BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHÙNG NHƢ HẠNH
STRESS CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG
Y TẾ TIỀN GIANG NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHÙNG NHƢ HẠNH
STRESS CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG
Y TẾ TIỀN GIANG NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN HÙNG VĨ
TS. LÊ THỊ HẢI HÀ
HÀ NỘI – 2018
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt q trình học tập và hồn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, quý đồng nghiệp, bạn bè và gia đình. Với lịng
kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau đại học Trường Đại học Y tế
công cộng đã nhiệt tình hướng dẫn cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tơi
trong q trình học tập, hồn thiện và bảo vệ luận văn này.
Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang, Phịng Khảo thí – ĐBCL
nơi tôi công tác đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian hồn thành luận văn.
Đặc biệt, tơi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến thầy
TS.BS. Nguyễn Hùng Vĩ – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang và cô
TS. Lê Thị Hải Hà – giảng viên Khoa Khoa học xã hội, Hành vi và Giáo dục sức
khỏe Trường Đại học Y tế cơng cộng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tơi rất nhiều,
để tơi có thể hồn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn đã
cho tôi những ý kiến đóng góp q báu giúp luận văn của tơi ngày thêm hồn thiện.
Tơi xin chân thành cám ơn tới các bạn sinh viên Khoa Điều dưỡng – KTYH
và Khoa Dược Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang đã đồng ý tham gia vào nghiên
cứu của tôi.
Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn trong lớp Cao học YTCC K20 Tiền Giang,
gia đình và đồng nghiệp!
i
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .............................................................................v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ..................................................................................... vi
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .....................................................................................3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..................................................................4
1.1. Một số khái niệm ............................................................................................4
1.1.1. Khái niệm stress và stressor .......................................................................4
1.1.2. Khái niệm sức khỏe tâm thần ....................................................................5
1.2. Tổng quan về stress ........................................................................................5
1.2.1. Các mức độ của stress ................................................................................5
1.2.2. Biểu hiện của stress ...................................................................................6
1.2.3. Các giai đoạn của stress .............................................................................7
1.2.4. Nguyên nhân gây stress của sinh viên .......................................................9
1.3. Giới thiệu các thang đo sử dụng trong nghiên cứu ...................................10
1.4. Một số nghiên cứu về thực trạng stress của sinh viên y khoa trên thế giới
và Việt Nam ..........................................................................................................13
1.4.1. Thực trạng của sinh viên y khoa trên thế giới .........................................13
1.4.2. Thực trạng stress của sinh viên y khoa tại Việt Nam ..............................15
1.5. Các yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên y khoa ...................................16
1.5.1. Cá nhân ....................................................................................................16
1.5.2. Gia đình....................................................................................................20
1.5.3. Nhà trường ...............................................................................................22
1.6. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu ................................................................24
1.7. Mơ hình lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu ............................................25
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................27
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu ...................................................................................27
2.1.1. Nghiên cứu định lượng ............................................................................27
2.2.2. Nghiên cứu định tính ...............................................................................27
ii
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ...............................................................27
2.3. Thiết kế nghiên cứu ......................................................................................28
2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu ......................................................................................28
2.4.1. Mẫu định lượng........................................................................................28
2.4.2. Mẫu định tính ...........................................................................................29
2.5. Cơng cụ và phƣơng pháp thu thập số liệu..................................................30
2.5.1. Công cụ thu thập số liệu ..........................................................................30
2.5.2. Phương pháp thu thập số liệu ..................................................................31
2.6. Các biến số nghiên cứu.................................................................................33
2.6.1. Các biến số trong nghiên cứu định lượng ................................................33
2.6.2. Các chủ đề trong nghiên cứu định tính ....................................................34
2.6.3. Tiêu chuẩn đánh giá .................................................................................34
2.7. Xử lý và phân tích số liệu .............................................................................36
2.7.1. Thơng tin định lượng ...............................................................................36
2.7.2. Thơng tin định tính ..................................................................................37
2.8. Đạo đức nghiên cứu ......................................................................................37
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................38
3.1. Mô tả một số thông tin của đối tƣợng nghiên cứu .....................................38
1.3.1. Mô tả một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (N=578) .........38
1.3.2. Mơ tả đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu (N=578) .................41
1.3.3. Mô tả môi trường học tập của sinh viên (N=578) ...................................43
3.2. Thực trạng stress của sinh viên ...................................................................45
3.3. Một số yếu tố liên quan đến stress ..............................................................49
3.3.1. Mối liên quan giữa stress với đặc điểm cá nhân của sinh viên (n=578) ..49
3.3.2. Mối liên quan giữa stress với đặc điểm gia đình của sinh viên ...............52
3.3.3. Mối liên quan giữa stress với đặc điểm nhà trường của sinh viên ..........54
