 giờ đầu sau sinh và bú mẹ hồn tồn, khơng ăn thêm bất cứ thức ăn nước uống
nào khác, kể cả nước lọc (trừ vitamin, vacxin, và các thứ thuốc cần thiết theo chỉ định
của thầy thuốc (6). Cho trẻ bú sớm là một trong những khuyến nghị quan trọng liên
quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của WHO và UNICEF.
Sau khi sinh bà mẹ cần cho trẻ bú càng sớm càng tốt, đặc biệt trong vịng một
giờ đầu sau sinh. Vì trong giờ đầu tiên của cuộc đời trẻ sơ sinh ở trạng thái tỉnh táo,
nhanh nhẹn nhất, và dễ thực hiện hành vi bú mẹ nhất. Khi thời điểm này qua đi, trẻ trở
nên buồn ngủ hơn vì bắt đầu phục hồi sau q trình thở.
Bú sớm trong vịng một giờ đầu sau sinh là cung cấp nguồn sữa non quý giá từ
mẹ và bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi bị nhiễm trùng và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh(7).
Sữa non là một chất lỏng sinh học phức tạp, giàu peptide kháng khuẩn. Sữa non có tác

dụng chính là cung cấp các thành phần dinh dƣỡng thiết yếu, tăng cƣờng hệ thống
phòng thủ tự nhiên, điều chỉnh phản ứng miễn dịch, cân bằng hệ vi sinh đƣờng ruột.
Ngoài ra, sữa non cịn có tác dụng sổ nhẹ, giúp cho việc đào thải phân su, thải bilirubin
ra khỏi ruột làm giảm mức độ vàng da ở trẻ. Sữa non chứa nhiều vitamin A có tác
dụng cải thiện tình trạng nhiễm khuẩn của trẻ. Sữa non đƣợc tiết ra trong 2-3 ngày đầu
sau sinh, khoảng 40-50ml vào ngày đầu tiên, nhƣng đủ cho một đứa trẻ bình thƣờng
mới sinh(5)
Sữa non có nhiều tế bào màu trắng và kháng thể, đặc biệt là SIGA – nó chứa
một tỷ lệ lớn Protein, khoáng chất và các vitamin tan trong chất béo (A, E và K) hơn
trong sữa trung gian và sữa trƣởng thành. Vitamin A rất quan trọng để bảo vệ mắt và
sự tồn vẹn của các bề mặt biểu mơ và thƣờng làm cho sữa non màu hơi vàng. Sữa non
cung cấp bảo vệ miễn dịch quan trọng cho một trẻ sơ sinh khi trẻ lần đầu tiên đƣợc tiếp
xúc với các vi sinh vật trong môi trƣờng, giúp niêm mạc của ruột nhận đƣợc các chất
dinh dƣỡng trong sữa. Vì vậy, sau khi sinh trẻ cần đƣợc bú sữa non ngay.(6)
Cho trẻ bú sớm cịn có tác dụng làm giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ, bế sản dịch
trong thời kỳ hậu sản và làm giảm nguy cơ nhiễm trùng tử cung sau đẻ do cơ chế kích


7

thích vùng dƣới đồi sản xuất Oxytocin (6), trẻ mút vú ngồi việc kích thích tuyến n
sản xuất Oxytocin cịn kích thích bài tiết Prolactin. Hai yếu tố này có tác dụng lên quá
trình tạo và tiết sữa. Vì vậy, cho bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh sẽ thúc đẩy quá
trình tạo sữa nhanh hơn so với việc chờ xuống sữa tự nhiên (8). Vì vậy cho trẻ bú
thƣờng xuyên là cơ sở để tạo sữa và duy trì nguồn sữa mẹ.
Ngồi ra, bú sớm cịn có tác dụng làm thơng tuyến sữa và kích thích cơ thể mẹ
bài tiết sữa sớm, tránh đƣợc hiện tƣợng cƣơng tức vú, áp xe vú, khả năng tiết sữa sẽ
dài hơn và thời gian cho con bú lâu hơn.
Cho trẻ bú ngay sau sinh cũng giúp bé bú đúng cách ngay từ đầu và việc nuôi
con bằng sữa mẹ dễ thành cơng hơn. Chính vì vậy sau sinh cần cho trẻ nằm cạnh mẹ,

