Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

Tuân thủ điều trị ARV của người bệnh HIVAIDS và một số yếu tố ảnh hưởng tại phòng khám ngoại trú bệnh viện đa khoa đồng tháp, năm 2019

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.91 MB, 117 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN KIM NGỌC

TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV CỦA NGƯỜI BỆNH HIV/AIDS VÀ MỘT SỐ YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ
BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG THÁP, NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGHÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 8720701

HÀ NỘI - 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN KIM NGỌC

TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV CỦA NGƯỜI BỆNH HIV/AIDS VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ
BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG THÁP, NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGHÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 8720701

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS NGUYỄN THANH HƯƠNG

HÀ NỘI - 2019




i

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG...................................................................................... v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ................................................................................ vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ................................................................................... vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .................................................................................... 2
CHƯƠNG 1 ............................................................................................................ 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ....................................................................................... 4
1.1. Một số khái niệm liên quan HIV/AIDS và điều trị ARV:............................. 4
1.2. Nguyên tắc điều trị ARV .............................................................................. 4
1.3. Các phương pháp đo lường mức tuân thủ điều trị ......................................... 5
1.4. Tình hình nhiễm HIV trên thế giới và tại Việt Nam ...................................... 7
1.4.1. Tình hình nhiễm HIV trên thế giới ......................................................... 7
1.4.2. Tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam ....................................................... 9
1.5. Tình hình điều trị các thuốc kháng vi rút tại Việt Nam và trên thế giới ............ 10
1.5.1. Tình hình điều trị ARV trên thế giới .................................................... 10
1.5.2. Tình hình điều trị ARV tại Việt Nam ................................................... 10
1.6. Tình hình tuân thủ điều trị ARV trên thế giới và tại Việt Nam ................... 11
1.6.1. Tình hình tuân thủ điều trị ARV trên thế giới ...................................... 11
1.6.2. Tình hình tuân thủ điều trị ARV tại Việt Nam ..................................... 12
1.7. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV................................... 14
1.7.1. Các yếu tố tiền đề ................................................................................ 14
1.7.2. Yếu tố tăng cường ............................................................................... 16
1.7.3. Yếu tố tạo điều kiện thuận lợi .............................................................. 17

1.7.4. Yếu tố về thuốc ................................................................................... 17
1.8. Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu .................................................... 18
1.9. Khung lý thuyết: ........................................................................................ 20


ii

CHƯƠNG 2 .......................................................................................................... 23
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................ 23
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 23
2.1.1. Nghiên cứu định lượng ........................................................................ 23
2.1.2. Nghiên cứu định tính ........................................................................... 23
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu .................................................................. 23
2.3. Thiết kế nghiên cứu .................................................................................... 24
2.4. Cỡ mẫu ...................................................................................................... 24
2.4.1. Cỡ mẫu định lượng .............................................................................. 24
2.4.2 Cỡ mẫu định tính .................................................................................. 24
2.5. Phương pháp chọn mẫu .............................................................................. 25
2.5.1. Nghiên cứu định lượng ........................................................................ 25
2.5.2. Nghiên cứu định tính ........................................................................... 25
2.6. Cơng cụ và phương pháp thu thập số liệu ................................................... 26
2.6.1. Công cụ thu thập số liệu ...................................................................... 26
2.6.2. Phương pháp thu thập số liệu.............................................................. 26
2.7. Biến số nghiên cứu ..................................................................................... 28
2.7.1. Nghiên cứu định lượng ........................................................................ 28
2.7.2. Nghiên cứu định tính ........................................................................... 29
2.8. Các tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu ............................ 29
2.8.1. Đánh giá mức độ tuân thủ điều trị ARV............................................... 29
2.8.2. Kiến thức đạt về điều trị ARV ............................................................ 29
2.9. Phương pháp phân tích số liệu.................................................................... 30

2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu ................................................................ 30
CHƯƠNG 3 .......................................................................................................... 32
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................................... 32
3.1. Một số thông tin chung............................................................................... 32
3.2. Thực trạng tuân thủ điều trị ARV ............................................................... 41
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV.................................. 44
* Yếu tố cá nhân ........................................................................................... 44


iii

* Đặc điểm điều trị ........................................................................................ 48
* Sử dụng rượu bia ........................................................................................ 50
* Kiến thức về điều trị ARV......................................................................... 52
* Yếu tố dịch vụ y tế ..................................................................................... 52
* Yếu tố hỗ trợ của gia đình, xã hội ............................................................... 54
CHƯƠNG 4 .......................................................................................................... 57
BÀN LUẬN ......................................................................................................... 57
4.1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ARV ...................................................... 57
4.1.1. Đặc điểm chung của người bệnh .......................................................... 57
4.1.2. Tình hình tuân thủ điều trị ................................................................... 58
4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ....................................... 60
4.2.1. Yếu tố tiền đề ...................................................................................... 61
4.2.2. Yếu tố tăng cường ............................................................................... 63
4.2.3. Yếu tố tạo điều kiện thuận lợi .............................................................. 65
4.2.4. Yếu tố thuộc về thuốc .......................................................................... 66
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 69
1. Mô tả việc tuân thủ điều trị ARV ................................................................. 69
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ................................................... 69
KHUYẾN NGHỊ ................................................................................................. 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 72
PHỤ LỤC ............................................................................................................. 77


iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AACTG

:

Thử nghiệm lâm sàng AIDS dành cho người lớn (Adult AIDS
Clinical Trials Group)

ARV

:

Thuốc điều trị kháng vi rút (Antiretroviral)

AIDS

:

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người do nhiễm vi
rút HIV (Acquired Immuno Deficiency Syndrom)

BYT

:


Bộ Y tế

CASE

:

Bảng câu hỏi chỉ số tuân thủ trường hợp (Case Adeherence
Index Questionnaire )

CBYT

:

Cán bộ y tế

ĐTNC

:

Đối tượng nghiên cứu

KTC

:

Khoảng tin cậy

HIV


:

Tên loại vi rút gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở
người (Human Immuno Deficiency Virus)

MSM

:

Quan hệ tình dục đồng giới nam (men who have sex with men)

PKNT

:

Phòng khám ngoại trú

UNAIDS

:

Ủy ban phòng chống AIDS liên hợp quốc (United Nations
Program on HIV/AIDS)

VAS

:

Thang đo trực quan (Visual Analog Scale)


WHO

:

Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)


v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS được quản lý, chăm sóc, điều trị ARV
tại phịng khám ngoại trú Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2. Thông tin về đặc điểm điều trị ARV và yếu tố về thuốc
Bảng 3.3. Thông tin về sử dụng rượu bia, ma tuý
Bảng 3.4. Kiến thức về điều trị ARV
Bảng 3.5. Thông tin về dịch vụ y tế
Bảng 3.6. Thông tin về hỗ trợ gia đình, xã hội
Bảng 3.7. Tuân thủ điều trị trong tháng qua
Bảng 3.8. Sự khác biệt về chỉ số CD4 của bệnh nhân tại các thời điểm điều trị
Bảng 3.9. Sự khác biệt về cân nặng của bệnh nhân tại các thời điểm điều trị
Bảng 3.10. Tỷ lệ nhiễm trùng cơ hội theo thời gian điều trị ARV
Bảng 3.11. Sự khác biệt giữa các yếu tố ảnh hưởng với tuân thủ điều trị


vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Hình 1.1. Số trường hợp sống chung với HIV trên tồn cầu từ 1990 đến 2017

Hình 1.2. Số ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu từ 1990 đến 2017
Hình 1.3. Số ca tử vong liên quan đến HIV trên toàn cầu từ 1990 đến 2017
Biểu đồ 3.1. Kiến thức về tuân thủ điều trị ARV
Biểu đồ 3.2. Thực hành tuân thủ điều trị ARV trong tháng qua


vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Điều trị thuốc kháng vi rút (ARV) suốt đời và cần phải tuân thủ điều trị tuyệt
đối là giải pháp tối ưu cho người nhiễm HIV/AIDS đến thời điểm này. Tuân thủ điều
trị đòi hỏi uống đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng giờ và đúng cách theo chỉ định
của thầy thuốc. Đồng Tháp là tỉnh có đường biên giới dài, tình hình tệ nạn mại dâm,
ma túy phức tạp và hiện tỉnh có 3 phịng khám ngoại trú (PKNT). Nghiên cứu này
được thực hiện nhằm mô tả việc tuân thủ điều trị ARV của người bệnh HIV/AIDS và
một số yếu tố ảnh hưởng tại PKNT Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp, nơi có số lượng
người bệnh đang điều trị cao nhất của tỉnh.
Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và
định tính, trong đó định tính nhằm giải thích thêm và bổ sung cho một số kết quả của
định lượng. Nghiên cứu thực hiện phát vấn 167 người bệnh và 11 cuộc PVS người
bệnh, người nhà và cán bộ y tế. Nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị dựa trên việc
người bệnh thực hiện đúng đồng thời cả 3 tiêu chí: khơng bỏ thuốc, khơng uống sai
giờ và khơng uống sai cách từ 2 lần/tháng trở lên. Kiểm định (c2) được sử dụng để
xác định yếu tố liên quan. Kết quả PVS được gỡ băng và phân tích theo chủ đề.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh điều trị ARV bỏ thuốc từ 2
lần/tháng trở lên là 7,8%, tỷ lệ người bệnh uống thuốc sai giờ từ 2 lần/tháng trở lên
là 23,4% và uống thuốc sai cách từ 2 lần/tháng trở lên là 29,9% trong vòng một tháng
trước thời điểm phát vấn. Tỷ kệ người bệnh tuân thủ điều trị (đạt cả 3 tiêu chí trên) là
65,9%. Kết quả về một số yếu tố ảnh hưởng đến tn thủ điều trị gồm: Người bệnh
khơng có gia đình có nguy cơ khơng tn thủ điều trị cao gấp 2 lần người có gia đình

OR: 2,06 (1,077-3,949) (p<0,05), Những người đã từng điều trị ARV ở nơi khác có
nguy cơ khơng tn thủ điều trị cao gấp 10 lần người chỉ điều trị ARV tại phòng
khám OR: 10,48 (1,194-92,005) (p<0,05). Người bệnh hài lòng về thái độ của cán bộ
y tế tuân thủ điều trị cao gấp 3 lần người bệnh khơng hài lịng OR: 3,13 (1,123-8,731)
(p<0,05). Người bệnh tham gia sinh hoạt câu lạc bộ/nhóm đồng đẳng và người bệnh
sử dụng biện pháp nhắc uống thuốc tuân thủ điều trị tốt hơn; Người bệnh đã gặp tác
dụng phụ của thuốc tuân thủ điều trị thấp hơn người chưa gặp tác dụng phụ của thuốc.


viii

Từ kết quả nghiên cứu để người bệnh tuân thủ điều trị tốt cần đẩy mạnh hơn nữa công
tác tư vấn, phối hợp giữa người bệnh và nhân viên y tế trong việc phát hiện và xử trí
kịp thời tác dụng phụ của thuốc; Đặc biệt quan tâm hỗ trợ các người bệnh từ phòng
khám khác chuyển đển; Vận động thành lập và truyền thông để người bệnh tham gia
các câu lạc bộ/nhóm đồng đẳng.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình hình dịch HIV ở Việt Nam vẫn đang diễn tiến phức tạp. Theo báo cáo
ước tính của BYT, cả nước năm 2016 có khoảng 254.000 người nhiễm HIV, mỗi năm
có khoảng 12.000-14.000 trường hợp mới nhiễm HIV và chỉ khoảng 80% người bệnh
HIV biết được tình trạng HIV của họ [2].
Thuốc kháng vi rút (ARV) điều trị cho người bệnh HIV là liệu pháp dự phòng
tốt, đây là q trình liên tục kéo dài suốt đời, địi hỏi sự tuân thủ điều trị tuyệt đối.
Việc uống đúng thuốc, đúng giờ, đúng liều lượng thuốc, đúng cách theo chỉ định [4].
Tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị ARV trong các nghiên cứu ở Việt Nam cho
thấy, tùy từng nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu mức dao động trung bình khoảng