CHƢƠNG 4: BÀN LUẬN ......................................................................................58
4.2. Thực trạng stress của sinh viên Trƣờng Cao đẳng Y tế Tiền Giang .......58
4.2. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng stress của sinh viên Trƣờng Cao
đẳng Y tế Tiền Giang ..........................................................................................60
iii
4.2.1. Cá nhân ....................................................................................................60
4.2.2. Gia đình....................................................................................................62
4.2.3. Nhà trường ...............................................................................................63
4.3. Hạn chế của nghiên cứu ...............................................................................65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................67
KHUYẾN NGHỊ......................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................69
Phụ lục 1: Bảng biến số trong nghiên cứu định lượng ..............................................76
Phụ lục 2: Bộ câu hỏi phát vấn..................................................................................83
Phụ lục 3: Hướng dẫn thảo luận nhóm ......................................................................93
Phụ lục 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu .......................................................................95
Phụ lục 5: Đánh giá độ tin cậy của thang đo .............................................................97
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBYT
Cán bộ y tế
CI
Khoảng tin cậy (Confidence Interval)
CVHT
Cố vấn học tập
DASS-21
Thang đánh giá Lo âu – Trầm cảm – Stress (Depression, Anxiety and
Stress Scale)
ĐTV
Điều tra viên
ESSA
Thang đo áp lực học tập của thanh thiếu niên (Education Stress Scale
for Adolescents)
GAS
Hội chứng thích nghi chung (General Adaptation Syndrome)
MSPSS
Thang đo hỗ trợ xã hội (Multidimensional Scale of Perceived Social
Support)
PVS
Phỏng vấn sâu
SPSS
Thống kê khoa học xã hội (Statistical Package for the Social
Sciences)
SV
Sinh viên
TLN
Thảo luận nhóm
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
VTN&TN Vị thành niên và thanh niên
WHO
Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3. 1. Mô tả một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n = 578).................38
Bảng 3. 2. Mô tả lối sống, hành vi sức khỏe của đối tượng nghiên cứu (n = 578) ...39
Bảng 3. 3. Mơ tả đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu (n = 578) ................41
Bảng 3. 4. Mô tả mức độ áp lực trong học tập của sinh viên (n=578) ......................43
Bảng 3. 5. Áp lực thực tập và mối quan hệ với giảng viên, bạn bè (n = 578) ..........43
Bảng 3. 6. Mô tả mức độ hỗ trợ xã hội của sinh viên (MSPSS) (n=578) .................44
Bảng 3. 7. Giá trị và độ tin cậy của thang đo DASS-21, ESSA và MSPSS .............45
Bảng 3. 8. Kết quả stress của sinh viên theo thang đo DASS-21 (n=578) ...............45
Bảng 3. 9. Tỉ lệ stress chung của sinh viên (n = 578) ...............................................46
Bảng 3. 10. Tỉ lệ stress chung của sinh viên theo giới tính, ngành học và năm học
(n=275) ......................................................................................................................47
Bảng 3. 11. Mức độ stress của sinh viên năm học 2017 – 2018 (n = 578) ...............47
Bảng 3. 12. Phân bố mức độ stress của sinh viên theo giới tính, ngành học và năm
học (n = 275) .............................................................................................................48
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa stress với đặc điểm cá nhân của sinh viên (n=578) ...49
Bảng 3. 14. Mối liên quan giữa stress với lối sống, hành vi sức khỏe (n=578) ........51
Bảng 3. 15. Mối liên quan stress và đặc điểm gia đình của sinh viên (n=578) ........52
Bảng 3. 16. Mối liên quan stress và đặc điểm nhà trường của sinh viên (n=578) ....54
Bảng 3. 17. Mối liên quan stress và hỗ trợ xã hội (n=578) .......................................56
Bảng 3. 18. Kết quả phân tích hồi quy logistic mối liên quan giữa các yếu tố cá
nhân, gia đình và nhà trường đến stress của sinh viên .................................... (n=578)
vi
TĨM TẮT NGHIÊN CỨU
Căng thẳng tâm lí (stress) ln tồn tại song hành cùng với sự phát triển của con
người ở mọi thời đại. Stress trong thời gian dài có thể gây ra những vấn đề về thể chất,
tinh thần, giảm hiệu quả học tập, tác động tiêu cực đến tương lai nghề nghiệp. Sinh viên
ngành y, dược được xem là nhóm đối tượng dễ bị stress nhất do đặc thù ngành học nhiều
áp lực, trách nhiệm cao, thường xuyên đối mặt với nguy cơ lây nhiễm. Nghiên cứu này
được tiến hành nhằm mục đích mơ tả thực trạng stress và một số yếu tố liên quan của
sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018. Đây là nghiên cứu cắt ngang có
phân tích, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, sử dụng phương
pháp chọn mẫu cụm. Có 578 sinh viên hệ cao đẳng chính quy của 2 ngành Điều dưỡng
và Dược sĩ năm học 2017 – 2018 tham gia nghiên cứu. Nghiên cứu sử dụng thang đánh
giá Lo âu – Trầm cảm – Stress (DASS-21) để sàng lọc những đối tượng có nguy cơ
stress và bộ câu hỏi phát vấn gồm 3 nhóm (cá nhân, gia đình và nhà trường) nhằm tìm
hiểu những yếu tố liên quan.
Kết quả có tổng số 275/578 sinh viên có nguy cơ stress (47,6%). Tỉ lệ stress nhẹ,
vừa, nặng và rất nặng tương ứng là 13,8%, 14,7%, 13% và 6,1%. Sinh viên nữ có nguy cơ
stress cao gấp 4,7 lần sinh viên nam và sinh viên Dược có tỉ lệ stress cao nhất (71,6%). Tuy
nhiên, sinh viên Điều dưỡng lại chiếm tỉ lệ cao nhất về nguy cơ stress ở mức độ nặng
(41,1%). Tỉ lệ stress của sinh viên tăng dần theo từng năm học và năm thứ ba có nguy cơ
stress cao nhất (45,8%). Khi xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress, kết quả
phân tích cho thấy có 11 yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến nguy cơ stress
của sinh viên đó là: sinh viên năm học thứ hai, thứ ba; kết quả học tập từ trung bình khá trở
xuống; sinh viên thường xun thức khuya/khó ngủ; thường hay lo lắng về nghề nghiệp
trong tương lai, sinh viên khơng hài lịng về mối quan hệ với bố mẹ, mối quan hệ và
phương pháp giảng dạy của giảng viên/CBYT; có áp lực cao trong học tập; lo lắng khoảng
cách lớn giữa lý thuyết và thực hành, sinh viên nhận được sự hỗ trợ thấp từ gia đình và
thầy cô (p<0,05).
Từ những kết quả trên, nghiên cứu khuyến nghị: sinh viên cần xây dựng kế hoạch
học tập và sinh hoạt hợp lý. Gia đình cần quan tâm, giúp đỡ sinh viên kịp thời. Nhà
trường cần bố trí lịch học và lịch thi phù hợp, thành lập tổ tư vấn tâm lý học đường và
liên kết các doanh nghiệp trong và ngoài nước giới thiệu cơ hội việc làm cho sinh viên.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Căng thẳng tâm lí (stress) ln tồn tại song hành cùng với sự phát triển của
con người ở mọi thời đại. Tình trạng stress ban đầu có thể giúp cá nhân chủ động
ứng phó với các tác nhân từ môi trường sống đồng thời sẽ là động lực thúc đẩy sự
phát triển cá nhân, đó là những stress có lợi [42]. Tuy nhiên nếu stress xảy ra với
cường độ cao hoặc kéo dài hay lặp đi lặp lại nhiều lần có thể phá vỡ sự cân bằng
sinh học của cơ thể, làm nảy sinh nhiều vấn đề sức khoẻ thể chất và tinh thần như lo
âu, trầm cảm, các bệnh lý tim mạch, hơ hấp, tiêu hóa..., đó là những stress có hại
hay bệnh lý [43].