đặc biệt kết hợp giữ phƣơng pháp tiếp xúc da kề da và bú sớm sẽ giúp trẻ ổn định thân
nhiệt, hô hấp và nồng độ đƣờng trong máu của trẻ, giúp tình cảm khăng khít giữa mẹ
và con.
1.1.2.2. Lợi ích của ni con bằng sữa mẹ
* Lợi ích đối với trẻ
Sữa mẹ giúp cho trẻ chống lại bệnh tật đồng thời tăng cƣờng sức khỏe và thúc
đẩy sự tăng trƣởng tối ƣu của đứa trẻ. Khi đứa bé sinh ra, sữa mẹ là nguồn dinh dƣỡng
hoàn hảo nhất giúp cho đứa bé dễ tiêu hóa, hấp thụ, để đứa bé phát triển và phòng
chống suy dinh dƣỡng(9).
Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên có chứa nhiều chất kháng khuẩn bảo vệ cơ
thể, do vậy trẻ bú sữa mẹ sẽ ít bị dị ứng eczema hơn một số trẻ ăn sữa công thức. Sữa
mẹ không chỉ giúp trẻ phát triển tốt về mặt thể chất (chiều cao, cân nặng,…) mà cả về
trí não.
* Lợi ích đối với bà mẹ
Bà mẹ thƣờng xuyên gần gũi với con sẽ giúp gắn bó tình cảm mẹ và con. Mẹ sẽ
cảm thấy thoải mái tinh thần, yên tâm và giảm đƣợc sự lo âu, trầm cảm sau sinh và tạo
cho trẻ cảm giác an toàn. Mặt khác, nhờ sự quan sát của mình, ngƣời mẹ sẽ là ngƣời
phát hiện những thay đổi bình thƣờng hay bất thƣờng của đứa trẻ(10).


8

Ngoài ra, cho đứa bé bú sớm sẽ giúp tử cung của mẹ co hồi sớm, cầm máu cho
mẹ và đề phòng thiếu máu sau đẻ và nhanh hết sản dịch. Làm cho kinh nguyệt chậm
trở lại, giảm bớt khả năng thụ thai, giảm đƣợc nguy cơ viêm tắc, áp xe, ung thƣ vú và
ung thƣ cổ tử cung(8).
* Lợi ích đối với xã hội
Tổ chức Y tế thế giới WHO vừa công bố một nghiên cứu cho thấy nếu tỉ lệ trẻ
em trên toàn thế giới đƣợc bú mẹ hồn tồn trong vịng 6 tháng đầu đời tăng từ 40,0%
lên đến 50,0% trong 10 năm tới thì sẽ có đến 520,000 đứa trẻ đƣợc cứu sống và thế