60%. Nhóm yếu tố ảnh hưởng chính chủ yếu tập trung và: yếu tố tiền đề (thông tin
về đối tượng, thời gian điều trị, đặc điểm điều trị ARV,…), tăng cường (sự hỗ trợ tác
động từ gia đình, cộng đồng,...), yếu tố tạo điều kiện thuận lợi (tiếp cận dịch vụ khám
chữa bệnh, mối quan hệ của người bệnh và CBYT, sự hài lòng của người bệnh về
dịch vụ,...), yếu tố về thuốc ( tác dụng không mong muốn của thuốc, sự phức tạp của
phác đồ điều trị ,...) [9], [12], [18].
Đồng Tháp là tỉnh có đường biên giới giáp Campuchia dài 47,8 km, tình hình
tệ nạn mại dâm, ma túy tại tỉnh diễn biến rất phức tạp với nhiều hình thức là một
trong những nguyên nhân làm dịch HIV/AIDS ở địa phương ngày càng cao, kéo theo
nhu cầu điều trị ARV cũng gia tăng nhanh với số người bệnh chuyển sang giai đoạn
AIDS [20]. Năm 2018 toàn tỉnh với 3 cơ sở điều trị ngoại trú đã tiếp nhận điều trị
ARV cho 1.732 người bệnh , tăng gấp 2,5 lần so với năm 2013 [20]. Trong đó, PKNT
Đồng Tháp thuộc Bệnh viện tuyến tỉnh tập trung nhiều người bệnh HIV/AIDS nhất
trong đó người lớn là 774 người (chiếm 85%) đang điều trị và nhận thuốc ARV [20].
Đối tượng điều trị tại đây chủ yếu là phụ nữ mại dâm và người nghiện chích ma túy.
Lượng người bệnh nhiều tại PKNT Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp tuy nhiều nhưng
số cán bộ chuyên trách chương trình ARV chỉ có 01 cán bộ [20]. Có thể đó là nguyên
nhân dẫn đến việc tuân thủ điều trị tại địa phương không cao, cụ thể tỷ lệ người bệnh
phải chuyển phác đồ điều trị do kháng thuốc phác đồ cũ trong năm 2017 là 20%,


2

thêm và đó có 3% đối tượng hồn tồn bỏ điều trị [20]. Hiện tại Đồng Tháp vẫn chưa
thực hiện đề tài nào về việc đánh giá, theo dõi tuân thủ điều trị ARV của người bệnh
và đánh giá nguyên nhân dẫn đến tình trạng khơng tn thủ điều trị tại PKNT Bệnh
viện đa khoa Đồng Tháp. Xuất phát từ những lý do đó tơi chọn và thực hiện nghiên
cứu “ Tuân thủ điều trị ARV và một số yếu tố ảnh hưởng tại PKNT bệnh viện đa
khoa Đồng Tháp, năm 2019” nhằm phục vụ cho công tác chuyên môn và cung cấp
thơng tin cập nhật, chính xác tiếp tục cải thiện trong công tác điều trị ARV người

bệnh HIV điều trị nơi phịng khám nói riêng và tại các cơ sở điều trị ARV của tỉnh
nói chung.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU


3

1. Mô tả việc tuân thủ điều trị ARV của người bệnh HIV/AIDS điều trị tại
phòng khám ngoại trú Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp, năm 2019.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV của người
bệnh HIV/AIDS đang điều trị tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện đa khoa Đồng
Tháp, năm 2019.

CHƯƠNG 1


4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm liên quan HIV/AIDS và điều trị ARV:
HIV: là “Hunman Immunodeficiency Virus” (Vi rút gây suy giảm miễn dịch
ở người). Các tế bào miễn dịch giảm khả năng đề kháng và chống trả bệnh tật của cơ
thể người, vi rút sẽ phá hủy dần khi nó vào máu [6].
AIDS: là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người “Acquired Immune
Deficiency Syndrome” tên tiếng Anh của cụm từ được viết tắt do HIV gây nên. AIDS
là thời kỳ cuối cùng của tiến trình nhiễm HIV, ở giai đoạn này hệ thống miễn dịch
của cơ thể đã suy yếu trầm trọng [6].
Người bệnh HIV: là người mang vi rút HIV trong máu, giai đoạn đầu khơng
có biểu hiện triệu chứng gì bên ngồi, chẩn đoán chủ yếu dựa vào xét nghiệm, họ lây

truyền HIV cho người khác ở bất cứ thời gian nào khi đang bị HIV. Bốn giai đoạn
được chia ra khi nhiễm HIV, phụ thuộc vào các bệnh lý liên quan đến HIV như các
nhiễm trùng cơ hội, tình trạng sụt cân, các bệnh ác tính, khả năng vận động về thể lực
[30].
ARV là viết tắt của Antiretrovaral là một loại thuốc được chế ra nhằm làm
giảm sự sinh sôi nảy nở của HIV trong cơ thể [14].
Tuân thủ điều trị ARV là: việc người bệnh uống đúng thuốc, đúng liều, đúng
giờ, đúng cách theo chỉ định của thầy thuốc. Tuân thủ điều trị tốt có hiệu quả làm
kiềm hãm sự phát triển HIV, cải thiện tình trạng lâm sàng và miễn dịch; Giảm nguy
cơ xuất hiện HIV miễn dịch với thuốc ARV và điều trị không thành công; Giảm nguy
cơ lây truyền HIV sang người khác [4].
1.2. Nguyên tắc điều trị ARV
Điều trị ARV ngay khi người bệnh được chẩn đốn nhiễm HIV; Phối hợp
đúng cách ít nhất 3 loại thuốc ARV; Đảm bảo tuân thủ điều trị hàng ngày, liên tục,
suốt đời [4].
Trước tính cấp thiết của cơng tác điều trị chính phủ và BYT đã ban hành
nhiều hướng dẫn và quy định về điều trị và chăm sóc cho người bệnh HIV/AIDS và
thường xuyên cập nhật thay đổi để phù hợp với toàn cầu. Ngày 01 tháng 12 năm 2017
BYT ban hành Quyết định 5418/QĐ-BYT về việc “Hướng dẫn điều trị và chăm sóc


