Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

Thực trạng công tác đào tạo y khoa liên tục cho cán bộ y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện chợ rẫy thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.17 MB, 102 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN NGỌC ĐIỆP

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO Y KHOA LIÊN TỤC
CHO CÁN BỘ Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2016 - 2018

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ: 8720802

HÀ NỘI, 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN NGỌC ĐIỆP

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO Y KHOA LIÊN TỤC
CHO CÁN BỘ Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2016 - 2018

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ: 8720802

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS.BS. TRẦN MINH TRƯỜNG


HÀ NỘI, 2019


i

MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ............................................................................. iv
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU .........................................................................................v
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU........................................................................................3
CHƯƠNG 1 ................................................................................................................4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................................4
1.1. Một số khái niệm ..............................................................................................4
1.1.1. Đào tạo y khoa liên tục: ................................................................................4
1.1.2. Công tác tổ chức đào tạo y khoa liên tục ......................................................5
1.1.3. Tiêu chuẩn quốc tế về đảm bảo chất lượng đào tạo y khoa liên tục .............6
1.2. Hoạt động đào tạo y khoa liên tục ở một số quốc gia trên thế giới .................6
1.3. Đào tạo y khoa liên tục tại Việt Nam ...............................................................8
1.3.1 Quy định về đào tạo y khoa liên tục tại Việt Nam[7], [12] ...........................9
1.3.2. Thực trạng ĐTLT ở một số cơ sở y tế tại Việt Nam ...................................13
1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục ............................................14
1.3.3.1. Cơ quan quản lý, ban hành chính sách .....................................................15
1.3.3.2. Cơ sở đào tạo ............................................................................................15
1.3.3.3. Cán bộ y tế tham gia đào tạo ....................................................................16
1.4. Bệnh viện Chợ Rẫy ........................................................................................18
1.5. Khung lý thuyết thực trạng ĐTLT và các yếu tố liên quan ...........................20
CHƯƠNG 2 ..............................................................................................................22
ĐỚI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............................................22

2.1. Đới tượng nghiên cứu.....................................................................................22
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..................................................................23
2.3. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................................23


ii

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu................................................................23
2.4.1. Định lượng ..................................................................................................23
2.4.2. Định tính: ....................................................................................................25
2.5. Bợ cơng cụ và quy trình thu thập số liệu: ......................................................26
2.6. Các biến số nghiên cứu: .................................................................................27
2.7. Phương pháp phân tích số liệu .......................................................................28
2.8. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .....................................................................28
3.1. Thực trạng đào tạo y khoa liên tục cho CBYT tại BVCR trong giai đoạn
2016 – 2018. ..........................................................................................................30
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐTLT tại bệnh viện Chợ Rẫy..............................39
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ........................................................................................46
4.1. Thực trạng đào tạo y khoa liên tục cho CBYT tại BVCR trong giai đoạn
2016 – 2018. ..........................................................................................................46
4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐTLT tại bệnh viện Chợ Rẫy..............................50
4.2.1. Yếu tố ảnh hưởng từ cơ quan quản lý (Bộ Y tế) .........................................50
4.2.2. Yếu tố ảnh hưởng từ đơn vị đào tạo (Bệnh viện Chợ Rẫy) ........................51
4.3. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số .....................53
4.3.1. Hạn chế của nghiên cứu, sai số ...................................................................53
4.3.2. Biện pháp khắc phục sai số .........................................................................54
KẾT LUẬN ...............................................................................................................55
KHUYẾN NGHỊ .......................................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BYT

Bộ Y tế

CBYT

Cán bộ y tế

ĐTLT

Đào tạo liên tục

WHO

Tổ chức y tế Thế giới

BVCR

Bệnh viện Chợ Rẫy


iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


Bảng 2.1: Bảng số lượng người được chọn lấy mẫu ở mỗi nhóm được phân chia
theo các khóa học và năm tham gia khóa học………..………………... 25
Bảng 3.1: Thông tin chung của CBYT .....................................................................30
Bảng 3.2: Thực trạng ĐTLT theo nhận định NVYT ................................................31
Bảng 3.3: Thực trạng ĐTLT cho CBYT tại BVCR giai đoạn 2016 – 2018 ..... Error!
Bookmark not defined.


v

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh viện Chợ Rẫy là bệnh viện đầu ngành tại khu vực phía Nam, được Bợ Y
tế cho phép triển khai thực hiện công tác ĐTLT từ năm 2008, nhưng chưa có những
đánh giá cần thiết về cơng tác tở chức, quản lý và chương trình, nợi dung đào tạo,
giảng viên tham gia đào tạo… để cung cấp giải pháp cho các nhà quản lý nhằm cải
tiến và nâng cao chất lượng ĐTLT tại BV. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng công tác đào tạo y khoa liên tục cho cán bộ y tế và một số yếu tố ảnh
hưởng tại Bệnh viện Chợ Rẫy – Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2018”
với 02 mục tiêu chính là mơ tả thực trạng công tác đào tạo y khoa liên tục cho cán
bộ y tế tại bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn 2016 – 2018 và phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến công tác đào tạo y khoa liên tục cho cán bộ y tế tại bệnh viện Chợ Rẫy
giai đoạn 2016 – 2018. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và
định tính. Nghiên cứu phát vấn 203 học viên đã tham gia ĐTLT tại BV Chợ Rẫy
trong giai đoạn 2016 – 2018; thu thập những báo cáo về ĐTLT tại BV Chợ Rẫy giai
đoạn 2016 – 2018 và phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo Trung tâm Đào
tạo & Chỉ đạo tuyến, trưởng các phịng ban; thảo ḷn nhóm nhằm tìm hiểu thực
trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến công tác ĐTLT. Thời gian nghiên cứu bắt đầu
từ tháng 4/2019 đến tháng 10/2019.
Kết quả nghiên cứu cho thấy người tham gia nghiên cứu đánh giá cao về chất
lượng tổ chức đào tạo, với 98,5% học viên đánh giá nội dung ĐTLT phù hợp với

nhu cầu của học viên; 99,5% học viên đánh giá nợi dung ĐTLT phù hợp với vị trí
cơng việc họ đang cơng tác; 95,5% học viên đánh giá hình thức ĐTLT phù hợp với
chủ đề; 98% học viên đánh giá cơ sở vật chất đáp ứng tốt cho công tác ĐTLT tại
BV Chợ Rẫy; 98,5% học viên đánh giá phương pháp giảng dạy của giảng viên là
phù hợp; 98% học viên đánh giá những kiến thức ĐTLT được vận dụng nhiều vào
công việc hiện tại. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng được tìm thấy trong
nghiên cứu này gồm: xây dựng kế hoạch ĐTLT, tài liệu giảng dạy, đội ngũ tổ chức
quản lý, đội ngũ giảng viên giảng dạy, cơ sở vật chất phục vụ học tập, hoạt động