Theo báo cáo của WHO năm 2012 cho thấy có 25% dân số thế giới gặp các
vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và trung bình mỗi năm có khoảng 800.000
người chết do trầm cảm – một trong những hệ quả nặng nề của stress [71] – dự đoán
đến năm 2020, các vấn đề sức khỏe tâm thần sẽ là gánh nặng bệnh tật lớn thứ hai
toàn cầu chỉ đứng sau bệnh tim mạch [70].
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc năm 2017 về
Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên tại một số tỉnh và
thành phố tại Việt Nam cho thấy tỉ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nói
chung đối với trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam dao động từ 8% đến 29% [13].
Giai đoạn đại học là giai đoạn có nhiều chuyển biến trong cuộc đời sinh viên
Đây là giai đoạn sinh viên thích nghi với mơi trường học tập, sinh hoạt năng động,
tự lập, thiết lập tình bạn, tình yêu và các hoạt động trải nghiệm khác chuẩn bị hành
trang vào đời. Đây cũng là giai đoạn chuyển từ tuổi dậy thì sang tuổi trưởng thành
[22]. Thêm vào đó, giai đoạn này cũng gây nhiều stress trong sinh viên vì: áp lực
học tập, thi cử, lo lắng về nghề nghiệp tương lai, đổ vỡ các mối quan hệ, điều kiện
kinh tế khó khăn. Trong đó, sinh viên ngành y, dược được xem là nhóm đối tượng
dễ bị stress nhất do đặc thù ngành học nhiều áp lực, trách nhiệm cao, thường xuyên
phải thực tập tại các bệnh viện, trực đêm, tiếp xúc với bệnh nhân, người nhà bệnh
nhân, đối mặt với nguy cơ lây nhiễm bệnh… [37], [63].
2
Các nghiên cứu về stress của sinh viên y khoa tại các nước trên thế giới đều
cho thấy ngày càng có nhiều sinh viên y khoa phải đối mặt với nguy cơ stress tâm
lý, rối loạn tâm thần làm suy giảm chất lượng cuộc sống với mức độ stress ngày
càng cao [39], [44], [53], [57].
Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang là trường y dược đào tạo đa ngành bao
gồm điều dưỡng, hộ sinh, dược sĩ và y sĩ. Mỗi năm trường tuyển sinh 1200 - 1300
sinh viên cao đẳng. Qua khảo sát ý kiến của sinh viên về kết quả học tập năm học
2016 – 2017 của Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang cho thấy phần lớn (78%) sinh
viên cho rằng lịch học khá dày đặc, cường độ học tập cao, áp lực thi cử cộng với
lịch thực tập, trực bệnh viện gây nhiều căng thẳng, mệt mỏi. Điều này có thể ảnh
hưởng đến tình trạng sức khỏe và tâm lý của sinh viên [21]. Trường hiện đang trong
giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất và chuyển đổi chương trình đào tạo từ đào tạo
niên chế sang đào tạo tín chỉ nên gây một số khó khăn, bỡ ngỡ đối với sinh viên.
Trước thực trạng trên, một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: (1) Thực trạng
stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang hiện nay ở mức độ như thế
nào? (2) Những yếu tố nào liên quan đến tình trạng stress của sinh viên?
Vì vậy, chúng tơi tiến hành nghiên cứu “Stress của sinh viên Trường Cao
đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018 và một số yếu tố liên quan” từ đó làm cơ sở đề
xuất một số giải pháp giúp cải thiện tình trạng stress ở sinh viên Trường Cao đẳng
Y tế Tiền Giang nói riêng và tất cả sinh viên nói chung.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm
2018.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên Trường Cao
đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018.
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm stress và stressor
Khái niệm stress
“Stress” là một thuật ngữ tiếng Anh được dùng trong vật lý học để chỉ một
sức nén mà vật liệu phải chịu [35]. Đến năm 1915, tiến sĩ sinh lý học người Mỹ
Walter Cannon nhắc đến “stress” lần đầu tiên trong cuốn sách “Sự khơn ngoan của
cơ thể” để nói về những thay đổi của cơ thể khi đau đớn, đói, sợ hãi, giận dữ và một
số cảm xúc cơ bản khác [32]. Tuy nhiên, người có cơng lớn trong việc chính thức
đưa ra khái niệm stress một cách khoa học và được coi là cha đẻ của định nghĩa
stress đó là nhà nội tiết học người Canada Hans Selye. Theo Hans Selye (1956):
"Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống
căng thẳng" và stress có mặt lợi đó là kích thích tính tích cực, huy động sức mạnh
để con người vượt qua khó khăn, nhưng cũng có mặt hại nếu vượt qua khả năng đáp
ứng của cơ thể, sẽ gây ra tình trạng ốm đau, bệnh tật...[61].
Sau phát hiện của Hans Selye có rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu
về stress. Năm 1966, nhà tâm lý học Richard S.Lazarus đưa ra định nghĩa stress là
sự mất cân bằng giữa những yêu cầu và những nguồn lực. Theo ơng stress xảy ra
khi tình trạng cân bằng bình thường của cơ thể con người bị phá vỡ. Lúc này,
hormone adrenaline được tiết ra, gây căng thẳng thần kinh, tim đập nhanh, áp suất
máu cao, nhịp thở tăng, mắt giãn ra, các cơ căng ra…[50].
Stress được định nghĩa với nhiều cách khác nhau như stress là một tác nhân
môi trường [47], một đáp ứng sinh lý [60], là một phản ứng khi có sự thay đổi về
sinh lý, tâm lý và cảm xúc [28]. Như vậy, từ các góc độ khác nhau stress sẽ được
hiểu dưới định nghĩa khác nhau.
5
Khái niệm stressor
Stressor là thuật ngữ được Hans Selye đưa ra năm 1956 để chỉ những nguyên
nhân tiềm ẩn gây ra stress. Những nguyên nhân gây ra stress có thể là nguyên nhân
về sinh lý (tuổi, giới, di truyền…), cảm xúc (giận dữ, sợ hãi… ), hành vi (uống
rượu, hút thuốc, thói quen ăn uống…), điều kiện mơi trường (nhiệt độ, tiếng ồn, ô
nhiễm môi trường…), các vấn đề xảy ra trong cuộc sống hàng ngày và các mối
quan hệ xã hội [61]. Stressor có thể xảy ra trong một thời gian ngắn, tức thì như tình
trạng bị thương, bị tấn công hay xảy ra trong thời gian dài như tình trạng bị lạm
dụng, bị bắt nạt, áp lực trong học tập, thi cử hay áp lực trong công việc [59].