5

HIV/AIDS" thay thế cho Quyết định 3047/2015/QĐ-BYT. Một trong những điểm
khác nổi bật trong Quyết định 5418 là: người bệnh được đưa vào điều trị ARV ngay
khi người bệnh được chẩn đoán nhiễm HIV.
1.3. Các phương pháp đo lường mức tuân thủ điều trị
Việc đánh giá tuân thủ điều trị ARV là một đánh giá phức tạp, khơng có một
phương pháp nào được cho là chuẩn xác nhất để đo lường nó. Mỗi phương pháp có
ưu và nhược điểm, nên tùy vào hồn cảnh kinh tế văn hóa xã hội khác nhau, đặc biệt

là nguồn nhân lực để quyết định sử dụng phương pháp đánh giá phù hợp nhất. Các
phương pháp đánh giá hiện nay chủ yếu gồm có 2 nhóm: nhóm phương pháp chủ
quan và nhóm phương pháp khách quan.
Phương pháp chủ quan
Nhóm phương pháp chủ quan là phương pháp đánh giá dựa vào thông tin do
người bệnh cung cấp: đơn giản, áp dụng trong thực tiễn cũng như trong các nghiên
cứu. Phương pháp này yêu cầu người bệnh tự báo cáo về việc tuân thủ của mình qua
bộ câu hỏi tự điền hoặc phỏng vấn trực tiếp [34].
Trên thế giới có nhiều bộ câu hỏi về tuân thủ điều trị được xây dựng để thực
hiện trong các nghiên cứu cũng như thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, chưa có bộ câu
hỏi nào được sử dụng như bộ cơng cụ mẫu chuẩn. Các bộ câu hỏi về tuân thủ thường
có cấu trúc gồm 2 phần chính: phần câu hỏi về tuân thủ của người bệnh và phần câu
hỏi về một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ.
Phương pháp khách quan
Nhóm phương pháp khách quan bao gồm các phương pháp sau:
Giám sát nồng độ thuốc ARV: Các phân tích được thực hiện bằng kết quả của
xét nghiệm máu cho biết mực độ hiện có của thuốc. Nồng độ thấp của thuốc ARV
trong máu mật thiết với thất bại điều trị [34]. Nhược điểm chính của phương pháp
này là xét nghiệm máu chỉ có thể phản ảnh sự hấp thụ của thuốc trong vịng 24 giờ
qua và kết quả có thể thay đổi tùy theo các yếu tố như sự tương tác với các thuốc khác
hoặc với các loại thực phẩm khác. Ngồi ra, yếu tố cản trở chính để sử dụng phương
pháp trên quy mơ lớn là chi phí cao, người bệnh phải đến cơ sở hàng ngày [34].
Đánh giá tuân thủ theo dữ liệu lĩnh thuốc của người: là phương pháp đơn


6

giản, chi phí thấp. Một số bằng chứng cho thấy mức độ tuân thủ của phương pháp
này tương quan khá cao với tải lượng vi rút. Nhược điểm của phương pháp này là
khơng thể xác nhận người bệnh có uống thuốc hay không và không thể theo dõi thời

điểm uống thuốc của người bệnh . Mặt khác để áp dụng phương pháp này, các các cơ
sở điều trị cần có hệ thống lưu trữ thơng tin hiệu quả. Do đó, khơng phải tất cả hệ
thống y tế có thể đáp ứng tiêu chí này [34].
Đánh giá dựa trên tải lượng vi rút trong máu: khi vi rút bị kiềm hãm sự phát
triển, tải lượng vi rút mức thấp được duy trì là cơng dụng của thuốc ARV. Việc xem
xét tn thủ điều trị thường dùng phương pháp này, nhưng tải lượng vi rút trong máu
không chỉ chịu ảnh hưởng bởi tuân thủ. Có thể người bệnh tuân thủ tốt nhưng tải
lượng vi rút cao do kháng thuốc hoặc kém hấp thu. Với những nơi khơng sẵn có thực
hiện được, có thể thay thế bằng xét nghiệm số lượng CD4. Tuy nhiên, tuân thủ kém
của người bệnh không lập tức dẫn tới sự thất bại miễn dịch học nên phương pháp này
ít khi có thể phát hiện người bệnh tn thủ kém của tại thời điểm xét nghiệm [34].
Các nghiên cứu ít khi áp dụng chỉ một phương pháp đánh giá tuân thủ điều
trị của người bệnh , mà thường kết hợp nhiều phương pháp. Cụ thể tải lượng vi rút
thường sử dụng như kết quả để đối chiếu với kết quả thu được từ các phương pháp
khác.
BYT hướng dẫn về phương pháp đánh giá tuân thủ ARV
Theo Quyết định 5418/QĐ-BYT, ngày 01 tháng 12 năm 2017 BYT về việc
“Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS" việc đánh giá uống thuốc đúng theo
chỉ định bao gồm cả phương pháp chủ quan và khách quan gồm có:
Phương pháp chủ quan: Đánh giá sự tuân thủ điều trị uống thuốc ARV: thực
hiện trong tất cả các lần người bệnh tái khám dựa trên đếm số thuốc còn lại, tự báo
cáo của người, sổ tự ghi, báo cáo của người hỗ trợ điều trị,…
Theo dõi việc đến khám, lãnh thuốc và làm xét nghiệm theo lịch của người
bệnh, liên hệ với người bệnh để nhắc họ đến khám và lấy thuốc đúng hẹn qua điện
thoại hoặc mạng lưới đồng đẳng viện/người hỗ trợ điều trị hoặc nhân viên y tế xã
phường. Trong bối cảnh của nghiên cứu của chúng tôi phương pháp chủ quan (quan
báo cáo của người bệnh) được áp dụng để thu thập thông tin về tuân thủ điều trị.