vi

quảng bá chương trình đào tạo liên tục, uy tín bệnh viện và học phí cũng được nhắc
đến trong công tác ĐTLT tại BVCR.
Qua nghiên cứu này, tác giả đưa ra mợt sớ kiến nghị về xây dựng quy trình
thẩm định tài liệu, nợi dung chương trình đào tạo đúng quy định, phương pháp
giảng dạy phong phú hơn, xây dựng quy trình đánh giá chất lượng đợi ngũ giảng
viên nhằm duy trì và nâng cao chất lượng giảng dạy, cải tiến cơ sở vật chất, trang
thiết bị hiện đại phù hợp với điều kiện phát triển hàng năm (mơ hình hiện đại trong
thực hành, phịng skillslap…), đẩy mạnh cơng tác ứng dụng công nghệ thông tin
nhằm đáp ứng nhu cầu học tập cho CBYT.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghề y là một nghề đặc biệt, trong đó năng lực của khối y, bác sĩ ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả công tác khám và điều trị, cũng như tính mạng của bệnh
nhân. Hơn nữa trước sự phát triển của khoa học, công nghệ và những ứng dụng mới
trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe người bệnh thì nhu cầu nâng cao, cập nhật

thường xuyên về kiến thức chuyên môn và kỹ năng liên quan cho lực lượng lao
động ngành y tế ngày càng được các cơ sở y tế, các cấp quản lý và chính các cán bộ
y tế quan tâm và chú trọng đẩy mạnh [17]. Vì vậy, việc đào tạo, cập nhật liên tục
những kiến thức y khoa, kỹ thuật mới, kỹ năng làm việc là yêu cầu bắt buộc đối với
mọi cán bộ y tế (CBYT) để thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh và chăm sóc
người bệnh. Trong bối cảnh của xã hội khi những yêu cầu của người dân về khám
chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ngày càng cao thì cơng tác đào tạo liên tục
(ĐTLT) giúp CBYT duy trì năng lực chun mơn, tiếp cận lĩnh vực y học mới, cho
phép phát triển sâu hơn, rộng hơn về lĩnh vực chuyên môn mà CBYT quan tâm,
đồng thời giúp cho CBYT tự tin hơn, hoàn thiện hơn trong công tác chăm sóc bảo
vệ sức khỏe cộng đồng [31].
Tại Việt Nam, khái niệm ĐTLT có từ những năm 1960, nhưng đến năm 1990
được sự hỗ trợ từ dự án đào tạo nhân lực y tế của Thụy Điển (03/SIDA-Thụy Điển),
công tác ĐTLT được ứng dụng rộng rãi vào lĩnh vực y tế tại Việt Nam [3]. Năm
2008, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 07/2008/TT-BYT hướng dẫn triển khai công
tác đào tạo lại, ĐTLT cho CBYT đang làm việc trong các cơ sở y tế [6]. Ngày
09/8/2013 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BYT thay thế Thông tư số
07/2008/TT-BYT tiếp tục hướng dẫn công tác ĐTLT cho CBYT trên phạm vi toàn
quốc [7]. Ngày 8/4/2014, Bộ Y tế quyết định ban hành chiến lược ĐTLT trong lĩnh
vực y tế giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Mặc dù số lượng
CBYT đã tăng trong những năm qua, tuy nhiên cải tiến chất lượng, năng lực của
CBYT thơng qua ĐTLT rất cần được tìm hiểu, nghiên cứu để từ đó tìm ra các giải
pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực CBYT. Việc ban hành các chính sách thúc


2

đẩy công tác ĐTLT cho CBYT như đã đề cập ở trên đã cho thấy định hướng và sự
quan tâm của Đảng và nhà nước trong phát triển nhân lực y tế thông qua ĐTLT[11].
Bệnh viện Chợ Rẫy là bệnh viện đầu ngành tại khu vực phía Nam, được Bộ Y

tế cho phép triển khai thực hiện công tác ĐTLT từ năm 2008. Từ năm 2013 công
tác ĐTLT được thực hiện theo Thông tư 22/2013/TT-BYT với mã đào tạo là mã B,
lĩnh vực được phép đào tạo là các chuyên ngành lâm sàng, cận lâm sàng và phục hồi
chức năng, do Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến (TTĐT&CĐT) trực tiếp triển
khai [4, 16]. Trong năm 2018, bệnh viện đã đào tạo cho 2.847 lượt học viên trong
và ngoài bệnh viện đến học các lớp ngắn hạn từ 3 -12 tháng và 17.622 lượt CBYT
đến tham dự hội nghị hội thảo, trong đó có 8.110 lượt CBYT của bệnh viện Chợ
Rẫy tham dự. Công tác đào tạo chỉ đạo tuyến cũng được triển khai thực hiện như
đào tạo theo đề án 1816 gồm 33 học viên cho 04 bệnh viện với 06 chuyên khoa; đào
tạo theo đề án bệnh viện vệ tinh: 107 học viên cho 20 bệnh viên với 09 chuyên
khoa. Ngoài các bệnh viện thuộc đề án, còn có các bệnh viện đa khoa tỉnh, trung
tâm y tế quận/huyện và các tổ chức, cá nhân đến học tập tại bệnh viện [1].
Qua nhiều năm thực hiện, bệnh viện Chợ Rẫy đã cung cấp nhiều lớp với đa
dạng hình thức ĐTLT cho CBYT trong và ngoài bệnh viện, nhưng chưa có những
đánh giá cần thiết về công tác tở chức, quản lý và chương trình, nợi dung đào tạo,
giảng viên tham gia đào tạo… để cung cấp giải pháp cho các nhà quản lý nhằm cải
tiến và nâng cao chất lượng ĐTLT tại BV. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng công tác đào tạo y khoa liên tục cho cán bộ y tế và một số yếu tố ảnh
hưởng tại Bệnh viện Chợ Rẫy – Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2018”.


3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng công tác đào tạo y khoa liên tục cho cán bộ y tế tại bệnh
viện Chợ Rẫy giai đoạn 2016 – 2018.
2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo y khoa liên tục cho
cán bộ y tế tại bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn 2016 – 2018.