1.1.2. Khái niệm sức khỏe tâm thần
Sức khỏe tâm thần (mental health) là một nội dung nằm trong định nghĩa về
sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới “… là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất,
tâm thần và xã hội chứ khơng chỉ là tình trạng không bệnh tật hay đau yếu.” [72],
định nghĩa này thể hiện rất rõ ràng rằng: sức khỏe tâm thần là một phần khơng thể
tách rời của sức khỏe nói chung; sức khỏe tâm thần là một khái niệm rộng chứ
khơng phải chỉ là khơng có bệnh tâm thần (mental illnesses); và sức khỏe tâm thần
có mối liên quan mật thiết với sức khỏe thể chất và hành vi [6].
Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2003 thì sức khỏe tâm thần được định nghĩa
là “trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của
bản thân, có thể đương đầu với những stress thơng thường trong cuộc sống, có thể
học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt
động của cộng đồng” [72]. Như vậy định nghĩa này có nhấn mạnh tới stress trong
cuộc sống, học tập, làm việc và mối liên quan đến sức khỏe tâm thần của mỗi cá
nhân.
1.2. Tổng quan về stress
1.2.1. Các mức độ của stress
Có nhiều cách khác nhau phân loại mức độ stress. Theo Hans Selye (1956),
stress có hai mức độ là stress tích cực (eustress) và stress tiêu cực (distress). Mức độ
eustress: là mức độ bình thường, là phản ứng thích nghi của cơ thể trước những tác
6
nhân. Nếu những yếu tố gây stress ở một giới hạn nào đó và cá thể có thể vượt qua
bằng cách huy động các nguồn lực của mình. Trường hợp này, stress mang tính tích
cực vì nó có tác dụng như một thách thức tạo một động cơ để cá thể phấn đấu vượt
qua và qua q trình thích nghi này đã tự hồn thiện mình để tiếp tục tồn tại và phát
triển. Mức độ distress: là stress ở mức độ cao, biểu hiện sự phản ứng thích nghi của
cơ thể bị thất bại, do yếu tố gây stress quá mạnh hoặc trường diễn cơ thể dù huy
động hết khả năng nhưng khơng thể vượt qua và khơng thể thích nghi được với
hồn cảnh mới thì cơ thể sẽ dẫn đến cạn kiệt các nguồn lực và lúc đó khi mà sức đề
kháng của cơ thể khơng cịn, trầm cảm và hàng loạt các bệnh cơ hội xuất hiện [61].
Theo tác giả Nguyễn Thành Khải (2001) stress được phân làm ba mức độ:
Mức độ 1: là mức độ rất căng thẳng, chủ thể cảm nhận tâm lý rất căng thẳng, đây là
trạng thái khó chịu của con người cảm nhận được và có nhu cầu được thốt khỏi nó.
Mức độ 2: căng thẳng, con người cảm nhận thấy có sự căng thẳng cảm xúc, sự tập
trung chú ý cao hơn, trí nhớ, tư duy nhanh nhạy hơn, các chỉ số về sinh lý tăng
mạnh. Nếu trạng thái này kéo dài cơ thể sẽ chuyển sang mức độ rất căng thẳng. Sự
bền vững của mức độ này tuỳ thuộc vào mức độ, tính chất cơng việc hay tâm lý của
từng người. Mức độ 3: ít căng thẳng. Ở mức độ này, con người cảm thấy bình
thường hoặc căng thẳng nhẹ, mọi hoạt động tâm sinh lý diễn ra bình thường, sự thay
đổi không đáng kể, cơ thể huy động năng lượng ở mức vừa phải [8].
Theo tác giả Đặng Phương Kiệt (2004) stress được chia làm ba mức độ như
sau: stress mức độ nhẹ là mức độ chủ thể có thể cảm nhận căng thẳng như là một
thách thức làm tăng thành tích trong cơng việc. Stress mức độ vừa là mức độ phá vỡ
những nguyên lý cơ bản của con người dẫn đến những biểu hiện không tốt lặp đi lặp
lại nhiều lần. Stress mức độ nặng là mức độ dẫn đến ngăn chặn ứng xử gây ra
những phản ứng lệch lạc, gây tổn hại bản thân và người xung quanh. Cách phân loại
này đã chỉ ra được dấu hiệu tâm lý của các mức độ stress [9].
1.2.2. Biểu hiện của stress
Nhìn chung, khi bị stress con người có những thay đổi cả về thể chất và tâm
lý (nhận thức, xúc cảm, hành vi).
7
Biểu hiện về thể chất
Bằng các phương tiện kỹ thuật, người ta có thể thu thập được những dữ kiện
về sự thay đổi sinh lý, sinh hố khi có trạng thái stress xảy ra. Đó là những thay đổi
ở hệ thần kinh, tim mạch, tiêu hố, hơ hấp, tiết niệu,... cụ thể như là: tim đập nhanh,
vã mồ hôi nhiều, chóng mặt, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ vì căng thẳng hệ thần kinh,
chán ăn hoặc ăn không ngon miệng, căng mỏi cơ bắp, đau nhức xương khớp, đau
vùng dạ dày, buồn nôn... [9], [15].
Biểu hiện về mặt tâm lý
Những biểu hiện stress về mặt tâm lý, thể hiện sự thay đổi hoạt động của các
quá trình nhận thức, xúc cảm và hành vi. Điều này có thể khác nhau ở từng người,
tuỳ theo cường độ, thời gian diễn ra các tác nhân gây stress và sự đánh giá chủ quan
của con người về tác nhân đó. Những thay đổi về nhận thức, cảm xúc thường thấy ở
những người bị stress như: giảm sự tập trung, lơ đãng, hay quên, suy nghĩ kém linh
hoạt, mệt mỏi về tinh thần và trí lực giảm sút, cảm giác về cơng việc bị áp lực đè
nặng, tinh thần hoang mang, buồn chán, không hứng thú với cơng việc hay nói cách
khác là sợ khi phải làm việc. Không những thế khi bị stress thì những biểu hiện tâm
lý của con người cịn biểu hiện qua hành động, cử chỉ, hành vi hay qua kết quả thực
hiện công việc rất rõ như làm việc uể oải, né tránh, thiếu linh hoạt giải quyết vấn đề,
sai sót nhiều trong cơng việc, vì vậy dễ cáu gắt hay nổi giận với người xung quanh.