7


Phương pháp khách quan: Đánh giá uống thuốc đúng theo chỉ định, tái khám
và xét nghiệm đúng
Đánh giá sự tuân thủ điều trị thông qua việc theo dõi xét nghiệm tải lượng HIV
thường quy.
Bộ công cụ sử dụng trong nghiên cứu được xây dựng dựa trên tham khảo các
bộ công cụ của các nghiên cứu trước, đồng thời tham khảo thêm một số tiêu chí đánh
giá tuân thủ điều trị trong Quyết định 5418/QĐ-BYT về việc “Hướng dẫn điều trị và
chăm sóc HIV/AIDS" do BYT ban hành ngày 01 tháng 12 năm 2017 [4], [8], [10],
[11], [16], [24]. Trong nghiên cứu của chúng tôi tuân thủ điều trị được mô tả dựa trên
3 tiêu chí là: khơng bỏ thuốc từ 2 lần/tháng trở lên, không uống thuốc sai giờ từ 2
lần/tháng trở lên, và không uống thuốc sai cách từ 2 lần/tháng trở lên.
1.4. Tình hình nhiễm HIV trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1. Tình hình nhiễm HIV trên thế giới
Báo cáo cập nhật tình hình đại dịch AIDS tồn cầu, có khoảng 36,9 triệu
người bệnh HIV trên tồn thế giới vào năm 2017 theo ước tính của United Nations
Program on HIV/AIDS (UNAIDS) WHO cơng bố (Hình 1.1). Mỗi ngày, có khoảng
4.900 người mới nhiễm HIV và khoảng 2.580 người chết vì các nguyên nhân liên
quan đến AIDS, chủ yếu là do chưa tiếp cận điều trị bệnh [27], [43].

Hình 1.1 Số trường hợp sống chung với HIV trên toàn cầu 1990 đến 2017
Số ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu tiếp tục giảm trong năm 2017, trong năm


8

2017 tồn cầu có 1,8 triệu ca mắc HIV mới. Ước tính theo mơ hình cho thấy các ca
nhiễm mới đã giảm từ mức cao nhất là 3,4 triệu vào năm 1996 xuống còn 1,8 triệu
vào năm 2017. Tuy nhiên, tiến độ giảm này vẫn còn khá thấp và chậm so mục tiêu
dưới 500.000 ca nhiễm mới vào năm 2020 (Hình 1.2) [27], [43].


Hình 1.2 Số ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu từ 1990 đến 2017
Số ca tử vong toàn cầu hàng năm do bệnh liên quan đến AIDS ở những người
bệnh HIV đã giảm từ mức cao nhất là 1,9 triệu năm 2004 xuống còn 940.000 vào
năm 2017. Kể từ năm 2010, tỷ lệ tử vong liên quan đến AIDS đã giảm 34%. Để đạt
được cột mốc năm 2020 sẽ yêu cầu giảm thêm gần 150.000 ca tử vong mỗi năm (Hình
1.3) [27], [43].

Hình 1.3 Số ca tử vong liên quan đến HIV trên toàn cầu từ 1990 đến 2017


9

1.4.2. Tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam
Từ năm 2014, Việt Nam chính thức cam kết và triển khai các hoạt động hưởng
ứng mục tiêu 90-90-90 trong phòng, chống HIV/AIDS.Tuy nhiên, theo đánh giá, các
chỉ tiêu hiện tại của Việt Nam còn khá xa so với các con số mà Liên hiệp quốc đề ra.
Nguyên nhân do dịch HIV vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ bùng phát vì vẫn cịn nhiều
người bệnh HIV trong cộng đồng chưa được phát hiện, đặc biệt khu vực miền dân
tộc thiểu số, vùng nông thôn hẻo lánh, trong khi tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người
nghiện ma túy có xu hướng tăng trở lại. Bên cạnh đó, tình trạng lây truyền HIV trong
nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt trong
nhóm MSM trẻ tuổi. Sự gia tăng số người sử dụng ma túy tổng hợp, sự thay đổi về
tổ chức và sự cắt giảm các nguồn lực viện trợ quốc tế sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến cơng
tác phịng, chống HIV/AIDS [3].
Theo báo cáo của Cục Phịng, chống HIV/AIDS năm 2017 hiện nay cả nước
có 250.000 người bệnh HIV [12]. Tình hình mắc HIV có xu hướng giảm so với cùng
kỳ năm 2016, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện mới giảm 1,1 %, số người bệnh
AIDS giảm 39,0% và người bệnh HIV tử vong giảm 15,0%. Tuy nhiên, vẫn cịn nhiều
người bệnh HIV khơng thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao, khơng nằm trong

trường hợp giám sát do đó rất khó phát hiện sớm, và khi phát hiện thì các trường
hợp này thường đã chuyển sang giai đoạn muộn AIDS [3].
Bên cạnh kết quả đã đạt được, cơng tác phịng, chống HIV/AIDS vẫn cịn gặp
những khó khăn như số lũy tích HIV tiếp tục tăng, trên 200.000 người bệnh HIV cần
được chăm sóc, điều trị thường xuyên, liên tục, suốt đời. Mỗi năm, có khoảng 10.000
ca nhiễm HIV và mới trong đó 2.000 trường hợp tử vong do HIV/AIDS. Các hành vi
nguy cơ còn ở mức cao và diễn biến phức tạp. Mức độ bao phủ các dịch vụ phòng,
chống HIV/AIDS còn hạn chế (cấp phát bơm kim tiêm, bao cao su, methadone, tư
vấn xét nghiệm, điều trị ARV ), do viện trợ cắt giảm g khó khăn, chưa đạt mức có
thể khống chế đại dịch HIV/AIDS do nguồn lực hạn chế, mục tiêu 90-90-90 cịn khá
xa. Mặt khác, nguồn lực của chương trình phòng, chống HIV/AIDS, trước đây dựa
nhiều vào viện trợ quốc tế nay đang cắt giảm nhanh; trong khi nguồn tài chính trong
nước (ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế) chưa kịp bù đắp. Thành lập Trung tâm