4

CHƯƠNG 1

TỞNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Mợt sớ khái niệm
1.1.1. Đào tạo y khoa liên tục:
Trên thế giới đào tạo y khoa liên tục xuất hiện dựa theo yêu cầu của xã hội và
gắn với lịch sử phát triển của y học hiện đại. Kiến thức y khoa không ngừng mở
rộng cả về chiều sâu và chiều rộng đặt ra thách thức trong đào tạo chính qui bậc đại
học và sau đại học. Trong bối cảnh hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật, ngành y khoa ngày càng có nhiều ứng dụng mới, yêu cầu của xã
hội về chất lượng dịch vụ y tế cũng ngày càng cao hơn, đặt ra nhu cầu ĐTLT trở
nên cần thiết hơn [29, 30].
Theo thông tư số 22/2013-BYT của Bợ Y tế thì ĐTLT là các khóa đào tạo
ngắn hạn nhằm bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức, đào
tạo chuyển giao kỹ thuật, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo
chuyên môn nghiệp vụ khác cho CBYT không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục
quốc gia[7].
Đào tạo y khoa liên tục là quá trình cán bợ y tế học tập, cập nhật bổ sung
những kiến thức y khoa tiến bộ, mới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Việc này
bao gồm tất cả những hoạt động học tập một cách thường xuyên và liên tục nhằm
mục đích nâng cao nâng cao năng lực chuyên môn của bản nhân viên y tế để phục
vụ cho việc chăm sóc sức khỏe của người bệnh một cách tốt hơn[9].
Nhu cầu đào tạo y khoa liên tục không đơn thuần là nhu cầu của người CBYT
mà cịn là nhu cầu của hệ thớng y tế, của cơ quan quản lý CBYT nhằm phù hợp với
định hướng phát triển của mỗi đơn vị. Nếu mợt đơn vị chỉ đơn thuần trơng cậy vào
trình đợ chuyên môn của CBYT, mà không có kế hoạch đào tạo, phát triển trình đợ
cho đợi ngũ nhân viên thì khó có thể phát triển được đơn vị, nâng cao chất lượng
cung cấp các dịch vụ y tế, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của

người dân.
Theo hội đồng công nhận ĐTLT Hoa Kỳ: ĐTLT được chứng minh có thể giải
quyết mọi vấn đề y tế, bao gồm đầy đủ các chủ đề quan trọng để cải thiện sức khỏe.


5

Cho dù các nhân viên y tế đang làm việc trong lĩnh vực chăm sóc lâm sàng, nghiên
cứu, quản lý chăm sóc sức khỏe, lãnh đạo điều hành hoặc các lĩnh vực y học khác,
ĐTLT được thiết kế phù hợp với nhu cầu của họ, dựa trên thực tiễn. Ngoài ra, việc
tham gia các khóa ĐTLT giúp các nhân viên y tế đáp ứng các yêu cầu để duy trì
chứng chỉ hành nghề phù hợp với quy định của pháp luật[23].
Tác động của ĐTLT đến nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh đã được 2
tác giả Martin Luchtefeld và Therese G. Kerwel đánh giá dựa trên 105 nghiên cứu.
Phần lớn kết quả của các nghiên cứu này cho thấy một hiệu quả tích cực; chỉ có
<30% là không. Đánh giá này cũng đề cập đến phương pháp truyền thông nào mang
đến hiệu quả nhất đới với các chương trình ĐTLT. Phương pháp truyền thông trực
tiếp (thực nghiệm lâm sàng) được chứng minh là có hiệu quả tích cực hơn, các
phương pháp truyền thông gián tiếp như in ấn tài liệu dường như không hiệu quả.
Bên cạnh đó, việc tham gia 01 chương trình ĐTLT sẽ kém hiệu quả hơn so với việc
tham gia nhiều chương trình ĐTLT [27].
1.1.2. Cơng tác tổ chức đào tạo y khoa liên tục
Ở mỗi q́c gia khác nhau sẽ có sự khác biệt lớn giữa việc phát triển hệ thống
ĐTLT và hệ thống y tế, có mợt sớ đặc điểm chung là bản thân CBYT phải chịu
trách nhiệm chính trong việc tham gia các hoạt động ĐTLT, các hiệp hội y học và
tổ chức chun mơn có vai trị khởi xướng, cung cấp và thúc đẩy thực hiện ĐTLT,
hầu hết ĐTLT dựa trên hệ thống tín chỉ liên quan đến giờ, trong đó một giờ hoạt
động giáo dục tương đương với một tín chỉ.
Ngày nay, với tốc độ phát triển y tế mạnh mẽ kéo theo nhu cầu được đào tạo
của CBYT ngày càng tăng, các tổ chức cung cấp ĐTLT xuất hiện ngày càng nhiều,

thậm chí có tở chức khơng liên quan trực tiếp đến chuyên ngành y tế, chẳng hạn như
các công ty cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe vì lợi nhuận, ngành công nghiệp
công nghệ y học, dược, các hiệp hội người tiêu dùng… Các hoạt động đào tạo
thường được chia làm ba nhóm chính:
+ Nhóm ngoại khóa: Các khóa học, hợi thảo, hợi nghị,…
+ Nhóm nợi tại: Các hoạt đợng thực hành, hợi chẩn giải quyết tình h́ng, hợi
thảo nhóm lớn, phân tích tập thể, giảng dạy, giao ban, hội chẩn với đồng nghiệp…


6

+ Các tài liệu đào tạo mang tính lâu dài như tài liệu in đóng quyển, đĩa CD, tài
liệu trên web như chương trình đào tạo, kiểm tra, đánh giá…[24].
Tại Việt nam cũng như một số quốc gia trên thế giới đều có những qui định
nghĩa vụ tham gia học tập y khoa liên tục đối với cán bộ y tế trực tiếp tham gia
khám – chữa bệnh trong các bệnh viện và cơ sở y tế. Do vậy, có thể thấy cơng tác
ĐTLT có mợt vai trị đặc biệt trong việc giúp nâng cao, cập nhật kỹ năng nghề
nghiệp và những kỹ năng liên quan cho CBYT, nhất là trong bối cảnh liên tục có
những kỹ thuật y khoa mới và chuyên sâu, cũng như được quy định bởi cơ sở pháp
lý rõ ràng địi hỏi mỡi cơ sở y tế đều có trách nhiệm thực hiện và thực hiện tốt.
1.1.3. Tiêu chuẩn quốc tế về đảm bảo chất lượng đào tạo y khoa liên tục
Năm 1998, liên đoàn Giáo dục Y học Thế giới (World Federation Medical
Education - WFME) với sự phối hợp của Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã khởi
xướng xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học. Mục tiêu là cung cấp
một cơ chế cho việc nâng cao chất lượng trong giáo dục y học, trong phạm vi toàn
cầu, để áp dụng ở các nước trên thế giới. Tiêu chuẩn q́c tế có chức năng là nền
tảng cho việc đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục y khoa. Bộ tiêu chuẩn quốc
tế này gồm 3 tập bao gồm cả 3 giai đoạn của quá trình đào tạo y học là Giáo dục y
học cơ bản (Standard in basic medical education), Giáo dục y học sau đại học
(Standard in posgraduate medical training). Bộ tiêu chuẩn quốc tế này đã được đưa