giới sẽ tiết kiệm đƣợc 300 tỷ USD(11).
Tại Việt Nam, NCBSM giúp giảm thiểu các chi phí tốn kém của việc cho trẻ ăn
sữa cơng thức. Ƣớc tính trung bình mỗi gia đình tiêu tốn khoảng 800.000 - 1.200.000
đồng/tháng nếu cho trẻ ăn các sản phẩm thay thế sữa mẹ. Chi phí này chiếm khoảng 53
– 79% thu nhập bình quân 1 năm của ngƣời Việt Nam (18.227.000 đồng) và một phần
lớn trong tổng thu nhập của một gia đình. Ngồi ra nhờ các lợi ích về mặt sức khỏe của
NCBSM các gia đình tiết kiệm đƣợc thời gian và tiền bạc cho việc khám chữa bệnh.
NCBSM không chỉ mang lại lợi ích về sức khỏe cho trẻ và mẹ mà còn mang lại
những lợi ích kinh tế to lớn. Theo Bộ Nơng nghiệp Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiết
kiệm đƣợc 3,6 tỷ đô là mỗi năm trong việc chỉ trả gián tiếp cho chăm sóc sức khỏe nếu
nhƣ có ít nhất 75% bà mẹ cho con bú sớm ngay sau sinh và 50% các bà mẹ cho con bú
hoàn toàn đến 6 tháng tuổi.
Tại Việt Nam, nếu các bà mẹ NCBSMHT trong 6 tháng đầu họ có thể tiết kiệm
đƣợc một khoản tiền tƣơng đƣơng với ~ 12.000.000 đồng từ việc không chi tiêu cho
các sản phẩm thay thế sữa mẹ. Tuy nhiên, một nửa của khoản tiền này đang bị lãng phí
do tỷ lệ NCBSMHT thấp ở Việt Nam, điều này làm tăng chi phí y tế chung của quốc
gia. Mỗi năm nƣớc ta phải chi khoảng ~ 21 tỷ đồng cho khám chữa các bệnh do nuôi
dƣỡng trẻ nhỏ. Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại cho gia đình NCBSMHT cịn có lợi
ích cho doanh nghiệp về mặt lâu dài vì các bà mẹ ít phải nghỉ làm để chăm con ốm –
điều này cũng có nghĩa là tạo ra một lực lƣợng lao động ổn định. Sữa mẹ cũng là một
nguồn lực hữu ích đảm bảo an ninh thực phẩm cho trẻ nhỏ và các gia đình trên tồn
thế giới khi có thiên tai hoặc khủng hoảng kinh tế.


9

1.2. Thực trạng cho con bú sớm tại Việt Nam và trên thế giới
1.2.1. Trên thế giới
Lợi ích và sự cần thiết của NCBSM đối với sức khỏe trẻ em, bà mẹ, gia đình và
xã hội thừa nhận. Tuy nhiên ở nhiều nơi trên thế giới, tỷ lệ cho con bú sớm rất thấp:

17% ở các nƣớc Đông Âu – Trung Á; 33% ở các nƣớc Châu Á Thái Bình Dƣơng và
cao nhất là ở khu vực Mỹ La Tinh – Caribe – Bắc và Đông Phi là 50%.
Cho trẻ bú sớm cũng là một nội dung đƣợc nhiều nghiên cứu đề cập tới trong
quy trình chăm sóc thiết yếu. Theo WHO thì việc cho trẻ bú sớm trong vịng 1 giờ đầu
sau sinh là rất quan trọng. Đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ thời điểm sẽ quyết định
tất cả. Trẻ đƣợc cho bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh có nhiều cơ hội đƣợc sống
hơn so với những trẻ phải chờ lâu mới đƣợc cho bú mẹ. Trẻ sơ sinh đƣợc bắt đầu bú
mẹ trong vịng từ 2- 23 giờ sau khi sinh có nguy cơ tử vong cao hơn gấp 33% so với
những đứa trẻ đƣợc bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh.
Theo báo cáo vì sự tiến bộ của trẻ em của UNICEF (2006) thì tỷ lệ ni con
bằng sữa mẹ hồn tồn trong vịng 6 tháng đầu giai đoạn 1996-2004 thì tỷ lệ ở nƣớc ta
là 15,0% thấp hơn rất nhiều so với các nƣớc trong khu vực nhƣ Trung Quốc là 50,0%;
Lào là 23,0%; Ấn Độ có 96,0% trẻ dƣới 5 tuổi đƣợc NCBSM trong đó 25,4% trong số
này đƣợc bú sớm trong vòng 1 giờ ngay sau sinh. Tỷ lệ này cũng thấp ở các nƣớc nhƣ
Bangladesh 42,6%; Nepal 35,4%; Inodonesia 43,9%(12)
Theo kết quả một nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng của Ayele Lenja và
cộng sự (2014) ở Ireland trên 396 phụ nữ có con dƣới 6 tháng tuổi sử dụng phƣơng
pháp lấy mẫu ngẫu nhiên thì có 85,6% phụ nữ có kiến thức về thực hành bú mẹ hồn
tồn nhƣng chỉ có 78,0% cho trẻ bú mẹ hồn tồn trong vịng 6 tháng đầu; 80,5% bà
mẹ cho con bú hơn 8 lần/ngày; 77,0% bà mẹ cho con bú sữa non và 52,0% đứa trẻ
đƣợc bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh(13)
Theo một nghiên cứu của WHO (2016) cho thấy, trong số 68 quốc gia tham gia
nghiên cứu thì có đến 49% cho biết có hơn nửa số trẻ đƣợc cho bú trong vịng 1 giờ
đầu sau sinh. Chỉ có duy nhất 1 quốc gia là cộng hòa Kyrgyz ghi nhận 80% số trẻ sinh
ra đƣợc bú sớm ngay sau sinh (14)