10

Kiểm soát bệnh tật (sáp nhập 4 đơn vị gồm: Trung tâm Y tế Dự phòng, Trung tâm
phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm Truyền thông và Giáo dục sức khỏe, Trung tâm
chăm sóc sức khoẻ sinh sản) ảnh hưởng lớn đến nhân lực và các hoạt động phòng
chống HIV/AIDS, việc kiện tồn các PKNT cịn q chậm [3].
1.5. Tình hình điều trị các thuốc kháng vi rút tại Việt Nam và trên thế giới
1.5.1. Tình hình điều trị ARV trên thế giới
Trên toàn cầu, việc điều trị HIV bằng thuốc ARV vẫn tiếp tục mở rộng. có
khoảng 21,7 triệu người trên toàn cầu đang được điều trị bằng thuốc kháng ARV vào
cuối năm 2017 theo dự đoán, gấp 5,5 lần so với chỉ một thập kỷ trước [27], [42].
So sánh với mục tiêu của Liên Hợp Quốc thì hiện tại khoảng cách lớn nhất vẫn
còn ở mục tiêu 90 thứ 3. Cụ thể, dựa theo số liệu giám sát đến cuối năm 2017, để đạt
mục tiêu đó vào năm 2020, trong 2 năm tới trên thế giới cần thêm 5,7 triệu người
bệnh HIV biết tình trạng nhiễm HIV của mình; thêm 8,2 triệu người người chẩn đoán

nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc kháng vi rút; thêm 9,6 triệu người bệnh HIV đã
được điều trị bằng thuốc kháng vi rút kiểm soát được số lượng vi rút ở mức thấp
[27], [42].
Mở rộng phạm vi điều trị ARV đã giúp giảm 34% tử vong do các bệnh liên
quan đến AIDS từ năm 2010 đến 2017. Số ca tử vong liên quan đến AIDS là thấp
nhất trong thế kỷ này. Ít hơn 1 triệu người chết vì các bệnh liên quan đến AIDS trong
năm 2017. Sự suy giảm toàn cầu về tử vong do bệnh liên quan đến AIDS chủ yếu
được thúc đẩy ở Sahara cận khu vực châu Phi, đặc biệt là miền đông và miền nam
châu Phi, nơi cư trú của 53% người dân thế giới chung sống với HIV. Con tử vong
liên quan đến AIDS đã giảm 42% từ năm 2010 đến 2017 ở miền đông và miền nam
châu Phi, phản ánh tốc độ gia tăng nhanh chóng của quy mô điều trị ARV trong khu
vực. Ở miền tây và miền trung châu Phi, sự sụt giảm khiêm tốn hơn (giảm 24%).
Trong cùng thời gian, số ca tử vong giảm đều đặn ở Châu Á và Thái Bình Dương
(giảm 39%), Tây và Trung Âu và Bắc Mỹ (giảm 36%) và Caribbean (giảm 23%) [27],
[42].
1.5.2. Tình hình điều trị ARV tại Việt Nam


11

Hệ thống điều trị người bệnh HIV/AIDS ở Việt Nam ngày càng được mở rộng
tiếp tục. Tính đến năm 2017 cả nước có 526 địa điểm cung cấp thuốc ARV tại tuyến
phường/xã và 312 PKNT; đang điều trị ARV tại 23 trại giam và 33 trung tâm; 63/63
tỉnh, thành phố đều có cơ sở điều trị bằng thuốc ARV. Tổng số người bệnh HIV đang
điều trị bằng thuốc ARVlà trên 130.000 người, tăng 54 lần so với cuối năm 2005 [5].
Việt Nam đã áp dụng các khuyến nghị của WHO kể từ năm 2017 với số Quyết
định, 5418 /QĐ-BYT, do BYT ban hành. Những nổ lực này đã chứng minh quyết
tâm mạnh mẽ của chính phủ và nhà nước vào mục tiêu 90-90-90 vào năm 2030 [4].
Tuy nhiên, chiến lược này đang phải chịu rất nhiều khó khăn và thách thức trong bối
cảnh các quỹ toàn cầu về HIV đã bị thu hẹp rất nhiều [32].

1.6. Tình hình tuân thủ điều trị ARV trên thế giới và tại Việt Nam
1.6.1. Tình hình tuân thủ điều trị ARV trên thế giới
Một nghiên cứu tổng quan nghiên cứu từ năm 1999 đến năm 2003 của 53 quốc
gia thực hiện trên 10.725 người bệnh từ 12 đến 24 tuổi. Các phương pháp phổ biến
được dùng đánh giá tuân thủ trong các nghiên cứu là tự báo cáo, đếm số lượng thuốc
và dựa vào dựa trên hồ sơ lĩnh thuốc hoặc phương pháp đo lường nồng độ vi rút trong
máu. Nghiên cứu đồng thời khẳng định kết quả nghiên cứu tương tự nhau giữa 2 biện
pháp tự báo cáo của người bệnh và dựa vào hồ sơ lĩnh thuốc. Các nghiên cứu cũng
khẳng định mức độ tuân thủ phải đạt trong máu chứa 95% hàm lượng vi rút có thể
được khống chế. Các nghiên cứu lựa chọn ngưỡng tuân thủ điều trị khác nhau dao
động từ 85-100% để đánh giá người bệnh tuân thủ điều trị ARV. Tất cả nghiên cứu
đều chọn ngưỡng ức chế vi rút là 400 bản sao/ml. Kết quả nghiên cứu cho thấy tuân
thủ được ước tính là 62% và tỷ lệ này thay đổi theo vùng khác nhau thấp nhất ở Bắc
Mỹ (53%) và cao nhất ở Châu Phi và Châu Á (84%) [41].
Một phân tích tổng hợp của Costa đánh giá 53 nghiên cứu từ năm 2005 đến
2016, đối tượng là 22.603 người bệnh HIV trên 25 quốc gia Mỹ Latinh và Caribbean.
Mức độ tuân thủ điều trị chung cho các nghiên cứu là 70% (KTC 95%: 63-76), kết
quả tuân thủ cao hơn đối với các nghiên cứu có thời gian theo dõi tuân thủ ngắn hơn.
Đánh giá tuân thủ qua phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tổng
hợp này là tự báo cáo của người bệnh [28].