ra tại Hợi nghị tồn cầu về Giáo dục y học tại Copenhagen (2003), đã được chính
thức thơng qua và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng để áp dụng.
Các tiêu chuẩn khơng phải là mợt chương trình giảng dạy cốt lõi phổ quát, và
chúng không xác định chi tiết nội dung của giáo dục. Sự đa dạng của các chương
trình giáo dục phải được bồi dưỡng, để giải thích cho các điều kiện giáo dục, xã hội,
kinh tế và văn hóa khác nhau, các mơ hình bệnh tật khác nhau và để hỗ trợ trách
nhiệm xã hội. Các tiêu chuẩn cung cấp một khuôn mẫu cho các trường y và các nhà
cung cấp giáo dục y tế khác, và các cơ quan công nhận chúng để xác định các tiêu
chuẩn thể chế, quốc gia và khu vực, đồng thời đóng vai trò đòn bẩy để cải thiện chất
lượng đào tạo[26].
1.2. Hoạt động đào tạo y khoa liên tục ở một số quốc gia trên thế giới


7

Tác giả Abdullahi M. Ahmed và Besrat Hagos thực hiện đánh giá thực trạng
của các hoạt động ĐTLT tại quốc gia ở Châu Phi là Ertria cho biết Bộ Y tế nước
này tổ chức ĐTLT cho nhân viên y tế, trong đó có hơn 52% nhân viên y tế được
phỏng vấn đã tham gia các khóa học ĐTLT trong hai năm, hầu hết các khóa học/hợi
thảo ĐTLT được tài trợ bởi các tổ chức quốc tế. Chủ đề đào tạo chủ yếu thuộc lĩnh
vực y tế công cộng, việc đào tạo còn gặp nhiều khó khăn như việc thiếu học liệu:
chỉ có một trong số nhiều bệnh viện nghiên cứu có thư viện, không có cơ chế giám
sát tốt cũng như thiếu hụt các kỹ thuật hỗ trợ cũng là những hạn chế đối với ĐTLT
tại đây. Bên cạnh đó, chủ đề và nội dung đào tạo được xác định không dựa trên
những bằng chứng có được từ các đánh giá nhu cầu, ý kiến từ các nhà quản lý y tế
tại địa phương, mà được quyết định từ cấp trung ương [22].
Tại Jordan, theo một nghiên cứu về nhu cầu đào tạo liên tục ở nhóm các bác
sĩ: Hầu hết các bác sĩ làm việc trong chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh và
trẻ em của Liên Hợp Quốc (UNRWA) tại Jordan là các bác sĩ đa khoa chưa được
đào tạo sau đại học về nhi khoa. Có 80% đối tượng nghiên cứu đã tham dự các bài

giảng y tế trực tiếp nhưng chỉ có 52,8% quan tâm đến các khóa học trực tuyến mặc
dù, hầu hết các bác sĩ có quyền truy cập Internet [21].
Tại Nhật Bản, các nhân viên y tế có trách nhiệm tự học tập nâng cao kiến thức
của chính họvà khơng ngừng cải thiện bản thân để làm việc trong các lĩnh vực khoa
học y tế và chăm sóc sức khỏe. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự học và đào
tạo, hiệp hội Y khoa Nhật Bản (JMA) cung cấp chương trình đào tạo y khoa liên
tục, chương trình này cung cấp các phương pháp nhằm kích thích các bác sĩ quan
tâm đến đào tạo bằng cách công bố các CBYT có sự nỗ lực trong học tập với công
chúng nhằm tơn vinh họ [28].
Tại Singrapore, chương trình ĐTLT do 3 cơ quan phối hợp tổ chức bao gồm
Hội đồng y khoa quốc gia, Học viện y khoa và Trường đại học bác sĩ gia đình. Hiệp
hợi Y khoa Singapore chịu trách nhiệm điều hành chương trình ĐTLT dành cho tất
cả các bác sĩ, chuyên gia và bác sĩ gia đình. Mợt ủy ban ĐTLT thường trực báo cáo
với Hợi đồng y khoa quốc gia có đại diện của Học viện Y khoa, trường Nghiên cứu
Y khoa Sau đại học, trường Cao đẳng Bác sĩ Đa khoa và Hiệp hội Y khoa


8

Singapore. Singrapore thúc đẩy CBYT tự nguyện theo học các chương trình ĐTLT
[25].
Nhìn chung trên thế giới, mạng lưới y tế của mỗi quốc gia đều có sự quan tâm
đặc biệt đối với vấn đề đào tạo y khoa liên tục. Việc xây dựng những hệ thống,
những chính sách hỗ trợ, khuyến khích ĐTLT khơng cịn là vấn đề mới. Thực trạng
ĐTLT tại nhiều quốc gia cho thấy rằng với tình hình phát triển hiện nay, địi hỏi sự
đang dạng hóa các phương pháp ĐTLT và trên hết là thúc đẩy sự tự nguyện tham
gia ĐTLT của nhân viên y tế, gây dựng ĐTLT thành một thói quen trong cuộc sống
hàng ngày của nhân viên y tế, chứ không phải sự ép buộc trong hệ thống pháp luật
của mỗi quốc gia.
1.3. Đào tạo y khoa liên tục tại Việt Nam

Hệ thống y tế tại Việt Nam được tổ chức và phát triển mạnh từ những năm
1960 nhiều bệnh viện đã được xây dựng trên cả nước cùng với hệ thống y tế cơ sở
bao phủ làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Hệ thống đào tạo
nhân lực y tế cũng bắt đầu hình thành và phát triển mạnh mẽ, công tác đào tạo y
khoa liên tục cho nhân lực y tế đã được quan tâm, triển khai thông qua các lớp bổ
túc cán bộ y tế như tập huấn chuyên môn, giao ban chuyên môn bệnh viện. Tuy
nhiên, với những khó khăn về kinh tế trong những năm này, việc bổ túc kiến thức
cho cán bợ y tế cịn nhiều hạn chế, chưa được coi trọng và ít được đề cập đến [5,
20].
Từ năm 2008, nhận thức được tầm quan trọng của ĐTLT trong việc nâng cao
chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân, Bộ Y tế ban hành Thông tư
07/2008/TT-BYT về việc hướng dẫn đào tạo liên tục cho nhân viên y tế, bước đầu
triển khai rộng rãi hoạt động ĐTLT đến với các CBYT trên cả nước [6]. Sau khi
Luật khám, chữa bệnh được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011,
đến ngày 9/8/2013 Bộ Y tế đã có những điều chỉnh tiếp tục nâng cấp chủ trương này
để thực hiện một số điều của Luật khám, chữa bệnh. Thông tư 22/2013/TT-BYT ra
đời tiếp tục hướng dẫn công tác đào tạo liên tục cho nhân viên y tế thay thế Thông
tư 07/2008/TT-BYT, thống nhất chủ trương những cán bộ đang hoạt động trong