Có người khi bị stress lại biểu hiện gia tăng những hành vi có hại như: hút thuốc lá,
uống rượu, bia, sử dụng ma tuý...[9], [15].
1.2.3. Các giai đoạn của stress
Năm 1956, nghiên cứu về những ảnh hưởng do tác động liên tục của stress
lên cơ thể trong thời gian dài, nhà nội tiết học người Canada Hans Selye đã mô tả
stress như là một “Hội chứng thích nghi chung” (General Adaptation Syndrome GAS) gồm 3 giai đoạn (báo động, kháng cự và kiệt sức) [61]. Mơ hình 1.2. mơ tả
các giai đoạn stress của Hans Selye.
8
Giai đoạn 1: Phản ứng báo động hay cảnh báo
Khi cơ thể chúng ta đứng trước một yếu tố gây stress tức là đối diện với một
đòi hỏi cơ thể phải làm sao thích nghi với hồn cảnh.
Vì cơ thể chưa được chuẩn bị cho tình huống này nên trước tiên phản ứng
cảnh báo bằng một trạng thái sốc, trạng thái này đặt cá thể vào một tình huống mất
cân bằng về hoạt động chức năng, đẩy cơ thể vào tình trạng dễ tổn thương hơn trước
u cầu phải thích nghi với hoàn cảnh mới. Giai đoạn này nhịp tim, nhịp thở, huyết
áp tăng, tăng đường huyết, tăng cường quá trình tập trung chú ý, ghi nhớ và tư duy.
Giai đoạn 2: Giai đoạn kháng cự
Giai đoạn kháng cự được kích hoạt nếu tiếp xúc với stress kéo dài qua một
khoảng thời gian. Ở đây cá nhân bắt đầu đề kháng với yếu tố gây stress đến mức độ
stress trở thành phù hợp với đáp ứng và đề kháng có thể gia tăng theo tiêu chuẩn. Ở
giai đoạn này cá nhân có thể bị tràn ngập bởi cảm giác mệt mỏi, lo âu và căng thẳng.
Giai đoạn 3: Giai đoạn kiệt quệ
Nếu stress tiếp tục kéo dài cơ thể sẽ đến lúc kiệt quệ. Sự bực bội, trầm cảm
có thể xuất hiện. Stress khơng chỉ có tác động sinh lý mà còn tác động đến tâm lý.
Khi một người phải đối mặt với một hoàn cảnh gây stress, hành vi, nhận thức, tri
giác với môi trường xung quanh cũng thay đổi. Mỗi cá thể khác nhau sẽ phản ứng
khác nhau đối với cùng một hoàn cảnh gây stress [61].
9
1.2.4. Một số yếu tố nguy cơ gây ra stress
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng stress của sinh viên
tuy nhiên có thể khái quát hóa thành các nguy cơ sau:
Bản thân: nhận thức, hành vi, lối sống, suy nghĩ của cá nhân có ảnh hưởng
rất quan trọng đến mức độ stress. Đối với sinh viên nguyên nhân chính gây stress là
do thiếu năng lực thích nghi với môi trường mới đặc biệt là những sinh viên năm
thứ nhất, thiếu tự tin hay mong muốn đặt ra cho mình những mục tiêu q cao, thiếu
quyết đốn, chưa xây dựng cho bản thân kế hoạch học tập hợp lý cũng có thể dẫn
đến những vấn đề về stress [4].
Học tập: sinh viên dễ bị sốc với sự thay đổi về yêu cầu và phương pháp học tập
ở bậc cao đẳng, đại học dẫn đến căng thẳng khi tiếp xúc với mơi trường học tập mới.
Trong q trình học, sinh viên luôn trải qua các kỳ kiểm tra đánh giá, thi kết thúc học
phần. Lo lắng về kết quả học tập có thể làm cho sinh viên cảm thấy căng thẳng, lo âu,
mất ngủ, vị giác thay đổi và tâm lý chung thay đổi. Một nguyên nhân nữa gây tình
trạng stress trong học tập của sinh viên đó là kết quả học tập của sinh viên thường
không đạt được như kỳ vọng của gia đình và bản thân [25], [53].
Áp lực học tập là một trong những nguyên nhân chính gây căng thẳng ở
thanh thiếu niên, đặc biệt là đối với sinh viên đại học. Nhiều môn học chuyên sâu,
sự cạnh tranh cao để đạt được và duy trì học bổng hiện có. Ngồi ra, sinh viên cũng
muốn có điểm số tốt nhất để thuận lợi hơn cho cơ hội nghề nghiệp sau khi tốt
nghiệp [3].
Gia đình: gia đình thường đặt kỳ vọng rất cao vào kết quả học tập của con
cái. Và để thỏa mãn sự kỳ vọng đó, sinh viên sẽ lao vào học tập. Tuy nhiên, khi kết
quả học tập không như mong muốn sẽ dẫn đến thất vọng, chán nản và stress ở sinh
viên [12], [73]. Ngoài ra, sự quan tâm, hỗ trợ thấp từ gia đình cũng làm tăng nguy
cơ stress của sinh viên [67].
Tài chính: nhiều sinh viên đại học bị stress do gặp phải các vấn đề về tài
chính. Điều kiện kiện kinh tế gia đình khó khăn, những áp lực về chi phí cần thiết
cho sinh hoạt và học tập cũng gây ra stress ở sinh viên [4].
10
Nguy cơ xã hội - cuộc sống, định hướng tương lai: các mối quan hệ tình bạn,
tình yêu, mối quan hệ với thầy cô, cán bộ y tế, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
có thể là nguyên nhân gây căng thẳng cho sinh viên. Ngoài ra, áp lực từ thực tập
lâm sàng, trực bệnh viện cũng như lo lắng về nghề nghiệp tương lai, điều kiện nhà
trọ, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm tiếng ồn, mất an ninh trật tự nơi cư trú và rối loạn
giấc ngủ do yêu cầu học tập cũng là yếu tố liên quan đến stress của sinh viên [3],
[4], [25].