10

Theo nghiên cứu của Olukunmi O Balagun và cộng sự (2016) cho thấy: tỷ lệ trẻ

đƣợc bú sớm trung bình trên thế giới là 44% (UNICEF 2014), tuy nhiên có sự khác
biệt lớn với một số quốc gia nhƣ Ấn Độ và Pakistan tỷ lệ lần lƣợt là 23,3% và 18,4%
(Victora 2016b) (15)
1.2.2. Tại Việt Nam
Tháng 11/2014 Bộ Y tế đã ban hành và thực thi các Hƣớng dẫn Quốc gia về
chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh ngay trong và sau đẻ thƣờng; Hƣớng dẫn
Quốc gia về chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh ngay trong và sau đẻ mổ (với
hỗ trợ của UNCICEF và WHO) năm 2016. Hƣớng dẫn nhấn mạnh tiếp xúc da kề da
ngay sau sinh và hỗ trợ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh. Nhân viên y tế
đã đƣợc tập huấn và các hoạt động giám sát đã đƣợc thực hiện ở tất cả các tỉnh thành
nhằm đảm bảo thực thi hƣớng dẫn quốc gia một cách hiệu quả.
Ngoài ra, Bộ Y tế đã sửa đổi và thực hiện Tiêu chí chất lƣợng Bệnh viện (dƣới
sự hỗ trợ của UNICEF và WHO) năm 2016. Hƣớng dẫn bao gồm các điều kiện và thực
hành chuẩn của cán bộ y tế trong lĩnh vực chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh, trong đó thúc
đẩy cho con bú sớm và da kề da trong tất cả các bệnh viện chuyên khoa và khoa sản
nhi.
Theo nghiên cứu cắt ngang của Nguyễn Vũ Linh và cộng sự (2010) tại Bệnh
viện Phụ sản nhi bán cơng Bình Dƣơng trên 83 đối tƣợng đƣợc phỏng vấn 3 lần và
quan sát các hành vi liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ cũng cho thấy, tỉ lệ trẻ
bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh chiếm 29,7%, trong đó khơng có một sản phụ
sinh mổ nào cho con bú sau 1 giờ đầu sau sinh (16).
Theo nghiên cứu của Trần Thị Hải Dung (2013) tiến hành trên 290 sản phụ sinh
con từ 01/4/2013 – 30/4/2013 tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội thì tỷ lệ trẻ bú sớm là
33,8% (17)
Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Tuyết và cộng sự (2014) cho thấy, tỷ lệ trẻ đƣợc
bú sữa mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 45,5% . Và theo kết quả nghiên cứu
của Nguyễn Thị Sơn và cộng sự (2018) thì tỷ lệ trẻ bú sớm ở bệnh viện Trung ƣơng
Thái Nguyên là 86,6% (18). Nghiên cứu của Mai Anh Đào và cộng sự (2018) cho