9

lĩnh vực y tế tại Việt Nam phải được đào tạo cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độ
trong lĩnh vực chun mơn, nghiệp vụ của mình[7, 11, 12].
1.3.1 Quy định về đào tạo y khoa liên tục tại Việt Nam[7], [12]
Tổ chức hệ thống ĐTLT:
Hiện nay, Việt Nam có hơn 400,000 CBYT trên cả nước hoạt động tại các cơ
sở y tế nhà nước, chưa tính đến số lượng CBYT tại các cở sở y tế tư nhân cần được
ĐTLT[20]. Trước khi Thông tư 22/2013/TT-BYT ra đời, ĐTLT do những cơ sở
trường học đào tạo về y tế đảm nhận, thực tế cho thấy việc CBYT được đào tạo phù

hợp với yêu cầu công việc hàng ngày của họ sẽ mang lại hiệu quả tớt hơn. Vì vậy,
Bợ Y tế đã nêu rõ: các Sở Y tế, bệnh viện, viện nghiên cứu trung ương và các
trường phải tổ chức ĐTLT cho CBYT. Đến nay, mạng lưới các cơ sở ĐTLT đã
được hình thành trên cả nước và được cấp mã số đào tạo theo qui định của Thông tư
22/2013/TT-BYT như sau:
- Mã A: là mã được cung cấp cho những đơn vị trường học y dược chính quy.
Các đơn vị này được ủy quyền hồn tồn từ chương trình đào tạo, tài liệu đào tạo,
đến các công tác tổ chức, đánh giá lớp học, việc cấp chứng nhận ĐTLT, lưu trữ theo
đúng quy định của hệ thống giáo dục và chứng nhận ĐTLT này có giá trị trên cả
nước.
- Mã B: là mã được cung cấp cho các cơ sở y tế trực tḥc Bợ hoặc những
trung tâm có chức năng hoạt đợng trên cả nước và cần có hồ sơ để Bộ Y tế cấp phép
đào tạo. Tương tự với các trường y dược, những cơ sở được cấp mã B ĐTLT được
ủy quyền trong việc thẩm định nợi dung và chương trình ĐTLT và chứng nhận
ĐTLT cũng có giá trị trên cả nước
- Mã C: là mã được cấp cho Sở Y tế và y tế ngành, Sở Y tế chịu trách nhiệm
quản lý, xây dựng, phân công và cấp chứng nhận ĐTLT. Giá trị của những chứng
nhận ĐTLT mã C chỉ có giá trị trong tỉnh/thành phớ đó. Tuy nhiên, các tỉnh có thể
cơng nhận giá trị của chứng nhận ĐTLT lẫn nhau nếu thấy đảm bảo yêu cầu về chất
lượng chuyên môn của các khóa đào tạo[7].


10

Để cơ sở ĐTLT đáp ứng được nhu cầu, trong Thơng tư 22/2013/TT-BYT có
qui định: các cơ sở ḿn trở thành đơn vị ĐTLT cho nhân lực y tế cần có đủ các
điều kiện sau:
- Năng lực chuyên môn của đơn vị.
- Chương trình đào tạo liên tục được Hợi đồng cơ sở thơng qua.
- Tài liệu theo chương trình để phục vụ cho việc ĐTLT, tài liệu có thể do

giảng viên biên soạn và cũng có thể tìm những tài liệu chính thớng đã xuất bản của
Bợ Y tế hay của các cơ sở đào tạo có uy tín được Hội đồng cơ sở thông qua.
- Đội ngũ giảng viên có đủ trình đợ chun mơn và được bồi dưỡng về nghiệp
vụ giảng dạy y học, đặc biệt là giảng dạy hướng dẫn lâm sàng.
- Phương án tổ chức quản lý về ĐTLT, trong đó chỉ rõ tên của lãnh đạo phụ
trách, cán bộ chuyên trách và các hội đồng chun mơn thẩm định chương trình, tài
liệu dạy học.
- Trang thiết bị tối thiểu phục vụ cho công tác ĐTLT như số giường bệnh, số
kỹ thuật Labo đang làm, trang thiết bị khác như phòng học, thiết bị nghe nhìn, mơ
hình thực tập cho dạy và học.
Quy định giảng viên đào tạo liên tục:
Thông tư 22/2013/TT-BYT quy định, tất cả các khóa ĐTLT phải bớ trí đủ
giảng viên, trợ giảng đạt tiêu chuẩn để bảo đảm chất lượng đào tạo. Giảng viên
ĐTLT là người có trình đợ, kinh nghiệm chuyên môn phù hợp và được đào tạo về
phương pháp sư phạm y học. Giảng viên ĐTLT yêu cầu có trình đợ từ đại học trở
lên và có chun mơn phù hợp với yêu cầu của nội dung giảng dạy. Trong ĐTLT
ưu tiên lựa chọn những giảng viên chuyên môn có nhiều kinh nghiệm thực tế, đặc
biệt là trong lâm sàng hơn là trình đợ học vấn mang tính học thuật. Giảng viên cũng
cần phải có phương pháp dạy học y học hay chứng chỉ sư phạm y học theo chương
trình của Bợ Y tế. Ngoài ra, thơng tư 22/2013/TT-BYT đã chỉ rõ việc bớ trí các lớp
học nhất thiết phải có trợ giảng để đảm bảo chất lượng.
Thực hiện Luật khám, chữa bệnh về việc ĐTLT cho những người hành nghề
khám, chữa bệnh là công việc rất quan trọng, đặc biệt là công tác hướng dẫn, thực
hành lâm sàng trong các cơ sở y tế khám, chữa bệnh. Số lượng CBYT có nhu cầu


11

đào tạo rất lớn bao gồm ĐTLT và đào tạo trước khi hành nghề (theo điều 24 của
Luật khám chữa bệnh), vì vậy Thơng tư này Bợ Y tế nêu ra một khái niệm mới là