1.3. Giới thiệu các thang đo sử dụng trong nghiên cứu
Thang đánh giá Stress
Trên thế giới hiện nay có nhiều bộ cơng cụ được sử dụng để đánh giá các vấn
đề về sức khỏe tâm thần. Một số bộ cơng cụ được chuẩn hóa và sử dụng phổ biến
trong các nghiên cứu cũng như các chẩn đoán lâm sàng về stress như: thang PSS10, SPIELBERGER, DASS,…
Thang đo mức độ cảm nhận stress PSS (Perveived stress scale) được phát
triển bởi Seldon Conhen và cộng sự vào năm 1983 là bộ công cụ đo mức độ stress
gồm một bảng các câu hỏi được thiết kế để đánh giá mức độ căng thẳng của cá nhân
đối với những tình huống xảy ra trong cuộc sống trong vịng 1 tháng qua. PSS gồm
có 3 thang đo PSS-4, PSS-10 và PSS-14, trong đó thang đo PSS – 10 được sử dụng
rộng rãi nhất. PSS-10 gồm 10 câu hỏi, mỗi câu hỏi có 5 mức độ trả lời 0=khơng bao
giờ, 1= hầu như không, 2= thỉnh thoảng, 3 = khá thường xuyên, 4 = rất thường
xuyên. PSS- 10 có điểm số từ 0 đến 40. Điểm càng cao thì mức độ căng thẳng càng
nhiều [62]. Tác giả Lê Thu Huyền & Huỳnh Hồ Ngọc Huỳnh (2010) đã sử dụng
thang đo này để đo mức độ cảm nhận stress của sinh viên Y tế công cộng - đại học
Y Dược Hồ Chí Minh [7] .
Thang đánh giá SPIELBERGER. Thang đo này gồm 2 phần chính, phần 1
gồm 20 câu hỏi tự đánh giá về stress tại thời điểm hiện tại. Phần 2 gồm 20 câu hỏi
tự đánh giá về tình trạng stress thường xuyên của đối tượng nghiên cứu. Mỗi câu
hỏi gồm 4 phương án trả lời tương ứng các mức điểm từ 1 đến 4. Mức độ stress
được phân chia các mức thấp, vừa, cao và có xu hướng bệnh lý. Tác giả Nguyễn Thị
11
Hiền đã sử dụng thang đo này để đánh giá mức độ căng thẳng của sinh viên Y Thái
Bình ở trạng thái tĩnh và s au khi thi năm 2013 [5]. Ưu điểm của thang đo này giúp
đánh giá stress tại một thời điểm nhất định và cả trong một quá trình cũng như đưa
ra điểm cắt cho các mức độ khác nhau của stress của đối tượng nghiên cứu. Tuy
nhiên số câu hỏi lại quá nhiều cũng như cách thức tính tốn điểm là khá phức tạp.
Thang đánh giá Lo âu – Trầm cảm – Stress (DASS – Depression Anxiety
Stress Scales) được phát triển bởi Lovibond S.H và Lovibond P.F tại khoa Tâm lý
học, Đại học New South Wales, Australia năm 1995. Đây là thang đo đánh giá được
cả ba vấn đề về sức khỏe tâm thần bao gồm lo âu, trầm cảm và stress. DASS gồm có
2 phiên bản DASS-42 và DASS-21. DASS-42 gồm 42 tiểu mục chia thành 3 nhóm,
mỗi nhóm 14 tiểu mục sẽ đánh giá về một vấn đề sức khỏe tâm thần là lo âu, trầm
cảm và stress. Đến năm 1997, Lovibond S.H và Lovibond P.F đã rút gọn thang đo
DASS-42 thành DASS-21 với mục đích tạo sự thuận tiện cho người dùng. DASS-21
gồm 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 7 tiểu mục. Điểm cho mỗi tiểu
mục là từ 0 đến 3 điểm. Tổng điểm càng cao thì mức độ stress càng cao [52].
Ưu điểm của thang đo DASS-21 là thang đo này đã được Viện Sức khỏe
Tâm thần Quốc gia biên dịch, chuẩn hóa và được áp dụng rộng rãi trên các đối
tượng có nghề nghiệp khác nhau tại Việt Nam [23]. Thang đo DASS 21 được chuẩn
hóa trên đối tượng thanh thiếu niên Việt Nam với độ tin cậy Cronbach’s Alpha =
0,90 (Cronbach’s Alpha cụ thể đối với trầm cảm là 0,83; lo âu = 0,73 và stress
=0,76) [51]. Thang đo này cũng được nhiều tác giả sử dụng trong các nghiên cứu
đánh giá stress trên đối tượng sinh viên như nghiên cứu của tác giả Lê Minh Thuận
(2010) và Trần Kim Trang (2011) tại trường Đại học Y Dược Hồ Chí Minh [16],
[18], nghiên cứu của Lê Hải Yến (2016) tại trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên
[25], Nguyễn Thành Trung (2017) tại Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội [19].
Các kết quả đều cho thấy, DASS-21 có thể áp dụng tốt tại Việt Nam vì trong q
trình sử dụng thang đo, thơng tin được phỏng vấn trực tiếp trên đối tượng nghiên
cứu, thang đo đảm bảo tính khách quan, chuẩn hóa, dễ hiểu, sử dụng nhanh chóng
[16], [18], [19], [25].
12
Kết quả thu được từ DASS-21 khơng có ý nghĩa chẩn đốn xác định bệnh mà
chỉ có vai trị sàng lọc ban đầu những đối tượng có biểu hiện lo âu, trầm cảm và
stress. Từ đó khuyến cáo họ nên tìm sự giúp đỡ từ các chuyên gia tâm lý sớm và có
chế độ điều trị, chăm sóc, nghỉ ngơi phù hợp [23].
Như vậy, sử dụng DASS-21 để đánh giá thực trạng stress ở sinh viên là phù
hợp và khả thi. Điều này rất quan trọng để tăng cường sự quan tâm, chăm sóc về
sức khỏe tâm thần cho sinh viên y dược nói riêng và tất cả sinh viên nói chung.