11

thấy, tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 58,4% và sau 1 giờ
là 41,6% (19).
Ngoài ra, theo số liệu từ Tổng điều tra dinh dƣỡng (2010) cho thấy, có tới
20,0% bà mẹ vắt bỏ sữa non trƣớc khi cho trẻ bú và chỉ có 62,0% trẻ sơ sinh ở Việt
Nam đƣợc bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh(16). Theo nghiên cứu của Phạm Văn
Phú và cộng sự (2012) về nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung của các bà mẹ dân tộc
Tày - Nùng ở Lạng Sơn cho thấy có đến 71,4% các mẹ vắt bỏ sữa non cho trẻ trƣớc
khi cho trẻ bú lần đầu tiên; 27,6% bà mẹ trƣớc khi cho trẻ bú lần đầu tiên đã cho trẻ
ăn/uống một loại thức ăn hay nƣớc uống nào đó(20).
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm và cộng sự (2014) tại An Giang cho
thấy: Tỷ lệ nhận thức đúng về cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh của các
sản phụ đạt 93,7% nhƣng thực tế chỉ có 75,7% các bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ
đầu sau sinh(21).
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành cho trẻ bú sớm
Nghiên cứu cắt ngang của Diaz-Gomez NM và các cộng sự (2013) tại Tây Ban
Nha thì lý do chính việc ngừng cho con bú là cảm thấy sản xuất sữa thấp là 29,0%; sự
trở lại làm việc là 18,0%; khó khăn trong việc kết hợp nuôi con bằng sữa mẹ với công
việc là 43,0%; cho con bú tại nơi công cộng là 39,0%; thức giấc ban đêm là 62,0% và
tăng cân ít hơn ở trẻ là 29,0% và 34,0% lựa chọn thức ăn nhân tạo cho trẻ(22).
Theo một phát hiện chính của tác giả Sarita Dhakal và cộng sự (2014) tại
Conggo thì những nhân tố chính ảnh hƣởng đến việc bú sớm có thể kể đến là: Tình
trạng hơn nhân, trình độ học vấn, kiến thức về ni con bằng sữa mẹ(23).
Ngồi ra, theo báo cáo của UNICEF cho thấy, tỷ lệ cho trẻ bú sớm ở Việt Nam
giảm đáng kể từ 44% năm 2006 xuống còn 27% năm 2014, các nguyên nhân chính bao
gồm:
+ Các nhân viên y tế chƣa đủ kiến thức, sự quyết tâm và chƣa sẵn sàng hỗ trợ
các bà mẹ cho con bú ngay giờ đầu tiên sau khi sinh