12

Nghiên cứu cắt ngang khảo sát 418 người bệnh tại 2 địa điểm điều trị HIV lớn
ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc từ năm 2011 đến năm 2012. Các biện pháp tuân thủ điều
trị do người bệnh tự báo cáo được đánh giá bằng thang đo VAS (30 ngày). Dựa trên
VAS, mức độ tuân thủ ARV thấp hơn 90% có 28% người bệnh [29].
Nghiên cứu cắt ngang thực hiện đánh giá tuân thủ điều trị trên người bệnh điều
trị ARV là 6 tháng được thực hiện tại Trung Quốc (2014). Phương pháp được nghiên

cứu sử dụng là dùng bộ câu hỏi người bệnh tự đánh giá (CPCRA). Kết quả, trong 207
người tham gia nghiên cứu có 85,5% được phân loại tuân thủ tốt [44].
Có 320 người bệnh ở Nam Ethiopia được tham gia trong một nghiên cứu cắt
ngang, sử dụng thang đo tự đánh giá Morisky Medication Adherence Scale (MMAS),
với mong muốn điểm số trên 95% là mức độ tuân thủ tối ưu. Kết quả ở mức tuân thủ
tối ưu có 68% người bệnh [30].
Năm 2018, một nghiên cứu đồn hệ theo dõi tại Bệnh viện Tanzania điều trị
ARV 01 năm 220 người bệnh, thông qua 4 phương pháp khác nhau bao gồm thang
đo VAS, Swiss HIV Cohort Study Adherence Questionnaire (SHCS-AQ), xét
nghiệm tìm vi rút HIV trong máu, hồ sơ lãnh thuốc. Kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị
ARV tương ứng với 4 phương pháp đo lường là 86,4%, 69%, 79,8% và 51,8% [39].
Các nghiên cứu phần lớn là cắt ngang, phương pháp người bệnh tự báo cáo
dùng đánh giá tuân thủ điều trị ARV. Tuy áp dụng phương pháp đánh giá khác nhau,
nhưng tuân thủ ở mức độ khoảng từ 60% đến 84%. Có sự khác nhau về tỷ lệ này giữa
các khu vực trên thế giới, sự khác biệt này phản ảnh sự phân bố dịch bệnh trên thế
giới và dịch vụ chăm sóc y tế khác nhau giữa các châu lục.
1.6.2. Tình hình tuân thủ điều trị ARV tại Việt Nam
Năm 2010, nghiên cứu tại Cần Thơ của Võ Thị Năm với 267 người bệnh điều
trị ARV được từ trên 6 tháng cho kết quả 77% (tuân thủ uống thuốc ARV chiếm 96%)
tuân thủ của người bệnh trong 01 tháng [15].
Năm 2011, Việt Nam thực hiện nghiên cứu tuân thủ điều trị ARV được đánh
giá mức độ bằng việc tổng hợp các nghiên cứu đã được xuất bản. Kết quả có 21
nghiên cứu được đưa vào phân tích. Khoảng một nửa người bệnh bao gồm người lớn
và trẻ em có biểu hiện điều trị thất bại trên lâm sàng hoặc miễn dịch thì đều kháng


13

với thuốc điều trị ARV. Nhìn chung, khoảng 25-32% người lớn khơng tn thủ điều
trị ARV và có kết quả xét nghiệm mức độ ức chế vi rút (<1.000 bản sao /ml) dao

động từ 68% đến 83% sau điều trị ARV 12 tháng [37].
Nghiên cứu cắt ngang tại Thái Nguyên (2011). Cỡ mẫu là 252 người bệnh
HIV/AIDS đang khám và điều trị nơi Bệnh viện A Thái Nguyên. Phương pháp đánh
giá tuân thủ điều trị ARV là tuân thủ đúng: giờ uống thuốc, số lần quên/chậm uống
thuốc trong 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng gần đây, xử trí khi nôn thuốc, khi gặp phản
ứng với thuốc. Kết quả, tỉ lệ tuân thủ điều trị ARV là 81,3%. Trong đó, tỉ lệ tuân thủ
điều trị đúng 03 tháng 91,3% [18].
Một nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 482 người bệnh tại 5 phòng khám
ARV ở 3 tỉnh Hà Nội, Thanh Hóa và Lào Cai, năm 2017. Nghiên cứu sử dụng phương
pháp đánh bằng thang đo VAS qua tự đánh giá của người bệnh, báo cáo các thông tin
về việc quên liều trong 4 ngày qua và trong 7 ngày qua đã trì hỗn uống thuốc. Kết
quả, tỷ lệ tn thủ điều trị là 89,3%, có 45,5% sự tối ưu tuân thủ đạt được từ người
bệnh, 3,9% người bệnh quên uống thuốc trong 4 ngày qua và 12,5% trì hỗn uống
thuốc trong tuần trước [32].
Nghiên cứu của tác giả Trần Công Điển đánh giá hiệu quả vi rút học ở người
bệnh tham gia điều trị ARV tại Bệnh Viện 09 Hà Nội. Nghiên cứu theo dõi dọc 50
người bệnh sau 18 tháng tham gia điều trị. Kết quả trước khi điều trị khơng có đối
tượng đạt tải lượng vi rút dưới ngưỡng phát hiện, sau 18 tháng điều trị tỷ lệ này đạt
97,7% [7].
Nghiên cứu cắt ngang năm 2016 được thực hiện trên nhóm người bệnh
HIV/AIDS đang điều trị ARV tại 03 PKNT HIV/AIDS- Hà Nội, bộ công cụ đánh giá
đa chiều do USAID được sử dụng. Kết quả trong 352 người bệnh được báo cáo tỷ lệ
tuân thủ điều trị cao, trung bình và thấp 66,2%, 23,8% và 10,0% [9].
Nghiên cứu trong nước cho tỷ lệ trung bình khoảng 70%-85% tuân thủ điều trị
ARV, tùy đối tượng nghiên cứu và nghiên cứu. Công cụ dùng để đánh giá tuân thủ
tại Việt Nam cũng khá phong phú. Điểm yếu trong giám sát số liệu tuân thủ điều trị
ARV tại Việt Nam được các nghiên cứu đề cập là: khơng có dữ liệu giám sát theo
chiều dọc, các dữ liệu về kháng thuốc ARVđược báo cáo trong các giám sát cắt ngang