Thang đo áp lực trong học tập (ESSA)
Thang đo áp lực trong học tập của thanh thiếu niên (Education Stress Scale
for Adolescents - ESSA) được phát triển bởi Sun và cộng sự năm 2011. Thang đo
gồm có 16 câu hỏi chia làm 5 nhóm: áp lực học tập (4 mục); áp lực về kết quả học
tập (3 mục); khối lượng bài học (3 mục); thất vọng, chán nản (3 mục) và kỳ vọng
của bản thân (3 mục). Thang điểm cho từng mục là từ 1– Hồn tồn khơng đồng ý
đến 5– Hoàn toàn đồng ý. Điểm càng cao cho thấy mức độ áp lực trong học tập
càng nhiều. ESSA có độ tin cậy cao với Cronbach’s Alpha là 0,81 [66].
Nghiên cứu của Thái Thanh Trúc và cộng sự năm 2012 đã xác nhận ESSA
sử dụng tốt trong bối cảnh Việt Nam. ESSA có tính thống nhất cao, tương tự như
phiên bản gốc. Tuy nhiên, các khía cạnh của ESSA cho thấy độ tin cậy thấp hơn
một chút so với nghiên cứu của Sun và các cộng sự với Cronbach’s Alpha từ 0,62
đến 0,78 [68].
Thang đo ESSA cũng được sử dụng trong các nghiên cứu đánh giá áp lực học
tập của sinh viên y khoa như nghiên cứu của Lê Thu Huyền (2010) tại Đại học Y
Dược Thành phố Hồ Chí Minh [7], nghiên cứu của Vũ Dũng (2016) tại Đại học
Thăng Long [4], và nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung (2017) tại Đại học Y tế
công cộng Hà Nội [19].
Thang đo hỗ trợ xã hội (MSPSS)
13
Thang đo hỗ trợ xã hội (Multidimensional Scale of Perceived Social Support MSPSS) được phát triển bởi Zimet & Farley năm 1988 nhằm mục đích đo lường
nhận thức của một cá nhân về việc họ nhận được sự hỗ trợ từ xã hội. Bộ công cụ gồm
12 câu hỏi tự đánh giá và được chia làm ba nhóm gồm: hỗ trợ từ gia đình (4 mục); hỗ
trợ từ thầy cơ (4 mục) và hỗ trợ từ bạn bè (4 mục). Mỗi câu hỏi có 7 mức trả lời đó là
1 – Hồn tồn khơng đồng ý đến 7 – Hồn toàn đồng ý. Thang đo hỗ trợ xã hội dựa
vào tổng điểm của các câu tương ứng. Điểm số càng cao cho thấy nhận thức hỗ trợ từ
xã hội càng cao. Nghiên cứu Zimet & Farley cho thấy MSPSS có độ tin cậy cao, ổn
định và được sử dụng trên nhiều đối tượng nghiên cứu trong đó có đối tượng là sinh
viên. Độ tin cậy Cronbach’s Alpha đối với từng nhóm hỗ trợ tương ứng là hỗ trợ từ
gia đình (từ 0,88 đến 0,89), hỗ trợ từ thầy cô (từ 0,90 – 0,92) và hỗ trợ từ bạn bè (từ
0,91 đến 0,93) [77].
MSPSS đã được dịch và sử dụng rộng rãi ở nhiều nước như Thái Lan (2011),
Trung Quốc (2015), Ấn Độ (2013)… [46], [76], [63]. Tại Việt Nam, thang đo hỗ trợ
xã hội (MSPSS) cũng được nhiều tác giả sử dụng trong nghiên cứu của mình như
nghiên cứu của Vũ Dũng (2016) trên 303 sinh viên điều dưỡng tại Đại học Thăng
Long [4], nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung (2017) tại Đại học Y tế công cộng
[19]. Như vậy, sử dụng MSPSS để đo lường tự đánh giá của sinh viên về hỗ trợ xã
hội là phù hợp và khả thi. Điều này rất quan trọng để tăng cường các yếu tố bảo vệ
sức khỏe tâm thần của sinh viên.
1.4. Một số nghiên cứu về thực trạng stress của sinh viên y khoa trên thế giới
và Việt Nam
1.4.1. Thực trạng của sinh viên y khoa trên thế giới
Stress là một phần tất yếu trong cuộc sống mỗi người và là một trong những
vấn đề về sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm trên tồn thế giới. Ngồi
nhóm đối tượng dễ bị stress là nhân viên y tế, một số nghiên cứu cũng được tiến
hành trên nhóm đối tượng là sinh viên y khoa. Giáo dục trong ngành y ln q tải
và căng thẳng, điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tâm thần của
14
sinh viên. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ stress của sinh viên y khoa dao động
trong khoảng từ 40% đến trên 90% [31], [39], [54].
Những nghiên cứu gần đây cho thấy ở các nước Châu Á như Ấn Độ (2017)
và Pakistan (2017) tỉ lệ stress của sinh viên y khoa là cao nhất với tỉ lệ từ 86% đến
96% [54], [57]. Tiếp đến là các nước Malaysia (2013), Ả Rập (2017) với tỉ lệ stress
từ 50% đến 67% [63], [67]. Tại Châu Âu, nghiên cứu tổng quan về stress của Elani
(2014) tại Canada tổng hợp trên 45 nghiên cứu từ các nước về stress của sinh viên y
khoa cho thấy 65,8% sinh viên stress ở mức độ nhẹ và vừa [39]. Còn trong nghiên
cứu tổng quan về stress của Labrague (2017) tại Mỹ, tổng hợp 13 nghiên cứu về
sinh viên điều dưỡng ở các nước lại cho thấy đa số sinh viên điều dưỡng stress ở
mức độ vừa và nặng [49].
Nghiên cứu của Gallagher và cộng sự (2014) tại Anh trên 216 sinh viên
Dược sử dụng thang đo PSS-10 (Perceived Stress Score) cho thấy tỉ lệ stress sinh
viên nữ cao gấp 3,6 lần sinh viên nam và tỉ lệ này vẫn không được cải thiện qua các
năm học tiếp theo, nguyên nhân do sinh viên nữ thường hay lo lắng và nhạy cảm
đối với các vấn đề học tập và cuộc sống hơn so với nam giới [44]. Kết quả này cao
hơn kết quả nghiên cứu của Siddiqui tại Ả Rập (2017) sử dụng thang đo K-10
(Kesseler-10 score) cho thấy stress ở sinh viên nữ gấp 2 lần sinh viên nam. Ngoài
ra, nghiên cứu của Siddiqui cũng chỉ ra các yếu tố học tập có liên quan đến tình
trạng sức khỏe tâm thần kém của sinh viên y khoa như là khối lượng bài học lớn,
thường xuyên lo lắng về tương lai và chương trình học nghiêm ngặt [63].