12

+ Xu hƣớng đẻ mổ tăng nhanh từ 10% năm 2002 lên tới 28% năm 2013. Một
nửa ca mổ đẻ đều đƣợc thực hiện trƣớc khi có dấu hiệu chuyển dạ, có nghĩa là những
ca đẻ mổ này khơng liên quan đến những lý do y tế
+ Văn hóa/niềm tin vào quan niệm ngày và giờ tốt sẽ mang lại tƣơng lai tốt đẹp
cho em bé sau này.
Do vậy, có thể chia ra làm 4 nhóm yếu tố chính ảnh hƣởng đến thực hành cho
trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh nhƣ: Yếu tố từ mẹ, Yếu tố từ trẻ, Yếu tố từ gia đình,
yếu tố từ dịch vụ y tế và các yếu tố về chính sách y tế.
* Các yếu tố từ mẹ:
Các yếu tố đặc trƣng từ ngƣời mẹ có liên quan trực tiếp đến việc thực hành cho
con bú sớm nhƣ: Tuổi, trình độ học vấn, nơi ở, tình trạng hơn nhân, q trình mang
thai, cách sinh, kiến thức của bà mẹ về bú sớm.
Theo bằng chứng từ một nghiên cứu đoàn hệ về “Dự đoán về thời gian cho con
bú cho dân số ở Úc” của tác giả Jane A.Scott và cộng sự (2006) đƣợc tiến hành trên
587 phụ nữ đƣợc chọn ở 2 bệnh viện phụ sản ở Perth và hoàn thành bảng câu hỏi cơ
bản ngay trƣớc hoặc ngay sau khi xuất viện. Dữ liệu đƣợc thu thập cho thấy, những trẻ
sơ sinh có mẹ dƣới 30 tuổi thì có xu hƣớng ni con bằng sữa mẹ ít hơn so với các phụ
nữ có độ tuổi từ 30 trở lên (55,3 % so 44%)(24)
Theo nghiên cứu mô tả đƣợc thực hiện giữa tháng 7/2006 tại một Bệnh viện
thân thiện với trẻ em tại Brazil của Emel Orun và cộng sự (2010) trên 577 bà mẹ cho
thấy 35,2% bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và 72,8% bắt đầu cho con
bú lần đầu tiên trong vòng 2 giờ sau sinh. Trong đó, tỷ lệ bà mẹ cho con bú trong vòng
30 phút đầu sau sinh ở bà mẹ sinh thƣờng (16,8%) bà mẹ sinh mổ (2,8%). Tỷ lệ trẻ bú
sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh ở bà mẹ sinh thƣờng (51,2%) nhƣng ở bà mẹ sinh
mổ chỉ chiếm (18,9%) (p<0,001)(25)
Cũng theo nghiên cứu của Mai Anh Đào và cộng sự (2018) cho thấy: sản phụ
sinh thƣờng có khả năng cho con bú sớm cao hơn gấp 16,6 lần so với các sản phụ đẻ

mổ (19)


13

Theo một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con bú ở nhóm có học vấn
cao thƣờng cao hơn tỷ lệ các bà mẹ cho con bú ở nhóm học vấn thấp hơn. Theo một
nghiên cứu của Jennifex Baxter (2008) tại Úc. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu NCBSM từ
Wave dựa trên các phụ nữ có con từ 4 đến 12 tháng tuổi cho thấy: những bà mẹ có học
vấn đại học hoặc sau đại học có khả năng cho con bú sớm nhiều hơn các bà mẹ có học
vấn thấp hơn(26)
Theo tác giả Kim J. và Gallien T.L. (2014) tại Mỹ để kiểm tra sự chênh lệch
trong thực hành chăm sóc trẻ em và ni dƣỡng trẻ sơ sinh theo cấu trúc hộ gia đình
(bà mẹ một mình và bà mẹ có chồng). Phân tích dữ liệu cắt ngang đƣợc thực hiện bằng
cách sử dụng mẫu trẻ em từ 0 - 2 tuổi đại diện trên toàn quốc ghi danh vào Khảo sát
sức khỏe trẻ em năm 2007. Mẫu phân tích là trẻ em từ 1801 bà mẹ một mình
(n=16,0%) trẻ em từ 11.337 bà mẹ có chồng (n= 84%) thì: tỷ lệ cho trẻ bú trong vòng
6 tháng đầu ở những bà mẹ đơn thân nhỏ hơn 0,57 lần so với những bà mẹ có chồng
bên cạnh(27)
Theo nghiên cứu cắt ngang so sánh kiến thức, thái độ và thực hành nuôi con
bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con dƣới 5 tuổi giữa các bà mẹ ở các cộng đồng nông
thôn và thành thị ở Lagos, Tây Nam Nigeria của tác giả Balogun MR và cộng sự
(2019) trên 248 phụ nữ có con dƣới 5 tuổi chọn từ cả 2 khu vực sử dụng kỹ thuật lấy
mẫu nhiều tầng và sau đó đƣợc phỏng vấn thì các phụ nữ đƣợc hỏi ở LGA nơng thơn
thì tỷ lệ cho con bú sớm ngay sau sinh (75,8%) và phụ nữ đƣợc hỏi ở thành thị là
43,5% (p<0.001)(28). Cũng theo báo cáo gần đây của Tổng cục Thống kê (2011) tại 6
vùng ở Việt Nam: Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng
Sông Cửu Long, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung cho thấy: Đứa trẻ sinh ra có bố mẹ là ngƣời dân tộc thiểu số có khả năng đƣợc
bú sữa mẹ cao hơn gấp hai lần so với trẻ em sinh ra trong các gia đình là ngƣời dân tộc