“Giảng viên lâm sàng” đó là những CBYT có kinh nghiệm trong cơng tác khám và
điều trị bệnh, được đào tạo về phương pháp sư phạm lâm sàng. Như vậy, ngoài kinh
nghiệm thực tế chuyên sâu, giảng viên lâm sàng còn phải được đào tạo về phương
pháp dạy – học lâm sàng theo chương trình của Bộ Y tế.
Yêu cầu về chương trình và tài liệu ĐTLT:
Thông tư 22/2013/TT-BYT đã quy định: Bộ Y tế thớng nhất quản lý chương
trình và tài liệu dạy- học liên tục về chuyên môn được sử dụng trong các cơ sở đào
tạo ngành y tế. Các cơ sở ĐTLT cần tuân thủ nguyên tắc: Cơ sở đào tạo cần được
phê duyệt của cấp thẩm quyền về chương trình và tài liệu ĐTLT.
Bộ Y tế ủy quyền cho đơn vị có đủ điều kiện được thẩm định chương trình và
tài liệu ĐTLT trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và khả năng của từng đơn vị. Cụ thể,
Bộ Y tế ủy quyền thẩm định, phê duyệt chương trình và tài liệu ĐTLT cho các bệnh
viện được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học tương ứng với mã đào tạo đã được Bộ
Y tế phê duyệt. Bộ Y tế cũng khuyến khích các chương trình ĐTLT có thời gian từ
3 tháng trở lên và nội dung chuyên môn sâu nên thiết kế để có thể liên thơng với các
chương trình đào tạo sau đại học như chuyên khoa I, chuyên khoa II để tạo thuận lợi
cho người học, đầu tư, phát triển chương trình đào tạo trực tuyến đới với những nợi
dung đào tạo phù hợp.
Khi chương trình ĐTLT được thông qua bởi cấp thẩm quyền, cơ sở đào tạo
xây dựng tài liệu phù hợp, có mục tiêu cụ thể, nợi dung và lượng giá chương trình
học phù hợp. Nợi dung của tài liệu đào tạo cần phù hợp với mục tiêu đã đề ra.
Các hình thức đào tạo y khoa liên tục:
- Tập huấn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
ngắn hạn trong và ngoài nước theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến.
- Hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vực chun
mơn y tế có xác nhận của đơn vị chủ trì tở chức.
- Thực hiện nghiên cứu khoa học, hướng dẫn luận án, luận văn, viết bài báo
khoa học.



12

- Biên soạn giáo trình chun mơn.
Cơng tác tở chức. quản lý đào tạo liên tục:
Bộ Y tế giao cho Cục Khoa học công nghệ và đào tạo chịu trách nhiệm hướng
dẫn, chỉ đạo công tác ĐTLT về y tế trong cả nước. Các Sở Y tế địa phương chịu
trách nhiệm quản lý công tác đào tạo tại địa phương mình và là đầu mới phê dụt
các chương trình ĐTLT, tài liệu, chứng chỉ. Các cơ sở ĐTLT có nhiệm vụ triển
khai, thực hiện các chương trình ĐTLT theo đúng sự phê duyệt của các cấp thẩm
quyền và có trách nhiệm xây dựng kế hoạch ĐTLT hàng năm và 5 năm theo đúng
quy định của Thông tư.
Các trường đào tạo y tế chun nghiệp tḥc tỉnh/thành phớ có trách nhiệm
phới hợp cùng với Sở Y tế trong công tác quản lý, tổ chức triển khai thực hiện
nhiệm vụ ĐTLT tại địa phương. Bộ Y tế chịu trách nhiệm quản lý những khoá học
ở tuyến trung ương và những khoá học liên quan đến nhiều cơ sở y tế, những khoá
học có kiến thức, kỹ tḥt, thủ tḥt tḥc lĩnh vực y học mới, lần đầu tiên được
đưa vào Việt Nam.
Các bệnh viện là cơ sở ĐTLT phải đảm bảo chất lượng dạy và học cho học
viên tham gia các chương trình đào tạo, xây dựng tớt chương trình, tài liệu, đợi ngũ
giảng viên và trợ giảng có trình đợ phù hợp với chương trình, chuẩn bị cơ sở vật
chất, phương tiện dạy học đầy đủ. Đồng thời nghiêm túc trong công tác ĐTLT để
triển khai đào tạo được hiệu quả, đảm bảo chất lượng và chịu trách nhiệm báo cáo
về cơ quan cấp trên. Ở mỡi đơn vị cần có: Cán bộ làm công tác tổ chức và quản lý
ĐTLT; Tổ chức triển khai các khóa ĐTLT; Quản lý, lưu trữ chương trình, tài liệu
các khóa ĐTLT; Quản lý hồ sơ khóa học; Quản lý phôi và việc cấp chứng chỉ
ĐTLT theo đúng quy định.
Chứng chỉ ĐTLT do các đơn vị được cấp mã cấp 1 (mã A, mã B và mã C)
được tự in và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật. Như vậy, ở các tỉnh chỉ
có Sở Y tế mới có quyền in phơi chứng chỉ ĐTLT và quản lý chất lượng các cơ sở
ĐTLT, đây là một điểm mới so với trước đây. Thông tư 22/2013/TT-BYT đã nêu rõ

Bộ Y tế ban hành quy định tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng cơ sở ĐTLT trong lĩnh
vực y tế. Hiện nay, Bộ Y tế đã có quyết định ban hành các tiêu chuẩn đảm bảo chất