Nghiên cứu của Talwar P và cộng sự (2013) trên 480 sinh viên tại Malaysia sử
dụng bộ công cụ đánh giá hỗ trợ xã hội (MSPSS) nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa
hỗ trợ xã hội (hỗ trợ từ gia đình, thầy cơ và bạn bè) với stress đã chỉ ra rằng có mối
tương quan nghịch giữa hỗ trợ xã hội và stress của sinh viên (R= -0,43; p<0,001).
Nghiên cứu cho rằng hỗ trợ xã hội là một yếu tố quan trọng cung cấp thông tin chi
tiết về các nguy cơ stress trong đời sống của sinh viên [67].
Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới đều đạt được mục tiêu mô tả tỉ lệ
stress của sinh viên y khoa. Một số nghiên cứu đã tìm hiểu được các yếu tố liên
15
quan đến stress như giới tính, ngành học, năm học, áp lực học tập…Sự chênh lệch
trong tỉ lệ stress ở các nước là do các nghiên cứu sử dụng những thang đo khác nhau
để đánh giá mức độ stress của đối tượng nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng đến
stress chưa nhất quán, có thể do mỗi địa phương, mỗi quốc gia khác nhau về phong
tục tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội và giáo dục.
1.4.2. Thực trạng stress của sinh viên y khoa tại Việt Nam
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu dịch tễ học của tác giả Nguyễn Văn Cường
năm 2002 trên 7 vùng kinh tế - văn hóa - xã hội cho thấy những biểu hiện trầm cảm,
lo âu và rối loạn hành vi của thanh thiếu niên chiếm 0,9% dân số [2].
Báo cáo chuyên đề Sức khoẻ tâm thần của thanh thiếu niên Việt Nam trong
chương trình Điều tra Quốc gia về Vị Thành niên và Thanh niên Việt Nam lần thứ 2
năm 2010 đã cho chúng ta một cái nhìn tin cậy và rõ ràng nhất về thực trạng stress
trong thanh thiếu niên Việt Nam. Báo cáo cho thấy có trên 73% VTN&TN từng có
cảm giác buồn chán. Trên một phần tư VTN&TN (27,6%) đã trải qua cảm giác rất
buồn hoặc thấy mình là người khơng có ích đến nỗi khơng thể hoạt động như bình
thường và 21,3% cảm thấy hồn tồn thất vọng về tương lai. Nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng chương trình học quá tải, phương pháp giảng dạy của thầy cô là những yếu
tố nguy cơ đến tâm lý tiêu cực và áp lực trong cuộc sống của học sinh, sinh viên [6].
Nghiên cứu của Trần Kim Trang (2011) trên 432 sinh viên y khoa năm thứ
hai tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng thang đo DASS-21 để
đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm cho thấy tỉ lệ stress của sinh viên năm thứ
hai khá cao là 71,4% trong đó stress tập trung chủ yếu ở mức độ nhẹ và vừa là
56,3%, tỉ lệ stress nặng và rất nặng là 15,1%. Nghiên cứu cho rằng đa số sinh viên
có biểu hiện stress lựa chọn nguyên nhân gây căng thẳng là do áp lực học tập, áp lực
từ các kỳ thi (p<0,05). Chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa stress của
sinh viên với giới tính và nơi cư trú (p>0,05) [18]. Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn
Thị Dung (2014) trên 425 sinh viên Điều dưỡng năm thứ ba tại Trường Cao đẳng Y
tế Đồng Nai sử dụng thang đo đánh giá stress PSS-10 cho thấy tỉ lệ stress của sinh
viên là 77,2% chủ yếu do khối lượng bài học nhiều, thường xuyên lo lắng về nghề
16
nghiệp trong tương lai, sự thiếu quan tâm hỗ trợ từ gia đình [3]. Kết quả này cao hơn
nghiên của Lê Hải Yến (2016) tại Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên và Nguyễn
Thành Trung (2017) tại Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội sử dụng thang đo
DASS-21 để đánh giá stress với tỉ lệ lần lượt là 48,5% và 34,4% [25], [19].
Hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu tổng quát nào về stress đại diện cho sinh
viên y khoa tại Việt Nam nói chung. Tỉ lệ stress của sinh viên y khoa trong các
nghiên cứu của Việt Nam có sự khác biệt giữa các cơ sở đào tạo cũng như công cụ
được sử dụng để đánh giá nguy cơ stress. Đối tượng tham gia phần lớn là sinh viên
chuyên ngành bác sĩ đa khoa, các nghiên cứu trên sinh viên điều dưỡng và dược sĩ
còn hạn chế.
1.5. Các yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên y khoa
Có nhiều yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên nhưng về cơ bản có thể chia
thành 3 nhóm yếu tố: cá nhân, gia đình và nhà trường.
1.5.1. Cá nhân
Đặc điểm cá nhân
• Tuổi
Nghiên cứu của Anna Bassols (2014) trên 232 sinh viên y khoa tại Brazil cho
thấy những sinh viên có độ tuổi dưới 23 tuổi có nguy cơ stress cao gấp 1,48 lần so
với những sinh viên từ 23 tuổi trở lên [27]. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác lại cho
kết quả ngược lại như nghiên cứu của Borjalilu (2015) trên 341 sinh viên y khoa tại
trường Đại học Ả Rập cho thấy có mối liên quan giữa stress và độ tuổi, cụ thể tuổi
càng cao thì tỉ lệ mắc stress càng cao. Những sinh viên từ 20 tuổi trở lên có nguy cơ
stress cao gấp 2 lần so với những sinh viên dưới 20 tuổi [29].
• Giới tính
Hầu hết các nghiên cứu về stress ở sinh viên y khoa đều tìm thấy có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê giữa stress và giới tính. Nghiên cứu của Gallagher và cộng
sự (2014) tại Anh cho thấy tỉ lệ stress ở sinh viên nữ cao gấp 3,6 lần sinh viên nam
[44]. Nghiên cứu của Borjalilu (2015) tại Iran trên 341 sinh viên y khoa cũng cho