Kinh/Hoa(29).
* Yếu tố từ trẻ
Những yếu tố thuộc về trẻ nhƣ: Giới tính, nơi sinh, cân nặng của trẻ khi sinh ra,
sức khỏe của trẻ cũng là một trong số những yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hành bú
sớm. Trong một số trƣờng hợp cũng cần trì hỗn thời gian bú mẹ do sức khỏe đứa trẻ


14

không đảm bảo nhƣ: trẻ suy hô hấp, dị tật bẩm sinh... Theo một số nghiên cứu trên thế
giới thì: Trẻ sơ sinh nam, cân nặng của trẻ lúc sinh ra thấp, trẻ sinh non tháng là những
yếu tố gây cản trở trong việc thực hành bú sớm(30).
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (2011) về Điều tra đánh giá các mục tiêu
về trẻ em và phụ nữ cho thấy, trẻ sinh tại nhà có tỷ lệ đƣợc bú sớm trong vòng 1 giờ
đầu sau sinh cao hơn gấp 2 lần so với cá trẻ sinh ra tại các cơ sở y tế công lập hay tƣ
nhân (64,0% so với 37,8%)(31).
Giới tính của trẻ cũng liên quan đến việc thực hành cho trẻ bú mẹ. Theo dữ liệu
từ nghiên cứu theo chiều dọc đƣợc thực hiện ở hai khu ổ chuột của Nairobi của tác giả
Elizabeth (2011) tại Keyna. Nghiên cứu đã sử dụng thông tin về năm đầu tiên của
4299 trẻ sinh từ tháng 9/2006 đến tháng 1/2010 cho thấy, có mối liên quan giữa việc
bổ sung thức ăn cho trẻ trƣớc 6 tháng tuổi của trẻ trai nhiều hơn trẻ gái(32).
* Yếu tố từ phía gia đình
Yếu tố gia đình cũng là một tác nhân ảnh hƣởng đến việc bú sớm. Trong đó
phải kể đến sự chăm sóc từ phía gia đình. Những bà mẹ có gia đình có thái độ tích cực
và kiến thức về ni con bằng sữa mẹ sẽ có khả năng NCBSMHT và cho con bú sớm
cao hơn các bà mẹ khác.
Theo nghiên cứu của Mai Anh Đào và cộng sự (2018) đƣợc thực hiện trên đối
tƣợng là bà mẹ có con dƣới 6 tháng tuổi tại 4 xã thuộc thành phố Nam Định cho thấy,
các gia đình khuyên sản phụ cho con uống sữa bột sau sinh sẽ làm sản phụ không cho
trẻ bú sớm sau sinh cao hơn 6,2 lần so với các sản phụ khơng đƣợc gia đình khuyến

khích việc cho trẻ uống sữa bột. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, việc sản phụ nhận
đƣợc sự hỗ trợ cho bú sau khi sinh từ nhân viên y tế sẽ làm tăng khả năng bú sớm ở trẻ
gấp 3,8 lần so với những sản phụ không nhận đƣợc sự hỗ trợ này (19)
Theo nghiên cứu tiền cứu để xác minh ảnh hƣởng của ông bà đến thực hành
nuôi con bằng sữa mẹ của Lulie (2005) tại Brazil trên 601 bà mẹ có trẻ sơ sinh bình
thƣờng sinh tại một bệnh viện đại học ở thành phố Porto Alegre bang Rio Grande do
Sul cho thấy: Các gia đình cho trẻ uống thêm nƣớc hoặc các loại nƣớc trà làm tăng 2
lần nguy cơ mà trẻ không đƣợc bú sữa mẹ ở những tháng đầu tiên(33).


×