13

lượng ĐTLT cán bộ y tế. Bộ tiêu chuẩn đó bao gồm 3 loại là tiêu chuẩn cho bệnh
viện trung ương, tiêu chuẩn cho Viện nghiên cứu trung ương và tiêu chuẩn cho Sở
Y tế. Trong tiêu chuẩn của Sở Y tế, có tiêu chuẩn cho cơ quan Sở Y tế, tiêu chuẩn
cho bệnh viện thuộc Sở Y tế và tiêu chuẩn cho các đơn vị khác thuộc Sở.
Thông tư quy định rõ trách nhiệm của Giám đốc Sở Y tế tổ chức thực hiện các
quy định về bảo đảm chất lượng, chịu trách nhiệm về chất lượng ĐTLT của Sở Y tế
và các đơn vị trực thuộc; Thủ trưởng các cơ sở ĐTLT tổ chức triển khai thực hiện
các quy định về đảm bảo chất lượng và chịu trách nhiệm về chất lượng ĐTLT do cơ
sở thực hiện. Bộ Y tế sẽ tiến hành công nhận, công nhận lại chất lượng cơ sở ĐTLT
theo chu kỳ 5 năm 1 lần và giao Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo chủ trì, tở
chức thẩm định chất lượng cơ sở ĐTLT, trình Bợ trưởng Bợ Y tế ban hành quyết
định cơng nhận.
Ngồi ra, hiện nay ngành y tế có nhiều chương trình dự án y tế q́c gia và
q́c tế, các chương trình dự án này thường triển khai theo mục tiêu riêng đã được
phê duyệt. Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng Bộ Y tế quy định các hoạt đợng này
cần tn thủ theo thơng tư 22/2013/TT-BYT. Các khóa ĐTLT áp dụng cho 2
tỉnh/thành phớ trở lên phải trình Bợ Y tế để được phê dụt chương trình, tài liệu
trước khi tở chức. Các chương trình mục tiêu q́c gia và dự án do cơ quan Trung
ương quản lý báo cáo với Bợ Y tế, cịn với các dự án do tỉnh/thành phố trực thuộc
Trung ương quản lý phối hợp thực hiện cùng với Sở Y tế.
1.3.2. Thực trạng ĐTLT ở một số cơ sở y tế tại Việt Nam
Theo tác giả Triệu Văn Tuyến trong nghiên cứu mô tả thực trạng ĐTLT cán
bộ trạm y tế tại tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013 – 2014, với phương pháp cắt ngang
mô tả và hồi cứu số liệu thứ cấp có phân tích kết hợp định lượng và định tính. Kết

quả nghiên cứu cho thấy, đa số học viên cho rằng chương trình đào tạo phù hợp với
cơng việc hiện tại của họ; 83,8% học viên đánh giá tài liệu ĐTLT tớt; đa sớ học viên
đánh giá trình đợ giảng viên tớt và nhiệt tình trong cơng tác giảng dạy. Tuy nhiên,
họ đánh giá các phương pháp giảng dạy còn chưa đa dạng, chưa áp dụng các
phương pháp giảng dạy tích cực[18].


14

Theo tác giả Trần Thanh Son trong nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố
ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cán bộ y tế tại các bệnh viện đa khoa trong tỉnh Hậu
Giang năm 2105, với phương pháp cắt ngang mô tả và hồi cứu số liệu thứ cấp, phân
tích kết hợp định lượng và định tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác ĐTLT
tại các bệnh viện cịn nhiều hạn chế và chưa đồng bợ, đới tượng điều dưỡng có số
lượt đào tạo liên tục cao hơn so với các chức danh khác. Các khóa đào tạo chủ yếu
là về chuyên môn nghiệp vụ, các khóa đào tạo về quản lý và kỹ năng mềm chỉ
chiếm phần nhỏ. Chỉ có 19,1% cán bộ y tế có thời gian được đào tạo trung bình ≥24
giờ/năm; 19,4% cán bộ chưa được đào tạo khóa nào[13].
Theo tác giả Lưu Thị Nguyệt Minh trong nghiên cứu về thực trạng và nhu cầu
đào tạo liên tục cho điều dưỡng các khoa lâm sàng tại bệnh viện Tai mũi họng
Trung ương giai đoạn 2014 – 2016, trung bình mợt điều dưỡng tham gia đào tạo 1,5
lượt/năm; thời gian đào tạo liên tục trung bình của mợt điều dưỡng là chưa đủ qui
định 24 giờ/năm và có đến 25% điều dưỡng tự nhận định chưa tham dự đầy đủ một
khóa học nào. Về hình thức đào tạo, có 66,7% là những bài giảng lý thuyết có
76,2% số khóa học không kiểm tra đánh giá và 57,1% số khóa học không cấp chứng
nhận ĐTLT, cho thấy việc kiểm tra đánh giá cuối khóa học và cấp chứng nhận
ĐTLT cho điều dưỡng chưa được thực hiện đầy đủ[10].
Theo một số nghiên cứu trên, công tác đào tạo liên tục có xây dựng chương
trình đào tạo phù hợp, 83,8% học viên đánh giá có tài liệu ĐTLT tốt nhưng giảng
viên giảng dạy chưa đang dạng, chưa có phương pháp dạy tích cực, 66,7% là những

bài giảng về lý thuyết ít thực hành, các khóa đào tạo về quản lý và kỹ năng mềm chỉ
chiếm phần nhỏ, 19,4% cán bộ chưa được tham gia đào tạo khóa học nào.
Về mặt tổ chức, các nghiên cứu cho rằng, cơng tác ĐTLT tại các bệnh viện
cịn nhiều hạn chế và chưa đồng bộ, 76,2% đào tạo nhưng không kiểm tra đánh giá
ći khóa học, 57,1% các lớp đào tạo nhưng không cấp chứng chỉ. Tuy nhiên các
nghiên cứu tham khảo từ một số tác giả trên, do sử dụng phương pháp đánh giá và
thang đo khác nhau nên việc so sánh sẽ còn có những hạn chế.
1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục


15

1.3.3.1. Cơ quan quản lý, ban hành chính sách
Chính sách, luật: Luật khám bệnh, chữa bệnh và thông tư 22/2013/TT-BYT
về ĐTLT được ban hành là yếu tố mang tính quyết định trong hoạt động ĐTLT cho
CBYT. Từ những chính sách, luật trên mà công tác ĐTLT có một qui chuẩn các cơ
sở đào tạo hoạt động hợp lý và hiệu quả, là yếu tố để CBYT có điều kiện tham gia
ĐTLT.
Những qui định về chính sách và luật phù hợp sẽ thúc đẩy và nâng cao hiệu
quả của việc ĐTLT cho CBYT. Ngược lại, sẽ kìm hãm và gây khó khăn cho các cơ
sở đào tạo và CBYT khi tổ chức và tham gia các hoạt động đào tạo[15, 19].
1.3.3.2. Cơ sở đào tạo
Yếu tố Con người: Là yếu tố có tính chất quyết định trong mọi hoạt đợng xã
hợi. Trong công tác đào tạo, yếu tố con người bao gồm đội ngũ lãnh đạo, giảng viên
và người làm công tác hỗ trợ, quản lý đào tạo.
- Đội ngũ lãnh đạo với vai trò quản lý, điều hành, đưa ra những quy định cụ
thể giúp cho công tác đào tạo được triển khai theo đúng một quy chuẩn cụ thể. Hiệu
quả của công tác này phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm, chính sách của mỡi nhà
lãnh đạo, quản lý.
- Những cán bộ thực hiện công tác tổ chức đào tạo, hỗ trợ, quản lý đào tạo là

những người trực tiếp thực hiện những quy định, chính sách của đợi ngũ lãnh đạo,
gắn kết các hoạt động thành một chuỗi qui trình hồn chỉnh dựa trên những qui định
cụ thể mà đội ngũ lãnh đạo đã ban hành. Chất lượng đào tạo phụ thuộc nhiều vào
năng lực và cách thức triển khai quy trình của đợi ngũ này.
- Giảng viên là yếu tớ rất quan trọng trong quá trình đào tạo CBYT. Giảng
viên có vai trị truyền tải kiến thức tới người học viên; hướng dẫn phương pháp, nội
dung, kỹ thuật thực hành, giúp cho học viên nhanh hiểu biết, rút ngắn được thời
gian nhận thức. Năng lực của giảng viên thể hiện ở trình đợ kiến thức, khả năng sư
phạm và khả năng vận dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với nợi dung chương
trình và người học[14, 19].
Lập kế hoạch và triển khai đào tạo:


16

Năng lực tổ chức đào tạo của cơ sở đào tạo thể hiện ở tất cả các khâu từ việc
xây dựng kế hoạch đào tạo, chiêu sinh, triệu tập học viên, bớ trí giảng viên, xây
dựng chương trình học, lịch học, tổ chức giảng dạy, quản lý học viên, tổ chức thi
kiêm tra đầu vào, đầu ra, tổ chức khai giảng, bế giảng… một cách hợp lý, tiết kiệm
và hiệu quả. Câu trả lời cho mức độ hiệu quả của việc này là đánh giá khách quan
của CBYT tham gia học tập từ các khâu đón tiếp đến công tác học tập (hợi trường,
phịng học, thiết bị giảng dạy…) có đầy đủ khơng, bớ trí lịch học, thời lượng học có
khoa học khơng, kiểm tra thi cử có cơng bằng khơng…
Chương trình và nợi dung đào tạo:
Chương trình và nợi dung đào tạo có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả của cơng
tác đào tạo, đặc biệt là hình thức đào tạo tập trung. Đặc trưng lớn nhất của nội dung
đào tạo hay giáo trình, tài liệu đào tạo y khoa là tính khơng ởn định và ln địi hỏi
cập nhật. Đây cũng là điểm khó khăn cho hoạt đợng đào tạo vì địi hỏi nợi dung phải
ln được đởi mới, việc biên soạn lại tài liệu kéo theo là sự gia tăng chi phí đào tạo,
bồi dưỡng. Ngoài ra, các tài liệu chưa theo hệ thống thống nhất, chưa đồng bợ cũng

gây khó khăn cho giảng viên và học viên khi tham gia dạy và học. Ngược lại, một
cơ sở đào tạo thực hiện tốt các vấn đề về nợi dung và chương trình đào tạo sẽ thúc
đẩy quá trình đào tạo diễn ra sn sẻ hơn, giảm thiểu được chi phí và góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo [14].
Cơ sở vật chất[19]:
Cơ sở vật chất (hội trường, thiết bị nghe – nhìn, mơ hình giảng dạy…) là yếu
tớ có tác đợng tích cực hoặc hạn chế tới công tác đào tạo. Cơ sở vật chất đầy đủ là
điều kiện thuận lợi cho các hoạt động triển khai đào tạo diễn ra hiệu quả và ngược
lại nếu cơ sở vật chất không tốt, hoặc thiếu thốn sẽ hạn chế rất lớn đến cơng tác đào
tạo, thậm chí có thể làm cho hoạt đợng đào tạo bị trì trệ.
1.3.3.3. Cán bộ y tế tham gia đào tạo
Đặc điểm của CBYT:
Đặc điểm của đội ngũ CBYT về độ tuổi, giới tính, trình đợ chun mơn, thâm
niên cơng tác… có ảnh hưởng đến cơng tác ĐTLT. Đợ t̉i có ảnh hưởng trực tiếp
tới cơng tác đào tạo. CBYT có đợ t̉i cao thường có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng ít


17

hơn CBYT trẻ vì sức khỏe, sự nhiệt huyết, năng nổ trong bản thân họ đã giảm.
CBYT trẻ tuổi lại dễ dàng cập nhật kiến thức mới, nhanh nhẹn trong nắm bắt kỹ
năng, là điều kiện thuận lợi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Những CBYT chưa đạt yêu cầu về trình đợ chun mơn đới với mỡi chức
danh thì họ luôn có nhu cầu tham gia học tập, bồi dưỡng và đào tạo để đáp ứng
được những yêu cầu này. Ngồi ra, với u cầu của vị trí việc làm, CBYT cũng
thường xuyên có nhu cầu cập nhật kiến thức, kỹ năng để hoàn thành nhiệm vụ.
Nhận thức của CBYT:
Nhận thức của CBYT đối với đào tạo, bồi dưỡng là yếu tớ cơ bản, có tính chất
quyết định tới các kết quả của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Nhận thức đúng đào
tạo là tiền đề cho CBYT thấy được vai trò, tầm quan trọng của việc đào tạo, có tác

dụng nâng cao trình đợ, kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc của chính người
CBYT giúp ích trong việc nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh cho người
dân. Họ sẽ có ý thức trong việc tự rèn luyện, trau dồi kiến thức, học hỏi, tham gia
các khóa đào tạo, bồi dưỡng mợt cách tự giác, tích cực, ham mê và có hiệu quả. Từ
những thái đợ tích cực của CBYT khi tham gia các khóa đào tạo, công tác đào tạo
sẽ đạt được kết quả tốt, hoạt động đào tạo của tổ chức đạt được mục tiêu và kế
hoạch đề ra. Ngược lại, nhận thức sai lệch sẽ khiến CBYT có thái độ thờ ơ khi tham
gia, gây nên tình trạng lãng phí trong đào tạo. Phải tốn nhiều thời gian và nguồn lực
để cử CBYT tham gia đào tạo nhưng kết quả sau khóa học năng lực và thái độ làm
việc của họ không được cải thiện. Mục tiêu và kết quả của hoạt động đào tạo bồi
dưỡng sẽ không đạt được yêu cầu.
Sự phù hợp của nội dung đào tạo:
Sự phù hợp của nội dung đào tạo với nhu cầu/vị trí làm việc của học viên cũng
rất quan trọng. Nội dung đào tạo cho CBYT phải hướng đến đáp ứng được yêu cầu
về tiêu chuẩn ngạch, chức vụ lãnh đạo, quản lý và yêu cầu đúng vị trí việc làm. Nợi
dung đào tạo phù hợp với thực tế yêu cầu của CBYT sẽ đáp ứng được hiệu quả đào
tạo mang lại kết quả tốt. Nghĩa là sau khóa học trình đợ kỹ tḥt, năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ của người CBYT được nâng cao, biết vận dụng những kiến thức đã
học vào công việc thực tiễn.


×