14

hoặc dựa vào báo cáo của cơ sở điều trị về số người bệnh đang trị và số thuốc ARV
bậc 1 làm người bệnh bị thất bại điều trị.
1.7. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV
Trước đây đã có khá nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân
thủ điều trị ARV , kết quả từ các nghiên cứu rất phong phú và có phần đối lập với
nhau. Bên cạnh đó luận văn tham khảo thêm từ nguồn sách về bộ môn giáo dục và
nâng cao sức khoẻ, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khoẻ, trong trường
hợp này cụ thể là hành vi về tuân thủ điều trị xoay quanh các nhóm yếu tố tiền đề,
yếu tố tăng cường, yếu tố tạo điều kiện thuận lợi và đặc thù của nghiên cứu nên xét
thêm yếu tố liên quan thuộc về thuốc. Sau đây chúng tơi trình bày các yếu tố ảnh
hưởng đến tuân thủ điều trị ARV theo 3 nhóm yếu tố đó [1].
1.7.1. Các yếu tố tiền đề
Nhìn chung khi xét về yếu tố tiền đề thì nhiều gợi ý tuân thủ điều trị sẽ bị ảnh
hưởng nhóm yếu tố sau:
Nghề nghiệp và kinh tế
Một phân tích tổng hợp của WHO, tổng cộng có 28 nghiên cứu được đưa vào
phân tích, tổng cộng 8743 người bệnh từ 14 quốc gia, từ năm 1996 đến 2014. Trong
đó có 24 nghiên cứu cắt ngang, 4 nghiên cứu đồn hệ tiến cứu. Tám nghiên cứu của
Hoa Kỳ, ba nghiên cứu ở Ethiopia, Ấn Độ và Nam Phi và thực hiện hai nghiên cứu ở
Uganda. Đánh giá tuân thủ điều trị bằng phương pháp như sau: 22 nghiên cứu dùng
phương pháp người bệnh tự khai báo, 3 nghiên cứu dựa vào hồ sơ lãnh thuốc, 1 nghiên
cứu xử dụng xét nghiệm nồng độ thuốc trong máu. Kết quả báo cáo tỷ lệ nam giới
tham gia nghiên cứu dao động từ 21,3% đến 88,0%. Tỷ lệ thất nghiệp là 41% (khoảng:
16 - 79%) và tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị ARV dao động từ 14,9% đến 93,1%.
Nhìn chung, người bệnh có cơng việc tn thủ điều trị cao hơn người bệnh thất nghiệp
27%. Do đó, thất nghiệp chính là yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tuân thủ điều trị
ARV đặc biệt ở những nước kém phát triển [36].
Không thấy bằng chứng tuân thủ điều trị bị giới tính, tình trạng cơng việc ảnh

hưởng. Giải thích cho mối quan hệ trên là: Ở gần hết các khu vực trên thế giới, đặc
biệt là vùng lưu hành dịch HIV cao phụ nữ tiếp cận với dịch vụ hỗ trợ, tư vấn điều trị


15

ARV tốt hơn so với nam giới, ví dụ chương trình điều trị ARV cho phụ nữ có thai.
Ngược lại, nam giới có nhiều khả năng có việc làm hơn phụ nữ [36].
Nghiên cứu thực hiện trên 384 người bệnh tại Kenya cho kết quả: các yếu tố
về nghề nghiệp tính chất cơng việc hay phải đi xa nhà hay do cơng việc q bận rộn
là yếu tố chính ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị [35]. Theo một nghiên cứu tổng hợp
trên 18 quốc gia đang phát triển mô tả các yếu tố nghề nghiệp và kinh tế của người
bệnh liên quan đến tuân thủ điều trị: trong đó có 7 nghiên cứu tìm được yếu tố ảnh
hưởng là quá bận rộn với những việc khác, 6 nghiên cứu cho rằng nhà xa cơ sở điều
trị ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của người bệnh [38].
Ngoài ra nghiên cứu của Sharada P. Wasti năm 2012 ở các nước đang phát
triển ở Châu Á. Kết quả xác định chi phí đi lại là một yếu tố ảnh hưởng đến việc
không tuân thủ điều trị , tỷ lệ tuân thủ cao hơn ở những quốc gia mà điều kiện tiếp
cận với địa điểm điều trị tốt, chi phí đi lại nếu được hỗ trợ thì người bệnh sẽ tuân thủ
điều trị tốt hơn. Do đó, việc giải quyết vấn đề không tuân thủ điều trị ARV ở các
nước đang phát triển châu Á đòi hỏi các giải pháp khác với các nước ở các nước phát
triển, vì ở các nước phát triển tài chính khơng phải là vấn đề đáng bận tâm [38].
Sử dụng rượu bia, ma túy
Một nghiên cứu tại Brazil năm 2018 đã đưa ra khuyến cáo: hạn chế sử dụng
rượu không ảnh hưởng đến kết quả điều trị ARV. Tuy nhiên, việc lạm dụng rượu sẽ
ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống và đó chính là yếu tố gây ảnh hưởng
đến kết quả tuân thủ điều trị ARV. Nghiên cứu cắt ngang này đã tiến hành điều tra
trên 114 người bệnh HIV, sử dụng bộ câu hỏi Questionnaire to Assess the Compliance
to Antiretroviral Treatment (CEAT-VIH) để đánh giá tuân thủ điều trị ARV và sử
dụng bộ câu hỏi Alcohol Use Disorder Identification Test (AUDIT) để đánh giá mức

độ tiêu thụ rượu của người bệnh. Kết quả nghiên cứu, tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV là
63,2% và tỷ lệ tiêu thụ rượu thấp là 89,4% [40].
Với mục đích so sánh các chỉ số lâm sàng và sinh hóa của người bệnh điều trị
HIV điều trị ARV với việc uống rượu, năm 2018 nghiên cứu tác giả Dr. Dinesh Rajput
tiến hành 100 người bệnh chia làm 2 nhóm lạm dụm rượu và khơng lạm dụng rượu
tại một bệnh viện ở Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu báo cáo rằng: người bệnh điều trị


×